Thượng nhân Tăng thống Quảng Độ: Từ THÍ VÔ UÝ GIẢ đến PHÁP TRUNG LƯƠNG KIỆT

28/02/20209:15 SA(Xem: 5084)
Thượng nhân Tăng thống Quảng Độ: Từ THÍ VÔ UÝ GIẢ đến PHÁP TRUNG LƯƠNG KIỆT
blankThượng nhân Tăng thống Quảng Độ:
Từ THÍ VÔ UÝ GIẢ đến PHÁP TRUNG LƯƠNG KIỆT
__________________
Thích Phước Nguyên


blank

blank


Thượng nhân Quảng Độ”, gọi như vậy mới tạm thấy được phẩm tính ưu việtvị trí của ngài trong phả hệ Tăng-già Phật giáo Đại Việt: ĐỨC TĂNG THỐNG. Đến cũng như đi, đều mang đậm dấu tích hùng tráng, vượt qua bão táp của chúng ma vọng động. Trong tang lễ của ngài, đáng lý có nhiều điều phải ghi lại lắm. Nhưng tôi chỉ ghi lại mấy điều mà tôi cho là đáng ghi và cần ghi nhất, vì tôi là người trực tiếp thực hiện, đó là về chữ THÍ VÔ UÝ GIẢ và PHÁP TRUNG LƯƠNG KIỆT.

Trước khi nói hai điểm này, thì cũng nên nói rõ thêm là quý Hoà thượng giao phó trọng nhiệm cho mấy anh em chúng tôi phụ trách trần thiết Giác linh đường, xe hoa và soạn nội dung mấy băng rôn từ ngoài cổng, trong lễ đường và trên xe hoa. Đầu tiên có tất cả 6 băng rôn, sau 1 ngày tôi treo thêm 1 băng rôn nữa, tổng cộng là 7 cái. 

Về băng rôn 1, treo sau di ảnh của đức Tăng thống, bên thầy phụ trách thiết kế ghi là: “Nhất tâm cầu nguyện..... Đức đệ ngũ Tăng thống GHPGVNTN thượng Quảng hạ Độ... cao đăng Phật quốc”. Đưa qua cho tôi xem duyệt, tôi không chịu chữ “cầu nguyện”, tôi nói phải chữa lại thành “đảnh lễ”, và bỏ chữ “cao đăng Phật quốc”, vì tôi cho là thừa đối với lễ tang đức Tăng thống. Với bản thệ của bậc thượng nhân đại sỹ rồi thì cần gì chúng sinh Diêm-phù phải cầu với nguyện nữa.

Về băng rôn 5, treo trên xe kim quan, bên thầy phụ trách thiết kế theo lệ thường ghi: “Hoa khai kiến Phật”. Tôi lên tiếng ngay, tôi nói ghi như vậy không đáng ghi, không đúng với tầm vóc và khí phách của ngài. Tôi ghi lại bốn chữ khác bằng chữ Nho: 施無畏者 THÍ VÔ UÝ GIẢ (abhayaṃdada), quý Thầy đề nghị ghi bằng phiên âm Hán Việt cho quần chúng dễ đọc. Tôi đồng ý và cho in như vậy. Tôi còn muốn làm thêm tấm băng rôn với dòng chữ: BẬC ĐẾN ĐI NHƯ SỰ THẬT; nhưng do khuôn viên chật hẹp không có chỗ để treo, nên đành xếp qua một bên.

blank

 

Vô uý có ba nghĩa: không sợ hãi, sự an ninh, sự an ổn. Ban cho thất chúngPhật giáo đồ sự không sợ hãian ninh, chèo chống con thuyền đạo Pháp vượt qua những giai đoạn hiểm nghèo nhất của trang sử bi tráng Đại Việt. Đức Tăng thống suốt đời thực hành phẩm hạnh Vô uý, không khiếp sợ trước cường quyền, không khuất phục trước ma vươngngoại đạo. Như Ngài Nhất Hạnh cũng từng xưng tán đức Tăng thống là “Bồ-tát Vô uý”.

