Về Lịch Sử Bát Nhã Tâm Kinh

14/12/20182:42 CH(Xem: 2957)
Về Lịch Sử Bát Nhã Tâm Kinh

VỀ LỊCH SỬ BÁT NHÃ TÂM KINH
Vũ Thế Ngọc

 

         bat nha tam kinh 2Một ông học trò cũ khi làm giáo thụ ở đại học Bắc Kinh có lần nói với tôi “Thầy có nghĩ Ngô Thừa Ân viết Tây Du Ký chỉ để phúng thích Phật giáo hay không?”[1] Tôi có nói rằng “Nhưng từ một góc cạnh khác, không có truyện nào tuyên truyền và quảng bá Phật giáo tốt hơn truyện này. Người Hoa trước vốn tuyệt đại đa số mù chữ và không được đi học, nhưng nhờ nước này sớm phát triển nghề kể chuyện và tuồng tích nghệ thuật mà người bình dân cũng biết đến văn hóa, học thuậtlịch sử của nước họ. Tây Du Ký đóng góp phần của nó, nhưng Đại Đường Tây Vực Ký mới là một chính sử về lịch sử và địa lý nhân văn của cuộc thỉnh kinh vĩ đại này.”

Khác với quyển tiểu thuyết Tây Du Ký 西遊記 mà sau làm thành tuồng truyện phim ảnh rất phổ thông trong quần chúng, tác phẩm Đại Đường Tây Vực Ký 大唐西域記[2] của Huyền Trang là một tác phẩm lịch sử văn hóa quan trọng. Sách không chỉ có giá trị liên quan đến Phật giáo, mà còn được coi là một tấm bản đồ văn hóa cũ nhất của nhân loại. Sách tuy không dài nhưng đã tóm lược đầy đủ về lịch sử địa lý văn hóa của hơn 120 tiểu quốc (vùng đất ta thường gọi chung là Ấn Độ) mà Huyền Trang đã trú ngụ hay đi qua trong 17 năm (từ năm 628 đến 645). Đại Đường Tây Vực Ký không những cổ kính mà còn chính xác đến độ khó tin. Cho đến đầu thế kỷ XX, chính nhà khảo cổ học danh tiếng người Anh là Aurel Stein cũng phải tham khảo tập ký sự đó như một tài liệu hướng đạo nhằm xác định các di tích lịch sử quan trọng xưa kia mà ngày nay đã bị thời gian biến đổi và che phủ.

            Theo bản tiểu sử đầy đủ về Huyền TrangĐại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện (大唐大慈恩寺三藏法師傳)[3] của 慧立 (Huệ Lập), người học trò từng biên tập nhiều dịch phẩm của Huyền Trang, thì Huyền Trang (玄奘) tên tục là Trần Y sinh năm 604 tại Lạc Châu, Hà Nam, trong một gia đìnhtruyền thống quan lại. Từ nhỏ ngài đã nổi tiếng thông minh đĩnh ngộ, năm 13 tuổi xuất giathọ giới cụ túc năm 21 tuổi. Ngài tu học với nhiều danh sư nhưng nhận thấy kinh sách khi đó vừa thiếu thốn vừa có nhiều chỗ giảng giải mâu thuẫn. Đó là lý do đã thúc đẩy ngài có chí nguyện lên đường đi Ấn Độ thỉnh kinh và học hỏi.

