Chương 7: Nhân Chứng Từ Bên Trong

30/07/201212:00 SA(Xem: 3455)
Chương 7: Nhân Chứng Từ Bên Trong

KINH TẾ PHẬT GIÁO
Quán Như Phạm Văn Minh
Nhà Xuất Bản Văn Hóa-Văn Nghệ 2012

Chương 7
Nhân chứng từ bên trong

Trong chương trước chúng tôi đã lược qua những nhận địnhphê bình về nền tảng kinh tế từ những triết gia và các nhà đạo đức, như của David Roy, giáo sư triết lý. Các nhà kinh tế dĩ nhiên muốn bỏ ngoài tai những lời chỉ trích của những ai không phải là ‘kinh tế gia’.

Sau đây, chúng ta thử xét qua lý luận của một nhà kinh tế ‘đúng nghĩa’ được ấn chứng của các đồng nghiệp. Người đó chính là Amartya Sen, người được giải Nobel về Kinh Tế năm 1998, hiện là Giáo Sư kinh tế tại đại học Harvard. Sen là một nhân chứng từ bên trong. Sen sẽ nói về những giả định nền tảng của kinh tế như động lực tư lợi, tính hợp lý và khoa học của kinh tế. Đây đích thực là luận cứ của nhân chứng từ nên trong.

blank 

Amartya Sen

Có mấy điểm đáng chú ý về Amartya Sen. Ông gốc Ấn Độ, Giáo Sư về Kinh Tế và Triết Lý, chủ tịch Hội Kinh Toán, chủ tịch hội Kinh Tế Gia Ấn - Mỹ, cũng như hội kinh tế toàn cầu. Ông tốt nghiệp đại học Cambridge, chuyên về kinh tế phát triển và kinh tế an sinh.

Ấn Độquốc gia dân chủ lớn nhất toàn cầu. Dù độc lập đã hơn nửa thế kỷ, phần lớn dân Ấn hiện nay vẫn chưa được hưởng tiện nghi kinh tế tồi thiểu. Cho nên chẳng ai lấy làm lạ khi thấy Amartya Sen viết nhiều về nguyên do bất bình đẳng như Về Bất Bình Đẳng Kinh Tế (On Economic Inequality) (1973, 1997), Nghèo Đói (Poverty and Famines), Tài Nguyên, Giá Trị và Phát Triển (Resources, Values and Development) (1984) Duyệt Xét Lại Bình Đẳng (Equality Reexamined) (1992) và hai tác phẩm ‘giải hoặc’ luận điệu của nhóm kinh tế Tân Cổ Điển về động lực tư lợi và tính hợp lý của kinh tế học: Phát Triển như là Tự Do (Developmemt as Freedom (1999) và Lý TínhTự Do (Rationality and Freedom (2002). Phần lớn tài liệulập luận trong bài này dựa trên lập luận của Amartya Sen trong Bàn Về Đạo Đức và Kinh Tế (On Ethics and Economics (1987).

 

Đường Đi Không Hai

Cha đẻ của kinh tế tư bản, John Stuart Mill, trong Principals of Political Economy, cảnh cáo là những người nào muốn đi vào ngưỡng cửa kinh tế phải bỏ lại bên ngoài tình cảm cá nhân, bao giờ cũng phải ghi nhớ động lực ‘nguyên chất, giản dị và cứng rắn’ của các hoạt động kinh tế đã được tôn sùng từ thời Adam Smith: tìm mọi cách tăng tối đa quyền lợi của mình. Con người kinh tế là con người ‘thực tế’, không phải là triết nhân sống trên mây hay như hiền giả sống ở thời rạng đông của lịch sử, thường được gọi là thời Trục, từ Đức Phật, Khổng Tử ở phương Đông, đến Socrate hay Aristote ở phương Tây. Tuy nhiên các nhà kinh tế tân cổ điển chỉ muốn nhớ những nguyên tắc nào của Adam Smith có thể biện minh cho lý thuyết tự do cạnh tranhcố tình bỏ quên những yếu tố đạo đức trong The Wealth of Nations The Theory of Moral Sentiments, và quên rằng Smith là Giáo Sư Triết Lý Đạo Đức tại đại học Glasgow và môn kinh tế thời đó được dạy ở Đại Học Cambridge như là môn ‘khoa học về đạo đức’!

Kinh tế càng ngày càng chiếm địa vị quan trọng trong chương trình giảng dạy tại đại học cũng như trong đời sống quốc gia, trở nên độc lập với triết lý trong đại gia đình ‘khoa học xã hội’. Đến năm 1930, trong tác phẩm An Essay on the Nature and Significance of Economic Science, Lionel Robbins tuyên bố chính thức ‘đoạn tuyệt’ với triết lý, và nhất là với nguyên tắc đạo đức.

