Phần Ii: Tác Phẩm Trần Nhân Tông

31/05/201112:00 SA(Xem: 6202)
Phần Ii: Tác Phẩm Trần Nhân Tông


TRẦN NHÂN TÔNG

CON NGƯỜITÁC PHẨM
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát 
Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 1999

PHẦN II 
TÁC PHẨM TRẦN NHÂN TÔNG 
 
LỜI DẪN

Phần thơ văn Trần Nhân Tông sẽ chia làm sáu bộ phận. Đó là thơ, phú, bài giảng, ngữ lục, văn xuôivăn thư ngoại giao. 

1. Thơ 

Về thơ, chúng tôi dựa chủ yếu vào Việt âm thi tập do Phan Phu Tiên và Chu Xa sưu tầm vào giữa những năm 1434-1443 và được cả thảy 26 bài, kể luôn cả bài Ngự chế trúc nô minh ở phần Phụ lục. Trong số 26 bài này, bài Hạnh Thiên Trường phủ được chua “đã thấy ở Quốc sử”. Nhưng bây giờ ta khảo lại trong ĐVSKTT 5 tờ 58a9-b3 thì bài thơ ấửy được ghi do Thượng hoàng Trần Thánh Tông làm. Vậy Quốc sử đây là chỉ bộ Đại Việt sử ký do Phan Phu Tiên chấp bút. Ngô Sĩ Liên, khi viết ĐVSKTT về triều nhà Trần, nếu có sự việc nào chép khác với Phan Phu Tiên, thì đều ghi rõ. Thế mà, bài Hạnh Thiên Trường phủ này lại không thấy Ngô Sĩ Liên có ghi chú gì khác cả. Thêm vào đó, nếu căn cứ vào Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, đây đúng là bài thơ của Trần Thánh Tông. Từ đó, dù Việt âm thi tập đã chép bài Hạnh Thiên Trường phủ ấy vào thơ của Trần Nhân Tông, chúng tôi vẫn để riêng ra và xếp vào thơ của vua Trần Thánh Tông. Vậy Việt âm thi tập sưu tầm được 25 bài. 

Ngoài 25 bài thơ của Việt âm thi tập, Hồ Nguyên Trừng trong Nam ông mộng lục có ghi lại cho ta 4 bài thơ. Bài làm trong khi ăn yến với Văn Túc Vương Trần Đạo Tải có chép trong Việt âm thi tâp dưới tên Dự Văn Túc Vương yến. 

Còn bài Vịnh mai, thì trong Việt âm thi tập, là bài thứ nhất của hai bài thơ biết dưới tên Tảo mai. Còn lại hai bài tứ tuyệt với nhan đề Sơn phòng mạn hứng là những đóng góp mới của Nam ông mộng lục. Như vậy, Nam ông mộng lục ghi lại được thêm hai bài thơ nữa của vua Trần Nhân Tông. ĐVSKTT, ngoài bài Dự Văn Túc Vương yến vừa kể, chỉ ghi thêm được 2 đoạn phiến. Một đoạn phiến là hai câu thơ vua Trần Nhân Tông ghi ở cuối thuyền, khi quân ta rút từ Nội Bàng về Vạn Kiếp hội quân vào tháng chạp năm Giáp Thân (1285): 

Cối Kê cựu sự quân tu ký 
Hoan Ái do tồn thập vạn binh. 

Đoạn phiến kia do vua Trần Nhân Tông cảm xúc làm ra, khi đem các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Sầm Đoạn, Tích Lệ Cơ.v.v.. đến dâng trước lăng vua Trần Thái Tông và thấy “chân ngựa đá ở lăng đều lấm bùn” vào tháng 3 năm Mậu Tý (1288) 

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã 
Sơn hà thiên cổ điện kim âu 

Bên cạnh hai đoạn phiến này, An Nam chí lược 17 tờ 159 còn trích hai câu: 

Tự cố bất tài tàm tứ thổ 
Chỉ duyên đa bệnh khuyết triều thiên 

trong bài thơ thất ngôn bát cú, mà vua Trần Nhân Tông làm để họa lại bài thơ của Lý Tư Diễn trong buổi yến đãi y vào năm 1289. Sau khi ghi hai câu này, An Nam chí lược viết tiếp: “Ngay nơi tiệc tiếp vần” (tức tịch thứ vận), rồi chép bài Đường luật sau: 

Vũ lộ uông dương phổ Hán ân 
Phụng hàm đan chiếu xuất hồng vân 
Thác khai địa giác giai hòa khí 
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần 
Tận đạo tỷ thư thập hàng hạ 
Thắng như cầm điện ngũ huyền huân 
Càn khôn kiêm ái vô nam bắc 
Hà hoạn vân lôi phục hữu tuân 
(Ơn Hán tràn trề mưa móc tuôn 
Chiếu son phượng ngậm khỏi mây hồng 
Khí hòa góc đất đều lan tới 
Bụi chiến sông trời rửasạch trơn 
Thảy bảo thư vua mười lối viết 
Còn hơn đàn Thuấn năm dây đờn 
Đất trời thương hết không nam bắc 
Sấm sét sao lo lại khốn thân) 

Căn cứ vào văn mạch của An Nam chí lược, thì đây đúng là bài thơ của vua Trần Nhân Tông. Chỉ có điều, quyển 17 chỉ dành để chép thơ của những người Trung Quốc đi sứ nước ta, nên bài này bản dịch của viện Đại học Huế năm 1961 đã coi là của Lý Tư Diễn. Tất nhiên, truyền bản của An Nam chí lược đôi khi cũng có những sai sót, như trường hợp cắt văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông viết cho Hốt Tất Liệt vào năm Chí Nguyên 30 (1293) thành hai văn thư khác nhau, như ta sẽ trình bày dưới đây. Vì thế, bài thơ vừa dẫn chúng tôi vẫn coi là của vua Trần Nhân Tông. Tiếp đến là bài thơ làm tại chùa hương Cổ Châu và bài kệ Thị tịch của vua Trần Nhân Tông ghi trong Thánh đăng ngữ lục tờ 26a3-4 và 28 a2 -4: 

Thế số nhất tức mặc 
Thời tình lưỡng hải ngân 
Ma cung hồn quản thậm 
Phật quốc bất thăng xuân 
(Số đời một hơi thở 
Tình người đôi biển ngân 
Cung ma chật hẹp lắm 
Nước Phật khôn xiết xuân) 
Nhất thiết pháp bất sinh 
Nhất thiết pháp bất diệt 
Nhược năng như thị giải 
Chư Phật thường hiện tiền 
Hà khứ lai chi hữu 
(Hết thảy pháp không sinh 
Hết thảy pháp không diệt 
Nếu hay hiểu như vầy 
Chư Phật thường trước mặt 
Đến đi sao có đây) 

bài kệ Truy tán Tuệ Trung Thượng Sĩ của vua Trần Nhân Tông trong Thượng Sĩ ngữ lục 43a2-4: 

Vọng chi di cao 
Toản chi di kiên 
Hốt nhiên tại hậu 
Chiêm chi tại tiền 
Phù thị chi vị 
Thượng Sĩ chi thiền 
(Nhìn lên càng cao 
Dùi càng thêm cứng 
Chợt ở phía sau 
Thấy liền trước đứng 
Cái đó gọi là 
Thiền Thượng Sĩ vững) 

Cuối cùngbài kệ Thân như do Thiền tông bản hạnh 15b4-5 chép: 

Thân như hô hấp tỡ trung khí 
Thế tợ phong hành lĩnh ngoại vân 
Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú 
Bất thị tầm thường không quá xuân 

(Thân như hơi thở ra vào mũi 
Đời tựa gió luồn mây núi xa 
Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng 
Đừng để tầm thường xuân luống qua) 

Bài kệ này hai câu sau nguyên có trong bài giảng của vua Trần Nhân Tông tại chùa Sùng Nghiêm. Nhưng hai câu đầu không biết Chân Nguyên lấy ở đâu, để cho ta bài kệ tứ tuyệt vừa thấy. Tuy thế, đây là một bài thơ khác cần được ghi nhận

Vậy, tổng số thơ của vua Trần Nhân Tông là 32 bài, cộng với ba đoạn phiến. Những sưu tập lớn về sau như Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn cũng không có thêm một bài nào mới, thậm chí không có được số lượng như ta vừa thấy. Tuy nhiên, bây giờ nếu ta trích hết tất cả các bài thơ chữ Hán nguyên vẹn hay đoạn phiến của vua Trần Nhân Tông hiện nằm rải rác trong các bài phú, văn xuôi và bài giảng, con số không chỉ có 31 bài và ba đoạn phiến, bởi vì chỉ riêng hai bài Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, ta có thêm hai bài thơ chữ Hán. Rồi trong văn xuôi tức bài Thượng sĩ hành trạng, ta có bài Tán Tuệ Trung. Đến các bài giảng thì tối thiểu ta có hai bài thơ hoàn chỉnh, đó là bài thơ dài bốn chữ Hữu cú vô cú và bài thơ tứ tuyệt Hàm huyết trong buổi giảng tại chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh. Về bài giảng tại viện Kỳ Lân cũng ở núi Chí Linh, ta có bài thơ Nhược vị. Ngoài ra trong hai bài giảng này có nhiều đoạn phiến thơ hai câu mà ta có thể đếm tới con số 32. Vậy, nếu tính hết, tổng số thơ của vua Trần Nhân Tông lên tới 34 bài hoàn chỉnh và 35 đoạn phiến. Tuy nhiên, vì các bài thơ và đoạn thơ nằm trong các bài giảng và bài văn xuôi, nên khi tách ra, sẽ mất đi một phần nào ý nghĩa toàn cảnh, làm cho chúng trở nên khó hiểu. Do thế, trong Toàn tập này, chúng tôi để nguyên chúng trong các bài giảng văn xuôi. Người đọc có thể tự tìm lấy khi cần. 

Về thơ của vua Trần Nhân Tông, với số lượng 32 bài nguyên vẹn và ba đoạn phiến, khi in lại nguyên bản Hán văn của chúng, chúng tôi lấy bản in năm 1729 của Việt âm thi tập làm bản đáy. Những bài thơ và đoạn phiến không có trong Việt âm thi tập, mà có trong ĐVSKTT và Nam ông mộng lục, chúng tôi dùng Nội các quan bản của ĐVSKTT và bản in Kỷ lục vựng biên của Nam ông mộng lục do Thẩm Tiết Phủ sưu tầm và Dương Tiễn Trần thị khắc vào năm 1617, mà sau này Tùng thơ tập thành sơ biên đã in lại và Trung Hoa thư cục xuất bản vào năm 1985. Còn những bài có trong Thánh đăng ngữ lục, Thượng sĩ ngữ lụcThiền tông bản hạnh thì chúng tôi dùng truyền bản của những bản in năm 1750, 1745 và 1903. Những truyền bản khác như Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển, Trần triều thế phả hành trạng và Lịch triều hiến chương loại chí chỉ dùng để làm khảo dị. 

Việc sắp xếp thứ tự các bài thơ trong phần dịch tiếng Việt đúng ra phải dựa vào trật tự thời gian ra đời của chúng.Thực tế, trong số 32 bài thơ của vua Trần Nhân Tông hiện biết, phần lớn, ta có thể sắp xếp chúng theo thứ tự thời gian. Tuy nhiên, vì sắp xếp theo thứ tự thời gian ấy cũng không giúp ta hiểu thêm gì mới về vua Trần Nhân Tông, và vì để cho người đọc tiện theo dõi phần nguyên bản chữ Hán, cho nên ở đây chúng tôi sắp xếp các bài thơ dịch, dựa trên thứ tự của Việt âm thi tập. Những bài nào không có trong Việt âm thi tập, mà số lượng chỉ có 7 bài thơ nguyên vẹn và 3 đoạn phiến, thì chúng tôi xếp sau các bài thơ ở Việt âm thi tập, dù biết rằng có những bài thơ hay đoạn phiến vua Trần Nhân Tông viết rất sớm so với một số bài có trong Việt âm thi tập. Để cho tiện việc theo dõi, chúng tôi đánh số thứ tự các bài thơ từ 1 đến 35, bắt đầu với Việt âm thi tập, sau khi trả bài Hạnh thiên trường về cho thơ văn vua Trần Thánh Tông. Gặp những bài thơ nào không có đầu đề, chúng tôi lấy hai chữ khởi đầu của bài thơ để đặt tên. 

2. Phú 

Về phú, ta hiện có hai bài viết bằng tiếng Việt biết dưới tên Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, mà bản in xưa nhất hiện còn là do sa di ni Diệu Thuần thực hiện theo sự chỉ đạo của thầy là thiền sư Liễu Viên vào năm Cảnh Hưng thứ 6 Ất Sửu (1745) tại chùa Liên Hoa ở kinh thành Thăng Long. Đây là bản in xưa nhất và in sau bản Thiền tông bản hạnh của thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) từ tờ 22 a1 đến 31a2 gồm 10 tờ. Mỗi tờ 2 trang, mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng 17 chữ. Những dòng có lời chú in bằng cỡ chữ nhỏ thành hai dòng, nhưng số chữ mỗi dòng không thay đổi, nên mỗi dòng có ghi chú lên tới đến 34 chữ. Chữ khắc đẹp, chân phương, rõ ràng và dễ đọc. 

Sau lần in này, đến năm Gia Long thứ tư (1805), thiền sư Huệ Thân đã cho khắc lại, nhưng đến thời thiền sư Thanh Hanh (1840 -1936) thì bản gỗ của lần in này không còn. Cho nên, vào năm 1932 ông đã cho khắc bản in lại tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Bắc Giang. Đây là truyền bản thứ hai ta hiện có về hai bài phú vừa nói của vua Trần Nhân Tông. Quá trình truyền bản là như vậy. Hai bài phú của vua Trần Nhân Tông không phải “im hơi lặng tiếng trong suốt mấy trăm năm để rồi mãi đến những năm 30 của thế kỷ này mới xuất hiện”. Không những thế, Cư trần lạc đạo phú đã được chính Chân Nguyên trích dẫn trong Kiến tính thành Phật lục và Kiến tính thành Phật lục lại được trùng san vào năm Chính Hòa thứ 19 (1698). Vậy từ giữa thế kỷ thứ 17 trở đi Cư trần lạc đạo phú đã được lưu hành khá rộng rãi

Trong thế kỷ này, nó đã được nhiều người tập trung nghiên cứu. Sau khi thiền sư Thanh Hanh cho in mộc bản vào năm 1932, thì đến năm 1942 Hoa Bằng đã cho phiên âm ra quốc ngữ và công bố trên báo Tri Tân. Tiếp theo, Đào Duy Anh cho nghiên cứu tình trạng văn bản và xác nhận hai bài phú vừa nói là văn bản thuộc đời Trần. Cơ sở chủ yếu cho việc xác nhận này là dựa vào công tác phân tích văn thể, tự dạng và từ vựng. Về văn thể, Cư trần lạc đạo phú được viết theo lối phú của thời Đường, nhưng đối và vần còn lỏng lẻo, khi so với các bài phú của thời Trần mạt và Lê sơ. Về tự dạng thì lối viết giả tá còn chiếm ưu thế đối với hình thanh. Còn về từ vựng, các bài phú này có nhiều từ xưa, mà khi so với các tác phẩm quốc âm đời sau như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, ít còn thấy dùng tới. Đồng thời với Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn cũng nghiên cứu các tác phẩm này của Trần Nhân Tông và đi đến cùng một kết luận. Đặc biệt Hoàng Xuân Hãn là người duy nhất sở hữu được truyền bản xưa nhất của hai văn bản này, đó là bản in năm 1745 của sa di ni Diệu Thuần, mà Đào Duy Anh không có, khi làm công tác xác nhận vừa nêu. Nói chung, trong học giới không ai đặt vấn đề về tác quyền của vua Trần Nhân Tông về hai tác phẩm ấy. 

Vậy thì, về Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca, hiện tại ta sở hữu được hai truyền bản, đó là bản in 1745 và 1932. Trong khi in lại nguyên bản quốc âm của hai bài phú này, chúng tôi dĩ nhiên chọn in lại nguyên bản của bản in năm 1745. Bản in năm 1932 chỉ dùng làm khảo dị. 

3. Bài giảng 

Về bài giảng, ta hiện có hai bài, được giảng vào hai đợt khác nhau. Đó là bài giảng vào năm Giáp Thìn (1304) tại chùa Sùng Nghiêm và bài giảng năm Bính Ngọ (1306) tại viện Kỳ Lân. Bài giảng trước được ghi lại trong Thánh đăng ngữ lục và không ai bàn cãi về tác quyền của vua Trần Nhân Tông đối với bài giảng này. Nhưng bài giảng ở viện Kỳ Lân, vì được chép chung trong sách Thiền đạo yếu học, mà người ta giả thiết là một tên khác của Tham thiền yếu chí do Pháp Loa viết, nên có người cho bài giảng này, ngoài phần Niêm hương, là do Pháp Loa giảng. Nói cách khác, đây là bài giảng của Pháp Loa. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu kỹ bài giảng ấy, ta thấy có những câu trả lời gần giống câu trả lời có trong bài giảng năm 1304, thậm chí có những câu hoàn toàn đồng nhất. Chẳng hạn, khi vị tăng hỏi: “Dùng công án cũ làm gì?”, câu trả lời là: “Mỗi lần nêu ra, một lần mới”. Câu trả lời đây cũng là câu đáp lại câu hỏi: “Dùng đờm dãi của người xưa làm gì?”. Rõ ràng những câu hỏi và đáp tương tự thế này cho phép ta coi bài giảng năm 1306 tại viện Kỳ Lân cũng do vua Trần Nhân Tông thực hiện, nhưng do Pháp Loa chép lại trong tác phẩm Thiền đạo yếu học của mình như một mẫu hình tham vấn thiền cho người đọc tham khảo. Vì vậy, chúng tôi đề nghị xếp bài giảng ấy vào hệ tác phẩm của Trần Nhân Tông
 

Về truyền bản dùng để in lại nguyên văn hai bài giảng trên, thì đối với bài giảng năm 1304, chúng tôi dùng bản in năm 1750 biết dưới tên Việt quốc Yên Tử sơn Trúc Lâm chư tổ thánh đăng ngữ lục. Bản Thánh đăng ngữ lục này, ngày trước chúng tôi có một bản in chỉ có bài tựa của thiền sư Chân Nghiêm ghi lại quá trình đóng góp để thực hiện bản in ấy, trong đó có công đóng góp của vua quan nhà Mạc, đặc biệt là Đà Quốc Công Mạc Ngọc Liễn và các công chúa. Đây có thể là bản in đời Mạc còn lại. Vì nó không giống với bản in năm 1750 và bản Thánh đăng ngữ lục mà Gaspardone giới thiệu trong Bibliographie Annamite,1 mang ký hiệu AC. 604, vì bản này được ghi rõ ràng in vào năm Tự Đức thứ nhất (1848). Nhưng sau năm 1984 bản của chúng tôi bị lấy mất. Dù ai có lấy, thì cũng vì lợi ích của học thuật nước nhà, xin công bố ra, để người lưu tâm tới văn học, tư tưởnglịch sử Phật giáo Việt Nam có cơ hội sử dụng được văn bản xưa. Còn bài giảng kia thì nằm trong Tam tổ thực lục, bản in năm 1903, mà sau này Tổng hội Phật giáo Bắc kỳ in dập lại trong Việt Nam Phật điển tùng san. Trong khi in lại nguyên văn chữ Hán hai bài giảng ấy, chúng tôi sử dụng bản Thánh đăng ngữ lục năm 1750 cho bài giảng thứ nhất và bản Tam tổ thực lục năm 1905 cho bài giảng thứ hai. 