Khi Huyền Trang trưởng thành thì vẫn còn chiến tranh và nhiều hỗn loạntriều đại nhà Tùy (581-618) vừa thống nhất cuộc nội chiến kéo dài nhiều thế kỷ thì lại có chiến tranh quyền bính do họ Lý nổi lên (để thành lập nhà Đường 618-907). Lúc đó có lệnh triều đình mới thành lập triệt để cấm đi ra ngoại quốc, đặc biệt là đến các vùng ngoài biên ải phía Tây vẫn tiếp tục là khu vực tranh chấp, nhưng Huyền Trang vẫn trốn đi vào năm 628. Sau 17 năm du hành và học tập với các đại sưhọc giả lớn của Ấn Độ như cư sĩ Jayasena (Thắng Quân) và đặc biệt với đại sư Śīlābhadra (Giới Hiền) viện trưởng học viện Nālandā danh tiếng khi đó đã 106 tuổi.[4] Giới Hiền là một đại sư lớn của Duy Thức Tông (Yogācāra) xuất thân từ một gia đình hoàng tộc và cũng là truyền thừa của ngài Dharmapāla (Hộ Pháp). Hộ Pháp lại là học trò của Dignāga (Trần Na 480-540) tổ của Duy Thức tông của thời đại ấy. Hộ Pháp, cũng từng là viện trưởng Nālandā Đại Bồ Đề (Mahābodhi) và nổi tiếng với các luận sớ về Bách Luận của Thánh Thiên (āryadeva) và Duy Thức Tam Thập Tụng của Thế Thân (Vasubandhu). Tư tưởng của Hộ Pháp chính là tư tưởng chủ đạo cho đại tác phẩm Thành Duy Thức Luận 成唯識論[5] nổi tiếng của Huyền Trang sau này dịch thuật.

Như thế Huyền Trang có thể được coi là người truyền thừa giáo pháp môn Duy Thức (Yogacāra) là một tông môn mạnh nhất của Phật học Ấn Độ đương thời. Trong nhiều năm Duy Thức đã có nhiều thế hệ cùng với các đại sư Trung Quán lãnh đạo Đại học Nālandā. Tuy nhiên nên nhớ, ở Nālandā và cũng như tại nhiều đại tùng lâm khác ở Ấn Độ ta vẫn có các đạo sư của các tông môn khác nhau sống chung trong một tự viện. Chính tại Nālandā Huyền Trang đã trình bầy một luận án viết về hòa hợp giáo pháp của Trung QuánDuy Thức được Giới Hiền và các đại sư ở viện cực kỳ tán thán.

Trước khi sửa soạn trở về, Huyền Trang còn đại diện cho tu viện Nālandā, nơi có hằng ngàn tăng sĩ Phật giáo khắp Ấn Độ theo học, trong một đại tranh luận lớn nhất Ấn Độ đương thời do vua Harshavardhana tổ chức. Chiến thắng các đại luận gia Ấn Độ trong cuộc luận đạo lớn này càng làm danh tiếng Huyền Trang nổi tiếng hơn. Chính vua Harshavardhana đã cúng dường con voi quí nhất và toàn thể người tùy tùng cùng phương tiện di chuyển cho chuyến hành trình theo ngài trở về quê hương năm 642.

 Sau những thành công với danh tiếng lẫy lừng ở Ấn Độ, Huyền Trang trở về Trung Hoa năm 645 với 657 bộ kinh luận Phạn ngữ chuyên trở trên 20 tuấn mã để bắt đầu sự nghiệp phiên dịch kinh sách. Đây là một cuộc hành trình khác, khác hơn Tây Du thỉnh kinh nhưng vô cùng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở Phật học Á Đông ngày sau.

Tại Trung Hoa khi Huyền Trang trở về đã bước vào một thời gian thống nhất và thịnh trị. Lý Thế Dân (599-649) đã giúp cha là Lý Uyên diệt Tùy Dương Đế để thiết lập nhà Đường. Lúc này Lý Thế Dân đã lên ngôi, tức là Đường Thái Tông. Lúc Huyền Trang vào triều diện kiến Đường Thái Tông thì nhà vua đã 47 tuổi và Huyền Trang 42 tuồi. Hai người dù ở hai hoạt động khác biệt nhưng cả hai đều là người trí thức từng trải nhiều sóng gió nên rất tương đắc. 