Có hai nguồn quan trọng ảnh hưởng đến Kinh Tế và cả hai đều liên hệ mật thiết với chánh trị, theo định nghĩa của Aristote, dù theo hai hướng khác nhau. Khuynh hướng đầu xem Kinh Tế, cũng như bất cứ một khoa nào khác, chỉ là một phương tiện phục vụ đời sống tập thể, cộng đồng hay quốc gia. Trong thời khai nguyên của lịch sử, vài trăm năm trước và sau Tây lịch, thời mà Đức Phật gọi là thời chánh pháp được truyền bá rộng rãi, Aristote đã viết trong tác phẩm Politics, xem chính trị là khoa chủ yếu mà ông gọi là ‘the Master Art’. Chính trị phải tìm cách tận dụng những ‘khoa học” khác, trong đó có kinh tế. Cũng như các hiền triết thời Trục, Aristote nói rất rõ về điểm này: “Tích tụ tài sản không phải là mục tiêuchúng ta tìm kiếm; tài sản chỉ có ích khi được sử dụng vào mục đích khác”. Trong chương trước, chúng tôi có nhắc đến câu hỏi tổng quát của Aristote, không những liên hệ với kinh tế mà còn liên hệ đến đạo đứctôn giáo: “Chúng ta nên sống đời ta như thế nào?” Thái độ này, theo Amartya Sen, tương phản với động cơ hạn hẹp bảo vệ tư lợi mà kinh tế hiện đại luôn luôn nhấn mạnh. Vấn đề đạo đức liên hệ đến quyền lợi cộng đồng, dù theo định nghĩa như thân nhân, láng diềng, đồng bào hay nhân loại. Aristote phát biểu rõ ràng về điểm này trong Nicomachean Ethics: “ làm lợi cho một cá nhân là một điều tốt, nhưng tốt hơn nữa là đóng góp cho công ích của một tập thể hay quốc gia”. Vào thời các hiền nhân trong lúc rạng đông của lịch sử Đông cũng như Tây, công ích tập thể bao giờ cũng được đem ra làm tiêu chuẩn đo lường mọi hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động kinh tế.

Nguồn ảnh hưởng thứ hai để ý đến hiệu năng của các hoạt động kinh tế, đặt những mục tiêu như tăng hiệu năng công nhân, giảm chi phí sản xuất, kiểm soát tiền tệ vân vân và thiết kế mô thức thực hiện các mục tiêu đó. Đây là cơ sở tiếp liệu, kỹ thuật điều động các phương thức sản xuất, cổ động tiêu thụ, quảng cáo sản phẩm hay tăng trưởng kinh tế. Các chuyên viên kinh tế không quan tâm tới những yếu tố phi kinh tế, như cách sử dụng phung phí tài nguyên, làm tổn hại môi sinh, sự tan rã trong mối liên hệ cá nhân, gia đình hay xã hội. Nói theo từ chuyên môn, họ chỉ để ý đến tứ bản kinh tế chứ không quan tâm đến tư bản thiên nhiên hay tư bản xã hội (social capital). Thí dụ như chánh phủ hiện cầm quyền tại Úc (2005) đề nghị thay đổi luật lao động để Úc có thể cạnh tranh hữu hiệu với lao động của các nước khác. Trong tương lai, công nhân phải chấp nhận những kỹ thuật mới để làm tăng hiệu năng, làm việc nhiều giờ hơn bằng cách đổi ngày nghỉ hằng năm và ngay cả giờ ăn trưa thành tiền. Hậu quả là công nhân về nhà chỉ có đủ thì giờ để ngủ, không có cả thì giờ nhìn mặt hay gần gũi vợ con, không có một cuộc sống gia đình bình thường, chỉ vì chánh phủ muốn nhân công có thị trường nhân dụng uyển chuyển, có thể cạnh tranh trên thế giới. Một thành quả mà lao động quốc tế phải tranh đấu hàng thế kỷ mới đạt được, đó là số giờ lao động tối đa là 40 mỗi tuần, không cánh mà bay, lẳng lặng biến mất. Số giờ làm việc trung bình của công nhân hiện nay ở Úc là 50 giờ. Chưa đủ, chánh phủ còn biền đổi ngày chủ nhật thành một ngày làm việc bình thườngcho phép công nhân nào muốn làm việc thêm ngày chủ nhật cứ ..tự nhiên thương thuyết với chủ nhân. Nghĩa là công nhân có thể làm việc đến 60 giờ mẫu tuần nếu muốn! Ngay cả khi dự luật lao động mới chưa thành hình, trên nhật báo The Sydney Morning Herald, tổng giám mục Thiên Chúa tại Sydney, George Pell, chỉ trích chánh phủ muốn ban hành đạo luật lao động cho… Robots. Các giáo hội Anh Giáo và tin lành Uniting Church từ trước thường ủng hộ chánh sách bảo thủ của chánh phủ, cũng lên tiếng phản đối. Ngoài chuyện ngày chủ nhật là thiêng liêng, ngày các tín đồ ngoan đạo đi lễ nhà thò, còn là ngày gia đình gặp nhau: cắt cỏ, tổ chức Barbecue, đưa con cái đi chơi thể thao hay xem các trận thể thao. Tổng Giám Mục Anh Giáo địa phận Sydney, tỏ ý lo ngại luật lao động cải cách không đếm xỉa đến nhu cầu của trẻ em, gia đình, liên hệ xã hội, làm tan rã mối liên hệ nền tảng của xã hội (SMH 11/10/05). Làm như thể con người sinh ra chỉ để làm việc kiếm tiền. Úc là một trong 10 nước có đời sống an lac nhất thế giới. tại Âu Châu đời sống vất vả hơn nhiều và trong số báo ngày 3 tháng 10, tờ Time cho biết là hiện công nhân Đức chấp nhận là việc thêm giờ mà không đòi thêm lương, chỉ vì sợ mất việc. Tờ Time cũng cho biết ở Anh có 3 triệu 6 công nhân làm việc hơn 48 giờ mỗi tuần. Sự ổn định trong công ăn việc làm chỉ còn là chuyện ‘dĩ vãng’. Tại các nước Âu Châu khác như Pháp, Đức, Ý và Hoà Lan hiện có từ 12% đến 15% làm việc theo hợp đồng ngắn hạn. Thị trường nhân dụng uyển chuyển theo các kinh tế gia neo-cons có nghĩa là làm việc thêm nhiều giờ nhưng lương không tăng, hợp đồng ngắn hạn, chủ nhân cần thì giữ công nhân, không thì tự tiện sa thãi. Chánh phủ Howard của Úc sắp sữa đưa ra một đạo luật cho phép các xí nghiệp thâu dụng dưới 500 công nhân có quyền sa thãi bất cứ ai bất cứ lúc nào và nhân công không có quyền thưa kiện chủ nhân về tội sa thãi bất công. Cạnh tranhlý do đưa ra để biện minh cho phương pháp quản lý kinh tế hiện đại này. Hiện có phong trào bỏ các công việc căng thẳng và nhiều giờ để tìm các công việc ít lương hơn nhưng ít ra cũng có đời sống gia đình bình thường. Phong trào này được gọi là xuống cấp (‘Downsizing’), do những viên chức quản lý cao cấp khởi đầu. Lý do giản dị là vì họ là những người có bằng cấp cao, kinh nghiệm nhiều, nên có thể thay đổi công việc dễ dàng. Các công nhân lao động trong các xưởng sản xuất không có cơ hội thay đổi công việc nên vẫn tiếp tục ‘cày’ 50, 60 giờ mỗi tuần để có thể ’cạnh tranh’ với lao động thế giới!

