TUYỂN TẬP TƯỞNG NIỆM
CƯ SĨ TỊNH LIÊN NGHIÊM XUÂN HỒNG
Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen
NGHIÊM XUÂN HỒNG
NGƯỜI VỀ KHÉP CÁNH HƯ KHÔNG
Tuấn Huy
“Người về bứt
áng mây hồng
Dệt y trăm sắc
ngại ngùng lòng ai,
Tôi về mơ giấc mơ dài
Song-hồ-hư ảnh-trăng-cài-sắc-không....
Người về bước nhỏ
thong dong
Ngâm ngùi tình muộn vương lòng đỗ quyên
Tôi về mở sách u-huyền
Mưa hoa lãng đãng mấy miền tịch- dương. . .
Người về nhặt nụ hướng-dương
Tô thêm khóe mắt cô-nường Huyền-âm
Tôi về khép cánh hư-không
Bồ đoàn che khắp nửa vòng trần-duyên...
Người về tiệc rượu
đảo điên
Chê ly quá nhỏ, hài sen rót đầy,
Tôi về tỉa nhánh trúc gầy
Đèn khuya rải bóng vơi đầy
HOA NGHIÊM...
Người về lìa suối tịch-nhiên.
Chênh vênh gót ngọc,
đảo điên nụ cười,
Tôi về gấp
áng mây trời
Ôm-trăng-đổ giấc-bên-đồi-Tào-khê....”
Thơ Nghiêm Xuân Hồng. Những vần thơ chau chuốt và
uyên bác. Những vần thơ
tinh khiết và
an nhiên. Những vần thơ
hé mở cho ta thấy một cõi tâm
thanh thoát. Những vần thơ phơi lộ cho ta thấy một trời
tư tưởng khoáng đạt.
Thăm thẳm, khôn cùng... Những vần thơ đó, chiếu dọi vào
tâm thức tôi những lượng ánh sáng
huyền ảo của một trái tim đầy trăng sáng. Những
vần thơ đó mang về cho
suy tưởng tôi những lượng hương thơm
thanh tịnh của những đoá sen hồng. Tôi nhớ, một nửa khuya, khi được đọc những vần thơ đó. tôi đã không muốn ngủ nữa. Tôi đứng thật lâu bên khung cửa sổ nhìn ra một mảnh vườn nhỏ đầy trăng. Trăng tháng Chạp mông lung bàng bạc, trăng
mùa đông bát ngát
âm u. Nhìn ánh trăng mặt hồ ẩn hiện giữa những cỏ cây se giá ở bên ngoài, tôi cảm nhận được cái vẻ chói lòa ngời tỏa của một vầng trăng lung
linh từ tâm thức. Và cũng cảm nhận được nỗi ấm áp
dịu dàng của một cõi lòng khi nhũng đỏa-sen-từ-ái đã vừa bừng nở... Trước đó,. một đôi khi,
tâm thức tôi còn là
rối loạn. Trước đó, cõi lòng tôi luôn luôn bi xô động bởi những nát tan. Nhưng chỉ cần đọc những vần thơ, và chỉ cần nhìn ánh trăng khuya giãi mở - tâm tôi được yên lại, và lòng tôi đã được
an ủi vỗ về. Bên khung cửa sổ, tôi
hình dung thấy cái bóng nhỏ bé của mình, đã lang thang từ tầng đầu
cuộc đời này đến tầng đầu
cuộc đời khác - đã lê lết từ đáy sâu
phiền muộn đó đến đáy sâu
phiền muộn kia - đã nếm hưởng rất nhiều khổ đau và đã nếm hưởng một ít oi
hạnh phúc - đã rạc rài qua những bến bờ
mê muội tới những khe vịnh mù - lòa - đã long đong từ những chân trời điên loạn về những góc biển cưồng si. Nói tóm, là qua bao nhiêu năm tháng, tôi như một con vụ quay tròn trong cơn lốc. Cơn lốc của
gia đình. Cơn lốc của đất nước. Cơn
lốc của thời thế. Cơn lốc của
công danh. Cơn lốc của tình yêu. Cơn lốc của mất mát. Cơn lốc của đổ vỡ. Cơn lốc của
con người...