Nhà Đường dưới thời Thái Tông phát triển lớn về kinh tế và quân sự, trở thành đế quốc rộng lớn nhất và hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Nhà Đường lúc đó bao quát đất gồm hầu hết lãnh thổ Trung Quốc ngày nay, một phần Việt Nam và phần lớn Trung Á kéo dài đến tận đến tận phía đông Kazakhstan ngày nay. Sử Trung Hoa vẫn gọi triều đại này là “Khai Nguyên thịnh thế” tức là thời đại hoàng kim nhất trong lịch sử thời phong kiến của họ. Trung Hoa lúc bấy giờ không chỉ là một quốc gia rộng lớn giầu có, mà còn là một trung tâm văn minh thế giới với mọi sắc thái văn hóa quốc tế, từ âm nhạc nghệ thuật đến khoa học kỹ thuật.

Bằng sự trợ giúp lớn lao của triều đình, đây là lần thứ hai hơn hai trăm năm mươi năm sau Cưu Ma La Thập (Kumārajīva 344-413), Phật giáo Trung Hoa lại có một Quốc Lập Dịch Trường qui mô chuyên về dịch kinh luận Phật giáo. Ngoài Huyền Trang lãnh đạo, Quốc Lập Dịch Trường còn qui tụ nhiều nhà cự học Phật giáo của toàn đế quốc Đại Đường chung sức phiên dịch. Trong suốt 19 năm miệt mài Huyền Trang đã để lại một sự nghiệp phiên dịch Phật học vô cùng lớn lao gồm 75 bộ kinh luận của hầu hết các tông môn quan trọng nhất của Phật học.[6] Chỉ cần nhìn tổng quát về các bản dịch công phu và đầy đủ đến chi tiết này, chúng ta thấy Huyền Trang có một tư tưởng rất mở về quan điểm tông môn, chứ không phải là quan điểm tông phái coi ngài chỉ là sơ tổ của Duy Thức hay Pháp Tướng Tông. Rõ ràng công trình dịch thuật của ngài bao gồm nhiều kinh luận của mọi tông môn, từ Trung Quán đến Duy Thức, lại còn các kinh luận Thắng Luận, Nhất Thiết Hữu Bộ của Phật giáo Nguyên Thủy.[7] Ngài còn là người đầu tiên giới thiệu Nhân Minh Học, một nghành luận lý học Phật giáo mà trước đó Phật học Á Đông chưa biết đến, cũng như các kinh luận A tì Đạt ma, Đà La Ni về Mật Tông, các kinh luận về Luật tạng v.v.

Kinh luận do Huyền Trang dịch thường nổi tiếng về cách dịch chính xáctrung thực, đã cùng với các dịch phẩm trước đó của Cưu Ma La Thập đã lập nên diện mạo cơ sở cho Phật học trên toàn cỏi Á Đông. Có thể nói từ đây học vấn Phật Pháp của người Á Đông đã thành tựu được một nền tảng Phật học xuất sắc, có những lãnh vực không thua kém với Phật học Ấn Độ trong thời gian đó.

          Riêng về Bát Nhã Tâm Kinh, trong Đại Đường Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện 大唐大慈恩寺三藏法師傳 Huệ Lập cũng cho biết khi còn trẻ Huyền Trang học ở tại chùa Không Huệ, Ích Châu, ngài đã tận tụy giúp một nhà sư Ấn Độ nghèo đói ghẻ lở. Để đáp ơn chính vị sư này đã dạy cho Huyền Trang bài Tâm Kinh ngắn ngủi mà Huyền Trang liên tục trì tụng. Chính trong cuộc hành trình Tây Du cam khổ, nhờ chuyên tụng Tâm Kinh đã giúp Huyền Trang thoát được nhiều khổ nạn.

Tác phẩm này còn cho biết, khi Huyền Trang đến được Nālandā Ấn Độ ngài đã gặp lại vị tăng bệnh hoạn ngày xưa. Lần này nhà sư kỳ lạ cho biết ngài chính là Bồ Tác Quán Tự Tại vì muốn giúp Huyền Trang hoàn thành đại nguyện Tây du thỉnh kinh nên đã hóa hiện để đích thân truyền thụ Tâm Kinh cho Huyền Trang để trợ giúp ngài trên đường Tây Du thỉnh kinh gian khổ. Cũng vì chi tiết này mà chúng ta thấy trong bản dịch “Đường Phạn Phiên Đối Tự Âm Thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh” 唐梵飜對字音深般若波羅蜜多心經 (Tức bản T256) đại sư Amoghavajra (Bất Không Kim Cương) có ghi rõ rằng “Tâm Kinh do chính Bồ Tát Quán Tự Tại đích thân truyền thụ cho Huyền Trang”. [8]