Vai trò của các chuyên viên quản lý kinh tế dĩ nhiên càng ngày càng trở nên quan trọng, nhiều khi còn thay thế cả các nhà tư bản chủ nhân các cơ sở kỹ nghệ. Họ là những người đề nghị các mô thức kinh tế để làm tăng năng xuất lao động, sản xuất, tiếp thị. Thêm vào đó có sự tiếp sức của các nhà tâm lý, nghiên cứu phản ứng của người tiêu thụ để vận dụng vào kỹ nghệ quảng cáo. Ví dụ như trong siêu thị, các nhà tâm lý nghiên cứu thói quen của phụ nữ và trẻ em trong khi mua thức ăn. Kệ trên cao để hàng gì, kệ dưới để hàng gì, kệ nào vừa tầm trẻ em thí phải để món hàng nào. Các nhà tâm lý này biết rằng khi các em đòi mua bánh kẹo, ít có cha mẹ nào nỡ lòng từ chối. Đạo quân khổng lồ trong kỹ nghệ quảng cáo: người mẫu, các thể tháo gia vô địch, đào kép điện ảnh, thần tượng của thanh thiếu niên. Kích thích tình dục được khai thác triệt để chiêu dụ khách hàng. Thường chúng ta hay nói các đài truyền hình không phải trả tiền. Ở một xã hội lúc nào cũng ca tụng tư lợi, vinh danh lòng tham lam, không làm gì có chuyện ‘ăn trưa không trả tiền’. Người tiêu thụ chính là những người trả tiền điều hành và tiền lời hàng năm cho các tổ hợp truyền hình.

Ngay từ thế kỷ 17 đã có những chuyên viên kinh tế, như Sir William Petty, áp dụng toán học để tăng hiệu năng của các hoạt động kinh tế. Nhưng đến thế kỷ 20, khuynh hướng kỹ thuật trở thành dòng kinh tế chính thống. Đây là dòng chảy chính của các khuynh hướng kinh tế khác chỉ còn là kinh, rạch. Trong số các giải Nobel về kinh tế từ lúc bắt đầu (1969) đến năm 1996, số lượng các nhà kinh tế Mỹ (kể cả những người nhập tịch Mỹ) là 24 trên 40, phần lớn là chuyên viên về kinh toán. Kinh toán dùng phương pháp thống kê và phân tích toán học về các mối liên quan của các hoạt động kinh tế. Các nhà kinh tế Âu Châu, gồm cả Anh, phần lớn xem kinh tế như một phần của bối cảnh lịch sử thay vì như một khoa học độc lập tất định như các chuyên viên kinh toán mong muốn. Một kinh tế gia Anh, quê hương của Smith, Sir John Hicks, và một số kinh tế gia Đức, có khuynh hướng nghiên về kinh tế hoạch định, hơn là chánh sách tự do mậu dịch của Mỹ. Sự tương phản vẫn còn căng thẳng cho đến nay, mặc dù hai bên đều đồng ý quá trình toàn cầu hóa.

Một điều lý thú là Amartya Sen có nhắc đến một quyển sách viết về ‘khoa học làm giàu’ và tác giả là một Bộ Trưởng dưới thời Hoàng đế Chandragupta thuộc triều đại Mauryan, Kautilya. Tác giả này không ai khác hơn là cháu nội của Hoàng đế A Dục! Kautila thảo luận về đủ mọi vấn đề, từ xây dựng làng xã đến việc thâu thuế, từ việc bảo quản kế toán đến ngăn ngừa tham nhũng, từ chánh sách ngoại giao đến tìm cách gây ảnh hưởng trong các phe phái thù nghịch. Kautila cũng đề nghị dùng những biện pháp cứng rắn, ‘không tình cảm’ như trong kinh tế hiện đại. Ngay cả các tác phẩm của Socrate hay Aristote cũng không đề cập đầy đủ chi tiết về kinh tế cụ thể như tác phẩm của Kautila, người cùng thời với Aristote. Kautilya đáng được gọi là chuyên viên quản lý kinh tế tiên phong.