4. Ngữ lục 

Ngữ lục là những phát biểu của vua Trần Nhân Tông trong các cuộc đón tiếp sứ giặc do sứ giặc ghi lại. Những ghi lại này không hoàn toàn trung thực, điều ấy là chắc chắn. Tuy nhiên, chúng có thể cung cấp một cái nhìn về phong khí của một thời và cách ứng xử của vua Trần Nhân Tông dưới con mắt kẻ thù. Đồng thời, chúng cũng có thể cho ta thấy quan điểm của vua theo quan điểm đối phương. Vì thế, trong phần Ngữ lục, chúng tôi cho trích hai đoạn phát biểu của vua Trần Nhân Tông trước và sau hai cuộc chiến tranh vệ quốc 1285 và 1288. Ta sẽ thấy quan điểm nhất quán của vua là đấu tranh không nhân nhượng, không bao giờ chịu khuất phục vào chầu Hốt Tất Liệt, dù nó có đòi hỏi bao nhiêu đi nữa. 

Hai đoạn ngữ lục, một trích từ buổi đãi yến Sài Thung vào năm 1278 chép trong An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 4a12-b2. Còn đoạn kia phát biểu trong bữa tiệc đãi Trương Lập Đạo năm 1291, chép trong Trương thượng thư hành lục của An Nam chí lược 3 tờ 47. Nguyên bản dùng để in lại chúng là lấy từ hai tác phẩm vừa nói. 

5. Văn xuôi 

Về văn xuôi của vua Trần Nhân Tông, ta hiện có bản tiểu sử của Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Quốc Tung, biết dưới tên Thượng sĩ hành trạng in vào cuối sách Thượng sĩ ngữ lục cùng với những bài tán tụng của môn nhân thượng sĩ như bài tán của chính vua Trần Nhân Tông, của Pháp Loa, Bảo Pháp, Tông Cảnh, Thiên Nhiên, Pháp Cổ, Huệ NghiêmPháp Đăng với lời bạt của tướng Trần Khắc Chung. Bản hành trạng này không đề tên người viết. Nhưng căn cứ vào nội dung, nó dứt khoát phải do vua Trần Nhân Tông chấp bút, vì đã nói tới việc gặp tang của Nguyên Thánh mẫu hậu và tác giả phải chính thức đi mời thượng sĩ Tuệ Trung. Nhờ việc đi mời này, tác giả đã có một cuộc nói chuyện về thiền với thượng sĩ và sau đó thì được ấn chứng. Vấn đề tác quyền của vua Trần Nhân Tông đối với bản hành trạng này cũng không ai đặt ra. Chỉ có người dịch Thượng sĩ ngữ lục là Trúc Thiên, khi đến đoạn cho người đi mời thượng sĩ Tuệ Trung, chua thêm người đi mời là Pháp Loa.1 Pháp Loa sinh năm 1284 và Tuệ Trung thượng sĩ mất năm 1291. Dứt khoát không bao giờ Pháp Loa có thể “nguyện đội ơn dạy dỗ của thượng sĩ”.Đây là một lời chua thiếu cẩn thận và người ta có thể phát hiện một cách dễ dàng sự sai trái của nó. 

Bản in Thượng sĩ ngữ lục xưa nhất, mà ngày nay còn có được, là bản in năm Chính Hoà thứ tư (1683) do thiền sư Tuệ Nguyên chùa Long Động núi Yên Tử đề tựa. Bản in ấy về sau đã được in lại một lần thứ hai vào năm Cảnh Hưng 24 (1763). Truyền bản lần in 1763 này sau đó đã được thiền sư Thanh Cừ nhận lại từ sư cụ Thanh Lân và cho in lại vào năm Thành Thái thứ 15 (1903) và do thiền sư Thanh Hanh đề tựa. Bản in năm Thành Thái 15 sau đó đã được Tổng hội Phật giáo Bắc kỳ cho in dập lại trong bộ Việt Nam Phật điển tùng san vào năm 1943. Và đây là bản được phổ biến rộng rãi nhất ngày nay. Do hiện chúng tôi chưa sở hữu được bản in năm 1683, nên trong khi in lại, chúng tôi chỉ sử dụng bản in năm 1943. 

6. Văn thư ngoại giao 

Về văn thư ngoại giao, ta hiện có bốn nguồn chính. Đó là An Nam truyện của Nguyên sử 209, Biểu chương của An Nam chí lược 6, Thiên nam hành ký và phần Phụ lục của Trần Cương Trung thi tập. 

Nguyên sử còn giữ cho ta 8 đoạn phiến của 8 lá thư mà vua Trần Nhân Tông đã viết cho Hốt Tất Liệt và các thuộc hạ của y. Lá thư sớm nhất do Nguyên sử ghi lại là vào tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) khi Sài Thung đến Ung Châu, để phản đối việc dùng con đường Ung Châu đến nước ta và yêu cầu phải trở về dùng con đường Vân Nam cũ. Đây rõ ràng là một đoạn trích trong lá thư chắc chắn dài hơn, nhưng ngày nay đã mất. Những lá thư sau của vua Trần Nhân Tông trong Nguyên sử cũng có dạng như thế chủ yếu cũng chỉ là những đoạn trích. Tuy nhiên, phải nói đây là những đoạn trích tương đối trung thành. Ta biết được điều này, vì có một số lá thư chỉ được trích trong Nguyên sử, nhưng lại được giữ trọn vẹn trong An Nam Chí lược. 

Chẳng hạn, đoạn trích từ tờ biểu tháng 12 năm Chí Nguyên 15 (1278) do phái bộ Phạm Minh Tự, Trịnh Quốc Toản và Đỗ Quốc Kế đem qua cho Hốt Tất Liệt trong An Nam truyện của Nguyên sử 209 tờ 4b-6 viết: 

 “Cô thần bẩm khí yếu đuối, mà đường xá thì khó khăn, chỉ luống phơi xương trắng, đến nỗi bệ hạ xót thương, mà không ích gì cho thiên triều muôn một. Nép mong bệ hạ thương xót tiểu quốc xa xôi, khiến thần được cùng bọn đơn côi quan quả, giữ được tính mệnh để suốt đời phụng sự bệ hạ. Đó là sự may lớn của cô thần, cũng là phúc to của sinh linh tiểu quốc”. 

Đây đúng là đoạn trích từ tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 15 chép trong phần Biểu chương của An Nam chí lược 6 tờ 75-77: “Thần sinh trưởng Việt Thường , bẩm khí nhuyễn nhược, (...), khủng đạo thượng hữu phường, đồ bộc bạch cốt, trí bệ hạ nhân tâm, diệc tự ai thương chi nhĩ (...). Phục vọng bệ hạ ai cô thần chi đơn nhược, lân tiểu quốc chi liêu viễn, lịnh thần đác dự quan quả cô độc, bảo kỳ tính mạng, dĩ chung sự bệ hạ, thử thần chi chí hạnh, ức diệc tiểu quốc sinh linh chi đại phước dã”. 

Từ so sánh hai đoạn này, ta thấy chắc chắn tám đoạn trích văn kia cũng được giữ nguyên vẹn tình trạng văn bản chứ không bị sửa đổi nhiều, đến nỗi đánh mất hết diện mạo nguyên thủy của chúng. Từ đó, chúng tôi coi những đoạn trích văn ấy, dù ngắn ngủi và đoạn phiến, vẫn đại biểu cho những văn thư ngoại giao của vua Trần Nhân Tông, mà hiện nay ta chưa tìm lại được. Những trường hợp toàn văn lá thư còn được lưu giữ ở những nguồn khác, chúng tôi vẫn cho dịch và số thứ tự 1, 2, 3... của các văn thư sẽ được đánh thêm chữ a, b để phân biệt

Trong 8 đoạn phiến này chúng tôi chỉ chọn trích 6 đoạn phiến thôi, vì hai đoạn phiến còn lại quá ngắn, viết vào khoảng tháng 2 năm Chí Nguyên 22 (1285). Một trả lời Thoát Hoan về việc mượn đường đi đánh Chiêm Thành: 

“Nước đây đến Chiêm Thành thủy bộ chẳng tiện, xin tùy sức phụng dâng quân lương”. Còn một báo về việc đi cống: 

“Kỳ cống sẽ nhằm tháng mười, xin đường trước, dự bị sức dân. Nếu ngày Trấn Nam Vương xuống xe, mong có thư báo”. Văn bản chúng tôi dùng để in lại nguyên văn chữ Hán là bản của Tứ bộ bị yếu. 

Nguồn thứ hai là từ phần Biểu chương của An Nam chí lược 6. Phần này hiện bảo lưu được 8 văn thư của vua Trần Nhân Tông. Nhưng thực tế chỉ có 7 văn thư. Bởi vì,lá thư đề “Chí Nguyên tam thập niên tam nguyệt An Nam Trần bách bái” ở An Nam chí lược 6 tờ 78-79 thực tế là một phần sau của lá thư đề ngày mồng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên 30 (1293) chép trong Trần Cương Trung thi tập phụ lục tờ 20b4-21b8. Phần đầu của lá thư này lại bị cắt ra ở An Nam chí lược 6 tờ 79 dưới nhan đề “Chí Nguyên tam thập niên tam nguyệt sơ tứ nhật An Nam Trần thượng biểu”. 

Trừ văn thư bị cắt làm hai mảnh này, An Nam chí lược giữ lại cho ta 7 văn thư tương đối nguyên vẹn mà vua Trần Nhân Tông đã gửi cho Hốt Tất Liệt và con y là Nguyên Thành Tông. Hốt Tất Liệt 5 lá, Nguyên Thành Tông 2 lá: 

 1.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 15 (1278) 
 2.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 29 (1292) 
 3.Thơ mừng thọ Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 30 (1293) 
 4.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 30(1293) 
 5.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 30 (1293) 
 6.Văn thư gửi Nguyên Thành Tông năm Nguyên Trinh thứ nhất (1295) 
 7.Văn thư gửi Nguyên Thành Tông xin thỉnh Đại Tạng kinh năm 1295 

Nhữmg văn thư do An Nam chí lược chép, khi so với những văn thư có tương đương trong Trần Cương Trung thi tập phụ lục, thì tỏ ra có một số xuất nhập về ngữ câu chữ. Tuy nhiên, do vì An Nam chí lược có nhiều sai sót như việc cắt đôi văn thư ngày mồng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên 30 vừa nói, nên trong những trường hợp ấy chúng tôi chọn dịch bản của Trần Cương Trung thi tập phụ lục và chỉ dùng bản của An Nam chí lược để tham khảo. Bản An Nam chí lược chúng tôi dùng là hiệu bản do Đại học Huế xuất bản vào năm 1961. Hiệu bản này không tốt lắm, nhưng tối thiểu nó cho những cách đọc khác nhau từ các truyền bản như Lạc thiện đường, Nhật Bản nội các văn khố, Đông Kinh Tỉnh gia đường văn khố và sao bản của Bảo tàng Anh ở Luân Đôn. Cho nên khi dịch những văn thư, mà không có trong các nguồn khác, thì chúng tôi dùng hiệu bản này. Trong những trường hợp chúng tôi không đồng ý với hiệu bản, chúng tôi dựa vào cách đọc của những truyền bản có ghi chú ở phần khảo dị, mà điều chỉnh cho thích hợp, để dịch. 

Nguồn thứ ba là Thiên nam hành ký do Từ Minh Thiện ghi lại trong đợt đi sứ tới nước ta vào năm Chí Nguyên 26 (1289). Từ Minh Thiện chép cả thảy được 6 văn kiện sau xếp theo thứ tự đã có trong Thiên nam hành ký: 

 1.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 25 (1288) 
 2.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt năm Chí Nguyên 26 (1289). 
 3.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289) 
 4.Văn thư gửi hoàng hậu cùng tháng năm 
 5.Văn bản gửi cống vật năm Chí Nguyên 26 (1289) 
 6.Văn kiện gửi cống vật năm Chí Nguyên 23 (1286) 

Trong 6 văn kiện này thì văn kiện cuối cùng có một lời chua: “Một đoạn ở đây được bổ thêm vào tờ trạng dâng phương vật”(thử nhất đoạn bổ nhập phương vật trạng trung). Điều này chứng tỏ văn kiện số 6 đúng là văn kiện ghi những phương vật do vua Trần Nhân Tông gửi biếu cho Hốt Tất Liệt vào năm 1286, sau khi ta đã đánh bại đợt tấn công năm 1285 nhằm làm dịu tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa ta và triều đình Nguyên. Nó cho thấy có tới 52 món đồ vàng bạc châu báu cùng những chim thú lạ như chim Bát ca tức chim thu tử (sari), chồn gió, cá sấu v.vỢ Vua Trần Nhân Tông muốn qua chúng để làm cho Hốt Tất Liệt thấy quan điểm của vua Trần Nhân Tông về cuộc chiến tranh 1285. Đó là do các bọn tướng biên giới tham công gây nên, như chính vua đã bày tỏ trong lá thư viết về sau vào năm Chí Nguyên 25 (1288), chứ không phải do Hốt Tất Liệt

Năm văn kiện còn lại tất cả đều thuộc vào những trao đổi ngoại giao vào năm Chí Nguyên 25 và 26. Những văn kiện này không thấy chép ở bất cứ nơi nào khác. Chúng soi sáng cho ta rất nhiều về những quan hệ Việt Nguyên, sau khi quân Đại Việt đã quét sạch những đội quân xâm lược do Thoát Hoan chỉ huy. Văn bản mà chúng tôi dùng nằm trong bộ Thuyết phu 51 tờ 18b3-23b7 do Hàm phần lâu in dập lại. Nguyên bản Hán văn chúng tôi sẽ dùng bản Hàm phần lâu này. 

Bên cạnh bản in của Hàm phần lâu, chúng tôi cũng sở hữu một bản chép tay Thiên nam hành ký như tập thứ nhất trong Bắc thư tải Nam sự ngũ tập. Bản chép tay này không biết do ai thực hiện và vào lúc nào. Nhưng người chép trong Tiểu dẫn cho biết ông đã dùng bản của Tục thuyết phu. Khi so sánh, chúng tôi thấy có một số xuất nhập, không biết đến từ đâu. Chẳng hạn, tờ trạng dâng cống vật nằm cuối sách Thiên nam hành ký, bản Hàm phần lâu ghi năm Chí Nguyên 23, trong khi bản chép tay lại ghi năm 26 và không có lời chua nhỏ “thử nhất đoạn bổ nhập phương vật trạng trung”. Chúng tôi, vì thế, coi bản chép tay như một dị bản để tham khảo, còn dùng bản Hàm phần lâu, để in lại nguyên bản Hán văn các văn thư của vua Trần Nhân Tông do Từ Minh Thiện ghi lại. 

Nguồn thứ tư là Trần Cương Trung thi tập phụ lục hiện còn lưu giữ cho ta 7 văn thư, đó là: 

1.Văn thư gửi Lương Tăng ngày 13 tháng giêng năm Chí Nguyên 30 (1293) 
2.Văn thư gửi Lương Tăng ngày 21 tháng 2 cùng năm 
3.Văn thư gửi Lương Tăng ngày 25 tháng 2 cùng năm 
4.Văn thư gửi Lương Tăng ngày 1 tháng 3 cùng năm 
5.Bài thơ chúc thọ Hốt Tất Liệt 
6.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt nhân bài thơ ấy ngày 4 tháng 3 cùng năm 
7.Văn thư gửi Hốt Tất Liệt cùng ngày tháng năm 

Đấy là 7 văn kiện mà Trần Phu với tư cách là phó đoàn của phái bộ Lương Tăng do Hốt Tất Liệt gửi đến nước ta vào năm 1293 đã sao chép lại cho ta trong thi tập của ông. Bốn văn kiện đầu là những trao đổi giữa vua Trần Nhân Tông và Lương Tăng về nội dung của việc đi sứ, chủ yếu là đòi biện giải về việc sang chầu và những tù binh do ta bắt được. Điểm lý thú là trong đợt tiếp sứ này, vua Trần Nhân Tông đã gửi biểu và tấu cùng một bài thơ mừng Hốt Tất Liệt thọ 80 tuổi, trong khi Hốt Tất Liệt đang hung hăng chuẩn bị đợt xâm lược nước ta lần thứ tư. Bài thơ mừng Hốt Tất Liệt vạn thọ đã được Trần Phu chép lại như sau: 

Thiên tứ hoàng đế 
Đế tứ thứ dân 
Thần chúc thánh thọ 
Ức vạn niên xuân 
(Trời ban cho vua 
Vua ban xuống dân 
Thần chúc thánh thọ 
Ức vạn năm xuân) 

Đây là bài thơ thù tạc hiếm thấy, và qua nó ta thấy ý chí muốn xây dựng một nền hòa bình lâu dài giữa hai dân tộc láng giềng. Vua Trần Nhân Tông biết rất rõ ý đồ xâm lược của Hốt Tất Liệt cho nên đã kiên trì dùng những đòn ngoại giao mềm dẻo nhưng cương quyết, nhằm đè bẹp ý chí xâm lược ấy, sau khi đã trực tiếp đánh bại các đạo quân xâm lược do Hốt Tất Liệt gửi qua. Đọc những văn kiện trên cho ta thấy phần nào đối pháp ngoại giao của vua Trần Nhân Tông

Văn bản mà chúng tôi dùng là bản chép tay của Tứ khố toàn thư đặt tại Văn uyên các của Trần Cương Trung thi tập. 

Bản chép tay này do Đỗ Quần Ngọc chép và bốn người khác đọc và hiệu đối là La Cẩm Sâm, Tôn Cầu Phú, Hà Tư Quân và Thái Đình Hành. Vì là bản do vua Càn Long ra lệnh chép, nên chữ viết đẹp, chân phương, rõ ràng, dễ đọc, có đóng dấu vuông của Văn Uyên Các ấn ở đầu quyển một và cuối quyển hai có đóng dấu vuông của Càn Long ngự lãm chi bảo, quyển ba ở trang đầu cũng có dấu của Văn Uyên Các ấn và cuối quyển Trần Cương Trung thi tập phụ lục lại cũng có dấu Càn Long ngự lãm chi bảo. Các thư của vua Trần Nhân Tông được chép trong Trần Cương Trung thi tập phụ lục ở các tờ 5b6-6a5, 11a7-12a5, 15aa2-18a7, 19a1-6, 19a7-8, 19b1-20a6 và 20a7-22a2. Mỗi tờ 2 trang, mỗi trang có 8 dòng, mỗi dòng 20 chữ, chép tụt xuống một chữ. 

Tổng kết như vậy ta có cả thảy 22 văn kiện ngoại giao hiện còn do vua Trần Nhân Tông gửi cho vua quan nhà Nguyên. Chúng tôi xếp thứ tự các văn kiện này theo trật tự thời gian mà chúng đã được viết, tức từ văn kiện đầu tiên vào tháng 11 nhuận năm Chí Nguyên 15 (1278) cho đến văn kiện cuối cùng vào ngày mồng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên 30 (1293) để cho người đọc tiện theo dõi. Các nguyên bản Hán văn, chúng tôi cũng sắp đặt theo một thứ tự như thế. 