          Sự tín mộ của cá nhân ngài Huyền Trang với Tâm Kinh còn được chia sẻ với vị hoàng đế đương thời của Trung Hoa là Đường Thái Tông người đã tích cực trợ giúp việc phổ biến Tâm Kinh khắp đế quốc này. Chính sử Trung Hoa còn ghi lại rất nhiều chi tiết về sự tương đắc giửa Lý Thế Dân với ngài Huyền Trang trong đại sự dịch kinhđặc biệt là cả hai đều rất ái mộ Bát Nhã Tâm Kinh. Cho nên khi Huyền Trang phụng chiếu Đường Thái Tông trong lúc vị vua này còn sống để phiên dịch Tâm Kinh ra Hán văn. Bản Hán dịch Tâm Kinh từ lời giới thiệu đến bút khắc trên đá đều viết theo bút pháp Vương Hy Chi (303 – 361) là vị “thánh bút” mà Đường Thái Tông rất ái mộ.[9] Chúng ta nên biết bài đề tựa “Đại Đường Thánh Giáo Tự” 大唐聖教序 của Đường Thái Tông viết khi Huyền Trang còn sống và bản Tâm Kinh khắc trên bia đá danh tiếng năm 672 đều được viết theo bút pháp Lan Đình Tập Tự của Vương Hy Chi. Vì Đường Thái Tông là người rất mê bút pháp Vương Hy Chi, người mà ông tôn là “thiên cổ thánh bút”. Sử Trung Hoa còn ghi chính vị hoàng đế này đã bắt thu giữ tất cả những thư liệu có chữ của Vương Hy Chi[10] và khi chết cũng được chôn theo bản Lan Đình Tập Tự danh tiếng của Vương Hy Chi. Tôi chưa được xem bút pháp ở bia đá khắc Tâm Kinh năm 661 mới tìm được ở Phòng Sơn Thạch Kinh (房山石經)[11] nhưng tin tức cho biết vào cuối năm 2016 cơ quan Quốc Gia Văn Vật Cục 国家文物局 của nhà nước Trung Hoa loan báo họ đã tìm được bia đá khắc Tâm Kinh cổ nhất. Tấm bia đá cổ nhất khắc Tâm Kinh mới tìm này cũng đề rõ “kinh do Huyền Trang phụng chiếu dịch” và được khắc vào năm Hiển Khánh thứ sáu đời Đường Cao Tông (năm 661) tức là 3 năm trước khi Huyền Trang mất. Cho nên cho đến năm 2016 học giả thế giới chỉ có biết đến tấm bia đá xưa nhất là bia đá khắc năm 672 (sau khi Huyền Trang mất 7 năm). Bia đá khắc năm 672 hiện đang được trưng bầy ở viên Bảo Tàng Tây An.

Hiện nay chúng ta chưa tìm thấy bản chữ viết Phạn văn nào cổ hơn bản Hán văn, cho nên một vài nhà nghiên cứu cho rằng chỉ có bản Tâm KinhHuyền Trang học được khi còn ở Trung Hoa là bản nguyên thủy mà thôi. Như mọi người đều biết, Phật giáo sử Trung Hoa và tiểu sử Huyền Trang đều có ghi sự tích một hòa thượng Ấn Độ bệnh hoạnHuyền Trang giúp chăm sóc thời còn trẻ ở chùa Không Huệ, Ích Châu Trung Hoa.[12] Chúng ta cũng nên biết, khi còn ở Ấn Độ Huyền Trang cũng từng dịch Đạo Đức KinhĐại Thừa Khởi Tín Luận ra Phạn ngữ. Những sự kiện này đã khiến một hai người nghiên cứu đưa ra giả thuyết quá xa khi họ xem Tâm Kinh là kinh của người Trung Hoa viết và Huyền Trang trong thời gianẤn Độ có thể đã dịch ngược lại (back-translation) ra Phạn ngữ.

