Khởi nguyên của nhân minh

01/12/20164:18 SA(Xem: 998)
Khởi nguyên của nhân minh
NHÂN MINH HỌC
HT. Thích Thiện Siêu
Nhà xuất bản Tôn Giáo Hà Nội 2006


KHỞI NGUYÊN CỦA NHÂN MINH

Về tinh thần Nhân minh thì đã có tại Ấn Độ từ rất sớm. Trước hết ta phải nói đến kinh Phật. Tuy đức Phật không đề cập đến luận lý nhưng trong cách thuyết giáo của Ngài rất có tính luận lý. Nếu Nhân minh có ba chi tác pháp là tôn, nhân, dụ; thì ta cũng tìm thấy ba chi đó trong cách thuyết pháp của đức Phật. Thường khi nói đến một pháp gì đức Phật đều có nói rõ nguyên nhânchứng minh bằng những ví dụ cụ thể qua các sự kiện cụ thể trước mắt, nên những lời của đức Phật dạy rất rõ ràng thực tế

Trong Kinh Bộ Tăng Chi (bản 1988, tập một, trang 223) đức Phật đã chỉ cách thảo luận như sau : “Với sự tranh luận, một người có thể biết được là có khả năng nói chuyện (kaccha) hay không có khả năng ? Nếu người nào khi được hỏi một câu, không trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát; không trả lời một cách phân tích một câu hỏi cần phải trả lời một cách phân tích; không trả lời một câu hỏi ngược lại một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại; không có gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên; một người như vậy, không có khả năng để thảo luận. Nếu người nào trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời một cách dứt khoát; trả lời phân tích một câu hỏi cần phải trả lời một cách phân tích; trả lời một câu hỏi ngược lại một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại; gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên; một người như vậy, có khả năng để thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu không xác nhận là đúng hay không đúng, không xác nhận là một giả thuyết, không xác nhậnquan điểm của một bậc trí, không xác nhận là sở hành thường làm; mà người ấy vẫn trả lời; người như vậy, không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu, tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài, bày tỏ sự phẫn nộ, sân hận, bất mãn, người như vậy, không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu, lại mắng chưởi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở; người như vậy, không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận”.

Bốn cách trả lời trong Kinh Bộ Tăng Chi trên cũng được ghi lại trong kinh Trường A-hàm, Kinh Giải Thâm Mật, Luận Đại Trí Độ, Luận Du-già, Luận Tỳ-bà-sa, Luận Câu-xá.

Nói cách vắn tắt, bốn cách trả lời này là :

1.   Nhất hướng ký (hay quyết định đáp) tức trả lời một cách dứt khoát.

2.   Phân biệt ký (hay giải nghĩa đáp) tức trả lời một cách có phân tích rõ ràng.

3.   Phản vấn ký (hay phản chất đáp) tức trả lời bằng cách hỏi ngược lại người hỏi.

4.   Xả trí ký (hay trí đáp) tức trả lời bằng cách im lặng, gạt qua một bên những vấn đề trừu tượng vô bổ. Và như bài kệ trong Kinh Lăng Nghiêm dưới đây càng cho thấy rõ tính cách Nhân minh trong kinh Phật :

Chơn tánh hữu vi không,

Duyên sanh cố như huyễn.

Vô vikhởi diệt,

Bất thật như không hoa.

Phân tích bài kệ này, ta sẽ có được hai tỷ lượng với đầy đủ tam chi tác pháp.

1. Tôn :  Chơn tánh hữu vi không.

(Đúng theo thật tánh, các pháp
hữu vikhông thật có).

2. Nhân :        Duyên sanh cố. (Vì do duyên
sanh).

3. Dụ :   Như huyễn. (Ví như trò huyễn
thuật).

1.  Tôn : Chơn tánh, vô vi bất thật.

(Đúng theo thật tánh, các pháp vô vikhông thật)

2. Nhân:  khởi diệt cố. (Vì không
có tướng sanh và diệt).

3. Dụ :   Như không hoa. (Như hoa đốm giữa
hư không).

Còn nói đến khởi nguyên trực tiếp của luận lý học cổ Ấn Độ, trước hết phải kể đến phái Di-mạn-tác (Mimansa), phái Thắng Luận (Vaisesika), và nhất là phái Chánh Lý (Nyaya) thuộc trong sáu phái triết học của Ấn Độ. Phái Chánh Lý là phái chú trọng luận lý học, và đã chỉnh đốn môn luận lý thành hệ thống, nên có có thể làm đại biểu cho Cổ Nhân minh học.

Kế đó là Bồ-tát Mã Minh, Long Thọ, Di-Lặc, Vô Trước, Thế Thân đều có luận lý học, và cũng thuộc Cổ Nhân minh.

Tạo bài viết
01/06/2014(Xem: 23696)
03/09/2014(Xem: 17298)
24/11/2016(Xem: 9492)
29/05/2016(Xem: 5752)
Chúng đệ tử Phật Việt Nam, trong nước cũng như ngoài nước, cùng chung một huyết thống tổ tiên, cùng tôn thờ một Đức Đạo Sư, hãy cùng hòa hiệp như nước với sữa, thì ở trong Phật pháp mới có sự tăng ích và an lạc. Hãy quên đi những bất đồng quá khứ và hiện tại trong các hoạt động Phật sự, hãy quên đi những lỗi lầm của người này hay người kia, cùng hòa hiệp nhất trí hoằng dương Chánh Pháp trên cơ sở giáo nghĩa được lưu truyền trong Tam tạng Thánh giáo, để không phụ công ơn tài bồi của các Sư Trưởng; công đức hy sinh vô úy của chư vị Tăng Ni, Phật tử, vì sự trong sáng của Chánh Pháp, vì sự thanh tịnh và hòa hiệp của Tăng già, đã tự châm mình làm ngọn đuốc soi đường cho chúng ta ngày nay vững bước trên Thánh đạo.
"Giáo dục là vũ khí mạnh nhất để thay đổi thế giới. Để phá hủy bất kỳ quốc gia nào, không cần phải sử dụng đến bom nguyên tử hoặc tên lửa tầm xa. Chỉ cần hạ thấp chất lượng giáo dục và cho phép gian lận trong các kỳ thi của sinh viên. - Bệnh nhân chết dưới bàn tay các bác sĩ của nền giáo dục ấy. - Các tòa nhà sụp đổ dưới bàn tay các kỹ sư của nền giáo dục ấy. - Tiền bị mất trong tay các nhà kinh tế và kế toán của nền giáo dục ấy. - Nhân loại chết dưới bàn tay các học giả tôn giáo của nền giáo dục ấy. - Công lý bị mất trong tay các thẩm phán của nền giáo dục ấy. - Sự sụp đổ của giáo dục là sự sụp đổ của một quốc gia".
Thứ Bảy ngày 27 tháng 11 năm 2021 vừa qua, vào lúc 10 giờ sáng (giờ Việt Nam) Hội đồng Hoằng Pháp (GHPGVNTN) đã tổ chức đại hội lần thứ I trực tuyến qua hệ thống Zoom. Trước đó, các thông báo về tin tức đại hội được loan tải trên trang nhà Hoằng Pháp, công bố chương trình nghị sự và thời gian tổ chức.