Lời Nói Đầu

25/05/20185:18 SA(Xem: 263)
Lời Nói Đầu

 

Thích Trung Hữu
SỰ PHỤC HƯNG PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ
VAI TRÒ CỦA  TIẾN SĨ AMBEDKAR
Nhà Xuất Bản Phương Đông

LỜI NÓI ĐẦU

 

Có lẽ chúng ta không ai mà không nghe nói đến Tiến sĩ Ambedkar cũng như những hoạt động Phật giáo của ông đối với phong trào phục hưng Phật giáoẤn Độ thế kỷ XX. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu được toàn bộ câu chuyện của ông, vì sao ông phải cải đạo và vì sao ông chọn Phật giáo mà không phải các tôn giáo khác. Đối với vấn đề chế độ giai cấpẤn Độ cũng vậy, chúng ta chỉ biết qua kinh sách Phật giáo, chứ chưa trực tiếp đọc các tư liệu của đạo Bà la môn, do đó mà không thể hiểu vấn đề một cách đầy đủ. Mà chưa hiểu đầy đủ thì chúng ta sẽ không thấy được hết giá trị của đạo Phật đối xã hội cũng như vấn đề cải đạo của Ambedkar và những người cùng đinh Ấn Độ. Đó là chưa kể đến những thông tin thiếu chính xác do nghiên cứu chưa kỹ càng. Ví dụ như trong quyển Lịch sử Phật giáo Ấn Độ của tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh, phần “Phật Giáo Ấn Độ Thời Phục Hưng” có đoạn viết rằng:

Có một giáo sĩ Cơ Đốc giáo nhìn thấy tư chất sáng láng, sắc bén và nhanh nhạy của Ambedkar, nghĩ rằng có thể đào tạo ông trở thành một tín đồ Cơ Đốc giáo trung kiên và tài giỏi, nên tạo điều kiện giúp đỡ ông sang du học ở Anh. Sau thế chiến thứ hai, người con trai ưu tú, thông minh của đất Ấn đã không phụ lòng kỳ vọng của mọi người, ông đã lấy luôn năm bằng đại học về các chuyên khoa. Ấn Độ độc lập (từ năm 1948), về nước, Ambekar được trọng dụng ngay, chính phủ bổ nhiệm ông làm Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên… Đầu năm 1955, Ambekar thay đổi tín ngưỡng, bỏ Cơ Đốc giáo theo Phật giáo.[1]

Ambedkar có du học nhưng không phải do một giáo sĩ Cơ Đốc giáo giúp đỡ, ông chưa từng là tín đồ của Cơ Đốc nên không có chuyện bỏ đạo Cơ Đốc theo đạo Phật, ông không có “lấy luôn năm bằng đại học”, và cũng không phải về nước là được trọng dụng ngay. Những điều này khi các bạn đọc vào phần tiểu sử Ambedkar trong tác phẩm này thì sẽ thấy rõ.

Tôi có cơ duyên thực hiện luận án tiến sĩ của mình về đề tài này, tức là “Vài Trò Của Tiến Sĩ Ambedkar Trong Sự Phục Hưng Phật Giáo Ở Ấn Độ” (The Role Of Bhimrao Ramji Ambedkar In The Revival Of Buddhism In India) tại Trường Đại học Allahabad, Ấn Độ. Ngoài tư liệu sách vở ra, tôi còn có tiếp xúc thực tế với chư tăngPhật tử Ấn Độ. Cho nên đối với vấn đề này, tôi có sự nghiên cứu, tìm hiểu khá là chu đáo. Phật tử Việt Nam chúng ta, không phải là không biết về Phật giáo Ấn Độ hiện đại, nhưng do thiếu nguồn tài liệu bằng tiếng Việt, hoặc không có đi sâu vào chuyên đề, cho nên các công trình nghiên cứu, theo chỗ tôi biết, chỉ lướt qua trên phương diện đại cương. Hơn nữa, nghiên cứu lịch sử không chỉ để biết lịch sử, mà còn rút ra những bài học cho cuộc sống hiện tại. Cho nên vấn đề chính xác là điều hết sức quan trọng. Chính vì thế mà tôi quyết định biên dịch Luận án của mình sang tiếng Việt như là cách đóng góp cho nền văn học Phật giáo Việt Namđộc giả Việt Nam nói chung, để mọi người có thể hiểu vấn đề một cách rõ ràng. Đồng thời thông qua đó mà chúng ta học được những bài học lịch sử quý giá, ngõ hầu xây dựng hoàn cảnh hiện tại của mình cho được tốt đẹp.