Về băng rôn số 7, treo 4 chữ Nho: “Pháp trung lương kiệt 法中樑傑”, do một bậc Đại Trưởng lão đồng hàng đồng kiến với đức Tăng thống, một thời quý Ngài chung tay dựng cơ đồ Phật giáo Đại Việt, bái chúc cho đức Tăng thống, trước khi ngài dự tri thời chí. Bốn chữ này ngày đầu tiên trong Giác linh đường không có treo. Thành thật mà nói, do tôi không còn đủ tâm trí để nhớ. Nhưng có lẽ quý ngài sáng lạng tịch nhiên chiếu soi cho tôi, nên làm tôi nhớ lại có sự tồn tại của bốn chữ này. Trước khi đức Trưởng lão viên tịch không lâu, trong một lần ngồi bên cửa sổ trong cơn mưa phùn của đất cố đô, ngài gọi thị giả lấy giấy bút để lại bốn chữ này, rồi dặn dò môn đồ khi nào đức Tăng thống viên tịch thì phóng to thủ bút có bốn chữ này và đóng khung đem đến lễ tang để bày tỏ tấm lòng của Trưởng lão với ngài Tăng thống. Nhưng vì lý do gì đó tôi không được biết và cũng không được thấy thủ bút của đức Trưởng lão hiện hữu nơi tang lễ. Bốn chữ này theo giải thích của đức Trưởng lão có nghĩa là: “BẬC ĐỐNG LƯƠNG KIỆT XUẤT TRONG CHÁNH PHÁP - bậc thượng thủ lãnh đạo, chèo chống ngôi nhà Phật giáo anh tài, trước sau thuỷ chung như nhất với lý tưởng, dù trải qua bao thăng trầm vẫn không đổi dời”. Tối ngày thứ hai của lễ tang, cũng vì nhiều lý do mà tôi mới treo được mấy chữ này lên ngay trên chỗ thiết trí bàn Phật. Tôi thưa với quý thầy bằng mọi cách phải treo lên cho được để toát cái phong cách uy dũng của đức Tăng thống. Và cũng để không uổng mất mấy chữ vàng của một bậc Đại trưởng lão. Nhưng kì thực chỉ in ấn như đã thấy, lòng tôi vẫn chưa thoả, nhưng với khả năng của tôi, tôi không làm được gì khác hơn.

 

blank

 

Riêng về bảng Cáo bạch lễ tang khổ A4, tôi nhờ một vị dán lên bên trái cửa ra vào của Giác linh đường từ ngoài nhìn vào, và cho làm một bảng Cáo bạch khổ lớn đóng khung gỗ dựng một bên phía trái tam quan của chùa (từ ngoài nhìn vào).

Và băng rôn thứ 5, thông báo lễ tang. Hồi đầu, các Thầy trong ban trần thiết dự tính treo trước lan can trên sân ngoài chánh điện (tầng 1). Nhưng tôi nói phải treo trước cổng Tam quan để cho dễ nhận thấy và trang trọng. Dù có nhiều cản trởphản đối về băng rôn thứ 5 này và cáo bạch dựng ở cổng, nhưng có lẽ nhờ uy lực của Tam bảo, uy lực của đức Tăng thống và chư Hộ pháp nên cho đến khi thắng dị thục thân của ngài được đưa đi trà tỳ xong mới tháo mấy tấm bảng này xuống.

Nói thêm về lễ Nhập kim quan, khoảng 9h sáng ngày 01/2/ Canh tý, trước giờ tẩm liệm khoảng hơn 5 tiếng, mấy vị bên nhà quàn đem kim quan tới, tôi hỏi các vị đó bên nhà quàn dùng vật liệu gì để tẩm liệm đức Tăng thống, họ nói là dùng trà khô và hoa lài, tôi không chịu, tôi nói những cái đó chỉ để phụ thêm thôi, và tôi nhờ các vị Phật tử trong chùa đi mua cho tôi 30 kg bột trầm và 20 kg bột quế để tẩm liệm sinh thân của ngài.