Amartya Sen nhìn nhận rằng các chuyên viên kinh tế đã thành công trong việc làm tăng hiệu năng các hoạt động kinh tế và đạt đến những mục tiêu cần thiết như tăng năng xuất lao động, lợi tức, khai thác trị trường vân vân…, nhất là thuyết ‘Quân bình tổng quát” (General Equilibrium) trong liên hệ sản xuất và thị trường. Thuyết này cho thấy hoạt động kinh tế bị chi phối bởi nhiều động lực hỗ tương khác nhau. Nhờ hiểu rõ các động lực ảnh hưởng lên hoạt động kinh tế, những biện pháp tương ứng được đề nghị. Sen đưa ra thí dụ về nạn đói kém. Nạn đói kém trên thực tế không liên hệ với mức cung cầu, nghĩa là mức thiếu hụt thực phẩm không gây ra đói kém, mà vì những chính sách về giá cả trong các quốc gia sản xuất dư thừa. Vào cuối thập niên 70, nông gia Úc đã sát hại hàng ngàn gia súc rồi đem chôn tập thể chỉ nhằm mục đích duy trì mối quân bình giả tạo giữa cung và cầu và do đó để giữ giá. Trong khi trên thế giới có hàng triệu người thiếu dinh dưỡng hay chết đói, hành động này, theo quan điểm đạo đức, là hành động bất nhân. Những các kinh tế gia không xét đến các yếu tố ‘phi kinh tế’ trong khi đưa ra quyết định. Họ lý luậnnếu không giết gia súc để giảm mức cung thì hàng loạt nông gia sẽ bị phá sản. Cứu các nông gia Úc khỏi bị phá sản, về mặt kinh tế, là một chuyện quan trọng hơn là cứu hàng triệu người bị thiếu ăn hay chết đói trên các phần đất khác. Viết tới đây tôi liên tưởng đến nạn đói năm Ất Dậu (1945) ở Việt Nam. Nhiều người cho là lúc đó lúa gạo miền Nam dư thừa, và nạn đói là do hậu quả của chánh sách thực dân và các chánh quyền gọi là ‘quốc gia’ hợp tác với ngoại bang, hơn là vì thiếu thực phẩm. Hy vọng có nhà kinh tế lịch sử nghiên cứu lại giai đọan này, dựa trên dữ kiện và con số đáng tin.

Tôi xin lấy một thí dụ khác nữa để thấy động cơ hành động của người bình thường phức tạp hơn là động cơ đơn giản như bảo vệ quyền lợi cá nhân: nạn tham nhũng. Tham nhũng xảy ra tại bất cứ một quốc gia nào, dân chủ hay độc tài, tư bản hay cộng sản. Ngày xưa dưới thời Đệ nhị Cộng Hoà, Thủ Tướng Trần Văn Hương xem việc tìm người tham chánh như ‘ra chợ mua cá’. Có cá tươi, cá ương. Nhưng ông già gân tuyên bố một câu bất hủ: “Nếu loại hết người tham nhũng ra ngoài chánh phủ, tôi lấy ai làm việc”. Ngày nay dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, lẽ ra phải trung thành với chủ trương của Marx bênh vực người nghèo khóáp bức, hay ý nguyện xây dựng một quốc gia giầu đẹp như cụ Hồ đã nhiều lần khẵng định, hiện nay từ báo chí đến đài truyền hình từ Quốc Hội đến phủ thủ tướng, ai cũng lo ngại nạn tham nhũng có thể trở nên căn bệnh trầm kha, hết ‘thuốc chữa’. Nhiều người chống chế độ đương thời, tuyên bố hiện nay nạn tham nhũng gấp ‘trăm’ lần con số ‘cá ươn’ trong chế độ cũ. Tôi không có con số tin cậy để kết luận, nhưng cũng như mọi người, tin rằng tham nhũng có thể là mối đe dọa trầm trọng đến quá trình phát triển kinh tế và ‘đổi mới’ chánh trị, nếu có. Tại sao các viên chức nhà nước tham nhũng?

Nguyên nhân tham nhũng có thể do lương công nhân viên quá thấp không đủ sống, có thể vì lòng tham (có gì lạ đâu? Greed is Good!), có thể ‘thượng bất chánh, hạ tất loạn’, người trên ăn được thì cấp dưới tội gì không ăn. Có thể khônghệ thống tư pháp công minh, nên nhiều người ăn hối lộ mà không thấy ai bị trừng trị cả. Có thể là thiếu hệ thống đạo đức hay không còn ai tin vào hành vi đạo đức nữa. Ngay cả những người tượng trưng cho đạo đức, như các tu sĩ tôn giáo cũng tham nhũng. Có một giải pháp nào để bài trừ tham nhũng hữu hiệu không? Tôi xin nhắc tới nguyên tắc căn bản của Phật Giáo Nhập Thế: chuyển hoá cá nhânchuyển hóa xã hội là hai yếu tố không thể tách rời nhau được. Nhà làm luật cứ đặt ra đạo luật bài trừ tham nhũng, nhà tôn giáo tạo điều kiện cho tín đồ tu chứng để chuyển hóa tâm linh. Định chế không làm người ta tốt, nhưng không có định chế thì không xong. Nguyên nhân tham nhũng không đơn giản như những người ’chống chế độ chết bỏ’ (CCCB), bảo rằng hễ có “dân chủ’ là hết tham nhũng! Cứ nhìn các nước ‘dân chủ’ (sic) Á Châu như Thái Lan, Mã Lai, Indonesia, Singapore và ngay cả các nước dân chủ Tây Phương, đâu cũng có tham nhũng. Ở Tiểu Bang New South Wales Úc, chánh phủ thành lập Ủy Ban ICAC bài trừ tham nhũng. Có tham nhũng nên chánh phủ mới lập Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng, nếu không lập ra làm chi cho tốn tiền. Khi thảo luận đến quá trình toàn cầu hóa, tôi sẽ trở lại vấn đề tham nhũng ở các nước dân chủ Tây Phương. Động cơ duy nhất mà các nhà kinh tế hiện đại hay nhắc tới là bản tính tham lam, bảo vệ tư lợi, nhưng nguyên nhân của hành động tham nhũng trùng trùng, không thể quy chiếu về một nguyên nhân duy nhất, như độc tài hay dân chủ.