Trong khi biên dịch sang tiếng Việt, tôi chỉ dịch những phần mà tôi cho là mới và cần thiết đối với hoàn cảnh Việt Nam. Cũng xin thưa rằng trong quá trình biên dịch, tôi đã trích gửi thử một vài bài đến các tạp chí Phật giáo để coi bài viết của mình có chút giá trị nào không. Cũng may là những bài mình gửi đã được đăng. Điều đó cho thấy đề tài mình đang thực hiện là mới và có thể chấp nhận. Trong Luận án bằng tiếng Anh, tôi đã trích nguồn và ghi chú rất chi tiết để đáp ứng yêu cầu chặt chẽ của một Luận án. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt, tôi thấy không cần thiết phải… rườm rà như vậy. Cho nên tôi chỉ chú thích những chỗ quan trọng mà thôi. Nếu độc giả nào cần nguyên bản gốc tiếng Anh để tham khảo, tôi rất vui lòng chia sẻ.

Một vấn đề nữa là, trong tác phẩm này có đề cập đến một lớp người mà tiếng Ấn Độ gọi là Dalit, nghĩa là “người bị đàn áp và bóc lột”. Các học giả phương Tây dịch là “Untouchable”, nghĩa là những người không thể/không được/không nên đụng tới, vì nếu (những người thuộc giai cấp trên) đụng tới họ thì người đụng sẽ bị ô uế, vì cho rằng bản chất họ là dơ bẩn, ô uế. Nó được dịch sang tiếng Việt NamTiện dân, hoặc người cùng đinh. Tuy nhiên, chữ tiện dân ở đây là nói cách nhìn khinh miệt của giai cấp trên đối với họ, chứ không có nghĩa là ty tiện, hạ tiện về phẩm chất đạo đức. Bởi vì chúng ta đều biết rõ là Đức Phật dạy rằng con người ty tiện hay cao thượng là do hành vi của họ, chứ không phải do ngoại hình hay truyền thống gia đình.

Nội dung của tác phẩm này chủ yếu viết về lịch sử Phật giáo Ấn Độ giai đoạn hiện đại, trong đó nhấn mạnh vai trò của Tiến sĩ Ambedkar đối với sự phục hưng Phật giáo Ấn Độ. Thật sự Phật giáoẤn Độ, nếu thiếu đi vai trò của Ambedkar thì nó sẽ không được như ngày hôm nay. Chín mươi phần trăm tín đồ Phật giáoẤn Độ hiện nay là những người gắn liền với phong trào của Ambedkar. Và họ tôn sùng Ambedkar như một vị Phật thứ hai. Ở chánh điện các chùa hay bàn thờ tại tư gia, ngoài hình ảnh của Đức Phật là bức chân dung của Ambedekar, như người Tây Tạng thờ đức Dalai Lama vậy. Trước Ambedkar cũng có những người hoạt động cho sự phục hồi của Phật giáo Ấn Độ, nhưng chủ yếu trên phương diện học thuật. Bằng cách đưa Phật giáo vào trong đời sống, Ambedkar sẽ được lịch sử nhớ đến như người đã đưa giáo lý của Đức Phật vào cuộc sống xã hội của quần chúng, làm cho Phật giáo từ một tôn giáo chết trở thành một tôn giáo sống, và là người đã đem Phật giáo trở về trên quê hương của nó, sau khi sống lưu vong tại hải ngoại gần một ngàn năm.

Do công trình phục hưng Phật giáo của ông, Ambedkar cũng thường được ví như vua Asoka Đại Đế (Vua A Dục). Nhà Phật học Ấn Độ Ahir có một sự so sánh thú vị giữa Ambedkar và vị vua cổ đại Ấn Độ rằng: Thứ nhất, họ đều là những người con ưu tú của Ấn Độ. Thứ hai, họ không phải sinh ra là những Phật tử, nhưng cải đạo sang Phật giáo. Thứ ba, nếu vua Asoka tìm thấy trong lời dạy của Đức Phật sự bình anan ủi cho nỗi khổ đau của mình do đã gây ra cuộc chiến Kalinga, Ambedkar tìm thấy trong Phật giáo giải pháp cho vấn đề của người cùng đinh. Thứ tư, cả Vua Asoka và Ambedkar đều quy y cùng ngày, ngày 14 tháng 10. Cuối cùng, nếu vua Asoka có công truyền bá Phật giáo ra nước ngoài, thì Ambedkar đã có công mang Phật giáo trở về quê hương Ấn Độ.

Trước khi dứt lời, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với những người đã đóng góp cho công trình này, nhất là đối với luận án tiến sĩ, được hoàn thành. Trước và trên hết là đối với ba má tôi, người đã qua đời khi tôi đang học ở Ấn Độ, tôi cảm thấy nợ họ rất nhiều. Kế đến là Giáo sư Lalit Joshi, người đã hướng dẫn tôi bảo vệ luận án thành công. Tôi cũng không quên cảm ơn gia đình, huynh đệPhật tử đã ủng hộ vật chấttinh thần trong suốt thời gian du học. Kính chúc tất cả đều được vô lượng an lạc, vô lượng kiết tường trong suối nguồn từ bitrí huệ của chư Phật



[1] https://thuvienhoasen.org/p57a18340/phat-giao-an-do-thoi-phuc-hung (Truy cập 22/4/2017).

Tạo bài viết
02/10/2012(Xem: 23504)
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .