Khởi nguyên của nhân minh

01/12/20164:18 SA(Xem: 385)
Khởi nguyên của nhân minh
NHÂN MINH HỌC
HT. Thích Thiện Siêu
Nhà xuất bản Tôn Giáo Hà Nội 2006


KHỞI NGUYÊN CỦA NHÂN MINH

Về tinh thần Nhân minh thì đã có tại Ấn Độ từ rất sớm. Trước hết ta phải nói đến kinh Phật. Tuy đức Phật không đề cập đến luận lý nhưng trong cách thuyết giáo của Ngài rất có tính luận lý. Nếu Nhân minh có ba chi tác pháp là tôn, nhân, dụ; thì ta cũng tìm thấy ba chi đó trong cách thuyết pháp của đức Phật. Thường khi nói đến một pháp gì đức Phật đều có nói rõ nguyên nhânchứng minh bằng những ví dụ cụ thể qua các sự kiện cụ thể trước mắt, nên những lời của đức Phật dạy rất rõ ràng thực tế

Trong Kinh Bộ Tăng Chi (bản 1988, tập một, trang 223) đức Phật đã chỉ cách thảo luận như sau : “Với sự tranh luận, một người có thể biết được là có khả năng nói chuyện (kaccha) hay không có khả năng ? Nếu người nào khi được hỏi một câu, không trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát; không trả lời một cách phân tích một câu hỏi cần phải trả lời một cách phân tích; không trả lời một câu hỏi ngược lại một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại; không có gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên; một người như vậy, không có khả năng để thảo luận. Nếu người nào trả lời một cách dứt khoát một câu hỏi cần phải trả lời một cách dứt khoát; trả lời phân tích một câu hỏi cần phải trả lời một cách phân tích; trả lời một câu hỏi ngược lại một câu hỏi cần phải trả lời với một câu hỏi ngược lại; gạt qua một bên một câu hỏi cần phải gạt qua một bên; một người như vậy, có khả năng để thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu không xác nhận là đúng hay không đúng, không xác nhận là một giả thuyết, không xác nhậnquan điểm của một bậc trí, không xác nhận là sở hành thường làm; mà người ấy vẫn trả lời; người như vậy, không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu, tránh câu hỏi ấy với một câu hỏi khác, hướng câu chuyện ra ngoài, bày tỏ sự phẫn nộ, sân hận, bất mãn, người như vậy, không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận.

Nếu một người khi được hỏi một câu, lại mắng chưởi, đánh đập, nhạo báng, chụp lấy chỗ sơ hở; người như vậy, không có khả năng thảo luận. Ngược lại là người có khả năng thảo luận”.

Bốn cách trả lời trong Kinh Bộ Tăng Chi trên cũng được ghi lại trong kinh Trường A-hàm, Kinh Giải Thâm Mật, Luận Đại Trí Độ, Luận Du-già, Luận Tỳ-bà-sa, Luận Câu-xá.

Nói cách vắn tắt, bốn cách trả lời này là :

1.   Nhất hướng ký (hay quyết định đáp) tức trả lời một cách dứt khoát.

2.   Phân biệt ký (hay giải nghĩa đáp) tức trả lời một cách có phân tích rõ ràng.

3.   Phản vấn ký (hay phản chất đáp) tức trả lời bằng cách hỏi ngược lại người hỏi.

4.   Xả trí ký (hay trí đáp) tức trả lời bằng cách im lặng, gạt qua một bên những vấn đề trừu tượng vô bổ. Và như bài kệ trong Kinh Lăng Nghiêm dưới đây càng cho thấy rõ tính cách Nhân minh trong kinh Phật :

Chơn tánh hữu vi không,

Duyên sanh cố như huyễn.

Vô vikhởi diệt,

Bất thật như không hoa.

Phân tích bài kệ này, ta sẽ có được hai tỷ lượng với đầy đủ tam chi tác pháp.

1. Tôn :  Chơn tánh hữu vi không.

(Đúng theo thật tánh, các pháp
hữu vikhông thật có).

2. Nhân :        Duyên sanh cố. (Vì do duyên
sanh).

3. Dụ :   Như huyễn. (Ví như trò huyễn
thuật).

1.  Tôn : Chơn tánh, vô vi bất thật.

(Đúng theo thật tánh, các pháp vô vikhông thật)

2. Nhân:  khởi diệt cố. (Vì không
có tướng sanh và diệt).

3. Dụ :   Như không hoa. (Như hoa đốm giữa
hư không).

Còn nói đến khởi nguyên trực tiếp của luận lý học cổ Ấn Độ, trước hết phải kể đến phái Di-mạn-tác (Mimansa), phái Thắng Luận (Vaisesika), và nhất là phái Chánh Lý (Nyaya) thuộc trong sáu phái triết học của Ấn Độ. Phái Chánh Lý là phái chú trọng luận lý học, và đã chỉnh đốn môn luận lý thành hệ thống, nên có có thể làm đại biểu cho Cổ Nhân minh học.

Kế đó là Bồ-tát Mã Minh, Long Thọ, Di-Lặc, Vô Trước, Thế Thân đều có luận lý học, và cũng thuộc Cổ Nhân minh.

Tạo bài viết
01/06/2014(Xem: 11909)
03/09/2014(Xem: 10070)
24/11/2016(Xem: 4426)
Tôi đã từng viết 1 bài có tựa đề “Đức cha tuyệt vời ở Tây Ban Nha thờ Quan Thế Âm Bồ Tát” và nhận được rất nhiều động viên và cổ cũ của quý vị bạn đọc cũng như quý Phật tử. Nay lại có một chuyện khác về một vị cha người Nga nữa.
Chào đón xuân Kỷ Hợi, năm 2019, Phật lịch 2563, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tôi có lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng năm mới đại hoan hỷ, vô lượng an lạc, vô lượng cát tường tới toàn thể các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chư Tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ xin nhất tâm Chúc Tết đến chư tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng toàn thể quí Thiện Tín, Cư Sĩ, Phật tử, Đồng hương được nhiều thuận duyên và phước lạc. Xin chư Phật, chư Tổ, Hồn Thiêng Dân tộc độ trì cho chúng con làm rực sáng một Đạo Phật nơi quê hương mới.