Thay vì thu hẹp động cơ hành động vào yếu tố đơn giản, nếu mô thức kinh tế hiện đại để ý đến những yếu tố đạo đứcxã hội khác, theo Amartya Sen, những mô thức kinh tế này còn có thể đóng góp hữu hiệu vào các mục tiêu nhiều hơn nữa. Giải thích hành vi của con người bằng những mô thức đơn giản ‘kích thích-phản ứng’ (stimulus-response) đã quá lỗi thờiBehaviourism phủ nhận khả năng phán đoán và chọn lựa của con người thông minh (homo sapiens). Đối với Phật giáo, chọn lựa (hành) là bước khởi đầu của việc tạo nghiệp - hay giải nghiệp. Để chọn lựa sáng suốt, chúng ta cần cả hai yếu tố từ bitrí tuệ. Để người khác chọn mình, hay chọn lựa dùm mình, là ‘định mệnh’, không phải là nghiệp theo lời dạy của đức Phật . Có trời mà cũng có ta.

Cũng như Schumacher, Amartya Sen nói đến mối liên hệ của hoạt động kinh tế như một người giảng pháp thoại. Giả sử chúng ta chấp nhận tư lợi thông thường động lực chính trong hoạt động kinh tế và ảnh hưởng mạnh mẽ đến chọn lựa, khi hình thành một mô thức, nhà kinh tế phải xét đến những yếu tố khác cũng có ảnh hưởng việc hình thành quyết định. Nếu các yếu tố này không được kể đến, như các nhà kinh tế thường nói, mô thức phân tích kinh tế sẽ không tránh được phiến diện hay sai lầm. Phật giáo gọi đó là duyên khởi, ‘cái này có thì cái kia có’ trong mạng lưới trùng trùng. Lý thuyết gần gũi nhất với thuyết duyên khởi được Joanna Macy gọi là ’Systems Theory’. Mạng lưới trùng trùng này mới giải thích đầy đủ chọn lựa hành động, thí dụ như hiện tượng tham nhũng. Dù trong bất cứ chế độ nào, dân chủ hay độc tài, đông hay tây, đều có tham nhũng, nhưng cũng có nhiều người quyết liệt từ chối tham nhũng. Cho rằng tham nhũng chỉ bắt nguồn từ một chế độ chánh trị nào đó là chưa hiểu gì về lý duyên khởi của nhà Phật.

 

Hành Vi Kinh Tế và Chọn Lựa Hợp Lý

Giả định hành vi kinh tế là hành vi ‘hợp lý’ là một trong những giả định căn bản trong kinh tế hiện đại. Muốn hợp lý thì phải loại bỏ các yếu tố ‘phi-kinh tế’ như tình cảm đạo đức hay xã hội. Cái gì tăng lợi lộc là kinh tế, cái gì không sinh lợi là phi-kinh tế.

Tuy nhiên cuộc đời vốn đa diện và phức tạp, không phải lúc nào mọi người cũng hành động hợp lý, nghĩa là chọn lựa những hành động chỉ cốt làm tăng tối đa quyền lợi của mình. Chúng ta có lúc lầm lỗi, rồi sửa đổihy vọng chọn lựa lần tới có thể khá hơn. Chọn lựa hợp lýý niệm chỉ có trong sách giáo khoa hơn là trong đời sống hàng ngày. Và chọn lựa không phải lúc nào cũng chỉ bị chi phối bởi quyền lợi cá nhân. Tôi trở lại hiện tượng tham nhũng. Thường thường thấy lợi thì ai cũng ham, nhưng không phải ai cũng tham nhũng. Có thể họ không tham nhũng vì sợ luật pháp, không ở trong địa vị có thể vòi vĩnh, không được phe đảng quyền thế che chở, nhưng cũng có những người nhất quyết không tham nhũng vì yêu nước, thấy đó là đại họa cho dân tộc về lâu về dài, có thể họ được giáo dục trong gia đìnhtruyền thống trọng nghĩa khinh tài và cha ông họ là những người luôn giữ lòng trong sạch trong bất cứ hoàn cảnh nào, ‘bần tiện bất năng di’. Tôi còn nhớ ở miền Nam trong lúc chiến tranh leo thang, trong khi tướng tá tham nhũng có hệ thống, có hai bác sĩ quân y (Hà Thúc Nhơn và Phạm Văn Lương- nếu tôi nhớ không lầm) cầm lựu đạn ngồi trước thềm Quốc Hội, đòi hỏi chánh phủ đương thời phải có ‘biện pháp’ chống tham nhũng. Theo họ nghĩ, miền Nam sẽ không thể nào chiến thắng nếu ‘cá ươn’ từ trên xuống dưới. Có thể đó là thái độ điên rồ của tuổi trẻ trong sạch, thái độ ‘phi-kinh tế’ vì chính họ có thể gia nhập hàng ngũ tham nhũng như ăn cắp thuốc của bệnh viện đem bán cho ‘Việt Cộng’, như các bà Tướng thời bấy giờ. Tuy nhiên không ai không ngã mũ kính phục khí tiết của hai bác sĩ này. Thu hẹp động cơ hành động vào lý do duy nhấttư lợi, không chịu ‘factor in’ những động cơ khác, khiến kinh tế trở thành nghèo nàn. Con chó Pavlov có thể nhỏ nước miếng khi nghe tiếng chuông, nhưng con người biết suy nghĩphản tỉnh, homo sapiens, có thể nghe ‘tiếng chuông’ giác ngộ. Có nhiều thiền sư chỉ cần nghe tiếng hòn sỏi dội trong bụi tre cũng có thể tỉnh giấc nữa là nghe một tiếng chuông.