7. Khảo dị và chú thích 

Tác phẩm của vua Trần Nhân Tông tồn tại nhiều truyền bản khác nhau như đã thấy trên. Cho nên, về mặt văn bản học, chúng tôi đưa ra nhiều vấn đề. Điều may mắnđa số các tác phẩm này xuất hiện trong các truyền bản tương đối xưa. Chúng đa số được chép hoặc in vào thế kỷ 18. Cụ thể, về thơ, ta có bản in của Việt âm thị tập của năm Bảo Thái thứ 10 (1729). Về phú, bản in Thiền tông bản hạnh của sa di ni Diệu Thuần thực hiện vào năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745). Về bài giảng, nằm trong bản in năm Cảnh Hưng thứ 11 (1750) của Thánh đăng ngữ lục. Về ngữ lục, văn thư ngoại giao, chúng tôi cơ bản sử dụng các tư liệu Trung Quốc như Nguyên sử, Trần Cương trung thi tập, Thiên nam hành ký và An Nam chí lược. Những tác phẩm này, chủ yếu là những bản in xưa hay là những bản chép tay ở thế kỷ 18 trở về trước. Vì thế về mặt khảo dị, chúng tôi giới hạn tối đa khi sử dụng những bản in hay chép tay của những thế kỷ sau. Nói thẳng ra, trừ những trường hợp cần thiết, chúng tôi mới sử dụng những bản in chép tay hậu kỳ này khi phiên âm hay dịch nghĩa các tác phẩm của vua Trần Nhân Tông công bố trong toàn tập. 

Về chú thích, chúng tôi chỉ chú thích những từ cổ và một số điển tích ngữ học. Còn các điển tích khác như về địa danh, nhân danh lưu hành trong các kinh điển trong hay ngoài Phật giáo, chúng tôi sẽ không chú thích. Lý do nằm ở chỗ nếu giải thích các điển cố ấy, sẽ có một lượng từ rất lớn mà không gian toàn tập này không cho phép. Thực tế, chỉ riêng đối với tiếng Việt như 2 bài phú, Cư trần lạc đạo và Đắc thú lâm tuyền, ta có thể làm một cuốn từ điển nhỏ cỡ 300 trang. Chúng tôi hy vọng sẽ có những nghiên cứu sâu hơn về các tác phẩm của vua Trần Nhân Tôngtrong tương lai theo từng cụm một. Khi đó những loại điển cố trên sẽ được chú thích chi tiết và đầy đủ. 

THƠ TRẦN NHÂN TÔNG 

TỨC SỰ 

Xong múa Giá chi thử áo xuân, 
Hôm nay huống gặp tiết thanh minh
Đầy mâm bánh cuốn như hồng ngọc 
Phong tục từ xưa của Việt Nam

TIỄN SỨ BẮC LÝ TRỌNG TÂN 
TIÊU PHƯƠNG MAI 

Thăm thẳm Linh Trì ấm tiệc đưa 
Người về khôn cách gió xuân ngừa. 
Nào hay sao sứ hai ngôi phúc, 
Sáng rọi trời Nam mây tối bưa. 

TIỄN SỨ BẮC MA HỢP 
KIỀU NGUYÊN LÃNG 

Trời nam, sao sứ rọi hai ngôi 
Dẫn lối ba vòng đêm sáng soi 
Bên ấy ơn sâu tình dễ cảm 
Nơi đây tục bạc lễ thẹn tồi 
Mù xông cờ tiết thân mừng khỏe 
Roi vút gió xuân ngựa kết đôi 
Trung thống vạc lời xin hãy nhớ 
Nỗi lo đất nước khỏi nung sôi 

HỌA THƠ KIỀU NGUYÊN LÃNG 

Non nam hành lý nhẹ mây tưng 
Xuân đến cành mai mới mấy bông 
Khắp thấy cùng thương thiên tử đức 
Sống không giúp thế trượng phu buồn 
Ngựa xông sương tuyết đầu còn ngoái 
Mắt ngắm non sông xe chút ngừng 
Sông Nhị ngày mai mờ khói nước 
Rượu đào tươi mát rửa lòng trong 

HOA MAI SỚM 

Vàng điểm tua hoa năm cánh tròn 
San hô chìm bóng vẩy phô tuôn 
Ba đông cành trắng hoa khoe trước 
Một nén hương xuân nhánh hãy còn 
Cam lộ ngát thơm say bướm tỉnh 
Dạ quang tựa nước khát chim buồn 
Hằng nga nếu biết đây hoa đẹp 
Quế lạnh cung Thiềm thôi ở luôn 

Ngại rét năm ngày cửa biếng ra 
Gió xuân trước đã đến cây già 
Bóng giăng mặt nước băng vừa vỡ 
Hoa trĩu đầu cành ấm chửa pha 
Xóm núi trăng chìm lời hát Việt 
Ải quan mây đẫm tiếng tiêu Hồ 
Một cành lạc tới giấc mơ bạn 
Tỉnh dậy tặng người chẳng nỡ đưa 

CẢNH XUÂN 

Chim hót nhởn nhơ, hoa liễu dày, 
Bóng thềm nhà vẽ mây chiều bay 
Chuyện đời khách đến thôi không hỏi 
Cùng tựa lan can ngắm núi mây. 

DỰ YẾN VỚI VĂN TÚC VƯƠNG 

Chân rùa bóc đỏ mọng 
Yên ngựa nướng vàng thơm 
Sơn tăng giữ giới sạch 
Cùng ngồi chẳng cùng ăn 

CHÙA THẦN QUANG TRÊN NÚI ĐẠI LÃM 

Bát ngát Thần quang gợi tịch u 
Trời trăng ôm cởi đến ngao du 
Lâu đài một tá bày tranh vẽ 
Thế giới ba ngàn lọt mắt thơ 
Lắm đỗi thói đời mây thương cẩu 
Đâu hay tùng cỗi trắng đầu sư 
Thắp hương lễ Phật trừ đôi việc 
Hết thảy suy tư mặc bỏ lờ. 

10 

ĐỀ NHÀ THỦY TẠ CHÙA PHỔ MINH 

Xông hết nghìn hương thơm ngát nhà, 
Mới dâng dòng nước mát đâu xa 
Cửa chùa dưới bóng đa già khép 
Đầu tiếng ve thu ý đậm đà 

NGẮM CẢNH CHIỀU THIÊN TRƯỜNG 

Thôn trước thôn sau tựa khói nhòa 
Nửa không nửa có mé chiều sa 
Mục đồng sáo vẳng trâu về hết, 
Cò trắng từng đôi ruộng xuống sà. 

12 

TRÊN ĐƯỜNG TÂY CHINH 

Hoa sóng tung lên buồm gấm bay 
Dưới mui đầu mệt chẳng buồn quay 
Mây chiều Tam Giáp nhạn không đến 
Trăng sáng Cửu Than rồng có đây 
Lạnh lẽo đường đi cung mộng cũ 
Ngổn ngang sầu vướng rượu ly đầy 
Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến 
Vội vã nam nhi chi lắm vậy. 

13 

TRĂNG 

Đầy sách, giường song chếch bóng đèn 
Sân thu sương bủa thoáng hơi đêm 
Tiếng chày thức dậy đâu hay biết 
Hoa mộc trên cành trăng mới lên 

14 

LÊN NÚI BẢO ĐÀI 

Đất vắng đài thêm cổ 
Ngày qua xuân chửa nồng. 
Gần xa, mây núi cuốn, 
Râm nắng, ngõ hoa lồng. 
Muôn việc nước theo nước, 
Trăm năm lòng bảo lòng 
Tựa hiên nâng sáo ngọc, 
Ngực áo, đầy trăng trong. 

15 

CÂY MAI 

Sắt đá gan lì khinh tuyết sớm 
Khăn xiêm mộc mạc gió đông luồn 
Trần gian kiệm ước Hán Văn Đế 
Thiên hạ anh hùng Đường Thái Tông

16 

ĐÊM MƯỜI MỘT THÁNG HAI 

Rượu chút sầu vơi, vị đậm đà
Giường rồng chiếu trúc trải yên ra 
Cả trời tựa nước, trăng ngày sáng, 
Hoa phủ đầy song xuân mãi mơ 

17 

NIỀM OÁN HẬN CỦA NGƯỜI KHUÊ PHỤ 

Ngủ dậy vén rèm, hồng thấy rơi, 
Hoàng ly không hót giận xuân rồi. 
Lầu tây vô cớ vầng dương lặn 
Bóng ngã về đông hoa lẫn chồi 

18 

CẢNH CHIỀU Ở CHÂU LẠNG 

Chùa cổ đìu hiu khuất khói mờ 
Thuyền câu chiều quạnh tiếng chuông đưa 
Nước quang non lặng vờn âu trắng 
Gió lặng mây đùa cây đỏ thưa. 

19 

XUÂN MUỘN 

Tuổi trẻ sao từng hiểu sắc không 
Cả xuân hoa nở ngất ngây lòng 
Đến nay đành rõ mặt xuân ấy 
Nệm cỏ giường thiền ngắm rụng hồng. 

20 

CHIỀU THU Ở VŨ LÂM 

Lòng khe vắt ngược bóng cầu hoa 
Hắt sáng ngoài khe, vệt nắng tà 
Vắng vẻ nghìn non, rơi lá đỏ 
Như mơ mây đẫm tiếng chuông xa 

21 

NGÀY XUÂN THĂM CHIÊU LĂNG 

Hùm gấu nghiêm nghìn cửa. 
Áo mũ bảy phẩm đầy. 
Lính bạc đầu còn đó, 
Nguyên Phong mãi kể say 

22 

BUỔI SỚM MÙA XUÂN 

Ngủ dậy, mở cánh cửa, 
Xuân về đã chẳng hay! 
Bươm bướm một đôi trắng 
Phơi phới nhắm hoa bay 

23 

TRÊN HỒ ĐỘNG THIÊN 

Cảnh hồ Động thiên nọ, 
Hoa cỏ kém vẻ xuân. 
Thượng đế thương hiu quạnh 
Chuông Thái thanh bỗng ngân. 

24 

PHỦ THIÊN TRƯỜNG 

Rậm lục thưa hồng thêm quạnh hiu 
Mây quang mưa tạnh ngấn bùn tiêu 
Nhà trai giảng đoạn sư về viện 
Quán bến canh đầu cầu nguyệt treo 
Ba chục cung tiên giường tối đặt 
Tám nghìn bóng tháp triều xuân reo 
Phố minh phong cảnh y như cũ 
Phảng phất hình cha mộng thấy nhiều 

25 

BÀI MINH ĐỀ TRÚC NÔ 

Ruột rỗng, tuyết giải 
Đốt cứng, sương phơi 
Mượn ngươi làm tớ, 
E trái tính trời. 

 26 

MẠN HỨNG Ở SƠN PHÒNG 

Ai buộc mà đi giải thoát tìm? 
Không phàm sao phải kiếm thần tiên 
Vượn mòn, ngựa mỏi ta già phải. 
Như cũ am mây một sập thiền 

27 

Phải trái tâm theo hoa sớm rơi 
Lợi danh lòng lạnh mưa đêm rồi 
Hoa tàn, mưa tạnh non im ắng 
Một tiếng chim kêu xuân hết thôi. 

28 

TẶNG SỨ BẮC LÝ TƯ DIỄN 

Ơn Hán tràn trề mưa móc tuôn 
Chiếu son phượng ngậm khỏi mây hồng 
Khí hòa góc đất đều lan tới 
Bụi chiến sông trời rửasạch trơn 
Thảy bảo thư vua mười lối viết 
Còn hơn đàn Thuấn năm dây đờn 
Đất trời thương hết không nam bắc 
Sấm sét sao lolại phải bươn 

29 

CA NGỢI THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG 

Nhìn lên càng cao 
Dùi càng bền cứng 
Chợt ở phía sau 
Thấy liền trước đứng 
Cái đó gọi là 
Thiền Thượng sĩ vững 

30 

ĐỀ CHÙA THÔN HƯƠNG CỔ CHÂU 

Số đời một màn kéo, 
Tình người đôi mắt ngân. 
Cung ma chật hẹp lắm, 
Cõi Phật khôn xiết xuân. 

31 

KỆ THỊ TỊCH 

Hết thảy pháp không sinh 
Hết thảy pháp không diệt 
Nếu hay hiểu như vầy 
Chư Phật thường trước mặt 
Đến đi sao có đây 

32 

THÂN NHƯ 

Thân như hơi thở vào ra mũi 
Thế tựa gió luồn mây núi xa 
Đỗ quyên rền rĩ trăng ngày sáng 
Đừng để tầm thường xuân luống qua 

33 

NGƯƠI NÊN NHỚ 

Cối kê việc cũ ngươi nên nhớ, 
Hoan, Ái đang còn chục vạn quân 

34 

TỨC SỰ 

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, 
Non sông nghìn thuở vững âu vàng. 

35 

HỌA THƠ LÝ TƯ DIỄN 

Tự xét không tài thẹn được đất 
Chỉ vì nhiều bệnh thiếu chầu trời 



PHÚ TRẦN NHÂN TÔNG

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ 

HỘI THỨ NHẤT 

Mình ngồi thành thị;
Nết dụng sơn lâm.
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm.
Tham ái nguồn dừng,
chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quý;
Thị phi tiếng lặng,
được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi nước biếc, ẩn non xanh,
nhân gian có nhiều người đắc ý;
Biết đào hồng, hay liễu lục,
thiên hạ năng mấy chủ tri âm.
Nguyệt bạc vừng xanh,
soi mọi chỗ thiền hà lai láng;
Liễu mềm hoa tốt,
ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm.
Lo hoán cốt, ước phi thăng,
đan thần mới phục;
Nhắm trường sinh, về thượng giới,
thuốc thỏ còn đam.
Sách Dịch xem chơi,
yêu tính sáng yêu hơn châu báu;
Kinh nhàn đọc dấu1,
trọng lòng rồi trọng nữa hoàng kim

HỘI THỨ HAI 

Biết vậy!
Miễn được lòng rồi;
Chẳng còn phép khác.
Gìn tính sáng tính mới hầu an;
Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác.
Dứt trừ nhân ngã, thì ra tướng thực kim cương;
Dừng hết tham sân, mới lảu lòng màu viên giác.
Tịnh độ là lòng trong sạch,
chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;
Di Đà là tính sáng soi,
mựa1 phải nhọc tìm về Cực lạc.
Xét thân tâm, rèn tính thức,
há rằng mong quả báo phô khoe;
Cầm giới hạnh, địch vô thường,
nào có sá cầu danh bán chác.
Ăn rau ăn trái,
nghiệp miệng chẳng hiềm thuở đắng cay;
Vận giấy vận sồi2, thân căn có ngại chi đen bạc.
Nhược chỉn3 vui bề đạo đức,
nửa gian lều quý nữa thiên cung;
Dầu hay mến thuở nhân nghì,
ba phiến ngói yêu hơn lầu gác.
 

HỘI THỨ BA 

Nếu mà cốc,4
Tội ắt đã không.
Phép học lại thông.
Gìn tính sáng, mựa lạc tà đạo;
Thửa5 mình học, cho phải chính tông.
Chỉn bụt là lòng, xá6 ướm hỏi đòi cơ Mã tổ;
Vong tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.
Áng tư tài, tính sáng chẳng tham,
há vì ở Cánh Diều Yên Tử ;
Rần thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển,
lọ chi ngồi am Sạn non Đông.
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ 1 công.
Nguyền mong thân cận minh sư,
quả bồ đề một đêm mà chín;
Phúc gặp tình cờ tri thức,
hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông. 

HỘI THỨ TƯ 

Tin xem:
Miễn cốc một lòng;
Thì rồi mọi hoặc.
Chuyển tam độc mới chứng tam thân ;
Đoạn lục căn, nên trừ lục tặc.
Tìm đường hoán cốt,
chỉn xá năng phục dược luyện đan;
Hỏi phép chân không,
hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.
Biết chân như, tin bát nhã,
chớ còn tìm Phật tổ Tây Đông;
Chứng thực tướng, ngõ vô vi,
nào nhọc hỏi kinh Thiền Nam Bắc.1
Xem Tam tạng giáo,
ắt học đòi Thiền uyển thanh quy;
Đốt ngũ phận hương,
chẳng tốn đến chiên đàn chiêm bặc.
Tích nhân nghì, tu đạo đức,
ai hay này chẳng Thích Ca;
Cầm giới hạnh, đoạn xan tham,
chỉn thực ấy là Di Lặc.
 

HỘI THỨ NĂM
 

Vậy mới hay!
Bụt ở cong1 nhà;
Chẳng phải tìm xa.
Nhân khuấy bổn2 nên ta tìm bụt;
Đến cốc hay chỉn bụt là ta.
Thiền ngỏ năm câu, nằm nhãng cong quê Hà hữu;
Kinh xem ba biến3, ngồi ngơi mái quốc Tân la.
Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan,
đà lọt lẫn trường kinh cửa tổ;
Lánh thị phi, ghê thanh sắc,
ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.
Đức bụt từ bi,
mong nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Ơn Nghêu khoáng cả,
lọt toàn thân phô việc đã tha.
Áo miễn4 chăn đầm ấm qua mùa,
hoặc chằm hoặc xể 5;
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa6.
Ngăn bát thức, nén bát phong, càng đè càng bội;
Lẫy tam huyền, nong tam yếu, một cất một ma1.
Cầm vốn thiếu huyền,2
xá đàn dấu xoang3 vô sinh khúc;
Địch chăng có lỗ,
cũng bấm chơi xướng thái bình ca.
Lẫy cội tìm cành, còn khá tiếc Câu Chi trưởng lão;
Khuấy đầu chấp bóng,
ắt kham cười Diễn Nhã Đạt Đa.
Lọt quyền Kim cương, há mặc hầu thông nên nóng
Nuốt bồng lật cứt, nào tay phải xước tượng da. 

HỘI THỨ SÁU 

Thật thế!
Hãy xá vô tâm;
Tự nhiên hợp đạo.
Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm;
Đạt một lòng thì thông tổ giáo.
Nhận văn giải nghĩa,
rạc rài nên Thiền khách bơ vơ;
Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn khéo.
Han4 hữu lậu, han vô lậu,
bảo cho hay: the lọt, duộc thưng5;
Hỏi Đại thừa, hỏi Tiều thừa,
thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ1 gáo.
Nhận biết làu làu lòng vốn,
chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên;
Dồi cho vặc vặc tính gương,
nào có nhuốm căn trần huyên náo,
Vàng chửa hết quặng,
xá tua2 chín phen đúc chín phen rèn;
Lộc chẳng còn tham,
miễn được một thì chay một thì cháo.
Sạch giới lòng, dồi giới tướng,
nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm;
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha,
đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;
Học đạo thờ thầy,
lọt xương óc chưa thông của báo. 

HỘI THỨ BẢY 

Vậy mới hay:
Phép bụt trọng thay;
Rèn mới cốc hay.
Vô minh hết bồ đề thêm sáng;
Phiền não rồi đạo đức càng say.
Xem phỏng lòng kinh, lời bụt thốt dễ cho thấy dấu;
Học đòi cơ tổ,
xá1 thiền không khôn chút biết nay (nơi).
Cùng căn bản, rửa trần duyên,
mựa để mấy hào ly đương mặt;
Ngã thắng chàng, viên tri kiến,
chớ cho còn họa giữa cong tay.
Buông lửa giác ngộ,
đốt hoại thảy rừng tà ngày trước;
Cầm kiếm trí tuệ,
quét cho không tính thức thuở nay.
Vâng ơn Thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo;
Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận;
Đội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.
Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên,
hương hoa cúng xem còn nên thảo;
Miệng rằng tin, lòng lại lỗi,
vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.
 

HỘI THỨ TÁM
 

Chưng ấy:
Chỉn xá tua rèn;
Chớ nên tuyệt học.
Lay ý thức chớ chấp chằng chằng;
Nén niềm vọng mựa còn xóc xóc.
Công danh mảng đắm,
ấy toàn là những đứa ngây thơ;
Phúc tuệ gồm no, chỉn mới khá nên người thực cốc.
Dựng cầu đò, dồi chiền tháp,
ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu;
Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi,
nội tự tại kinh Lòng hằng đọc.
Rèn lòng làm bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài;
Đãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc.
Xem kinh đọc lục,
làm cho bằng thửa thấy thửa hay;
Trọng bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.
Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo;
Rất thửa cơ quan, mựa còn để tăm hơi lọt lọc.
 