Thực ra, không phải bây giờ tôi mới được nhìn thấy cái vẻ
huyền ảo của ánh trăng gầy, và cũng không phải bây giờ tôi mới được ngửi cái vị thơm
man mác của những đoá sen. Trăng đã có
từ vô lượng thời gian. Sen đã có
từ
vô thủy cuộc đời. Nhưng phải là trăng đến với ta đúng một
sát na hạnh ngộ, và cũng phải là sen đến với ta đúng một khoảnh khắc-giao phùng. Thì ta mới biết được cánh cửa dầy đặc của Tâm đã mở. Thì ta cũng
mới biết được những chận giữ của Nghiệp đã thông...
Trước kia, mỗi lần đọc những câu thơ của
Trúc Lâm đại sĩ:
“Vạn sự nước xuôi nước.
Trăm năm lòng ngỏ lòng.
Tựa lan nâng sáo thổi
Trăng sáng đầy cõi tâm...”.
tôi đã
nghe được sự im ả
siêu thoát của
tâm hồn. Nhưng đêm ấy, khi đọc những vần thơ của Thiền giả Nghiêm Xuân Hồng, lòng tôi đã được nhẹ tênh,
khi thầy mình chỉ là một
hạt bụi nhỏ nhoi giữa ngàn hoa cỏ. Ngày hôm sau, buổi chiều, tôi tìm đến thăm ông. Đó là một buổi chiều lộng gió của
một trận bão- khô còn
rớt lại. Thung lũng Foutain. Những hàng cây rét mướt đan dài một bầu trời
thoi thóp nắng và rất nhiều mây xám. Ngôi nhà ở
đáy-túi một
con đường vắng. Những cánh hoa lăn tăn màu vàng và màu đó ở
một bờ tường thấp. Nhữõng lá cỏ nghiêng đi. Những cảnh lá
xào xạc nghiêng đi.
Trong căn phòng xinh nhỏ, lặng trang như một
tịnh thất, mà
rõ ràng ngọn đèn khuya còn là rãi bóng
Hoa Nghiêm, người nhà văn, nhà thơ, nhà
tư tưởng, vị thiền-sư nữa. Nghiêm Xuân Hồng, người đã đặt những bước chân
thong dong ở gần khớp mặt địa cầu, đang ngồi giữa những cuốn kinh sách
ngổn ngang tung tóe - nhìn lấp lánh như những đóa hoa huyễn hoặc trên một biển xanh chập chùng của
trí huệ. Cái dáng đã là khom khom tuổi tác.
Khoảng lưng đã là cong gập tháng năm. Nhưng nụ cười vẫn
thật hiền hòa.Và ánh nhìn vẫn thật
khoan dung tứ ái. Ông nhường chiếc ghế cho tôi,
để ném mình xuống một khung giường mà chăn nệm vẫn là bừa bộn xô bồ. Khắp nơi là sách. Khắp nơi là kinh. Không có tranh và không có hoa. Trên
tường, nhìn ngang là một bức vẽ rất
thanh thoát đức
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Và nhìn tới là một bức vẽ rất hài-hòa đức
Bồ Tát Long Thọ. Trong khi tôi
thăm hỏi về sức khoẻ của ông, nhà văn Nghiêm Xuân Hồng mở hộp thuốc,
lấy một viên, nhai chệu chạo, rồi chiêu một ngụm nước, rồi cười: “Vẫn vậy vậy “ Tôi nhìn những hộp thuốc, những lọ thuốc, những vĩ thuốc, để ở
khắp nơi. Từ mặt bàn đến kệ gỗ. Từ xó kẹt đến đầu giường. Tôi thấm thía
về câu Nghiêm Xuân Hồng thường nói: “Bệnh tật là bạn của ta”. Tôi muốn thêm: “Thuốc men cũng là những người bạn khác của ông nữa”
Một điếu thuốc “Lucky” được đốt lên. Nhà văn Nghiêm Xuân Hồng vừa từ tốn
hút những hơi thuốc nhẹ, vừa chuyện trò với tôi thật
thân thiết cởi mở.