Còn về vật dụng thường ngày của ngài thì không có gì nhiều, chỉ có cặp mắt kính tôi thấy ngài thường sử dụng để đọc kinh sách cho khỏi mỏi mắt, từ hồi còn ở Thanh Minh, rồi qua Từ Hiếu ngài vẫn mang theo (mặc dù cách đây chỉ vài tháng, tôi đem mấy cuốn sách tôi dịch qua trình ngài, ngài đọc rõ ràng mà không cần mắt kính) vì để tránh thất lạc những vật có giá trị kỷ niệm như vậy, nên trong hộp đựng y bát trên bàn thờ ngài do tôi sắm, ngoài ca-sa và y bát ra, tôi đặt thêm cái cặp kính ấy để phụng thờ luôn, vì nó đã theo ngài nhiều chặng đường năm tháng chông gai.

Kính lạy đức Tăng thống! 

Cho phép con được tôn kính gọi ngài bằng “Thầy”. Danh từ con vẫn thường lễ phép gọi Thầy mỗi khi hầu chuyện, từ Thanh Minh, rồi Từ Hiếu, những dịp thỉnh Thầy chứng minh cho những dịch phẩm của con, Thầy ân cần chỉ cho những chỗ trọng yếu, không ngại tuổi già mệt nhọc, Thầy luôn hoan hỷ và tuỳ hỷ cho con. Thầy là vị đã nâng đỡ cho con rất nhiều trong sự học Phật. Nhờ vậy mà sự học sự tu, con cũng được tuần tự tiến bộ. Thể dụng và khí phách hành hoạt Vô uý của Thầy vẫn toả ngát ngàn nơi, truyền lưu sinh thế mai hậu.

Trong suốt mấy ngày tang lễ của Thầy, quý Hoà thượng thương con, cho con được thị giả dọn cơm, hầu cơm Thầy trong tất cả các buổi lễ, vì biết con rành cách thức dọn cơm và thời cơm thường nhật của Thầy. Con nhớ Thầy vẫn hay nói: “Ăn cơm ba bát, đũa thì phải chấm vào chén nước rồi mới gắp thức ăn, ăn vào mới không bị dính mắc, đũa cũng không bị dính thức ăn”. Quỳ cạnh mâm cơm thanh giản trước kim quan của Thầy, vô vàn kỷ niệm ùa về, con không kiềm nổi nước mắt, từ vô thức tuôn ra như đứa trẻ dại mất cha già, ngày Thầy viên tịch chúng con mới thấm thía lời Kinh: “KIM KIẾN NIẾT-BÀN PHẬT, NGÃ ĐẲNG MỘT KHỔ HẢI”: Nay thấy đức Phật diệt độ, chúng con như chìm xuống bể khổ. Nhưng nỗi đau đó cũng lắng đi, khi trong giờ phút Thầy nhẹ trút hơi thở, đôi mắt thầy dần dần khép lại: an tĩnh, bình thản, không chút đớn đau. Thật là:

Đại sư là đôi mắt thế gian nay đã khép lại,
Bậc chứng nghiệm giáo pháp phần lớn cũng viên tịch,…
Đấng Tự giác đã thể nhập tịch tĩnh,
Người gách vác giáo pháp cũng diệt độ”.
(大師世眼久已閉, 堪為證者多散滅,… 自覺已歸勝寂靜, 持彼教者多隨滅).

Đêm đầu tiên sau lễ nhập Kim quan, độ chừng 10 h đêm, khi mà tất cả mọi người viếng tang lui về hết, một mình con trải ngoạ cụ nằm nghỉ cạnh bên kim quan hầu Thầy đến sáng để pha trà buổi sớm mai dâng lên Thầy, vì con biết chẳng bao lâu sẽ không còn cơ hội này nữa. Hồi còn tại thế nửa đêm có khi Thầy mất ngủ, thầy ra xem tụi con ngủ nghỉ thế nào, nhắc tụi con nhớ đắp mền kẻo lạnh, hình ảnh Thầy ân cần, bình dị, như người Mẹ hiền săn sóc những đứa con hết lòng.