HỘI THỨ CHÍN
 

Vậy cho hay:
Cơ quan tổ giáo;
Tuy khác nhiều đàng,
Chẳng cách mấy gang.
Chỉn xá nói từ sau Mã tổ;
Ắt đã quên thuở trước Tiêu Hoàng.
Công đức toàn vô, tính chấp si càng thêm lỗi;
Khuếch nhiên bất thức, tai ngu mảng1 ắt còn vang.
Sinh Thiên Trúc, chết Thiếu Lâm,
chôn dối chân non Hùng Nhĩ;
Thân bồ đề, lòng minh kính,
bài giơ mặt vách hành lang.
Vương lão chém mèo,
rạt thảy2 lòng ngừa thủ tọa;
Thầy hồ khua chó, trỏ xem trí nhẹ con giàng.3
Chợ Lư Lăng gạo mắc quá ư, chẳng cho mà cả4;
Sở thạch đầu đá trơn hết tấc, khôn đến thưa đang.
Phá Táo cất cờ, đạp xuống dấu thiêng thần miếu;
Câu Chi dời ngón, dùng đòi nếp cũ ông ang5.
 

Lưỡi1 gươm Lâm Tế, nạng Bí Ma,
trước nạp tăng no dầu tự tại;
Sư tử ông Đoan, trâu thầy Hựu,
răn đàn việt hượm2 xá nghênh ngang.
Giơ phiến tử, cất trúc bề,
nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẵn;
Xô hòn cầu, cầm mộc thược,
bạn thiền hòa chước móc khoe khoang.
Thuyền Tử rà chèo, dòng xanh chửa cho tịnh tẩy;
Đạo Ngô múa hốt, càn ma dường thấy quái quàng.
Rồng Yểm Lão nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ3;
Rắn ông Tồn ngang thế giới, người thấy ắt dang4.
Cây bách là lòng,
thác ra trước phải phương Thái Bạch;
Bính đinh thuộc hỏa,
lại trở sau lỗi hướng Thiên cang.
Trà Triệu Lão, bánh Thiều Dương,
bầy thiền tử hãy còn đói khát;
Ruộng Tào Khê vườn Thiếu Thất,
chúng nạp tăng những để lưu hoang.
Gieo bó củi, nẩy bông đèn, nhân mang mới nết;
Lộc đào hoa, nghe tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.
 

HỘI THỨ MƯỜI
 

Tượng1 chúng ấy,
Cốc một chân không;
Dùng đòi2 căn khí.
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông;
Há cơ tổ nay còn thửa bí.
Chúng Tiểu thừa cốc hay chữa đến,
Bụt xá ngăn Bảo sở hóa thành;
Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên,
ai ghẻ3 có sơn lâm thành thị.
Núi hoang rừng quạnh, ấy là nơi dật sĩ tiêu dao;
Chiền4 vắng am thanh,
chỉn thực cảnh đạo nhân du hý.
Ngựa cao tán cả,
Diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;
Gác ngọc lầu vàng,
ngục tốt thiếu chi người yêu quý.
Chuộng công danh, lồng nhân ngã,
thực ấy phàm phu;
Say đạo đức, dời thân tâm,
định nên thánh trí.
Mày ngang mũi dọc,
tướng tuy lạ xem ắt bằng nhau;
Mắt thánh lòng phàm,
thực cách nhẫn1 vàn vàn thiên lý.
 

Kệ rằng:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
(Ở đời vui đạo, hãy tùy duyên,
Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối cảnh vô tâm, chớ hỏi thiền.)
 

ĐẮC THÚ LÂM TUYỀN THÀNH ĐẠO CA
 

Sinh có nhân thân,
Ấy là họa cả;
Ai hay cốc được,
Mới óc1 là đã.
Tuần này mà ngẫm,
Ta lại xá ta;
Đắc ý cong lòng,
Cười riêng ha hả.
Công danh chẳng trọng,
Phú quý chẳng màng;
Tần Hán xưa kia,
Xem đà hèn hạ.
Yên bề phận khó,
Kiếm chốn dưỡng thân;
Khuất tịch non cao,
Náu mình sơn dã.
Vượn mừng hủ hỷ,
Làm bạn cùng ta;
Vắng vẻ ngàn kia,
Thân lòng hỷ xả.
Thanh nhàn vô sự,
Quét tước đài hoa;
Thờ phụng bụt trời,
Đêm ngày hương hỏa.
Tụng kinh niệm bụt,
Chúc thánh khẩn cầu;
Tam hữu tứ ân,
Ta nguyền được bả.1
Niệm lòng vặc vặc,
Giác tính quang quang;
Chẳng còn bỉ thử.
Tranh nhân chấp ngã.
Trần duyên rũ hết,
Thị phi chẳng hề.
Rèn một tấm lòng,
Đêm ngày đon đả.
Ngồi cong trần thế,
Chẳng quản sự thay.
Văng vẳng ngàn kia,
Dầu lòng dong thả.
Học đòi chư Phật,
Cho được viên thành;
Xướng khúc vô sinh.
An thiền tiêu sá.
Ai ai xá cốc,
Bằng huyễn chiêm bao;
Xẩy tỉnh giấc hòe,
Châu rơi lã chã.
Cốc hay thân huyễn,
Chẳng khác phù vân;
Vạn sự giai không,
Tựa dường bọt bể.
Đem mình náu tới,
Cảnh vắng ngàn kia;
Dốc chí tu hành,
Giấy sồi bô bả.
Lành người chẳng chớ.
Dữ người chẳng hay;
Ngậm miệng đắp tai,
Hề chi họa cả.
An thân lập mệnh.
Thời tiết nhân duyên;
Cắt thịt phân cho,
Dầu là chim cá.
Thân này chẳng quản.
Bữa đói bữa no;
Địa thủy hỏa phong,
Dầu là biến hóa.
Pháp thân thường trụ,
Phổ mãn thái hư,
Hiển hách mục tiền,
Viên dung lõa lõa.
Thiền tông chỉ thị,
Mục kích đạo tồn;
Không cốc truyền thanh,
Âm hưởng ứng dã.
Phô1 người học đạo,
Vô số nhiều thay;
Trúc hóa nên rồng,
Một hai là họa.
Bởi lòng vờ vịt,
Trỏ Bắc làm Nam;
Nhất chỉ đầu thiền,
Sát na hết cả.
 

Kệ rằng:
Cảnh tịch an cư tự tại tâm
Lương phong xuy đệ nhập tùng âm
Thiền sàng thọ hạ nhất kinh quyển
Lưỡng tự thanh nhàn thắng vạn câm
 

(Cảnh vắng sống yên tự tại hồn,
Bóng tùng gió mát thổi từng cơn.
Giường thiền một quyển kinh bên gốc,
Hai chữ thanh nhàn vạn nén hơn) 



BÀI GIẢNG TRẦN NHÂN TÔNG 

BÀI GIẢNG TẠI CHÙA SÙNG NGHIÊM

“Lúc đầu khai đường, Thượng hoàng lên tòa giảng, niêm hương báo ân xong, bèn đếõn tòa giảng. Thượng thủ đánh bảng.v.v. xin mời Điều Ngự. Bèn nói: ‘Đức Thích Ca Văn Phật vì một việc lớn mà xuất hiện ở đời, 49 năm, nhúc nhích đôi mép môi, mà chưa từng nói một chữ. Ta nay vì các người mà lên tòa giảng này, thì nói cái gì?’ Rồi Thượng hoàng ngồi xuống giường thiền. một chốc, bèn nói:
Đỗ quyên rền rỉ, trăng ngày sáng
Đừng để tầm thường xuân luống qua
Lại đánh xuống một cái:
- Chẳng có gì cả, hãy đi ra đi, đi ra đi. 

Một vị tăng hỏi:
- Thế nào là Phật? 

Đáp:
- Hiểu theo như trước là chẳng phải. 

Lại tiến lên hỏi:
- Thế nào là Pháp? 

Đáp:
- Hiểu theo lối trước là chẳng phải. 

Lại đứng lên hỏi:
- Rốt ráo là thế nào?. 

Đáp:
Tám chữ mở toang trăn trối hết
Chẳng còn gì nữa để trình ông.
Lại đứng lên hỏi:
- Thế nào là Tăng? 

 Đáp:
- Hiểu theo lối trước lại chẳng phải. 

Lại đứng lên hỏi:
- Rốt ráo là như sao? 

Đáp:
Tám chữ mở toang trăn trối hết
Chẳng còn gì nữa để trình ông.
Lại đứng lên hỏi:
- Thế nào là một việc hướng thượng? 

Đáp:
- Đứng chống đầu gậy chọc trời trăng. 

Lại đứng lên hỏi:
- Dùng công án cũ để làm gì? 

Đáp:
 - Mỗi lần nêu ra mỗi lần mới. 

Lại đứng lên hỏi:
- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền? 

Đáp:
- Ểnh ương nhảy không ra khỏi đấu.
Lại đứng lên hỏi:
- Hiện ra rồi chìm mất là thế nào? 

Đáp:
- Còn tùy còn tùy bước ếch cát bùn vương. 

Tiến lên hỏi:
- Thế còn nhảy không ra? 

Điều Ngự bèn lên tiếng:
- Tên mù kia thấy cái gì? 

Bèn đứng lên nói:
- Đại tôn đức lừa người để làm gì? 

Điều Ngự bèn thở dài. Vị tăng ngẫm nghĩ. Điều Ngự liền đánh. Vị tăng lại định đi ra hỏi. Điều Ngự liền hét. Vị tăng cũng hét.
Điều Ngự nói:
- Lão tăng bị ngươi hét một tiếng, thì hét hai tiếng rốt ráo thế nào? Nói mau, nói mau. 

Tăng ngẫm nghĩ.
Điều Ngự lại hét một tiếng, nói:
- Con hồ tinh hoang kia vừa mới đến liến thoắng, nay ở chỗ nào rồi? 

Tăng lạy và rút lui. 

Hỏi:
- Đại đức siêng năng khó nhọc tu hành, lâu trải năm tháng, đối với sáu thần thông của Phật, nay chứng được thần thông nào? 

Đáp:
- Cũng được sáu thần thông

Lại đứng lên hỏi:
- Năm thần thông thì hãy để đó, còn tha tâm thông thì thế nào? 

Đáp:
- Đất nước chỗ ông có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai biết hết, Như Lai thấy hết. 

Tăng đưa thẳng nắm tay lên, nói:
- Đã có thể biết hết, thấy hết, thì có biết cái này có vật gì không ? 

Đáp:
Như có như không
Chẳng không chẳng sắc
 

 Hỏi:
- Xưa có tăng hỏi hòa thượng Lang Da rằng: Đã là “thanh tịnh bản nhiên”sao bỗng chốc sinh ra núi sông đất lớn? Ý chỉ thế nào? 

 Đáp:
- Rất giống thuyền câu ra bể? 

Lại đứng lên hỏi:
-Thế là ý nghĩa gì? 

Đáp:
Khói sóng ai hay tránh.
Riêng có việc khéo bàn
Hỏi:
- Thế nào là gia phong của Phật quá khứ? 

Đáp:
Rừng vườn vắng vẻ không người quản,
Mận trắng đào hồng tự nở hoa
 Hỏi:
- Thế nào là gia phong của Phật hiện tại? 

Đáp:
 Bạch thủy gia phong mê én sớm,
Đào thắm vườn tiên say gió xuân.
Lại đứng lên hỏi:
- Thế nào là gia phong của Phật vị lai? 

Đáp:
 Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,
 Thôn chài nghe sáo khách mong nhà.
Lại đứng lên hỏi:
- Thế nào là gia phong của hòa thượng

Đáp:
 Áo rách ôm mây, mai húp cháo,
 Bình xưa rót nguyệt, tối chưng trà.
Hỏi:
- Linh Vân giác ngộ khi đào nở hoa là thế nào? 

Đáp:
Tự búp tự nở theo thời tiết,
Hỏi tới Đông quân thảy chẳng hay
Lại đứng lên hỏi:
- Giết người không chớp mắt là thế nào? 

Đáp:
- Toàn thân là mật. 

 Hỏi:
- Bậc đại tu hành có còn rơi vào vòng nhân quả nữa không? 

Đáp:
 Miệng tựa máu bồn chê Phật tổ,
 Răng như cây kiếm thọc thiền lâm.
 Một mai chết xuống A tỳ ngục,
 Cười ngất nam mô Quán Thế Âm.
Hỏi:
 Cò trắng xuống đồng, nghìn điểm tuyết,
 Oanh vàng trong khóm, một nhành hoa.
 là thế nào?
Đáp:
- Lầm rồi. 

Lại đứng lên hỏi:
- Bậc đại tôn đức nghĩ sao? 

Đáp:
 Cò trắng xuống đồng, nghìn điểm tuyết,
 Oanh vàng trong khóm, một nhành hoa.
Lại đứng lên hỏi:
- Đó là lời của tôi. 

Đáp:
 Nếu biết thần tiên lò lửa thuật
 Viên đan nguyên ấy tử châu sa
Hỏi:
- Thế nào là pháp thân thanh tịnh? 

Đáp:
 Đục vàng rớt trúng phân sư tử
 Sắt núi Côn Lôn chim chá cô
Lại hỏi:
- Học nhân không hiểu. 

Đáp:
 Không được thương Hồ biết rành thách giá
 Đáng cười kẻ chợ khổ lường nhau
Lại đứng lên hỏi:
- Báo thân tròn đầy là thế nào? 

Đáp:
 Cánh bằng gió đứng cao bay mãi
 Ngọc Lệ trơn tru sóng biển trong
Tăng lạy vái.
Điều Ngự nói:
 Nguyên lai đầy đủ muôn công dụng
 Thiên lệch vì ngươi chẳng được nên
Lại đứng lên hỏi:
- Thế nào là ngàn trăm ức hóa thân? 

 Đáp:
 Mây mù kéo bắt lên trời lượn
 Thước nước như xưa cửa ngực vây
Lại đứng lên hỏi:
- Như thế? 

Điều Ngự nói:
 Dưới núi nhóm mây cười chết kẻ
 Bốn bề hỗn độn sắt ăn xong.
Tăng lạy vái rút lui.
 

Hỏi:
- Bàn huyền nói diệu, đem cổ luận kim, thảy đều nhờ vào ngôn ngữ. Chẳng dính ngôn ngữ một câu làm sao mà nói ra đây? 

Đáp:
 Gió xuân lất phất ngàn hoa nở
 Gãy mất càng xe một tiếng thôi
Tăng ngẫm nghĩ, mở miệng.
Điều Ngự lại nói:
 Chim kêu rỉ máu đâu dùng chỗ
 Như cũ mây chiều vắt núi tây.
Lại đứng lên hỏi:
- Muôn dặm mây nhóm là thế nào? 

Đáp:
- Mưa mênh mông

Lại đứng lên hỏi:
- Muôn dặm mây phủ là thế nào? 

Đáp:
- Sáng rõ 

Lại đứng lên hỏi:
- Rốt ráo là thế nào? 

Đáp:
- Chớ nhúc nhích. Nhúc nhích thì ba mươi gậy. 

Hỏi:
- Thế nào là mặt mũi xưa nay? 

Điều Ngự chặp lâu, nói:
- Hiểu không? 

Đáp:
 - Không hiểu. 

Điều Ngự liền đánh.
Hỏi:
-Thế nào là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp? 

Đáp:
 Nếu dùng sắc thấy ta
 Dùng âm thanh tìm ta
 Người ấy hành đạo
 Chẳng thể thấy Như Lai.
Hỏi:
- Thế nào là Phật? 

Đáp:
- Cám trong cối 

Hỏi:
- Thế nào là ý tây lai của tổ sư? 

Đáp:
- Bánh vẽ. 

Hỏi:
- Thế nào là đại ý của Phật pháp? 

Đáp:
- Cùng hầm không đất khác. 

Hỏi:
- Xưa có tăng hỏi Triệu Châu con chó có tính Phật không, Châu bảo không có. Ý chỉ thế nào? 

Đáp:
 Vị muối trong nước
 Keo xanh trong màu
Hỏi:
 Câu có câu không
 Như dây bám cây
 Thì thế nào?
Điều Ngự bèn nói:
 Câu có câu không,
 Dây khô cây đổ.
 Mấy vị thầy tu,
 Dập đầu trán vỡ.
 

 Câu có câu không,
 Gió vàng thể lộ.
 Vô số cát sông,
 Kiếm đâm dao bổ.
 

 Câu có câu không
 Lập chỉ lập tông.
 Dùi rùa đập ngói,
 Trèo núi lội sông.
 

 Câu có câu không
 Chẳng có chẳng không,
 Khắc thuyền tìm gươm,
 Bản đồ kiếm ngựa.
 

 Câu có câu không,
 Đắp đỗi hay không.
 Nón tuyết giày bông
 Ôm cây đợi thỏ
 

 Câu có câu không,
 Từ nay từ xưa.
 Quên trăng giữ ngón.
 Chết đuối trên bờ.
 

 Câu có câu không,
 Như vậy như vậy,
 Tám chữ mở toang,
 Không còn mũi rẫy
 

 Câu có câu không,
 Ngó phải ngó trái.
 Ráo riết hùa theo,
 Ồn ào tranh cãi.
 

 Câu có câu không,
 Rầu rầu rĩ rĩ.
 Cắt đứt sắn bìm,
 Đó đây vui vẻ.
Bèn xuống tòa. 

BÀI GIẢNG TẠI VIỆN KỲ LÂN 

Ngày mồng 9 tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ (1306), Trúc Lâm đại tôn giả đến viện Kỳ Lân khai đường, chỉ pháp tòa nói:
- Tòa này là giường mây khúc lục, là tòa báu kim nghê. Ngồi đây đoán định lời lẽ Phật tổ thì thật rất chật hẹp. 

 Bèn niêm hương:
- Một nén hương này, khói lành thơm phức, khí tốt bay lên, ngưng đọng năm phần pháp thân, biến khắp mười phương lễ diệu. Sức nóng lò hương dâng lên mười phương ban phúc, chín miếu ứng thiêng, tuổi vua lâu bền, ngôi trời vững chãi

Một nén hương này, trong sạch rễ mầm, hiếm lạ giống tính, không mượn sức bón vun, toàn nhờ xông thấy biết. Sức nóng lò hương vâng xin mưa thuận gió hòa, nước thái dân yên, trời Phật thêm sáng, xe pháp thường quay.
Một nén hương này, nướng cũng không chín, đốt cũng không cháy, gõ vào không mở, kéo lại không đến, ngó trộm thì con ngươi khô kiệt, ngửi thử thì cửa não téc đôi. Sức nóng lò hương dâng lên Vô Nhị thượng nhân, Tuệ Trung đại sĩ, mưa pháp ơn nhuần, cháu con đều gội. 

Thượng hoàng đến tòa giảng, khi thăng đường, thượng thủ đánh bảng.
Vân vân.
Sư nói:
- Đại chúng, nếu nhắm vào chân lý thứ nhất mà nói, động niệm tức sai, mở miệng là bậy, thì làm sao hiểu chân lý, làm sao hiểu quán tưởng ? Hôm nay, hãy căn cứ vào chân lý thứ hai mà nói, thế có được không nào ? 

Rồi Sư ngoảnh nhìn tả hữu, nói:
 - Ở đây chẳng có người nào có đủ được con mắt to lớn hay sao. Nếu có, hai đóa lông mày không mất một mảy may. Nếu không, bần đạo không khỏi cái miệng lầm rầm, đưa ra những lời thừa rách nát sáo mòn.
Nhưng vì các
người, xin lấy ra một phần hổ lốt. Hãy lắng nghe, lắng nghe. 