Như một người cha nói chuyện với con. Như một người anh nói chuyện với em. Như một người thầy nói chuyện với một
môn sinh vừa từ phương trời xa
trở lại. Như một người bạn nói chuyện với một người bạn vừa từ nơi
lưu lạc quay về... Tôi gợi ông nhớ lại cái ngõ hẻm đường Yên Đổ, nơi nhóm “Quan Điểm” đã được hình thành, với những Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho..v..v.. Tôi gợi ông nhớ lại căn gác nhỏ trên đường Gia Long. Nơi những bậc thang gổ ướt nhìn xuống khoảng sân đầy chậu cảnh xum xuê tươi mát. Nơi mà những nhà văn nhà thơ
danh tiếng lừng lẫy ở miền Nam đã thưởng lưi tới. Tôi gợi ông nhớ lại cái văn-phòng luật-sư rất nghệ sĩ ở Biên Hòa. Tôi cũng gợi ông nhớ lại bữa nửa khuya ngày chính biến Mồng Một Tháng Mười Một năm 1963, ở một biệt thự đường Phan Đình Phùng, có nhiều khuôn mặt hàng đầu trong chính trường miền Nam sau đó: những P.H.Q., những B.D., những Đ.V.S.... Những nơi chốn đó, phần tôi, tôi đã đều có mặt.
Lúc ấy còn là một Nghiêm Xuân Hồng nghiêm túc,
nhỏ nhẹ, kín đáo
xa cách,
giữ gìn. Một Nghiêm Xuân Hồng
luật sư chính
trị gia, nhà lập thuyết, nhà
tư tưởng. Một Nghiêm Xuân Hồng đang ôm những “giấc mộng lớn”. Một Nghiêm Xuân Hồng đang ấp ủ những hoài bão vĩ đại. Một Nghiêm Xuân Hồng đang có nhiều cao vọng: về đất nước, về thời thế, về chế độ, về những dấn thân, nhập cuộc.
Thời gian đó, là
thời gian tôi thường tìm đến cái thế-giới-tư-tưởng Nghiêm Xuân Hồng, qua những “Đi tìm một
căn bản tư tưởng”, “cách mạng và
hành động”, người
viễn khách thứ mười”, “Xây dựng
nhân sinh quan” v.v... Qua sự
hiểu biết còn nông cạn và qua sự tiêu-hóa-rất giới-hạn của
trí tuệ tôi, tôi thấy đó là một
con người có những khát vọng
đẹp đẽ và có những mong cầu vĩ đại. Cũng rất là
phóng khoáng và cũng rất là
nhân bản. Hàm chứa những dằn vặt, những thao thức, những băn khoăn, những dày
vò, những khấc khoải của những người
trí thức -
đặc biệt của những người
trí thức trẻ- trước dòng
sinh mệnh đang nổi trôi ngặt nghèo của dân tộc.
Đặc biệt, qua nhiều
tác phẩm đã
hoàn thành trong thời điểm này.
Nghiêm Xuân Hồng không “lập thuyết” suông, khỏng
diễn đạt một nguồn lư
tưởng đặc đầy khó hiểu. Ông là một nhà lập thuyết nhìn đời rất
thực tế,
nhìn vào
xã hội mà ông đang sống rất
thực tế. Nên, những
tư tưởng ông khai mở, là những
tư tưởng “dễ chấp nhận”. Ông đã cùng với một lớp
thân
hữu hoặc anh em cùng trang lứa khác, như Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nguyện Mạnh Côn, Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ v.v... thổi vào không khí
tư tưởng văn
học miền Nam một luồng gió mới về
thức tỉnh, về thử lửa, về quyết đinh chọn lựa. Nhớ lại, cái thời điểm đó, sau 1954 - và nhất là những năm từ 1956 trở đi, người dân miền Nam nhất là những từng lớp
trí thức tiểu tư sản ở miền Nam, đã nhìn thấy một chân trời bình minh hé lộ. Nghiêm Xuân
Hồng là một trong những người đã cho
chúng ta nhìn thấy được cái chân trời đó, hay đúng hơn, đã đưa
chúng ta tới những nẻo đường trầm tư về nhửng chân trời đó một cách thiết tha và
hăng hái biệt chứng nào!
Cũng như
tác giả,
chúng ta hăm hở nôn nao đi
tìm kiếm. Nhưng giữa
thực tế và những gì mơ ước, đã lại là những bức tường cao
vòi vọi của gạch đá
rong rêu. Bởi thế, khi nhà văn Nghiêm Xuân Hồng “tham chính” tôi có được gặp ông một đôi lần, nhưng không thấy ông còn
vui vẻ và
hăng hái như trước. Chỉ khoảng một năm thôi, nhưng
con người ông đã “còm cỏi” hẳn
đi. Mãi sau này, tôi mới biết, ông đã
hoàn toàn thất vọng. Bởi đã nhìn thấy và đã nghe rõ. Bởi đã
chứng kiến và đã tận tường. Những sự việc không đúng như ông
mong mỏi. Những
thành quả không
tốt đẹp như ông ước ao.