Sáng ngày thứ hai lễ tang, con đứng trọn bên Thầy để cảm nhận cái khí phách đằng đằng của Thầy vẫn đang theo khói trầm hương quyện toả thành đài, kết tường vân thành lọng, để che mát cho thất chúng đệ tử.

Rồi đến đêm ngày thứ hai, đêm cuối cùng trước khi đưa sắc thân Thầy đi trà tỳ, có thầy Quảng Lợi, vị cũng thường xuyên hầu Thầy khi Thầy về tại Từ Hiếu, có lần còn cõng Thầy nhập viện, cũng xuống Giác linh đường, hai anh em con mỗi người nằm nghỉ một bên kim quan Thầy, vì biết rằng đây là đêm giã từ Thầy; đến hơn 3 giờ sáng, tụi con thức dậy pha trà hiến cúng Thầy lần sau chót, và để chuẩn bị cho buổi lễ phụng tống sắc thân Thầy đến nơi trà tỳ.

Chiều nay, ngày thứ ba, ngày cuối cùng của lễ tang Thầy, thắng dị thục thân của Thầy đã được trà tỳ hoàn tất sau khoảng 5 giờ đồng hồ, xá-lợi của Thầy đã được đem về an tríphương trượng chùa Từ Hiếu cho đến 7 lần 7 ngày; rồi theo di huấn của Thầy, tro cốt của Thầy sẽ được rải xuống biển cả, như để hoà vào đại dương bao la vô giới hạn, tâm Đại từ của Thầy cũng theo sóng cả vỗ vào bao bãi cát tâm thức khô cằn, cháy bỏng bởi cơn khát danh vọng của nhân loại
thich quang do

Giờ này quỳ trước Từ dung, ngước nhìn long vị của Thầy đã được an trí trang nghiêm, con tôn kính phủ phục. Trong con, Thầy vẫn ngồi đó như thiên thu tuyệt tác, giữa muôn trùng thế giới, Thầy vẫn hiện hữu trong ánh quang huy sáng tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Thầy không đi đâu cả! Thầy vẫn ở đây che chở cho Đại Việt Phật giáo, cho Dân tộc đang phải nếm chịu vô vàn tang thương. 

Từ nơi tâm khảm sâu xa của những người biết sống, Thầy vẫn tịch nhiên bất động. Dẫu trong dòng sinh diệt, thân thắng dị thục kia đã bao lần thay đổi, mà chí nguyện Thầy vẫn uyên nguyên như ánh ban mai, như “giọt tịnh bình xoa dịu đắng cay”. Hình bóng Thầy ngồi nơi chiếc bàn gỗ cũ kỹ để tụng đọc những lời kinh xưa “tinh sưu nghĩa lý”, tưởng chừng dung dị nhưng cũng đủ làm chấn động tâm tư của bao thế hệ Tăng lữ kế thừa; nơi Thầy, chúng con thấy Pháp tính chẳng ở chỗ huyền vi lặng lẽ, giải thoát chẳng đợi đến ngày cao đăng Thượng phẩm, Thầy là biểu hiện của chân ngônbình thường tâm thị đạo”. Biến cố dù có đáng sợ, Thầy vẫn chống gậy an nhiên đi giữa định mệnh thăng trầm khốc liệt, dựng xây cơ đồ Phật giáo Đại Việt. 

Dẫu cát bụi có đổi dời muôn hướng, lời Thầy vẫn khắc đậm trên bia đá từ tâm: “Phải từ bỏ ý thức hệ thiên kiến cực đoan”. Có lần Thầy còn cặn kẽ dạy thêm: “Thống nhất không phải danh xưng, không phải là hình thức, thống nhất là bản thể, do Tăng già hoà hiệp, y Pháp và Luật của Thế Tôn, tác pháp mà thành tựu”. Tuy vắng bóng Tôn sư mà dấu ấn Tôn sư vẫn rạng ngời muôn nẻo.