Này xem, đạo lớn trống rộng, đâu buộc đâu ràng, bản tính sáng trong, chẳng lành chẳng dữ. Bởi do chọn lựa, lắm ngả sinh ngang, một giây thoáng mờ, dễ thành trời vực. Thánh phàm cùng chung một lối, phải trái há được phân ranh. Nên biết tội phước vốn không, nhân quả rốt ráo chẳng thật. Người người vốn đủ, ai nấy tròn đầy. Phật tính pháp thân như hình với bóng, lúc ẩn lúc hiện, chẳng dính chẳng rời. Lỗ mũi thẳng xuống cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được đâu ? 

Nên hãy đi tìm cái đạo không thấy. Ba ngàn pháp môn cùng về tấc dạ. Hà sa diệu dụng thảy tại nguồn tâm. Cái gọi là giới môn, định môn, tuệ môn, các người không thiếu. Nên trở về mà tự nghĩ suy. Phàm những tiếng ho hắng, mày dương mắt nháy, tay cầm chân bước, đó là tính gì? Biết được tính đó là tâm gì, tâm tính rõ thông, thì cái gì đúng, cái gì là không đúng. 

Pháp tức là tính, Phật tức là tâm. Tính nào chẳng phải là pháp? Tính nào chẳng phải là Phật. Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp, pháp vốn chẳng pháp. Tức pháp tức tâm, tâm vốn chẳng tâm, tức tâm tức Phật.
Này các người, thời gian dễ trôi qua, mạng người không dừng lại. Cớ sao ăn cháo ăn chay, mà không rõ việc cái bát cái tô, chiếc thìa đôi đũa để tìm hiểu? 

 * * * 

Bấy giờ có vị tăng bước ra, nói:
 Ăn cơm mặc áo, tầm thường việc
 Sao phải quan tâm để phát ngờ.
Bèn lạy xuống, rồi đứng lên hỏi:
- Cõi thiền vô dục thì không hỏi. Cõi dục không thiền, xin nói cho một câu. 

Sư đưa tay chỉ vào khoảng không.
Lại đứng lên hỏi:
- Dùng đờm dãi người xưa để làm gì? 

Sư nói:
- Mỗi lần nêu ra, một lần mới. 

Lại đứng lên hỏi:
- Người xưa đều nói như thế nào là Phật, như thế nào là pháp, như thế nào là tăng. Chỉ như thế nào ấy thì việc thế nào? 

Sư đáp:
- Như thế nào. Việc như thế nào. 

Lại đứng lên nói:
Không dây đàn gảy tri âm ít
Cha đánh con nghe, cách điệu cao.
Vân vân

 * * * 

Một hôm, sư nghe đồ đệ tụng kinh, bèn hỏi:
- Chúng làm gì thế? 

Có tăng đi ra, thưa:
- Chúng niệm Phật tâm. 

Sư nói:
Nếu bảo là tâm,
 Tâm tức không Phật.
 Nếu bảo là Phật,
 Phật tức không tâm.
Thì gọi cái gì là tâm?
Tăng không nói.
 

* * * 

Lại hỏi một vị Tăng:
- Chúng đang làm gì? 

Tăng đáp:
- Niệm Phật

Sư nói:
- Phật vốn vô tâm thì niệm cái gì? 

Lại đứng lên nói:
- Niệm việc đó. 

Sư hỏi:
- Việc đó là việc gì? 

Lại đứng lên nói:
- Không biết. 

Sư nói:
- Ông đã không biết, thì người nói đó là ai? 

Vị Tăng không đáp lời.
Vân vân.
Lỗ kiến vỡ đê
Mảy bụi che mắt
Một hạnh vừa mất
Trăm hạnh đổ theo.
Trân trọng 
 
 

NGỮ LỤC

NÓI CHUYỆN VỚI SÀI THUNG (1278) 

Tiên quân tôi qua đời. Tôi mới nối ngôi. Thiên sứ đến mở đọc chiếu thư, khiến tôi sợ vui lẫn lộn ở trong lòng. Trộm nghe chúa nước Tống bé nhỏ, mà thiên tử thương xót, còn phong cho tước công, thì đối với tiểu quốc tất cũng được thêm lòng thương xót. Xưa có bảo sáu việc, đã nhờ ơn tha miễn. Còn lễ tự thân đến chầu thì tôi sinh trưởng thâm cung, không tập cưỡi ngựa, không quen phong thổ, sợ chết dọc đường. Em tôi từ thái úy trở xuống cũng đều thế cả.
Thiên sứ trở về, xin kính cẩn dâng biểu bày tỏ lòng thành, cùng cống vật lạ. 

NÓI CHUYỆN VỚI TRƯƠNG LẬP ĐẠO (1291) 

Bản quốc quy phụ Thiên triều ba mươi năm nay, lòng thờ bề trên chưa ngày nào có chút xao lãng, lễ cống hàng năm chưa từng thiếu sót. Kể từ đời ông, rồi tới cha, cho đến ngày nay, trước sau một lối. 
Nhiều lần tiếp được chiếu vời, chỉ vì đau yếu không thể vào chầu, đến nỗi Thánh thượng nổi giận, dấy quân sang đánh, khiến cho sinh linh nước tôi bị giết hại, lăng mộ bị bới đào, chùa chiền bị đốt phá, cây cối bị chặt đẵn không thể kể xiết. Bản quốc chẳng có tội tình gì mà phải chịu nạn lớn như vậy. 
 
Chiếu thư của thiên tử lần nào cũng nói nước tôi có tội giết quốc thúc, đuổi sứ giả, chống cự quân thiên triều, tội ấy đến nay chưa thể tha, nhưng quốc thúc tôi vốn do tiên vương tôi sai sang chầu “Thiên tử” để thay mặt giải bày, “Thiên tử” lại phong quốc thúc làm vương, khiến cho quốc thúc tôi tự hãi không biết tránh đi đâu. Chẳng phải nước tôi hại quốc thúc mà quốc thúc tự trốn ra miền Hải Nam, người trong tông tộc cầm quân nghênh chiến, điều ấy quả thực tôi không hề biết vậy. 

Duy một việc không sang chầu là vì tham sống sợ chết chứ không có ý gì khác; xa ngoài vạn dặm, đường đất gian nguy, chướng khí núi non, không quen thủy thổ, nếu chết ở giữa đường phỏng có ích gì cho “thượng quốc” đâu? Liền mấy năm nay, lễ cống không thiếu sót, cẩn thận thờ người trên, phỏng có thiệt gì cho “thượng quốc” đâu? Tâm tình đó của người dưới không được đề đạt đến người trên vậy. 

Nay thiên sứ sang đây, mong được kể rõ nỗi oan của bản quốc,để ngài về kinh tâu bày trước “thiên tử”. “Khắp cả gầm trời, chẳng đâu không phải đất nhà vua; khắp các bến bờ trên cõi đất, chẳng ai không phải bề tôi nhà vua. Cả nước Nam này đã là dân của “Thiên tử” thì lại càng không có chí gì khác. “Thiên tử” coi bốn bể là nhà, nước tôi tuy không sang chầu được thì cũng vẫn ở trong lãnh vực ấy, vẫn là bề tôi của xã tắc, điều này duy trời đất biết cho thôi. 

VĂN TRẦN NHÂN TÔNG 
HÀNH TRẠNG CỦA THƯỢNG SĨ TUỆ TRUNG

Thượng sĩ là con trai đầu (lòng) của Khâm Minh Từ Thiện Thái Vương và anh cả của Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng thái hậu. Khi thái vương mất, Hoàng đế (Trần) Thái Tông cảm nghĩa, phong cho tước Hưng Ninh Vương. 

Thuở nhỏ, Thượng sĩ bẩm tính thanh cao, nổi tiếng thuần hậu, được giao trấn giữ quân dân ở lộ Hồng. Hai lần giặc Bắc xâm lược, có công với nước, lần hồi được thăng chuyển giữ chức Tiết độ sứ vùng biển trại Thái Bình

Con người Thượng sĩ, khí lượng thâm trầm, phong thái nhàn nhã, từ tuổi để chỏm, rất mến cửa không. Đến tham vấn Thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường, lĩnh hội yếu chỉ, bèn dốc lòng thờ làm thầy, ngày ngày chỉ lấy niềm vui thiền làm thích, không hề vì công danh mà trở ngại. Rồi lui về sống ở phong ấp Tịnh Bang, đổi làm hương Vạn Niên

Thượng sĩ cùng đời hòa quang, chưa từng đụng chạm người vật, nên hay mạnh nối giống pháp, dìu dắt sơ cơ. Ai tìm đến hỏi, người cũng chỉ bảo cho biết điều cương yếu, khiến họ trụ tâm, mặc tính hành tàng, không mắc danh thực. 
Đức Dụ Lăng mộ tiếng từ lâu, sai sứ vời vào cửa khuyết. Phàm những lời hầu chuyện nhà vua đều là siêu tục. Nhân thế, vua suy tôn làm sư huynhban cho tên hiệu hiện nay. 

Một lần vào chầu, Thái hậu làm tiệc lớn đãi, Người gặp thịt cứ ăn. Thái hậu lấy làm lạ hỏi rằng: “Anh tu thiềnăn thịt thì thành Phật sao được?”. Thượng sĩ cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật cũng chẳng cần làm anh. Em chẳng nghe cổ đức nói ‘Văn Thù là Văn Thù, giải thoát là giải thoát’ đó sao?” 

Khi Thái hậu qua đời, đức Dụ Lăng trai tăng ở cung cấm. Nhân khi khai đường thuyết pháp bèn mời danh tăng bốn phương mỗi người làm một bài kệ ngắn để bày tỏ kiến giải của mình. Nhưng thảy đều “ngầu bùn sũng nước” chưa có chỗ ngộ. Đức Dụ Lăng bèn đem giấy đến cho Thượng sĩ. Thượng sĩ viết một hơi xong bài tụng tự thuật như sau: 

Kiến giải bày kiến giải
Tựa dụi mắt làm quái. 
Dụi mắt làm quái rồi. 
Sáng sủa thường tự tại
Đức Dụ Lăng xem xong, viết tiếp: 
Sáng sủa thường tự tại
Cũng dụi mắt làm quái. 
Thấy quái không thấy quái, 
Quái kia liền tự hoại. 

Thượng sĩ rất tâm phục bài kệ ấy. 

Tới khi Đức Dụ Lăng ốm, Thượng sĩ viết thư hỏi bệnh. Mở ra xem, Đức Dụ Lăng viết kệ trả lời, có câu: 

Mực nồng khí nóng mồ hôi đẫm, 
Quần mẹ sinh ta ướt chửa từng. 

Thượng sĩ đọc bài kệ, than thở giây lâu. Đến khi Đức Dụ Lăng trở bệnh nặng, Thượng sĩ tất tả tới cửa khuyết thì nhà vua đã quy tiên rồi. 

Nay ta cũng nguyện đội ơn dạy dỗ của Thượng sĩ. Trước đây, khi ta chưa xuất gia, gặp lúc cư tang Nguyên Thánh mẫu hậu, nhân đó có đi thỉnh Thượng sĩ. Người trao cho hai bộ ngữ lục của Tuyết Đậu và Dã Hiên.1 Ta cho người sống quá tục, sinh ngờ vực, bèn làm ra vẻ ngây thơ hỏi: “Chúng sinh quen cái nghiệp uống rượu và ăn thịt, thì làm sao tránh được tội báo?” Thượng sĩ liền giảng giải rằng: “Giả thử có một người đứng quay lưng lại, thình lình có nhà vua đi qua phía sau, người kia không biết, hoặc có ném vật gì vào người vua. Người ấy có sợ chăng? Vua có giận chăng? Như thế thì biết rằng hai việc không liên quan gì đến nhau vậy.” Nói rồi Thượng sĩ đọc hai bài kệ

Vô thường các pháp hành
Tâm ngờ tội liền sanh. 
Xưa nay không một vật, 
Chẳng mống cũng chẳng mầm. 
 

Ngày ngày khi đối cảnh. 
Cảnh cảnh từ tâm ra. 
Xưa nay không tâm cảnh. 
Chốn chốn thảy bờ kia. 

Ta lĩnh ý, giây lâu bèn nói: “Tuy là như thế, nhưng tội phúc đã rõ ràng thì làm thế nào?”. 

Thượng sĩ lại đọc tiếp bài kệ để chỉ bảo

Ăn cỏ và ăn thịt
Chúng sinh mỗi có thức. 
Xuân về muôn cỏ sinh, 
Chỗ nào thấy tội phúc

Ta nói: “Nếu vậy thì công phu giữ giới trong sạch không chút xao lãng là để làm gì?” Thượng sĩ cười mà không đáp. Ta cố nài. Thượng sĩ lại đọc tiếp hai bài kệ để ấn chứng cho ta: 

Trì giớinhẫn nhục 
Chuốc tội chẳng chuốc phúc. 
Muốn biết không tội phúc
Đừng trì giới nhẫn nhục
Như khi người leo cây, 
Đang yên tự tìm nguy. 
Nhu người không trèo nữa, 
Trăng gió làm được gì. 

Đoạn người dặn kín ta: “Chớ có bảo cho người không đáng bảo.” Vì vậy ta biết môn phong của Thượng sĩ thật là siêu việt

Một hôm, ta hỏi người về tôn chỉ công việc mình. Thượng sĩ ứng khẩu đáp: “Hãy quay nhìn lại công việc của chính bản thân mình chứ không tìm đâu khác được.” Ta bỗng bừng tỉnh con đường phải đi, bèn xốc áo, thờ làm thầy. 
Ôi! Thượng sĩ là người thần thái nghiêm trang, cử chỉ đĩnh đạc. Bàn huyền thuyết diệu như gió mát trăng thanh. 
Đương thời thạc đức các phương, có người cho Thượng sĩ tin sâu biết rõ, làm ngược làm xuôi, thật khó mà lường được. 

Sau, người nhuốm bệnh ở trang Dưỡng Chân, không ở phòng riêng, mà cho kê một chiếc giường gỗ giữa ngôi nhà trống, nằm theo thế cát tường, nhắm mắt mà tịch. Người hầu hạ và thê thiếp trong nhà khóc rống lên. Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy, gọi người lấy nước rửa tay, súc miệng, đoạn quở nhẹ rằng: “Sống chết là lẽ thường, làm gì phải xót thương quyến luyến làm rối chân tính của ta?” Dứt lời người êm thấm mà tịch. Bấy giờ là ngày mồng một tháng tư năm Tân Mão, niên hiệu Trùng Hưng năm thứ bảy, hưởng thọ 62 tuổi. 

Ta thân đến nhà làm lễ viếng và làm bài Thiêu hương báo ân tụng, nhưng không chép ra đây. 

Sau khi nối đạo, những lúc lên đàn thuyết pháp, ta tự nghĩ có bốn điều ân nặng, sửa pháp khó đền, nên sai thợ vẽ chân dung của người để dâng cúng, và tự làm bài tụng, ghi rằng: 

Đây bậc cổ chùy, 
Người đâu dễ vẽ 
Thước góc Lương hoàng, 
Mõ chuông Thái đế. 
Hay tròn hay vuông 
Mỏng dầy đủ vẻ. 
Biển pháp một ngươi, 
Rừng thiền ba phía. 

VĂN THƯ NGOẠI GIAO 
TRẦN NHÂN TÔNG 

 
Lá thư tháng 11 nhuận năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) 
Nay nghe quốc công nhọc đến tệ quốc, biên dân không ai là không kinh hãi, không biết là sứ giả người nước nào mà đến ở đây. Xin rút quân về đường cũ để mà tiến. 
2a 
Tờ biểu tháng 12 năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) 
Cô thần bẩm khí yếu đuối, mà đường sá thì khó khăn, chỉ luống phơi bộ xương trắng, đến nỗi bệ hạ phải xót thương mà không ích gì cho thiên triều trong muôn một. Nép mong bệ hạ thương xót tiểu quốc xa xôi, khiến thần được cùng bọn đơn côi quan quả, giữ được tính mệnh để suốt đời thờ phụng bệ hạ. Đó là nỗi may mắn lớn nhất của cô thần mà cũng là phúc to của sinh linh tiểu quốc. 
2b 
Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 15 (1278) 
Năm Chí Nguyên thứ 15, thế tử An Nam là cô thần, Trần, dâng biểu nói: 
Hoàng đế bệ hạ được trời trên yêu mến. Cha thần thuận về thánh hóa, thấm nhuần ơn đức nhân từ như đất trời, hưởng lượng bao dung dơ uế như núi biển. Cha thần một đời đội ơn cảm đức rất hậu. Năm Chí Nguyên thứ 14 (1277), bất hạnh cha thần thất lộc. Ngày sắp mất, gọi cô thần đến bảo: “Bệ hạ khoan nhân đại độ, không bỏ sót nước nhỏ, thì chắc con tất được ân như đời trước. Ta nay chỉ vì trời không cho thêm tuổi, khiến không được thờ phụng thiên triều mà lấy làm hận thôi”. Thần e sợ mới gặp tang cha mà kỳ cống hiến hằng năm lại vừa tới. Thần chẳng dám vì nỗi buồn tang cha mà lụy tới công việc.

Lại thêm bọn sứ trước là Lê Khắc Phục lâu ngày chưa về để tiếp tục việc cống nạp hằng năm, nên tiếp tục sai bọn Trung thị đại phu Châu Trọng Ngạn, Trung lượng đại phu Ngô Đức Thiệu làm hành nhân sứ vâng đem biểu văn, phương vật, đến cửa khuyết dâng hiến, tuân theo chức nghiệp của cha thần, chẳng dám để rơi mất lời giáo huấn dùng lòng trung để dạy con. Sinh linh tiểu quốc đều bảo: “Sau khi cha thần mất đi, thì thần sẽ kế tục chí hướng, làm tiếp sự nghiệp của cha thần, chính ở tại một việc làm đó. Bệ hạ thương yêu người trung trực, càng thêm khen thưởng, thì thế tử của ta ở trong sự không may mắn mà thật có sự may mắn”. Rồi mỗi mỗi tự ngóng cổ trông lên trời trăng miền bắc để ngóng mong. 

Kịp tới năm Chí Nguyên thứ 15 (1278), bọn Châu Trọng Ngạn chưa về. Chỉ thiên sứ Sài thượng thư mang chiếu thư cùng với bọn Lê Khắc Phục lần trước, cùng đến tiểu quốc. Thần đem bá quan nghênh tiếp đủ lễ, đốt hương vái đọc, nép thấy chiếu thư bảo phải vào chầu. Thần khôn xiết kinh sợ, và sinh linh cả nước truyền nghe lời ấy nhao nhao mất hết bình tĩnh. Ấy bởi vì thần sinh trưởng ở nước Việt Thường, bẩm khí yếu đuối, thủy thổ không quen, nóng lạnh chẳng chịu. Dù xem được quang cảnh thượng quốc, sung làm khách của vương đình, thì vẫn sợ có chuyện trên đường, luống phơi xương trắng, đến nỗi lòng nhân của bệ hạ cũng tự cảm thấy xót thương, mà chẳng ích gì cho thiên triều trong muôn một. 

Bệ hạ một thể với trời. Thần thờ phụng bệ hạ giống như thờ trời. Dù trông lên trời xanh chín tầng xa thẳm, mà oai trời chưa thường dám trái trong gang tấc, ơn vua chưa thường không ghi lòng tạc dạ. Khi làm bề tôi thời Châu Thành Vương thì trùng dịch đến cống. Đến thời Võ đế thì bỏ ngoài không tính vì thương nước nhỏ, đường sá xa xôi, núi sông sâu hiểm. Huống nay, bệ hạ nơi nào xe thuyền đến tới, sương móc xa rơi, trời trăng chiếu tới, thì chẳng ai là chẳng thần phục, so với nhà Châu, nhà Hán thật cách nhau vạn vạn, không thể cùng một ngày mà nói hết. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay chưa có lúc nào thiên hạ được thống nhất to lớn như ngày nay. 