Các nhà kinh tế hiện đại đã dùng tiêu chuẩn nào để định tính hợp lý của hành động kinh tế? Có hai tiêu chuẩn được đề ra để biện minh cho tính ‘hợp lý’. Thứ nhất là lúc nào cũng giống chọn lựa nào, trước sau như nhất và thứ hai, chọn lựa phải có tính ‘kinh tế’, nghĩa là luôn luôn phải bảo vệ quyền lợi riêng của mình.

Tuy nhiên một người lầm lẫn nhiều lần vẫn là một người lầm lẫn (ví dụ lần nào cũng từ chối hối lộ), chọn lựa trước sau như nhất không thể là điều kiện cần và đủ của tính hợp lý! Yếu tố này do đó phải kết hợp với yếu tố tư lợi mới thành định nghĩa tính hợp lý trong kinh tế hiện đại. Đến đây chúng ta mới hiểu tại sao các nhà kinh tế hiện đại neocons cứ nhất định kéo Adam Smith đứng sau lưng làm hậu thuẫn cho mình.

Không ai có thể phủ nhận yếu tố tư lợi chi phối phần lớn các chọn lựa kinh tế và quả thực là một điều phi lý khi chúng ta cứ tìm cách phủ nhận yếu tố này. Nhưng biện luận là một chọn lựa dựa trên những yếu tố khác ngoài yếu tố tư lợi đều không hợp lý là một lý luận quái dị! Nếu định nghĩa hợp lý là hành động có thể làm tăng tối đa khả năng thực hiện mục tiêu mà mình muốn nhắm tới, và nếu một người muốn nhàn nhã và hạnh phúc, không xem việc tích lũy tài sảnmục đích tối hậu của đời mình, họ có thể chọn những hành động ‘phi-kinh tế’ (như không chịu hối lộ hay bon chen) và chọn lựa của họ trước sau vẫn giống nhau (tiếp tục từ chối tham nhũng và bon chen), những chọn lựa này được phải xem là hợp lý. Nói các khác, không thể nào tránh được câu hỏi về ý nghĩa tối hậu của đời người khi chọn lựa, trong lĩnh vực kinh tế hay trong các lĩnh vực khác. Như ví dụ mà Gandhi nói về chính trị: nó như con rắn quấn quanh mình, có muốn tránh cũng không tránh được!

Có người thích giàu có, có người thích danh vọng, có người xem ý nghĩa của đời mình là phục vụ người khác, và để đạt tới các mục đích đó, họ có thể không bao giờ chọn những hành động chỉ vì quyền lợi riêng của mình. Trong khi chúng ta không thể phủ nhận có nhiều người lúc nào cũng hành động ích kỷ, nhưng cũng có nhiều người khác xem tiền bạc như mây nổi, có đó mất đó, càng giàu càng mất an lạc. Có người chỉ muốn sống ở đời như nhà văn, nghệ sĩ, có người chỉ muốn làm việc cứu tế người đói ăn ở các nước chậm phát triển, và có những người nhất quyết chọn con đường tâm linh. Không thể gọi những chọn lựa của họ là không ‘hợp lý’. Nếu thế, chúng ta sẽ không bao giờ có văn hoá, nghệ thuật hay tâm linh nữa. Cứ tưởng tượng cả thế giới chỉ còn là những người háu ăn như ngạ quỷ, cả đời chỉ lao tâm khổ trí để dành giựt miếng ăn với người khác. Homo economicus chính ra là những con ngạ quỷ trong cảnh giới tệ hại nhất của lục đạo, địa ngục.

 blank

George Stigler

Nhằm biện hộ cho động lực tư lợi, George Stigler, một kinh tế gia được giải Nobel kinh tế, trong Economics or Ethics, cho rằng hiện chúng ta đang ở trong thời đại thông tin và mọi người do đó đều có đủ dữ kiện và ‘thông minh’ để theo đuổi quyền lợi riêng tư của chính mình. Stigler tiên đoán là nếu thực hiện các trắc nghiệm khách quan giữa ảnh hưởng của hai yếu tố tư lợiđạo đức, chắc chắnyếu tố tư lợi sẽ thắng trong hầu hết các trường hợp. Stigler sau đó thú nhận là khó lòng thực hiện được thử nghiệm khách quan vì có quá giá trị đạo đức khác nhau. Tuy nhiên nếu dùng hai tiêu chuẩn đối nghịch ‘vị kỷ’ và ‘vị tha’ các thử nghiệm này cũng có thể thực hiện được, thay vì chỉ quyết đoán suông như Stigler. Chỉ hơn 10 năm sau, nhà tâm lý học Daniel Kahdeman đã thi hành được các thử nghiệm này và khám phá là trên thực tế, những chọn lựa thường dựa trên nhận thức và tình cảm cá nhân hơn là trên lý trí. Cũng nhờ đó Daniel Kahdeman đã được chia giải Nobel về kinh tế với Vernon L Smith, dù ông không phải là một kinh tế gia. Thế nhưng các neocons vẫn tiếp tục đoan chắc tư lợi là động cơ duy nhất trong hoạt động kinh tế dù các thử nghiệm đã cho thấy kết quả phức tạp hơn nhiều.