Như chúng ta đã biết, Tâm Kinh là quyển kinh phổ biến và được tôn thờ từ nhiều thế kỷ trong thế giới Phật giáo Á Đông, nhưng tuyệt đại đa số Phật tử chỉ biết đến bản dịch Bát Nhã Tâm Kinh 260 chữ của Huyền Trang, mặc dù học giới từng ghi nhận có nhiều bản dịch khác. Hiện nay trong Đại Tạng Hán ngữ do Nhật Bản in đầu thế kỷ trước và trở thành tiêu chuẩn của học giả thế giới hiện nay là Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh 大正新修大藏經, có  chép đến 8 bản Bát Nhã Tâm Kinh mang số hiệu từ T. 250 đến T. 257 hiện có trong Tập VIII là:

1. T. 250 摩訶深般若波羅蜜大明呪經 “Ma ha bát nhã ba la mật đại minh chú Kinh” do Cưu Ma La Thập (Kumārajīva) dịch vào khoảng năm 412, gồm 299 chữ.

2. T. 251 深般若波羅蜜多心經 “Bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh” Huyền Trang dịch vào năm 649, gồm 260 chữ.

3. T. 252 普遍智藏般若波羅蜜多心經 “Phổ biến trí tạng bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh” do Pháp Nguyệt (Dharmacandra) dịch năm 732, gồm 648 chữ.

4. T. 253 般若波羅蜜多心經 “Bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh” do Bát Nhã (Prajñā) và Lợi Ngôn dịch năm năm 790, gồm 545 chữ.

5. T. 254 般若波羅蜜多心經 “Bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh” do Trí Tuệ Luân (Prajñācakra) dịch năm 850, gồm 562 chữ.

6. T. 255 般若波羅蜜多心經 “Bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh” do Pháp Thành dịch năm 856, gồm 562 chữ.

7. T. 256 唐梵飜對字音深般若波羅蜜多心經 “Đường Phạm phiên đối tự âm thâm bát nhã ba la mật đa Tâm Kinh” của Bất Không (Amoghavajra) dịch khoảng thời gian 750-760. Bản này như thế là gồm hai bản: bản phiên âm Phạn văn và bản dịch Hán văn.

8. T. 257 佛説聖佛母般若波羅蜜多經 “Phật thuyết thánh mẫu bát nhã ba la mật đa Kinh” do Thi Hộ (Dānapāla) người Tây Thiên dịch, gồm 627 chữ.

Ngoài 8 bản Hán ngữ danh tiếng trên, người ta còn tìm ra nhiều văn bản Tâm Kinh cổ của nhiều ngôn ngữ khác ở khắp Á Châu, đặc biệt là nhiều văn bản Hán Phạn và Tạng ngữ được tìm thấy trong các di chỉ khảo cổ mà nổi tiếng nhất là ở Đôn Hoàng, Tây An.[13] Nhà ngữ học danh tiếng Max Muller (1815-1900) của Oxford University có lẽ là học giả Tây Phương nghiên cứu chân tường sớm nhất về các cổ bản Tâm Kinh. Ông cộng tác với các học giả trẻ Nhật Bản (sau này đều trở nên các học giả nổi tiếng thế giới) như Bunyu Nanjo, Jumjiro Takakusu để nghiên cứu về thánh bản Tâm Kinh chữ Tất Đàn (Siddhaṃ) viết trên lá bối của Hōryū-ji (法隆寺 Pháp Long Tự). Đây là văn bản Phạn ngữ Hṛdaya theo truyền thuyết chính là bản văn bản Tất Đàn nguyên thủy Tâm Kinh của Bồ Đề Đạt Ma mang đến Trung Hoa và đến năm 609 được đưa về lưu giữ ở Pháp Long Tự (Hōryū-ji) ở Nara (Nại-Lương), Nhật Bản và thường được gọi là Hōryū-ji Hṛdaya.[14]