Bệ hạ thi hành nhân đức trước hết là nhằm cho người hoang quả cô độc. Đến các loại nhỏ mọn như côn trùng thảo mộc cũng mỗi mỗi thỏa được tính mình. Thần mắc tội với trời, chỉ sợ không được thấm nhuần ơn phước. Chính trị của bệ hạ tốt hơn nhà Châu, lòng nhân của bệ hạ sâu hơn nhà Hán. Nép mong bệ hạ thương nỗi đơn chiếc yếu đuối của cô thần, xót nơi xa xôi của tiểu quốc, mà khiến cho thần được cùng với quan quả cô độc giữ được tính mạng của mình để suốt đời phụng thờ bệ hạ. Đó là điều rất may của cô thần, mà cũng là phúc lớn của sinh linh tiểu quốc. 

Thư tháng 11 năm Chí Nguyên 20 (1284) 

Lá thư tháng 11 năm Chí Nguyên thứ 20, gửi cho Bình chương chính sự của Kinh hồ Chiêm Thành hành tỉnh là A Lý Hải Nha: 
Về một việc thêm quân, thì Chiêm Thành thờ phụng tiểu quốc lâu ngày. Cha tôi chỉ vụ lấy đức mà giữ họ. Đến thân của kẻ côi này cũng kế thừa chí hướng của cha mình. Từ khi cha tôi thuận về với thiên triều 30 năm đến nay, vũ khí can qua tỏ ra không cần dùng tới, quân lính bỏ về làm dân. Ấy một phần giúp vào việc cống hiến cho thiên triều, và một phần tỏ tấm lòng không mưu đồ gì khác. Rất mong các hạ thương xót xét cho. Còn về việc giúp lương, thì địa thế tiểu quốc tiếp giáp với biển, ngũ cốc sản xuất không nhiều. Từ khi đại quân đi rồi, trăm họ vẫn còn trôi dạt. Thêm vào đó, bị lụt hạn, sáng no chiều đói, ăn uống vẫn không đủ. Tuy nhiên, các hạ ra lệnh thì vẫn không dám trái. Xin ở đất châu Vĩnh An trên cõi Khâm Châu, xin đợi đem đến nạp. 

Còn việc tiếp tục bảo cô tử tự thân đến cửa khuyết, gặp mặt đức vua để nhận lời dạy bảo, thì lúc cha già của thần còn sống, thiên triều đã thương xótbỏ ra ngoài tính toán. Nay cha già của thần đã mất, còn cô thì đang chịu tang, cảm bịnh đến nay, còn chưa khỏe lại như thường. Huống nữa, kẻ côi này sinh trưởng ở nơi xó xa, chẳng chịu nóng lạnh, chẳng quen thủy thổ, đường sá khó khăn, chỉ phơi xương trắng. Nếu lấy bồi thần của tiểu quốc đi lại, còn bị khí độc nhiễm xâm, có lúc mười người thì đến năm sáu, hoặc có khi chết đến hơn nửa. Các hạ cũng đã biết rõ điều đó rồi. Chỉ mong riêng vì lòng thương giúp, mà tâu bày với thiên triều hầu giúp thiên triều biết ý của kẻ côi này cùng tôn tôợc quan lại mỗi mỗi sợ chết tham sống. Há chỉ một mình kẻ côi này nhận được ơn ban mà còn sinh linh của một nước nhờ thế được an toàn. Cùng chúc cho các hạ hưởng được phước lớn từ trời ấy mãi mãi
Lá thư tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 21, gửi cho Kinh Hồ Chiêm Thành hành tỉnh 
Chiêm Thành đã nội thuộc tiểu quốc. Đại quân đến đánh, lẽ đương nhiên tiểu quốc phải thương xót, nhưng chưa từng dám nói ra một lời. Ấy bởi thời trời việc người, tiểu quốc cũng đã biết rồi. Nay Chiêm Thành lại làm chuyện phản nghịch chấp mê, không chịu trở lại. Đó gọi là kẻ chẳng thể biết trời biết người. Kẻ biết trời biết người mà trở lại cùng mưu với kẻ không biết trời biết người, thì tuy trẻ mới lên ba cũng biết là không thể cùng được. 
Huống là tiểu quốc ư ? Mong quí hành tỉnh xét kỹ. 
Lá thư tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 21, gửi cho Thoát Hoan 
Tuy không thể chính mình thấy được ánh thừa, nhưng trong lòng đã rất hân hạnh. Ngày trước, kính được chiếu vua nói rằng: “Có lệnh riêng quân ta không được đi vào nước ngươi”. Nay thấy Ung châu doanh trại cầu đò, thường thường liên tiếp. Thật rất sợ hãi, rất mong hiểu rõ lòng trung thành mà thêm chút thương xót
Thư tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 21 (1284), gửi cho Thoát Hoan 
Chiếu trước đã riêng ra lệnh “quân ta không được vào nước ngươi”. Nay vì Chiêm thành đã xưng bề tôi mà làm phản trở lại, nhân thế phát đại quân đi qua do bản quốc mà tàn hại trăm họ. Đó là việc làm sai trái của thái tử, chớ không phải sai trái của bản quốc. Kính mong chớ đi ra ngoài chiếu trước. Rút đại quân về. Bản quốc sẽ sắm đủ cống vật, đem dâng lại có khác với trước. 
Lá thư tháng 3 năm Chí Nguyên 23 (1286) 
Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên 23 (1286), thế tử nước An Nam là thần Trần Nhật Huyên kính gửi: 
1.Hòm đựng biểu bằng gỗ son có quách bằng bạc phủ vàng cùng với chìa khóa, một bộ. 
2.Voi thuần, một con. 
3.Yên ngựa vàng góc liền với bàn ngồi, một chiếc (vàng góc nặng 10 lạng) 
4.Đài bạc phủ vàng cùng trái bóng liền lông trâu, 5 bộ (cộng lại nặng 6 lượng 14 tiền). 
5.Lục lạc bằng đồng có mạ vàng, 7 chiếc. 
6.Sừng linh dương, một bộ. 
7.Chiếu gấm màu lục đậm, một chiếc. 
8.Dây bông hồng, bốn tao. 
9.Tấm choàng mưa bằng vải lăng màu đỏ có dụ kim, một tấm. 
10.Mâm ngự đá hoa góc vàng phủ bạc, một chiếc. 
11.Bình lưu ly cùng với nắp vàng, 2 chiếc. Cộng lại nặng 1 lạng 6 tiền. 
12.Đế đèn vàng, một đôi (cộng lại nặng 14 lạng). 
13.Mâm sừng tê bốn góc phủ bạc, một chiếc. 
14.Chén trầm hương vàng góc có nắp đậy, một chiếc. 
15.Đĩa lá sen phủ vàng, một cái. 
16.Dù vàng 3 lạng 7 tiền. 
17.Đĩa lá sen vàng 5 lạng. 
18.Đĩa dạng móng vàng 6 lạng 8 tiền, một cái. 
19.Bầu vàng một cái 10 lạng. 
20.Đĩa kim tê vàng góc liền đáy, một chiếc 4 lạng. 
21.Chén tê giác vàng góc một cái (vàng góc 5 lạng) 
22.Đĩa vàng dùng đủ một cái 2 lạng 8 tiền. 
23.Lò vàng liền với đũa vàng một bộ. 
24.Lò vàng một cái bốn lạng. 
25.Đũa vàng một lạng ba tiền. 
26.Que xóc thịt bằng vàng, một que 7 tiền. 
27.Đai vàng ròng, một bộ 4 cái. 
28.Bàn cờ bằng xương voi cái, có màu gỗ vằn sáng, góc vàng phủ bạc, một chiếc ba lạng. 
29.Hộp phủ vàng có phủ xen vàng đỏ liền với múi, một chiếc 25 lạng. 
30.Bộ quân cờ bằng ngà voi, một bộ 32 con. 
31.Hoa tê ba cành phía dưới phủ vàng xen bạc, ba món nặng 18 lạng. 
32.Sừng tê giác Đại ô năm chiếc liền với ván đáy có vẽ năm miếng. 
33.Chậu rửa bằng vàng 5 chiếc, cộng 10 lạng. 
34.Chậu rửa vàng đỏ 10 chiếc, cộng lại nặng 300 lạng. 
35.Bình bạc đựng đầy dầu tô hợp hương, ba chiếc (dầu cộng nặng 163 lạng, bình cộng nặng 79 lạng). 
36.Đoạn lông vàng nước Tây Dương hai xấp. 
37.Quyến mịn vải ngũ sắc 50 tấm. 
38.Gấm mọi 100 tấm. 
39.Vải trắng nước Chà Và 20 cân. 
40.Vải chen màu nước Chà Và 10 cân. 
41.Lông chim trả 100 chiếc. 
42.Bạch đàn hương 2 tể, cộng lại nặng 10 cân. 
43.Mai hương đàn 2 tể, nặng 70 cân. 
44.Ca ma nhiên hương 100 cân. 
45.Thảo quả 10 cân. 
46.Ngà voi 20 chiếc. 
47.Sừng tê giác 20 chiếc. 
48.Chim ó 20 con. 
49.Chim trĩ hai con. 
50.Rái cá một con. 
51.Cá sấu 8 con. 
52.Chim bát ca một con. 
Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 25 (1288) 
Chí Nguyên năm thứ 25 (1288) nước An Nam dâng biểu nói: 
Vi thần, thế tử nước An Nam Trần Nhật Huyên lo sợ, trăm lạy quên chết phục tội, dâng lời lên Hoàng đế bệ hạ được trời cao yêu mến. Được Thánh chỉ lúc này, như gió ấm cởi lòng, kính mong thánh thể sinh hoạt vạn phúc. Cha con của vi thần, qui thuận thiên triều đã 30 năm hơn. Dẫu vi thần đau mang bệnh tật,ử đường sá xa xôi,ử bệ hạ vẫn để cho ở bên ngoài tính toán, chỉ nhận lấy phương vật cống hiến, mà sứ thần dâng lên, năm tháng chưa từng thiếu sót 

Đến năm 23 (1286) bình chương A Lý Hải Nha vì tham lập công biên giới, làm trái với thánh chỉ. Do thế, tiểu quốc sinh linh một phương phải chịu lầm than. Sau khi đại quân về rồi, vi thần mới biết lòng hạ thần bị ngăn chận, do lời dữ mà bị vu oan là làm phản, gọi thành tội lỗi của thần. Thần đặc biệt sai bọn thông thị đại phu Nguyễn Nghĩa Toàn, hiệp trung đại phu Nguyễn Đức Vinh, hữu vũ đại phu Đoàn Hải Cung, Trung đại phu Nguyễn Văn Ngạn phụng đem phương vật đến trước cửa khuyết, ý muốn thêm chút lòng thương của bệ hạ, há mong gì hơn. Thế mà họ đều không trở về

Chí Nguyên năm thứ 24, mùa đông, lại thấy đại quân thủy bộ đều tiến sang, thiêu đốt chùa chiền khắp nước, đào bới mồ mả tổ tiên, bắt giết người dân già trẻ, đập phá sản nghiệp trăm họ. Các hành động tàn nhẫn phá phách, không gì là không làm. Lúc bấy giờ, thần sợ chết, liền trước trốn đi. Tham chính Ô Mã Nhi nói với người trong nước truyền báo cho thần rằng: “Mày chạy lên trời, tao theo lên trời. Mày chui xuống đất, tao theo xuống đất. Mày trốn trong núi, tao chạy vào núi. Mày chạy xuống biển, tao sẽ xuống biển”. Trăm thứ tủi nhục, lời nói chẳng hết. 

Thần nghe những lời ấy, biết mình không khỏi tội, càng đi trốn xa hơn, những mong thái tử xót thương, riêng theo nguyện vọng của tiểu quốc, mà đưa đại quân đi về. Tham chính Ô Mã Nhi lâu nắm binh thuyền, riêng ra ngoài biển, bắt hết biên dân vùng biển, lớn thì giết chết, nhỏ thì bắt đi, cho đến treo trói, xẻ mổ, mình đầu khắp chốn. Trăm họ bị bức tới chỗ chết, bèn dấy lên cái họa của con thú chân tường. Vi thần sợ sẽ dây dưa đến mình, nên tự thân tới ngăn cản, nhưng đường xa lại không kịp. Khi nghe thấy trăm họ đưa đến đại vương Tích Lệ Cơ, một người, bảo là thuộc quí thích của đại quốc, thần ngay ngày đó đã sắm lễ đối đãi, hết mực tôn trọng. Thần kính hay là không kính, đại vương tất biết. Còn việc làm của Ô Mã Nhi tàn khốc bạo ngược, thì chính đại vương mắt thấy. Vi thần chẳng dám nói dối
Thủy thổ của tiểu quốc rất độc, viêm chướng thật nhiều, thần sợ ở lâu tất sinh tật bệnh. Tuy vi thần đã hết lòng phụng dưỡng thì cũng không khỏi được tội các tướng tham lợi quân công ở biên giới mà có lời tâu không căn cứ. Vi thần đã kính cẩn, có đủ lễ vật đi đường, sai người đến trước biên giới đưa tiễn đại vương về nước. 

Kính mong bệ hạ đức sánh càn khôn, ơn hơn cha mẹ, trí như đem đuốc rọi chỗ tối, sáng đủ để biết tình ngay gian, nguyện xin xét kỹ mà thêm lượng khoan hồng, hầu khiến vi thần miễn khỏi tội lỗi, được hết lòng thờ trời suốt đời, há chỉ vì vi thần cùng với sinh linh một phương, tử sinh cốt nhục, muôn đời nhận được ơn sinh thành đại tảo, mà cũng để cho hết thảy các nước được may mắn thật hưởng sự nhân từ của lòng nhân bệ hạ. Ngoài ra, những kẻ sót mất của đại quân còn hơn những ngàn người, thần đã phát lệnh đưa về. Nếu sau này có gặp nữa, thì thần cũng tìm ra và bảo trở về. Tiểu quốc gần đây gặp phải binh hỏa. Vả lại lúc này khí trời còn nóng, cống vậtsứ giả khó có kiếm ra. Đợi đến mùa đông mới có thể sai đi được. Lòng hạ thần không có gì khác, không dám van trời nài thánh, hoảng sợ quên chết, phục tội khôn xiết, kính cẩn tâu bày. 

Tờ biểu tháng tư năm Chí Nguyên thứ 25 (1288) 
Thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên, sợ hãi quên chết phục tội, dâng lời lên hoàng đế bệ hạ được trời cao yêu mến. Lúc này ba xuân sáng đẹp, muôn vật sinh sôi, kính mong thánh thể sinh hoạt vạn phúc. Vi thần vào ngày 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 26, thấy Lưu thiên sứ, Lý thị lang, lang trung Đồng Đường Ngột Đãi, Cáp Tán, Ống Cát Lạp Đãi đã phụng đem thiên chiếu cùng các tiểu sứ của thần là mấy bọn bề tôi Nguyễn Nghĩa Toàn trở về. Thần khôn xiết vui mừng kính cẩn đốt hương vái đọc ở chính điện. Đến khi quân đội một lần cùng đến, hồn vi thần phách tán, lòng dạ như bị dội đập. Thật đúng như người ta thường nói, sướng chưa trọn mà buồn đã tới, vui chưa thỏa mà sợ lại đến. Vi thần liền trốn ở góc biển, lâu ngày bị bệnh tật, đường sá xa xôi, thủy thổ khó khăn. Mạng sống tuy liên hệ với số trời, nhưng tình người thì lại rất sợ chết mất. 

Thêm vào đó, đại quân đã lắm lần chinh phạt, giết cướp lại nhiều. Anh em không kẻ hiền lương, dựng chuyện tâu sàm không ít. Trước đây, quốc thúc Di Ái rõ ràng trốn mất ở ngoài biên cảnh, bèn trở ngược vu cáo thần là đã làm việc chuyên giết. Lại người em giữa Ích Tắc tự đem mình đến trước đại quân xin vái đầu hàng. Ấy là muốn đến trước để lập công cho mình. Huống nữa là những người đến thay mà tâu bày, thì lại càng thêm ngoa dối. Vi thần thập tử chứ không có một chút sống nào. 

Bệ hạ đức quá Đường Ngu, sáng sánh trời trăng, thì lòng chân thành hay dối ngụy, không điều gì là không tỏ rõ, việc tối tăm nhỏ nhiệm không gì là không soi tới. Do thế, đại quân sau trước giết tróc, vi thần vẫn thường ghi lòng hai chữ trung thuần. Năm qua tháng lại chưa từng bỏ thiếu. Ấy là bởi vì cậy có thánh nhân ở trên trời, như mặt trời rọi tới những nơi chưa tỏ rõ. Khi đại quân vừa rời khỏi, mà thiên sứ chưa tới, thì vi thần đã sai bọn trung đại phu Trần Khắc Dụng, phiếm nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông kính đem vật mọn đến cửa khuyết hiến dâng tạ tội, những mong khoan hồng, riêng ban lòng xem xét. Thế cũng đủ thấy lòng sợ chết tham sống của vi thần. Ngoài ra tuyệt nhiên không dám làm việc bội nghịch nào khác. 

Năm ngoái, bách tánh của tiểu quốc đem quan quân tới. Vi thần chính mình hỏi han thì chỉ được ba tên là đại vương Tích Lệ Cơ, tham chính Ô Mã Nhi và tham chính Phàn (Tiếp). Bá tính đều cho ba người này đã giết vợ con họ, đốt phá nhà cửa họ, nên phần lớn muốn làm chuyện phi nghĩa. Vi thần chính mình ra sức bảo vệ, cấp dưỡng hậu hĩ, thê thiếp họ thì cơm ăn áo mặc phủ phê, hành trang đi đường thì được chuẩn bị đầy đủ đưa đến trước. Đặc biệt sai sứ thần là Tùng nghĩa lang Nguyễn Thịnh đi theo đại vương Tích Lệ Cơ, Đồng Đường Ngột Đãi đến cửa khuyết. 

Trong khi đó, hai tham chính bị rớt lại sau. Nguyên dođại quân mới rút, lòng sợ hai tham chính chưa hết cơn giận, tất gây họa hại. Vì thế mạn phép lưu lại sau mới ra đi, há có hẹn rày mai. Vi thần chẳng may việc trái với lòng. 
Phàn tham chính bỗng gặp bệnh sốt. Vi thần đem hết thuốc men của mình nhờ những thầy thuốc bộ hạ của Phàn tham chính để chữa, nhưng đã không khá, dần dần đến chỗ mất thân. Vi thần đã hỏa táng, làm đủ mọi lễ công đức, xong rồi nhân thế, cấp ngựa, lụa giao cho thê thiếp của Phàn tham chính đưa hương cốt trở về. Bọn thiên hộ Mai Thế Anh, Tiết Văn Chính đi theo hộ tống về nhà cùng một lần. Ngày Lưu thiên sứ đến đều bảo đã qua tới Ung Châu rồi. Phàm việc quản đãi hằng ngày ấy có kính trọng hay không thì hỏi đám thê thiếp cũng có thể biết vậy. 

Tham chính Ô Mã Nhi thì đúng kỳ tiếp tục đi sau để trở về. Ông ấy cho đường trở về, do đi qua Vạn Kiếp nhân thế xin trước đến Hưng Đạo Vương giúp cho phương tiện đi về. Trong hành trình trên bộ dưới nước, đêm gặp phải hỏa hoạn, thuyền chở vì thế nước tràn vào. Tham chính thân hình cao lớn, khôn hay vớt kịp, đến nỗi chết chìm. Nhân phu tiểu quốc lặn tìm cũng đều chết theo. Thê thiếp và tiểu đồng của tham chính suýt hãm chết, song nhờ thân hình nhẹ nhỏ mới cứu được khỏi. Vi thần hỏa táng, làm đủ công đức. Thiên sứ là lang trung (Lý Tư Diễn) chính mắt trông thấy. Hoặc nếu bất kính, thì có thê thiếp của ông ấy ở đó khó có thể che giấu. Vi thần kính cẩn chuẩn bị đầy đủ cho việc trở về, cũng giao cho thê thiếp cùng với một xá nhân lang trung tiếp tục trở về nước sau. 