Sự thành công của kinh tế thị trường thực ra không chứng tỏ là do động cơ tư lợi của chọn lựa các thành viên trong nền kinh tế đó. Sự thành công của kinh tế Nhật chẳng hạn, cho thấy kết quả ngược lại. Đạo đức Nhật Bản, trong đó công nhân và ban quản lý đã chấp nhận ‘hy sinh’ quyền lợi cá nhân để phục vụ quyền lợi của công ty nói riêng và quyền lợi của quốc gia nói chung. Nhà kinh tế Nhật, Michio Morishima nhìn nhận ‘đạo đức Nhật Bản’ là một phản đề của động cơ tư lợi. Có vài nhà kinh tế khác khi tìm cách so sánh sự phát triển kinh tế của các con rồng Á Châu, nghĩ rằng đạo đức Khổng giáo có thể đóng một vai trò tương tự như ‘đạo đức Tin Lành’ trong sự thành công kinh tế.

Không chấp nhận tư lợi là động cơ duy nhất trong hoạt động kinh tế không có nghĩa là phủ nhận ảnh hưởng của động cơ này, nhưng Amartya Sen chỉ muốn lưu ý là có nhiều động lực phức tạp khác ảnh hưởng lên hành động của chúng ta và những động lực này cần được ‘factor in’ vào các mô thức kinh tế.

Trong các cộng đồng xã hội như gia đình, làng xóm và rộng hơn, dân tộc, con người thường hy sinh quyền lợi cá nhân của mình cho tập thể, hay tìm cách dung hòa quyền lợi đối nghịch. Đạo đức Khổng Mạnh luôn nhấn mạnh đến quyền lợi của tập thể. Xuất tức là ‘nhập’ thế, chú trọng cương thường, an bang tế thế, cho đám đông. Khi ‘xử’ tức là trở lại con người riêng tư, giống như căn bản của đạo Phật nhập thế, chuyển hoá tâm linh - chuyển hóa xã hội. Các thí dụ về thái độ thung dung tựu nghĩa của nhà Nho đầy dẫy trong lịch sử cận đại của chúng ta. Trong Tứ thư, Đại Học, bắt đầu từ minh mình đức, thân dân đến mức chỉ ư chí thiện. Ngũ thường để duy trì tam cương, từ tề gia đến trị quốc, cuối cùng bình thiên hạ. Vào trong để ra ngoài hành động, hành động phải dựa vào minh đức bên trong, xuất xử chỉ là hai giai đoạn khác nhau của con đường hành đạo. Hành động (nghiệp) mà không có chính kiến thì chỉ tạo thêm nghiệp. Chánh kiến là nền tảng để hành động, để tự giúp mình và người khác tu tập chuyển nghiệp, nếu không Đức Phật đâu có mất công bụi đời 45 năm, ôm bình bát, sống đời hành khất để truyền bá chánh pháp?

Trở lại hai vấn nạn căn bản của giả định ‘con người tham lam’, có hai vấn nạn chính: một, trên thực tế, có phải lúc nào con người cũng thực sự hành động vì động cơ ích kỷ không, và hai, hành động ích kỷ có đưa đến những hiệu năng kinh tế mong muốn không? Những gì xảy ra trên thực tế cho thấy nền tảng này cũng chỉ là những giả định nhắm biện minh cho chánh sách laissez faire của kinh tế tư bản, kinh tế toàn cầu và giả định này thường được gán cho cha đẻ của kinh tế cổ điển, Adam Smith. Nhưng thực sự đây có phải là tư tưởng của Smith không?

 

Nỗi Hàm Oan của Adam Smith

Phần lớn đồ đệ của Smith đều gán động cơ tư lợi vào miệng thầy mình, nhưng chủ trương của Smith thực sự là gì?

Trong một bài diễn văn giải thích tư tưởng của Smith, Smith’s Travel on the Ship of State, Stigler dè dặt “không phải tư lợi lúc nào cũng thúc đẩy hành động, nhưng nó chi phối hành động của đa số người trong mọi giai cấp”. Trong The Theory of Moral Sentiments, Smith dùng chữ Prudence, không dùng chữ ‘self interest’ và không thể đồng hóa hai từ ngữ này được. Định nghĩa Prudence của Smith có hai phần: một, dựa trên lý luậnhiểu biết, và hai, dựa vào quan niệm self command phát nguyên từ phái Khắc kỷ (Stoics) và không chỉ có nghĩa ‘tư lợi’ và cũng không đồng nghĩa với ý niệmself-love’ mà Smith hay dùng. Ảnh hưởng của phái Khắc kỷ khá đậm đà trong tư tưởng Smith, khi ông định nghĩa hành vi tốt: cảm tình với người khác sym-pathy và tự chế. Smith nói rõ trong The Theory of Moral Sentiments (trang 140):

Theo quan niệm của phái Khắc kỷ, con người không nên xem mình là một cá nhân biệt lập với người khác, nhưng như là một công dân của thế giới, một thành viên trong thiên nhiên bao la. Con người phải sẵn sàng hy sinh quyền lợi nhỏ nhoi riêng của mình

Tôi dùng khổ chữ bold italics cho câu nói của Smith nói từ miệng cha đẻ của kinh tế hiện đại! Mặc dù khuyến khích prudence và sympathy, khuyến khích sự cân bằng giữa quyền lợi cá nhâncông ích cho nhân loại, nuôi dưỡng tinh thần ‘công lý, độ lượng và công cộng’ (Moral Sentiments trang 189), tại sao các ‘đồ đệ’ của Smith lại cứ nhất quyết gán cho thầy chủ trương ‘tự lợi’ là động lực duy nhất trong các hoạt động kinh tế?