Cộng thêm là những cái nhơ nhớp của chính trị. Những nhỏ mọn ti tiện của một số những người
lãnh đạo. Cả những
yếu thế thua thiệt của những người không có thực quyền. Cả những
xếp đặt ngang ngược của những
kẻ muốn bao trùm
ảnh hưởng... Đã cho Nghiêm Xuân Hồng nhìn thấy được những
sự thật phũ phàng. Về
thân phận bẽ bàng của những
con người thấp cổ bé miệng. Về phần số
hẩm hiu của những người dân một nước nhược tiểu.
Về một đất nước đang là băng hoại. Về một xứ sở đang có chiến tranh. Về
những quân tốt thí trong một ván cờ...
Từ tâm thức, Nghiêm Xuân Hồng đã bừng tỉnh như một người vừa
chứng ngộ. Trong khi đó, đất nước chuyển mình qua những
biến cố thảm thương. Một dàn tộc đã khốn khổ
điêu linh càng ngày càng
điêu linh khốn khổ. Một xứ sở đã
ê chề tan ra, càng ngày càng tan rã
ê chề... Những
tác phẩm về
thân phận con người ra đời
tới tấp. Ở Nghiêm Xuân Hồng là “biện chứng
giải thoát trong
giáo lý...” và “nguyên tử, hiện minh và hư vô”...
Sáng tác không ngưng nghỉ như một
dòng tâm thức có
chuyển hóa, nhưng chẳng bao giờ khô cạn - nhưng
thực tế Nghiêm Xuân Hồng không tha thiết nhiều lắm với
văn chương như đã hằng thiết tha quá đổi với
tư tưởng. Thơ văn đối với ông chỉ là mói cái cớ, hay đúng hơn, chỉ là một mặt khác
để
diễn đạt tư tưởng. Trước sau, ông vẫn là một “con người tư tưởng”. Dù những
tư tưởng ấy đặt vào thời thế, đất nước, hay những
tư tưởng ấy đặt tới những
ẩn mật,
huyền diệu của
kiếp người.
Từ ngày xa rời đất nước ra đi, nhà văn Nghiêm Xuân Hồng đã
chú tâm khai triển những trầm tư của ông trước
đạo pháp. Dù rằng ông khiêm nhượng chỉ
cho mình là “một người học Phật và
cố gắng tu theo lời Phật”, nhưng
rõ ràng ông đã có một vi thế riêng trong những
nghiên cứu về triết
lý Phật giáo. Những
tác phẩm của ông (một tiểu thuyết dài viết bằng Việt ngữ, hai cuốn khác viết bằng
Pháp ngữ, chưa xuất bản “Lăng Kính Đại Thừa”, “Tánh Không và Kinh Kim Cang”, “Lăng Nghiêm Ảnh Hiện”, “Nguồn Thiền Như Huyễn”, “Mật Tông và Kinh Đại Thừa”, (đã xuất bản), “Hoa Tạng Trầm Tư” (sắp in)..v..v.. và nhất là những bải thơ mà ông làm mấy năm sau này, đã
phản ảnh đầy đủ một ngả rẽ đổi thay quan trọng trong
tư tưởng của “nhà tư tưởng” ấy. Tôi
kính trọng lắm những
suy diễn của ông trong những cuốn tiểu luận đó. Và yêu thích lắm những vần thơ của ông bát ngát hương
thiền. Ông đã nhìn
đạo Phật bằng nhãn quan của một
học giả uyên bác, và bằng tấm lòng của một
con người đã vượt được lên trên hết cả mọi
câu nệ tầm thường. Cũng vậy, thơ của ông ngạt ngào những mùi sen và vằng vặc
những ánh trăng. Với những phân tích rất khoa học và những mổ xẻ rất cận-nhân-tình, ông soi chiếu vào những tàng kinh cổ cũ,
bí hiểm, khô khan, một ánh sáng mới mẻ, giản đơn và đầy thơ mộng.