Ngoài ra, các quân nhân còn bị hãm tại chỗ vi thần trước đây, kể hết có hơn tám ngàn người. Trong số đó hoặc có những vị đầu mục, vi thần đều không biết. Nay nhờ chiếu dụ, vi thần lại đi tìm kiếm, được đầu mục quân nhân bao nhiêu tên, thì cùng theo thiên sứtrở về. Sau này còn có sót mất hoặc chưa tìm hết thì vi thần cũng sẽ cho ra về, không dám lưu lại một người nào. Cúi mong bệ hạ như núi biển bao hàm, dơ bẩn chứa hết, nuôi mắt sáng, rộng tai rõ, mỗi mỗi khoan hồng, bỏ ngoài tính toán, khiến cho vi thần khá được một đời bảo toàn đầu cổ để trọn lòng thờ trời, mà còn mong đời đời kiếp kiếp tan thịt nát xương báo đáp ơn vua trong muôn một. Xét mong ơn vua ngay thẳng, rất đỗi sợ hãi kính tâu. 
 
10 
Tờ trạng tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289) 
Chí Nguyên ngày tháng 3 năm 26 (1289) thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên dâng trạng tâu xin tiến phương vật, nói rằng: 
Thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên nép nghĩ, tháng 2 năm nay gặp thiên sứ Lưu án sát vâng đem chiếu trời. Vi thần, lâu mắc bệnh tật, sợ tội, kính cẩn chuẩn bị vật mọn, sai bọn bồi thần Đàm Minh Thông, Thị đại phu Chu Anh Chủng và một hành nhân, khiến tùy thiên sứ đi đến thượng quốc dâng hiến. Nay kê đầy đủ tên số vật kiện ở dưới, tại chỗ cuối quyển, phía trên mỗi hạng vật mọn, theo trạng dâng lên. Cúi mong thánh từ phủ tứ giám nạp. Kính trạng. 
11 
Thư tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289) 
Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên 26 (1289), thế tử nước An Nam là vi thần Trần Nhật Huyên dâng trạng thơ lên Hoàng hậu, nói rằng: 
Thế tử nước An Nam Trần Nhật Huyên kính cẩn cúi đầu dâng thơ, nói: 
Lúc này đường huệ phong quang, tiêu phòng trời ấm. Kính nghĩ Hoàng hậu điện hạ sinh hoạt vạn phúc, chủ trương nội trị hưng thịnh, công lao dồn lại cho bá vương, biểu thị mẫu nghi hóa dục, lòng nhân coi mọi người cùng đồng như một, gây nên cơ sở thể hiện đức hiếu sinh. Cho nên được lòng vui của muôn nước, không nỡ để một kẻ hèn mất nơi, xin lòng thương cho đến hoang vu cùng được dự tắm lòng từ rộng lớn, còn lo âm nhạc cho hòa, càng giúp ao ngọc thêm thọ. Kính cẩn ghi đủ vật mọn ở tại giấy riêng để xin dâng hiến, cúi mong giám nạp. 
Thần rất sợ rất hãi, cúi đầu kính nói. 
12 
Thư tháng 3 năm Chí Nguyên (1289) 
Ngày tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 26 (1289), thế tử nước An Nam thần Trần Nhật Huyên dâng thơ tiến phương vật, kể rằng: 
1.Bông tai đeo toàn bằng vàng có kết trân châu, một đôi. 
2.Giỏ đồi mồi, một cái. 
3.Áo lĩnh chầu bằng vàng có ngọc châu màu đỏ, một cái. 
4.Hộp bạc, một cái. 
5.Ngọc châu màu, 16 hạt (gồm ngọc châu hoàng long 4, ngọc châu tử ni 4, ngọc châu bích ni 4, ngọc châu thạch lựu 4). 
6.Trân châu 276 hạt (lớn 2, vừa 10, cỡ như hạt mè 200) 
7.Xuyến trân châu có tráng vàng một cặp (châu 1000 hạt, vàng nặng một lạng). 
8.Chén kim khuyên một bộ. Cộng lại là 4 lạng 5 tiền. 
9.Chén hoa tê, đĩa vàng toàn dùng một chiếc, nặng 3 lạng. 
10.Chén vàng liền nắp một cái, nặng 9 lạng 6 tiền. 
11.Gấm một xấp. 
12.Đoạn thiên ty hai xấp. 
13.Vải quyến ngũ sắc sợi nhỏ 20 xấp. 
14.Vải trắng nước Chà Và 1 xấp. 
15.Lông chim trả 50 chiếc. 
Trên đây là những hạng mục vật mọn kèm theo thơ dâng lên. Cúi mong hồng từ phủ tứ giám nạp. Kính giãi bày
12 
Tờ biểu năm Chí Nguyên thứ 29 
Năm Chí Nguyên thứ 29 (1292), thế tử An Nam Trần dâng biểu nói, vi thần sáu thước, xưa nhờ cha dạy về việc thần sự thiên triều, không được bỏ phế một việc hằng năm cống hiến. Kíp kíp mãi ghi ở lòng. Sở dĩ là sợ tội tiếm thiết, nên đặc biệt sai bọn trung lượng đại phu Nghiêm Trọng Duy, hữu vũ đại phu Trần Tử Trường vào tháng 9 năm Chí Nguyên thứ 27 (1290) phụng đem vật cống đến cửa khuyết dâng hiến, trên để tỏ hết lòng thành thờ trời, dưới để nối chí tổ tiên. Kịp đến tháng 2 năm nay, thiên sứ chính nghị đại phu Trương Hiển Khanh, phụng thuận đại phu Bất Nhã Tiết Mục Nhi vâng đem chiếu trời và vật ban cùng Nghiêm Trọng Duy trở về tới tiểu quốc. Tông tộc, quan lại, bá tính kỳ lão cả nước hớn hở bảo nhau rằng: “Thánh thiên tử đem lòng nhân mà thương vi thần, dùng trung thứ mà đãi người, thì chắc chắn đám sinh linh chúng ta thoát khỏi cảnh đồ thán.” 
 (...) 
 Thần và bá tính tiểu quốc khôn xiết kinh sợ. Việc đó, cha thần ngày còn sống, đã thường khiến sứ tâu lên, đúng vào lúc thần chưa dự vào chính sự, nên đó vốn là chỗ thần không biết, chớ không phải riêng dám qui lỗi cho cha thần, lại để tìm cách tự mình lại được khỏi tội. Vạn nhất mà thiên triều riêng rủ lòng khoan tha, thì đó là một điều may mắn cho thần. Nếu không thì đó là tội của thần đáng bị giết đi không xiết. 

Đến việc bảo thần phải tự mình tới cửa khuyết, thánh thiên tử không tiếc vương tước phù ấn, lại phong đất đai như cũ, thì thần với tôn tộc quan lại của tiểu quốc, hồn kinh sống lại, vía chết lại yên, vì cho rằng thiên triều, nếu không nghĩ tới, há có thể giải đáp giống như thế ư? Cha ông của thần thời còn sống, thiên triều khen có lòng trung thành, thương chỗ xa xôi, bỏ ra ngoài mà không tính tới. Cho nên, năm Trung Thống thứ 12 (1269) đã có chiếu phong làm tước vương, ban cho phù ấn, riêng ra lệnh: “Quân ta không vào nước ngươi, áo mũ lễ nhạc, không đổi tục cũ”. Tổ phụ của thần nhờ thế mà giữ được đầu cổ cho đến chết. Sinh linh đến nay nhận ơn không ít. 

Đến đời cha thần, không may biên cương gây họa, nhưng việc thờ trên vẫn một lòng chung thủy không đổi. Kịp đến đời thần, mạo thay giữ đất, thẹn được thiên triều nghĩ tới tấm lòng của cô thần, lại biết thần sinh trưởng nơi góc xa, không thuộc thủy thổ, không quen nắng mưa. Các sứ thần của tiểu quốc đi lại thường vì lam chướng mà chết đến sáu, bảy. Nếu thần không thể tự lượng thì chỉ chết ở dọc đường, rốt không ích gì cho công việc. Vả lại, tiểu quốc là một nước mọi rợ, phong tục bạc ác, một ngày sống mà rời nhau thì anh em chắc không thể dung thứ cho nhau. 

Thánh thiên tử có lòng nuôi vật, có dạ thương côi, thì một bề tôi của tiểu quốc còn không nỡ bỏ sót. Huống nữa, cha ông của thần đời đời thờ vua, mà vội vàng trong một ngày nỡ khiến cho xương cốt chóng phơi, xã tắc trở thành gò đống ư ? 
Than ôi! Người đời nếu có kẻ được gặp mặt thánh, thì ở trong sách Phật gọi đó là phước lớn, còn sách Nho thì gọi đó là chuyện ngàn năm một thuở. Thần há không muốn xem quang cảnh thượng quốc, thân mình được tắm gội ơn vua, mà đã vội trái mệnh để chuốc lấy họa ư? Trời trên soi tỏ. Thật tình, vì thường tham sống sợ chết, thần xa cách thiên triều mà mắc tội ở góc trời thì sự che chở khoan dung chỉ cậy có bệ hạ sáng như trời trăng, lượng như thiên địa. Nếu không, dồn hết nước cả bốn biển cũng không đủ để rửa sạch tội của thần. 
Thần nói hết lời, như gan phổi bày ra. Kính mong bệ hạ thương xót kẻ cô độc này, nghĩ tới sự khốn cùng của nó mà xét cho lòng cô trung của vi thần, tha tội nặng của vi thần, giúp vi thần được tạm kéo dài hơi tàn để hết lòng thành thờ kẻ lớn, bá tính mỗi giữ được tính mạng để hưởng lấy đức hiếu sinh. Há chỉ vi thần thịt nát xương tan, khôn có thể mong báo ơn vua trong muôn một, mà cùng khắp hết gầm trời, muôn miệng một lời cùng chúc tuổi vua muôn ức. 
14 

Thư ngày 13 tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 30 (1293) 
Cô tử gửi thư cho thiên sứ đại tướng quân trướng hạ. Nay xét xe sứ mới đến, đầy thành xuân khí lung linh, liền biết có ý mới sinh, bút báo dạy răn để đón tiếp chiếu trời. Việc đủ để ghi nhận, hết lòng nhớ nghĩ. Cảm động lắm, cảm động lắm. 
Lễ đón chiếu trời, từ xưa đã có. Từ ngày cha ông qui thuận đến nay đã định thành lệ thường, huống chi thân này dám mà không làm theo hết. Bèn kính cẩn đặc sai bề tôi chấp chính của bản quốc là Lê Khắc Phục ra tới biên cương xa đón. Đến ở trong nước, lễ tiếp được khiến dàn bày, tới ngày những mong rủ xuống những lời giáo huấn. Sơn lam chướng khí, e chẳng phải đất để có thể ở lâu dài. Nghĩ mong sớm được có lời bảo ít nhiều để an ủi lòng ngóng trông đau đáu. Kính đưa thư đáp này, rất mong xét nghĩ, khôn nói xiết hết. 
Viết vào ngày 13 tháng giêng năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 
15 
Thư ngày 21 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293) 
Cô tử viết thư lại cho thiên sứ đại tướng công các hạ. Cô thẹn được bút hoa của ngài đáp lại, rủ xuống tấm lòng hết sức dạy dỗ yêu thương. Thật cảm kích, thật cảm kích. Cô là bề tôi thờ tiên triều từ ông nội đến nay đã hơn 30 năm, tuế cống không dứt, tuy hai lần gặp binh hỏa, vẫn thủy chung một lòng. Việc phải đắc tội chỉ là không thể đền chầu mà thôi. Cô há không biết lễ là nếu có lệnh vua đòi thì không được lần lữa. Nhưng như tình thường tham sống sợ chết, sao như chim bay cao cá lặn sâu, chỉ có lòng muốn sống mà thôi, huống nữa là con người ư. Nếu thiên hạ không nơi bất tửxưa nay không có người bất tử, kẻ hiểu lẽ đó, chỉ có Phật mà thôi. Còn con người ai có thể làm được.

Tệ ấp của cô cách xa thiên triều quan san vạn dặm. Tướng công thực đã biết đủ rồi. Giá như cô đem cái thân yếu đuối bé nhỏ này, gắng gượng mà ra đi đợt này thì việc không tử vong trên đường sá là hiếm lắm. Mà việc tử vong của cô đây cố nhiên là không đáng xót. Song nó không làm thương tổn được lòng nhân yêu người, yêu vật của thánh triều ư ? Sách nói, vua là trời. Việc thờ vua của cô đây còn hơn cả việc thờ trời. Trời không có bực mà lên, nhưng còn có thể nhờ sớm tối để mà đối so. Vua không có bực để mà gần, nhưng có thể nhờ sớm tối mà hướng mộ. Cô nếu không tự lượng lực mà ra đi, thì còn muốn cầu đối so hướng mộ được ư ? Cô mượn lẽ của người xưa, nói năng không kiêng kỡ, lòng dạ như đã giãi bày, mong nhờ tướng công tạm vì cô mà nghĩ kỹ cho muôn một, chớ tiếp lời dại. Thư không hết lời. 
Viết vào ngày 21 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 
16 
Thư ngày 25 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 
Cô tử viết thư đáp lại thiên sứ đại tướng quân các hạ. Cô bất tiếu, cúi mong không bị chê quê, nhiều lần được ban thơ từ, tình nhiều, thương lắm. Nhiều lần nhọc nhằn ban thơ, lời lẽ phong phú, tình nghĩa dạt dào, thương yêu quá hơn cốt nhục, thân thiết như cố nhân. Ý khăng khăng, dám không phơi hết lòng dạ để tỏ tình trong muôn một. 

Còn một việc đến chầu, thì cô chịu tội vậy. Bởi vì cậy vào lòng nhân của thánh triều như trời đất , mỗi mỗi trình xin lòng thương xót. Tướng công đã thật biết rồi, không cần nói thêm nữa. Về sự vinh dự của người thần tử được vào chầu, thì cô há không muốn. Chỉ nếu đem con đi thì khốn nỗi miệng nó còn hôi sữa, gân cốt chưa cứng cáp, không tập cưỡi ngựa, không quen gió sương, trên đường sá sẽ thấy như thế nào. Cô đây tuổi đã quá 30 mà còn lo không giữ được thân này, huống chi là đứa con mọn ấy. Nếu đem việc cũ của Anh Tề mà xét xem thì lại làm cho tội cô đây thêm nặng 

Về tướng tá của quan quân, hoặc có kẻ còn rơi sót lại nơi tệ ấp, thì cha của cô ngày còn sống, đã tìm kiếm hết thảy như bộ thuộc của đại vương Tích Lệ Cơ, già trẻ của Ô Mã Nhi và Phàn tham chính, Tôn Lộ Man, Hà phụng ngự, Đường Ngột Công, Cát La Thị, Đường Vạn Hộ, Hồ Anh, Quách Toàn và bọn vạn hộ, thiên hộ đầu mục quan quân... đều đã theo nhau thứ lớp đưa về xong. Kỳ dư, hoặc có kẻ gặp lam chướng mà chết, hoặc đã trốn về, thì cô không biết được. Trương thượng thư ngày đến cũng đã nói tới điều này. Cô đã tìm hỏi các nơi thôn xóm, tới nay chưa có được tin tức gì. Cô há có tiếc mấy người này để nỡ bỏ sinh linh một phương. Vả lại, sở dĩ việc cô đưa trở về, ấy quả có lệnh của triều đình, chứ đâu phải cô tự làm sao? Còn họ ở đây thì chỉ chuốc lấy tốn kém, phí dụng, chứ có ích gì đâu. 

Cô từ sau khi cha mất đi, đã ăn chay, tụng kinh, phóng sanh vật mạng, còn lo không đủ để báo ơn cha trong muôn một. Huống nữa là có việc bỏ tù hay giết hại tướng tá của thiên triều, để lụy tới cha mình ở dưới đất sao. Tướng công tuy đem điều đó ra dặn dò, cô vẫn không đợi nói hết. Còn việc xâm lược biên giới, lời đó càng không đáng tin. Kinh Thi nói: “Khắp dưới gầm trời đâu chẳng đất vua. 

Đem hết bờ cõi đâu chẳng tôi vua”. Tiểu quốc tuy nằm ở một xó, cũng là đất bề tôi của đại quốc. Mấy năm gần đây mới gặp binh họa, trăm họ tử vong, ruộng đất bỏ phế. Tướng công đã tận mắt thấy rồi. Nay đất của tệ ấp mười nhà thì chín nhà đã trống. Thế chưa đủ sao? Sao rảnh mà đi lấy thêm chỗ khác ư. Nay đem việc tiểu quốc thành sự đại quốc, chỉ biết lo sợ, còn e không giữ được, sao dám sanh lòng kiêu căng ấy ư. Gần đây, thiên sứ qua lại nhiều lần, tới đến tiểu quốc. Việc đón đưa ở Lục châu, tiểu quốc sợ tội xâm vượt biên giới, nên luôn tránh đi, chỉ dừng ở Khâu Ôn mà thôi. Lời cô không tin, thì còn có các thiên sứ. Hiện nay, lời tướng công có bảo phải trả lại biên giới. Lời nói ra làm thần rất sợ hãi. Cô vốn không có ý xâm lược biên giới, mà lại dám có lời trả lại biên giới ư? Như tướng công đã bảo, thì cô cũng sẽ răn ước đám dân biên giới chớ sinh sự bậy, để thể hiện lòng thành thờ trời của cô. 

Vật là để tỏ lòng thành. Tả truyện có việc dâng rau cần. Kinh Thi có rau khe suối bãi bờ, rau tần, rau tảo, đồ nơm, đồ sọt, nước huỳnh, nước lạo, có thể dâng quỷ thần, có thể đãi vương công,1 Ấy là bởi tại lòng thành, chứ không phải tại vật. Cô ở xó bên ngoài đất viêm hoang, xa cách mặt trời. Thế mà sở dĩ tỏ rõ lòng thành của mình, ấy là tại ở thổ sản mà thôi. Nay tướng công cho đó là hư dối, không đủ để thể hiện lòng thành thờ vua thì cô sắp lấy gì để gửi tấm lòng mình ư? Có chỗ để gửi tấm lòng thành của mình mà còn không thể khỏi tội lệ. Nữa là không có chỗ mà gửi lòng thành thì tội lệ đó sẽ như thế nào. 

Trộm nghĩ, thân cô đã không thể đến triều, mà con của cô lại không thể vào chầu. Cả nước kinh hoàng, chẳng biết làm gì, chỉ có đem hết tâm lực của mình, gửi lấy tánh mạng mình, gượng khiến một lão thần tâm phúc thay thế đến cửa trời mà giãi bày tội lỗi. Thế mà nay tướng công lại có lời là phải có một cận thần cốt nhục. Cô chưa biết xét người ấy là thế nào, hoặc là anh em chăng? hoặc là bà con chăng? hoặc là một lão thần tâm phúc chăng? Cô hư đốn, hoàng thiên không thương xót, nên anh em bà con đều là những kẻ chẳng biết gì, không thông xưa nay, không rõ thời sự. Giả sử lấy một người đưa đi lần này, thì không chỉ mắc tội với thiên triều, mà còn e di họa cho tiểu quốc. 