Thiên vận Canh tí, Phật giáo Đại Việt phải gánh trên đôi vai hai đại tang liên tiếp; vừa xong bách nhật của Đại Trưởng lão Trí Quang thượng nhân đúng một tuần, thì Thầy cũng phân thân vô số vào cát bụi, mang theo đại nguyện Bi Hùng thể hội cõi Không. Bầu trời Đại Việt dần khuất bóng các vì sao dẫn lối cho Đạo pháp và Dân tộc, con được biết thế hệ các bậc trưởng thượng, chẳng còn bao nhiêu vị tôn túc đồng hàng với Thầy, Thầy duy trì cương lĩnh của Tăng-già, nên dời đi sau chót: “CHƯ THƯỢNG THIỆN NHƠN CÂU HỘI NHẤT XỨ”, mà chính Thầy đã dự tri trong bài thơ “Nói chuyện với tử thần”:

Còn một mình tôi vào cõi thiền
Lâng lâng tự tại cảnh vô biên
Bồ Đề phiền não đều không tịch
Niết Bàn sinh tử vốn vô biên
”. (QĐ)

Suốt một đời Thầy chỉ dùng “nước Từ bi vô uý” để tẩy sạch oan khiên cho những đứa con tội nghiệp của Thầy; an trú 93 xuân thu, 73 hạ lạp, Thầy có danh nhưng không vọng, là TỊNH DANH, không chút vấy bẩn; đời Thầy không cần chùa to Phật lớn, không cần đồ chúng đông đảo, nhiều lần Thầy nói với con, nhắc lại con vẫn còn rưng nước mắt: “Thầy không cần chùa riêng, suốt đời chỉ đi ở nhờ; ở đâu, dù là trong tù đày, miễn sao đem cái sắc thân này phụng sự cho đức Thích Tôn, Phật giáo Việt Nam và Quê hương này là đủ rồi”. Thầy không nhận đệ tử nhưng có thất chúngđệ tử khóc lạy tiễn đưa Thầy, đó là sự an uỷ mà Đức Thế Tôn dành cho những vị chân nhân thác tích nơi trần thế đau thương, vớt nhân loại ra khỏi vũng lầy tử sinh, như Thầy đã thực hành suốt đời không chán mỏi.  

 

Di sản vô giá Thầy để lại là những dịch phẩm tinh hoa, những áng văn trác tuyệt, những vần thơ hoá thành cánh nhạn trong ngục tối tù đày, đó là xá-lợi kim cương toàn thân của Thầy mà hậu thế chúng con được thừa tự:

Hoàng lương nhất mộng phù du kiếp
Sinh tử bi hoan thục giác tri
Sống với chết là cái chi chi
Lý huyền nhiệm ngàn xưa mấy ai từng biết
. (QĐ)

Ngưỡng lạy Thầy, bậc Tôn sư, là đấng Thượng nhân của chúng con!

Chúng con vô phước bạc mệnh “khứ Thánh thời diêu”, thì làm sao dám dâng lời thỉnh nguyện lên một bậc Thượng sĩ chân nhân “bất vong nguyện lực”, vì trong tia sáng vô ngần Thầy vẫn mỉm cười vô biên.

Cung kính đảnh lễ Đại trưởng lão Thượng sĩ Tăng thống Phật giáo Việt Nam, thượng Quảng hạ Độ chi giác linh. Thùy từ chứng giám

Từ Hiếu, ngày lễ trà tỳ đức Tăng thống
Mùng 3 tháng 2 năm Canh tý.
2563 năm Phật lịch.
2020 năm Dương lịch.

Thiện thệ tử Phước Nguyên
Tôn kính tác bạch

blank

blank

blank

blank

blank

blank

blank


 MỤC LỤC

Bốn Chữ “Pháp Trung Lương Kiệt” Trong Tang Lễ Của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Thực Sự Là Những Chữ Gì?






Tạo bài viết
25/09/2019(Xem: 3414)
17/11/2018(Xem: 3662)
"Chỉ có hai ngày trong năm là không thể làm được gì. Một ngày gọi là ngày hôm qua và một ngày kia gọi là ngày mai. Ngày hôm nay mới chính là ngày để tin, yêu và sống trọn vẹn. (Đức Đạt Lai Lạt Ma 14)
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thường và công bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.