Nhớ
một lần cách đây chừng 5 năm, khi
nghe tin gia đình tôi vừa gặp một
đại nạn; từ Long Beach, ông đã đến Alhambra
thăm hỏi. Lúc đó, các con tôi chưa từ
hải đảo sang, và tôi đang sống cùng với một người
bạn thân ở
thành phố ấy. Người bạn tôi cũng là một người cháu của ông. Gần một ngày ở lại với
chúng tôi, ông đã mang những
đau khổ lớn lao của
nhân loại ra chuyện trò, như muốn thổi giạt đi những
đau khổ bé mọn mà tôi đang có. Ông cũng đã mang những cái hướng thiện bát ngát của người ra tâm sự, như muốn khơi mở cho tôi một hướng thiện để tôi theo đó mà sống
mai sau. Lần đó, và nhiều lần sau này nữa, mỗi khi gặp ông và nghe ông
trò chuyện, tôi như một người được
cảm hóa và được bừng ngộ. Một đôi khi, tôi nghĩ, chính ông là một bậc thiền giả, một vị
bồ tát, đã
thị hiện trước mặt tôi, vì cái
cơ duyên sẵn có của tôi, để đẩy mở cho tôi một cánh cửa kín
cuối cùng của ngẩn ngơ
mê muội.... Tại sao không? Bởi vì trong cuộc sống của
chúng ta, có những người khi ta được chuyện trò tâm sự, ta thấy lòng
thanh thản hẳn.
Cũng thế. Có những người khi ta được
đối diện với họ, chỉ cần thấy ánh nhìn
khoan dung từ ái, và chỉ cần
thấy nụ cười
độ lượng nhu hòa trái tim ta đã trầm hẳn xuống. Tâm ta đã
là những nụ hoa
rực rỡ. Và lòng ta đã là một vằng trăng
huyễn ảo mênh mang...
Nói vậy chỉ là một cách nói về nhân cách và về cái phẩm hạnh cao quý của
một
con người. Còn Nghiêm Xuân Hồng vẫn là Nghiêm Xuân Hồng. Một Nghiêm
Xuân Hồng trầm mặc.
Nhỏ nhẹ, Từ tốn. Thiết tha.
Dung dị, Đầy chất thơ trong
tâm thức một nhà
tư tưởng. Đầy vẻ Thiền trong sự sống và trong sự
sáng tạo của một nghệ sĩ. Nghiêm Xuân Hồng là người đã đi đến hết mọi nẻo đường của
nhân thế. Giầu sang. Phú quý.
Danh vọng.
Hạnh phúc.
Quyền uy. Cũng không phải là chỉ đi qua, mà đã đến tột đỉnh. Nhưng bây
giờ Nghiêm Xuân Hồng đã khước từ, đã chối bỏ những
quyền uy, những
hạnh
phúc, những
danh vọng, những phú quý, những sang giầu ấy.
Nguyên nhân nào khiến ông
trở thành như vậy? Chẳng có
nguyên nhân nào khác, mà chẳng bởi cái ánh sáng le lói phát xuất ở một cõi Tâm. Hiểu như thế, thì mới thấy được phần nào,
con người của Nghiêm Xuân Hồng: Một nhà văn luôn luôn thiết tha với đất nước. Một nhà
tư tưởng luôn luôn thiết tha với đại thể. Một bậc thiền giả luôn luôn thiết tha với thế nhân. Một hồn
thơ luôn luôn thiết tha với cái “mỹ” và cái “hảo”, từ trong
tâm thức.
Ông đã từng đặt gót chân phiêu du ở gần trọn trái đất. Từ Đông sang Tây,
từ Âu sang Á. từ Bắc qua Nam. Đã một phen, ông định đi tu ở một ngồi chùa trên đất Pháp. Đã
một lần ông đi
hành hương suốt mấy tháng ròng ở
Ấn độ. Rồi sẽ đi
Tây Tạng. Rồi sẽ về
Đông Phương... Nhưng nơi nào thì ông cũng thấy
trơ trọi,
bàng hoàng,
ngơ ngẩn. Bởi chẳng hiểu mình, đang ở
thiên đường hay ở
cửa địa ngục trần gian?” (Varanasi). Để rồi
cuối cùng, lại quay
trở về với chính ông. Quay
trở về với những
tư tưởng đã một thời sôi réo. Quay
trở về với những căn bệnh đã hơn một lúc phải làm
hòa. Quay
trở về để thấy những giấc mơ đầu đời đã nổi lên và đã tan vỡ.
Quay
trở về để nghe những buổi chiều êm ả từ trong mộng lướt đi...
Tôi yêu thích Nghiêm Xuân Hồng. không phải chỉ ở những
tư tưởng cao siêu
vòi vọi và ở
dòng tâm thức thanh tịnh xa xăm mà ông đã hơn một lằn hé lộ. Tôi còn yêu thích Nghiêm Xuân Hồng ở những điểm rất “đẹp” và rất “người”. Đẹp ở cách nhìn. Người ở cung cách xử thế. Đẹp ở lối
thưởng ngoạn. Người ở cách phô diễn lối
thưởng ngoạn ấy.