Đó là đám trước đây, tướng công há không biết sao. Cô cho là anh em bà con, tiếng tuy là rất thân nhưng thực là kẻ thù; còn lão thần tâm phúc, tiếng tuy là bề tôi nhưng thật ra đó là cha con. Cô chưa biết ý tướng công, dùng danh ư, dùng thực ư ? Nếu muốn dùng hư danh mà không dùng điều thực, thì không chỉ cô đây mắc lấy tội không thể hết tình, mà tướng công cũng có cái lụy là bỏ thật mà lấy dối. Lời nói này của cô chưa khỏi bị chê là xảo quyệt, trang sức, văn hoa, dối trá. Chỉ may mắn mong tướng công uyển chuyển rõ hết tấm lòng mà thương xót tha cho

Cơ an nguy sống chết của cô đây lệ thuộc vào trong ba tấc lưỡi của tướng công. Những mong lấy ý thương xót cô và lòng che chở dân, đặc biệt uyển chuyển một lời, dâng tới tai trời, giãi bày nỗi niềm không nơi nương tựa của thân cô sáu thước, ý không đâu nói tỏ của dân một phương. Há không chỉ sinh linh một nước cô đây được vái lạy của ban của trời đất cha mẹ. Dầu tiên tổ phụ của thần nghe đượcdưới đất cũng bất giác tay múa chân nhảy lăm lăm mong báo lại, thì chỉ có một nén tâm hương dâng lên ở cõi u minh
Thơ không nói hết. Viết vào ngày 15 tháng 2 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 

17 
 Thư ngày 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 

Cô viết thư đáp lại thiên sứ đại tướng công các hạ. Nay nép thấy nhọc nhằn xe hoa sứ tới, nhà thẹn tệ ấp tiêu điều, chẳng biết lấy gì để đãi người trưởng giả khi trở về. Mạo đem tí vật mọn để làm lễ tiễn. Thư đến khiêm nhượng từ chối, tình các hạ thật cao, còn lễ thế nào thì cô kính cẩn, giao phó cho sứ thần bản quốc đem tới, mong được nhận lãnh. Nếu mong đáp được chút tình, ấy là tại lòng chứ không phải tại vật. Kính đưa thư đáp này. Tha thiết mong được xem xét, suy nghĩ. Thư không nói hết lời. 
 Viết vào ngày mùng 1 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 
18 
 Nguyên nước An Nam dâng bài ca Vạn thọ cùng biểu và tấu. 
 Trời ban cho vua. 
 Vua ban xuống dân. 
 Thần chúc thánh thọ 
 Ức vạn năm xuân. 
19 
Tờ biểu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). 

Ngày lành tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn trăm vái, dâng lời của bề tôi Nhật Tôn: 
Kính nghĩ, tuổi vua ức vạn, sánh tám ngàn năm xuân thu mới tới, đất Hạ đôi ba, ngang với năm trăm dặm đất miền hoang ngoài cõi. Khắp trời mừng vui, từ xưa chưa nghe tới. Bề tôi Nhật Tôn thật mừng, thật vui, cúi đầu, cúi đầu kính nghĩ Hiến Thiên Thuật Đạo Nhân Văn Nghĩa Vũ Đại Quang Hiếu hoàng đế bệ hạ thông minh sánh trời, trí dũng thiên phú, vì một giận mà yên thiên hạ, đem năm phước ban tới thứ dân, lấy trọn bốn phương, là việc từ Hán Đường chưa từng có. Thế mà không bỏ sót tiểu quốc, đem tấm lòng Nghiêu Thuấn ra dùng, có bắt thì có tha, được danh tất được thọ. 

Bề tôi Nhật Tôn, đất nam ngồi giếng, mặt bắc ngóng sao, ba mươi năm chăm chăm khuyển mã, một tấc lòng rực rỡ trời cao, cúi bày gương vàng, luống mong cửa khuyết xem soi, xa dâng chén ngọc, sâu trông cửa ngọc đóng cất. 
Bề tôi Nhật Tôn kính cẩn trai giới tắm gội, tự chính mình soạn viết bài tụng vạn thọ một chương, viết vào sách vàng, để vào hòm vàng, sai bồi thần Đào Tử Kỳ,... đem biểu mừng ca để tâu. Bề tôi Trần Nhật Tôn đâu dám nhìn trời trông thánh, cảm kích thiết tha, khôn xiết hãi hùng, thật vui thật mừng, cúi đầu cúi đầu kính nói. 
Ngày mùng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30, bề tôi nước An Nam Trần Nhật Tôn dâng biểu. 
20 
Tờ tâu ngày 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (l293). 
Bề tôi nước An Nam là Trần Nhật Tôn kính cẩn quên chết cúi đầu trăm vái dâng lời: 
Thần ngày 14 tháng giêng năm nay nép thấy thiên sứ thượng thư bộ lại Lương Tăng, lang trung bộ lễ Trần Phu vâng đem chiếu trời xuống tới hạ quốc. Thần, Nhật Tôn, kính cẩn đem tôn tộc quan lại nhanh chóng ra đường đốt hương nghênh đón, rồi khi tới lối trải thảm, ba lần đốt hương cung nghênh, trăm vái quì đọc chiếu trời, nói rằng: 
“Tội lỗi nước ngươi nay đã tự giãi bày. Trẫm lại có lời gì. Bậc thánh thiên tử rộng rãi khoan hồng.” 

Như thế, bọn thần Nhật Tôn khôn xiết vui mừng, rất là hớn hở, tự bảo tội lỗi đầy trời của cha con thần mấy chục năm, đến ngày hôm nay đều được xóa sạch. Kẻ còn người mất thảy đều vái trời cha đất mẹ đã ban cho cái ơn sống lại
Song, trong đó còn nói đến các loài có sự sống thì có loài nào an toàn mãi mãi cả đâu, thiên hạ có đất bất tử đâu.Thần, Nhật Tôn vẫn biết rằng xưa nay không có người bất tử, thiên hạ không có đất bất tử. Nhưng chỗ cậy là có trời hiếu sanh. Thánh thiên tử lấy trời làm lòng mình, thì tất phải thương kẻ côi mòn, lấy lòng nhân mà xem mọi người cùng như nhau. Thì tiểu quốc có thể trường cửu, có thể an toàn, có thể bất tử. Nếu không thế thì đi đâu chẳng phải là đất chết ư. 

Chiếu trời lại nói: “Chỉ đem văn dối đồ cống hàng năm, khéo giả để lừa, thì đạo nghĩa ở đâu.” Thần, Nhật Tôn, nép đọc đến đây hồn xiêu phách tán, gan ruột rã rời, tuy sống mà như đã chết, tuy còn mà như đã mất. Thần, Nhật Tôn, thân này bất hạnh chẳng gì lớn hơn, đã không sinh ra nơi triều đình của thiên tử, lại không thể đến sân thiên tử. Cái để tỏ được lòng thành của mình thì ở thổ sản mà thôi. Thần, Nhật Tôn, há không biết là thánh triều bao phủ cả gầm trời, trèo núi vượt biển đi tới muôn phương. Đồ cống trân quí, chẳng món gì là không có, thì sao phải chỉ chăm chăm một mình tiểu quốc dâng hiến ư ? Song, thần, Nhật Tôn, còn không xét đến tội mình mà lại làm việc mạo muội đó, thì thật là vì đạo nghĩa thờ vua có chỗ không thể bỏ được. Trong chiếu trời tuy có hỏi đạo nghĩa ở đâu, thì ở tại thần hạ. Thần hạ dám bỏ được chức cống hay sao. 

Nép mong hoàng đế bệ hạ với lòng cha mẹ, với lượng càn khôn, bao chứa đồ dơ, riêng ban lòng thương, nghĩ đến ông nội của thần là bề tôi Quang Bính, lòng son qui thuận, hèn nhận sắc phong, để giúp cho thần Nhật Tôn nối được ơn xưa, lo làm chức cũng như cũ, trên để tỏ hết lòng thành thờ vua, dưới để hoàn thành chí nguyện tiên tổ. Há chỉ vi thần một thân được bảo toàn, tạm kéo dài được hơi tàn, mà cũng để cho sinh linh một phương cùng hưởng đức lớn hiếu sinh của trời đất, chăm chăm tốc thành khuyển mã. Thần, Nhật Tôn, tự bảo dù ngàn sống muôn chết, thân nát xương tan cũng không đủ báo đền ơn vua trong muôn một. Thần, Nhật Tôn, đâu dám cầu trời khấn thánh, khôn xiết quên chết, kính cẩn tâu bày.
Ngày mùng 4 tháng 3 năm Chí Nguyên thứ 30 (1293). Bề tôi nước An Nam Trần Nhật Tôn tâu. 
21 
Tờ biểu năm Nguyên Trinh thứ nhất (1295)
Năm Nguyên Trinh thứ nhất, thế tử An Nam, Trần, dâng biểu mừng hoàng đế Thành Tông lên ngôi.
Rồng bay chín lớp, trên ngôi rồng trở lại trời xuân. Ngựa ruổi ngàn non, trước cửa ngọc kính dâng biểu tạ. Một người có phúc, muôn nước đều yên. Kính nghĩ, hoàng đế bệ hạ văn trị ngời sáng bên trong, lòng nhân bay khắp hải ngoại, xa thương gần mến, thường giữ đạo để làm lòng, dẹp võ dụng văn, cất khí giới mà không đánh, quyết mở rộng lòng lành thăm thẳm của vua ta, muốn sáng tỏ công lao rực rỡ của tiên tổ. Dẹp sấm sét để ra ơn mưa móc, cắt đất phong để tỏ lượng càn khôn, cùng dân đổi mới, theo vật gầy xuân. 
Bọn thần may mắn gặp thời sáng sủa, mừng vui nghe lịnh sâu xa. Trông trời bắc khuyết, lòng xiêu theo sao Bắc cực ngôi cao, giữ đất Nam hoang, nguyện chúc vua Nam Sơn thượng thọ. 
22 
Tờ biểu xin Đại Tạng kinh
Họ Trần nước An Nam dâng biểu xin Đại Tạng kinh:
Thần ở Viêm hoang, lâu theo đấng Giác, mãi nhớ bối diệp, truyền tự Trung Hoa. Vào thời Đường Tống, từng có ngựa trắng chở sang. Ngày đại binh kéo đến thì đã hóa nên tro tàn. Thở than chẳng thấy văn kinh, ý sâu rốt cuộc khó tìm, như vào nhà tối mà không đuốc tuệ, như vượt bể khổ mà thiếu thuyền từ. Nghĩ đến tiểu quốc thiếu kinh Đại Tạng, nếu không cầu thỉnh ở thượng quốc, thì lấy đâu mở lối cho quần sinh
Kính nghĩ, hoàng đế bệ hạ là vua Nghiêu Thuấn đương thời, là Phật Thích Ca tái thế, lấy sự độ người giúp vật làm tâm, cho việc rộng ban cứu chúng là lòng. Tiếng ngọc may không giữ kín, tạng báu mong được mở toang. Từ trời mà xuống, ban cho một vạn năm trăm ngàn hơn cuốn kinh, vượt biển về nam, cứu ức triệu người dân khốn khổ. Công đức ấy hơn công đức trước, quảng đại vô biên. Thánh nhân nay là thánh nhân xưa, lưu truyền có thế. 

NGUYÊN BẢN 

Thơ
Phú
Bài giảng
Ngữ lục
Văn xuôi
Văn thư ngoại giao 
-Yamamoto Tatsuro, Annamshi kenkyu, I, Tokyo: Yamakawa shuppansha, 1950, tr. 1 - 43.
-Lê Mạnh Thát, Thánh đăng ngữ lục, Tu thư Vạn Hạnh, 1980.
-Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên Thiền sư toàn tập, I, Viện Phật học Vạn Hạnh, Tp. Hồ Chí Minh,
1980.
-E. Gaspardone, Ngan-nan Tche Yuan, Hanoi: Imprimarie d’Extrême-Orient, 1932, p. 47.1 Câu này có thể dịch: “ Tri Kiến là huyện Kiến xưa”. Kiến do thế có thể là một lên gọi địa phương của Tri Kiến.
-Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, I, Nxb. Thuận Hóa, 1999, tr. 574 - 578.
-Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, I, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1999,
tr. 428.
-Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sai gòn: Lá bối, 1974, tr. 377.
 [1] Lê Mạnh Thát, Lục độ tập kinhLịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1972, tr.254-321; Khương Tăng Hội toàn tập, I, Tu thư Đại học Vạn Hạnh 1975, tr.172-188.
-Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập I, NXB Thuận Hóa 1999, tr. 474 - 490.
-Lê Mạnh Thát, Kiến tính thành Phật lục, trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, Tu thư Đại học
Vạn Hạnh,
1982, tr. 72.
-Lê Mạnh Thát , Lục độ tập kinhLịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Tu thư Đại học Vạn Hạnh,
1972,
tr.264-271
-Lê Mạnh Thát, Tuệ Trung thượng sĩ toàn tập, cảo bản, 1979
-Trần Lê Sáng, Tìm hiểu văn phú thời kỳ Trần - Hồ trong Tuyển tập 40 năm tạp chí Văn học,
1960 - 1999,
tập 2, Tp. Hồ Chí Minh: Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 231-232
-Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 239 và 481-482.
-Ông Nguyễn làng Cổ Đô, tức chỉ Nguyễn Bá Lân (1701-1785), nguyên người xã Cổ Đô, huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây cũ, đậu tiến sĩ năm 1731, làm quan đến chức Thượng thư tước Lễ Trạch Hầu, có biệt tài về phú Nôm, tác phẩm có Ngã ba hạc phú, Giai cảnh hứng tình phú và Vịnh sử thi quyển. Bản hạnh viết về Huyền Quang hiện chưa tìm thấy.
-Đặng Thai Mai, Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, trong Thơ văn Lý - Trần, I, Hà nội:
Nxb.
KHXH, 1977, tr. 42.
-Xem Lê Mạnh Thát, Viên Thái thiền sư toàn tập, Sai gòn: Tu thư Vạn Hạnh, 1977.
-Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Sài gòn: Lá bối, 1974, tr. 397-398.
-Viện Triết học, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Hà Nội: Nxb. KHXH, 1991, tr. 224.
-E. Gaspardone, Bibliographie Annamite, Bulletin de l’École Franổaise d’Éxtrême- Orient XXXII
(1932) 144
-Thượng sĩ Huệ Trung, Ngữ lục, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, 1969,tr. 175.
-Dấu: yêu dấu
1 Mựa chớ
2 Giấy, sồi: các loại vải xấu
3 Chỉn:chỉ, chính
4 Cốc: biết
5 Thửa: biết
6 Xá: hãy, nên
-Đồ: uổng
-Nguyên chú:
Hỏi: “Chân như là cái gì?”
Đáp: “Trong lắng sáng tròn rực thái hư”
Lại hỏi: “Bát nhã là gì?”
Đáp: “Nguồn gốc trí tuệ tự mình”.
Lại hỏi: “Chân Phật là gì?”
Đáp: “Đương cơ đối đáp là ai?”
Lại hỏi: “Chân kinh là gì?”
Đáp: “Đương cơ nêu lên quá rõ ràng”.
Lại hỏi: “Thế nào là truyền giao?”
Đáp: “Thầy trò bốn mắt nhìn nhau.”
Lại hỏi: “Hiểu ý là thế nào?”
Đáp: “Trở về nguồn gốc không bàn nghĩ.
Nếu có bàn nghĩ thì sa ngã thôi.”
Kệ rằng:
Nó nay chính là ta
Ta nay không là nó
Nếu hay hiểu như vậy
Chân như mới được rõ
Hiểu lòng mình là Phật
Nên gọi rõ đạt chân như
Hiểu lòng mình là Pháp
Nên gọi pháp môn một chữ
Muôn pháp về một
Nên gọi nhất thể Như Lai
Kệ rằng:
Tất cả muôn pháp
Đều tự tâm sinh
Tâm không chỗ sinh
Pháp không chỗ trụ
Nếu hiểu đất lòng
Ứng dụng không ngại
Chẳng gặp thượng căn
Thận trọng chớ hứa
Lại kệ:
Chân như bát nhã tông
Người không, ta cũng không
Phật quá hiện vị lai
Tính pháp vốn vẫn chung
Lại nói:
Đường đường mặt mũi thực
Lồ lộ chủ nhân ông
Bao hàm ngoài trời đất
Xuyên suốt giữa biển sông
Lúc dùng thành diệu hữu
Chỗ lặng thật hư không
Người người đều đầy đủ
Vật vật thảy tròn không
Từ nay lĩnh ngộ được
Thôi việc chạy tây đông.
1 Cong: Trong
2 Khuấy bổn: quên gốc
3 Biến: lần
4 Miễn: lẫn, với
5 Chằm: khâu; xể: để lòa xòa
6 Bạc; trắng; thoa: hẩm
1 Cất: nêu lên; ma: mà
2 Cầm: đàn cầm; huyền: dây
3 Xoang: tấu nhạc
4 Han: hỏi
5 The: vải thưa; Duộc: cái muỗng, vá; Thưng: ngăn, che
1 Lòi: dây cột; Tơ: dây kéo.
2 Tua: nên
1 Xá: đường xá
1 Mảng: nghe
2 Rạt thảy: dẹp hết (sát rạt)
3 con giàng: cái gường
4 mà cả: mặc cả
5 ang: cha
1 Lưỡi: bản năm 1754 không có, lấy từ bản 1932 điền vào.
2 Hượm: chớ.
3 Lệ: sợ.
4 dang: tránh (ra)
1 Tượng: phàm, hễ
2 đòi: theo
3 ghẻ: chia rẽ
4 Chiền: chùa
1 Nhẫn: đến, tới
1 óc: gọi, kêu
1 Bả: trả
1 Phô: nhiều
1 Tuyết Đậu: thiền sư Trùng Hiển (980 - 1052) phái Vân Môn, tác giả của Tuyết Đậu minh giác ngữ lục.
Dã Hiên: gọi đủ là Dã Hiên Tuân của phái Lâm Tế, sống sau năm 865, mất trước năm 999, hiện còn một bài thơ chép trong Thiền tông tụng cổ liên châu thông tập, 21.
1 Những chữ Hán dùng trong câu này lấy từ hai bài thơ Thái tần và Thái phiền trong thiên Quốc phong của Kinh Thi để nói về vật mọn có thể dùng đãi công hầu và cúng quỉ thần
Bài Thái tần: 
Vu dĩ thái tần
Nam giản chi tân
Vu dĩ thái tảo
Vu bỉ hành lạo
Vu dĩ thinh chi
Duy khuông cập cữ
Vu bỉ Tương chi
Duy kỷ cập phủ.
Bài Thái phiền:
Vu dĩ thái phiền
Vu dĩ vu chỉ
Vu dĩ dụng chi
Công hậu chi thị
Vu dĩ thái phiền
Vu giản chi trung
Vu dĩ dụng chi
Công hậu chi công 
 
Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 5989)
14/04/2020(Xem: 3255)
24/02/2020(Xem: 847)
02/11/2019(Xem: 1334)
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Vài năm trước, dân tình xôn xao khi xuất hiện website lễ chùa online thì nay việc đi chùa đã được đưa lên... App. Khi cài ứng dụng này, mọi người có thể đến viếng, thắp nhang rất nhiều ngôi chùa trên cả nước. Đặc biệt, người dùng có thể nạp tiền vào App để... được phù hộ. Với mức nạp 20 ngàn đồng, "thí chủ" sẽ được phù hộ trong 1 ngày, nạp 50 ngàn đồng sẽ được bình an trong 1 tháng. Mua gói càng lớn thì ưu đãi càng cao! Hiện App này có hơn 5.000 lượt tải về và hàng trăm đánh giá trên Google Play.
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.