Văn bản Hōryū-ji Hṛdaya hiện nay vẫn được coi là bản Phạn ngữ cổ nhất nhưng các nhà nghiên cứu sau này không tin đó là bản của Bồ Đề Đạt Ma được mang đến Trung Hoa. Bản Hōryū-ji Hṛdaya được các chuyên gia cho là viết ở Ấn Độ vào đầu thế kỷ VIII. Max Muller đã cho xuất bản bài nghiên cứu và dịch bản Tâm Kinh này trong bộ sách kinh điển The Sacred Books of the East (1978-1910).[15]

Nhiều học giả theo chân của Muller đã có những nghiên cứu rất đáng chú ý về Tâm Kinh. Nổi tiếng và quan trọng nhất là công bố văn bản Sanskrit Tâm Kinh năm 1948 (in lại năm 1967 và tu sửa vào năm 1973) của Edward Conze.[16] Trong số các tài liệu nghiên cứu về Tâm Kinh, Conze cho biết ông đã có dịp sưu tập được tới 12 cổ bản Tâm Kinh chữ Sanskrit tìm được ở Nepal, trong số này có bản cổ nhất được viết vào thế kỷ XII. Sau khi so sánh với bẩy văn bản khác ở Trung Hoa, cùng hai bản ở Nhật Bản, ông đã cống hiến được một văn bản Sanskrit tuyệt hảo. Cho đến ngày nay văn bản này vẫn được coi là bản Bát Nhã Tâm Kinh chữ Sanskrit tiêu chuẩn cho các học giả thế giới. Các nghiên cứu học thuật về Tâm Kinh vẫn được các thế hệ tiếp tục, như nghiên cứu mới đây của Jonathan Silk (1994) về văn bản Kanjur Tạng ngữ của Tây Tạng. Trong những năm vừa qua, tuy không có các phát kiến nào đáng kể về văn bản (cho đến cuối năm 2016 mới phát hiện thêm bia đá Tâm Kinh khắc năm 661).  Nhưng có rất nhiều bản dịch ra các ngôn ngữ hiện đại và nhiều sách nghiên cứu mới viết về Tâm Kinh. Càng ngày càng có nhiều học giả chú ý đến bản kinh rất ngắn gọn này. Lý do thúc đẩy cụ thểhiện có một số lượng độc giả trí thức đông đảo rất trọng thị Tâm Kinh và coi Tâm Kinh như một kết tinh của toàn diện văn hóa Bát Nhã.[17] Tuy nhiên sự nghiệp nghiên cứu về Tâm Kinh thường tập trung ở Nhật Bản.[18] Hai tác giả đương đại được nhắc đến trong luận này là hai trong số nhiều học giả uy tín nhất thế giới về Tâm Kinhvăn học Bát Nhã là của quốc gia này - giáo sư Harada Waso[19] và Fukui Fumimasa.[20] Nhưng rất tiếc là các nghiên cứu của hai vị này cũng như của nhiều học giả lớn của Nhật Bản đa phần đều viết bằng lối văn Nhật ngữ cổ. Chỉ có một số chương quan trọng được dịch ra Anh ngữ và tóm lược trong các sách của các học giả Âu Mỹ. Ở Tây phương sau lớp trí thức và nghệ sĩ hàng đầu mê chuộng Thiền học, thì hiện nay còn có sự kiện phổ biến Tâm Kinh vào lớp học giả sâu sắc hơn, đặc biệt còn với khuynh hướng đi vào thế giới âm nhạc và nghệ thuật,[21] và cả khoa học lượng tử.[22]