Một lần ông nói: “Mình
già rồi. Như cành héo khô, như cây củi mục. . Nhưng nhìn những cô gái-trẻ hơ hớ, mình vẫn thấy tiếc." Một lời đùa giỡn nhưng cũng chính là
một câu tâm sự. Của một
con người đa tình,
đa cảm,
đa sầu.. Lúc mới thoạt nghe câu đó, tôi không mấy
để ý đến. Nhưng ít năm sau này, khi phải sống trong cảnh
cô quả quạnh hiu, cũng là đang bước vào những ngày tháng của
tuổi già bóng xế, cũng là hơn
một lần phải
dập tắt nhưng khao khát mê cuồng - thì mới thấy thấm thía lời ông đã nói, mỗi lần có cơ hội
gặp gỡ hay
tiếp xúc với những người con-gái xuân-thì... Đó là cái
ý hướng ngậm ngùi nuối tiếc. Chẳng phải
ngậm ngùi nuối tiếc về những thân xác mỹ-miều
mơn mởn nhung nhúc quanh ta, mà là nuối tiếc về một tuổi trể
đã qua, và
ngậm ngùi về một
tuổi già đang tới. Cũng vậy, là nuối tiếc về nhũng
mùa xuân tươi thấm đã bỏù lại sau lưng, và ngâm ngùi về một
mùa
đông u ám đằng đẵng ở
trước mặt mình.
Hôm nay,
đã lâu lắm, tôi mới lại được chuyện trò với nhà văn Nghiêm Xuân
Hồng. Được nghe ông nói về những Nguyện Đức Quỳnh, Võ Khắc Khoan, Mặc Đỗ. Được nghe ông nói về những P.H.Q., B.D., Đ V.S. Được nghe ông nhắc nhở những kỷ niệm của ông và anh em trong nhóm “Quan Điểm”. Được nghe ông kể về những lần gặp gỡ ngắn ngủi với Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng. Rồi
những mối
giao hảo của ông với Tô Thùy Yên, Vương Tân, Mai Thảo, Phạm Công Thiện. Ông nói từ ngày kịch
tác giả Vũ Khắc khoan mất, ông đã hướng
nhiều về thơ. Ông
ca ngợi nhà văn Mai Thảo đã
một đời tận tụy với
văn chương báo chí. Ông nhẩm đọc lại vài câu thơ của Tô Thùy Yên mà ông rất lấy làm cảm khái. Ông gạn hỏi về Phạm Công Thiện, để muốn biết
đời sống của Phạm Công
Thiện hiện nay như thế nào. Với ai, thì ông cũng đều có cái nhìn
thân thiết. Với ai, thì ông cũng đều có nhửng
nhận xét thật cởi
mở và rất
khoan dung. Với ai, thì ông cũng đều
tỏ ra là một người bạn. Và với ai, thì ông cũng đều hiểu họ một cách thật
thông minh và thật
tinh tế. Từ căn phòng nhỏ, tôi nhìn ra một bờ tường, một ngọn cây, một phiến trời. Bốn câu thơ của người thơ Nghiêm Xuân Hồng lại hiện về giữa phiến tường, giữa ngọn cây, và giữa bờ tường đó:
“Mây cũng xưa rồi, nước cũng xưa.
Thu này ngơ ngác thoảng hương thừa.
Đầt trời
thăm thẳm trùng trùng hiện.
Nổi khúc hư tình nặng hạt mưa...”
Có phải
ngoài trời, những sợi mưa đã rớt rơi một màu xanh xám? Tôi không
rõ. Bởi ở
suy tưởng tôi đã là những sợi mưa
hư ảo, nhòe nhẹt bay nghiêng...
Mưa hay không mưa. Điều đó có gì là quan trọng. Bão hay không bão. Điều đó cũng chẳng cần nói đến. Chỉ biết ở cõi lòng tôi,
mãi mãi vần là một vầng trăng. Vầng trăng của vua Lý Thái Tông
thuở trước:
“Hạo hạo
Lăng Già nguyệt.
Phân phân Bát-nhã liên”
(Vầng trăng ***g lộng
Lăng già.
Cánh sen
Bát nhã chói lòa
sắc không)...
Tuấn Huy