Một trong những đoạn văn của Smith được trích dẫn nhiều nhất là đoạn nhận xét về vai trò khác nhau trong xã hội, trong đó Smith nhận xét là ‘không phải vì lòng tốt của ngưới bán thịt, người cất rượu hay người thợ bánh mì mà chúng tabữa ăn tối, ai cũng tự thương mình, không phải vì người khác, họ không có ý muốn cung cấp nhu cầu cần thiết cho chúng ta, mà muốn được lợi lạc khi làm các nghề đó” (trang 26-7). Nhưng đọc kỹ tinh thần đoạn đó, Smith chỉ muốn giải thích những hoán chuyển kinh tế xảy ra như thế nào và lợi ích của việc phân chia lao động trong xã hội, cũng là chủ đề của chương đó. Dĩ nhiên là ai cũng tự thương mình self love, nhưng Smith nhận xét thêm là tôn trọng lợi ích chung giữa các nghề khác nhau, thay vì chỉ lo cho mình, có thể đóng góp phần mình vào một xã hội tốt. Các đệ tử của Smith trích dẫn có chọn lựa, đầy thiên kiến và ngoài văn cảnh.

Trong khi bàn về phái hưởng thụ Epicure, Smith chỉ trích thái độ giảm lược nguyên nhân của các hiện tượng bằng một yếu tố duy nhất. Éo le thay, các đồ đệ gán cho ông những gì mà ông chỉ trích người khác. Đó là thái độ giản lược động lực kinh tế vào một nguyên nhân duy nhất: làm lợi tối đa cho cá nhân.

Smith chỉ biện hộ cho quyền lợi cá nhân trong trường hợp đặc biệt, như vai trò của thương gia trong các nạn đói. Dù thương gia hay đầu cơ tích trữ khi hàng hóa khan hiếm và bán hàng với giá cắt cổ, không thể đổ lỗi cho họ là thủ phạm gây ra nạn đói, mà nguyên nhân chính là nạn khan hiếm thực phẩm. Smith không đồng ý việc cấm hay giới hạn buôn bán, nhưng không có chỗ nào trong tác phẩm The Moral Sentiments cho thấy Smith phản đối việc tìm biện pháp giúp đỡ người nghèo.

Các đệ tử của Smith hoặc chú giải lầm lẫn hoặc cố tình quên lãng những yếu tố đạo đức khác trong việc giải thích động lực kinh tế, chỉ vì muốn cổ võ cho chánh sách laissez faire. Ngoài yếu tố tư lợi, Smith còn chủ trương làm giảm nghèo khổ, nhắc tới sự cần thiết của lòng thương cảm … không được các đệ tử của Smith nhắc tới. Smith là giáo sư về Triết Lý Đạo Đức, không phải là người vô cảm với đói kém hay nghèo khổ. Theo Amartya Sen, đây là một điều thiếu sót lớn trong kinh tế hiện đại.

Tuy nhiên việc cổ võ cho tư lợi trong kinh tế hiện đại ngày càng trở thành nghệ thuật sử dụng khẩu hiệu trong quảng cáo, giống như các neocons hiếu chiến hiện lập đi lập lại các khẩu hiệu như ‘ democracy, freedom and civilized world’ trong khi phát động chiến tranh Iraq! Nhận thấy được mối hàm oan này, nhiều nhà kinh tế đã tìm cách giải oan cho Smith:

Adam, Adam, Adam Smith Adam Smith, Adam Smith
Listen what I charge you with! Hãy nghe lời người ta cáo buộc ông
Didn’t you say Có phải có lần ông nói
In the class one day trong lớp học
That selfishness was bound to pay? Ích kỷ sẽ mang lại lợi lộc

Nếu đội mồ sống lại, Smith có lẽ sẽ trả lời: ‘Not quite!” “Không hẵn vậy đâu!”

 

Tạo bài viết
02/12/2013(Xem: 22623)
01/09/2014(Xem: 10600)
Những người ăn ớt có thể ít bị tử vong hơn do bệnh tim hoặc ung thư và có thể sống lâu hơn những người không ăn, theo một nghiên cứu mới sẽ được trình bày tại Phiên họp Khoa học của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2020 vào thứ Ba, ngày 17 tháng 11 năm 2020.
Với lượng thông tin khổng lồ trong thời đại Internet hiện nay, nguồn gốc và mức độ tin cậy của chúng đang là một vấn đề đáng lo ngại. Lợi dụng khả năng lan truyền nhanh chóng của các trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, những người đứng sau các tin tức sai lệch, giả mạo đang đưa chúng tiếp cận đông đảo người dùng hơn chỉ trong tích tắc nhằm trục lợi. Nếu không được trang bị kiến thức đầy đủ, người dùng Internet sẽ rất dễ sa vào những cái bẫy thông tin đó.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đã kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới, hãy hành động khẩn cấp với các biện pháp khắc phục biến đổi khí hậu, cảnh báo về các loài và hệ sinh thái đang biến mất nhanh chóng khỏi Trái Đất, với hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người và hủy hoại hành tinh, bao gồm cả quốc gia Phật giáo Kim Cương thừa Tây Tạng, nơi chôn nhau cắt rốn của Ngài.