Ngoài hai cổ bản Bát Nhã Tâm Kinh chữ Tất Đàn (Siddhaṃ) viết trên lá bối của Hasedera (Trường Cốc Tự) và Hōryū-ji (Pháp Long Tự) ở Nhật Bản, hai nước Anh và Pháp hiện tàng giữ nhiều cổ bản Bát  Nhã Tâm Kinh nhiều nhất thế giới. Thư viện quốc gia Pháp hiện còn bộ sưu tập kinh luận Phật giáo danh tiếng của Paul Pelliot. Riêng về Tâm Kinh, mục lục Pelliot cho thấy họ có rất nhiều cổ bản Tâm Kinh phần lớn do Pelliot tìm được ở Tây Tạng, trong số này có cổ bản chữ Vu Điền viết vào khoảng thế kỷ VII. Thư viện Anh quốc, trong bộ sưu tập kinh luận Phật học danh tiếng của Aurel Stein vẫn tiếp tục là kho báu vật của người nghiên cứu Phật học. Năm 1985 Fumimasa-Bunga Fukui tìm ra bản Tâm Kinh (Stein # 5648) của Bất Không (Amoghavajra) do Aurel Stein tìm ra ở động Đôn Hoàng, cũng là nhờ nghiên cứu bộ sưu tập Stein ở Thư viện Luân Đôn. Bản này cũng là bản T256 đã kịp đưa vào Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh mà tôi thường trích dẫn. Trước khi Fukui khảo sát và giới thiệu, bản này thường không được chú ý.

Trung Hoa không có các học giả hàng đầu để tham dự vào các nghiên cứu Phật học quốc tế. Tuy nhiên họ cũng cố gắng rất nhiều trong lãnh vực mà họ có chuyên môn và có phương tiện nhất. Đó là lãnh vực khảo cổ. Như đã giới thiệu ở phần trên, vào năm 2016 cơ quan Quốc Gia Văn Vật Cục 国家文物局 nhà nước công bố việc tìm thấy một bia đá khắc Tâm KinhPhòng Sơn (房山). Phòng Sơn Thạch Kinh (房山石經) vốn là một danh địa của Phật giáo nổi tiếng với khoảng 1500 bia đá khắc cả ngàn kinh Phật trên các bia đá và rừng núi khắp chùa Vân Cư (雲居寺) ở cách Bắc Kinh 70 dặm. Bia đá mới tìm, được khắc vào năm Hiển Khánh thứ sáu (顯㬎六年) Đường Cao Tông (唐高宗) tức năm 661, là 3 năm trước khi Huyền Trang mất (664), cũng có đề rõ “Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch” (三藏法師玄奘奉詔譯).[23] Cũng trong khám phá tại Phòng Sơn, cơ quan nghiên cứu này còn tìm thêm được một bản Tâm Kinh khác khắc vào năm 669 cũng đề rõ ràng “Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch”. Sự phát hiện các bia đá này cũng là liều thuốc cuối cùng làm tiêu tán giả thuyết “Tâm Kinh giả” của Nattier từng đánh động dư luận hai thập niên trước.

Như đã nói, Nhật Bảnquốc bảo của họ. Đó là hai bản Tâm Kinh viết bẳng chữ Phạm Tất Đàn (Siddhaṃ) viết trên lá bối của Hasedera (Trường Cốc Tự) và Hōryū-ji (Pháp Long Tự) ở Nại Lương. Bản Hōryūji- Hṛdaya là văn bản Phạn ngữ cổ nhất thế giới mà Suzuki theo môt truyền ký cho là bản kinh tùy thân của Bồ Đề Đạt Ma (470-543) và được đưa về Nhật Bản năm 609. Hiện nay bản Tâm Kinh Hōryūji- Hdaya được bảo trìTokyo National Museum. Theo nghiên cứu của Georg Buhler, người sáng lập danh tiếng của học thuật paleography, thì bản Tâm Kinh lá bối cổ này được viết vào khoảng đầu thế kỷ thứ VIII ở Ấn Độ.[24] Các học giả danh tiếng như Max Muller (1815-1900), D.T. Suzuki (1870-1966) và Edward Conze (1904-1979) đều đã từng nghiên cứu bản Tâm Kinh quí báu này.

Triều Tiên thường vô cùng hãnh diện với bộ Đại Tạng Hán văn Gorye Tripitaka (Cao Ly Đại Tạng) được khắc suốt nửa thế kỷ (1011-1087). Sau chiến tranh với Mông Nguyên, triều đình cho khắc lại và hoàn thành năm 1251 với hơn 82 ngàn tấm mộc bản gồm hơn 52 triệu chữ Hán (con số chính xác là 81,137 tấm mộc bản với 52,382,960 chữ Hán) mà không hề có một chữ nào khắc sai sót. Đây là bộ Đại Tạng Hán văn cổ nhất thế giới và may mắn cho đến ngày nay Tâm Kinh cũng như nhiều kinh luận vẫn còn được giữ lại nguyên trạng các bản khắc gỗ.[25] Dù chiến tranh liên miên, toàn bộ mộc bản Đại Tạng Cao Ly vẫn tiếp tục được tàng trữ tại chùa Haein (Hải Ấn Tự 海印寺) ở Nam Triều Tiên từ năm 1398 cho đến nay. Bộ Đại Tạng Hán ngữ danh tiếng học giới thường dùng ngày nay là Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh cũng sử dụng rất nhiều tài liệu từ Đại Tạng này.

Riêng ở Động Đôn Hoàng được khám phá ra từ đầu thế kỷ XX thì theo Fukui,[26] chuyên gia về Bát Nhã Tâm Kinh, thì các nhà nghiên cứu đã tìm thấy tới 180 cổ bản Tâm Kinh viết tay bằng Phạm ngữ, Hán ngữ, Tạng ngữ và nhiều ngôn ngữ như Khotan (Vu Điền), Kuche (Quy Tư) của các dân tộc sống trên con đường thương mại xuyên Á châu này. Nhưng phần lớn các cổ bản Tâm Kinh hiện nay đang được tàng trữ ở thư viện và bảo tàng ở ngoại quốc như thư viện Anh (phòng sưu tập Aurel Stein) và Pháp (phòng sưu tập Paul Pelliot). Kho tàng Đôn Hoàng (hiện nay thu về Đôn Hoàng Bảo Tàng) vẫn tiếp tục là một kho tài liệu quan trọng cho người nghiên cứu Phật học. Hiện nay Đôn Hoàng là một địa chỉ du lịch và gồm có Đôn Hoàng Bảo Tàng danh tiếng. Năm 2000 tôi có đến thăm nhưng người quản thủ cho biết họ không còn giữ được bản Tâm Kinh thật cổ nào nữa. Tuy nhiên tại đây người ta có nhiều bản chụp các tranh và các bức tường họa rất cổ (trong đó có chép Tâm Kinh) để bán cho du khách.

Các bản Tâm Kinh quan trọng sẽ được tiếp tục thảo luận trong luận này (Bát Nhã Tâm Kinh: Tổ Long Thọ Giảng) với một số hình ảnh có được về các bản Tâm Kinh cho in trong phần phụ bản. Trong số này có một bản thủ bút của vua Càn Long (1711-1799) tôi muốn in rời để tặng độc giả.[27] Sử Trung Hoa có chép vua Càn Long rất hâm mộ Bát Nhã Tâm Kinh và thường tự tay chép Tâm Kinh nhiều lần, và bản này chính là một bản trong số các bản do chính vua Càn Long viết mà tôi có được một bản chụp lại. Ngày nay các chùa lớn ở Nhật Bản như chùa Dược Sư (Yakusgi-ji) vẫn còn giữ mỹ tục này. Chùa Yakusgi nổi tiếng với một dojo lớn trang trọng dành cho mọi người đến chép Tâm Kinh để cầu phước (viết tô theo mẫu chữ có sẵn). Người xin chép kinh sẽ được dẫn vào phòng riêng mặc thêm áo tràng và khẩu trang rồi sẽ được dẫn vào một giảng đường lớn có sẵn nhiều bàn viết với dụng cụ và giấy bút. Tuy nhiên bây giờ mọi người đều có thể mua các dụng cụ tương tự trên Amazon.com (gồm bút mực, giấy viết và bản Tâm Kinh mẫu bằng chữ Hán).

 



[1] Có luận cứ cho rằng Ngô Thừa Ân viết Tây Du ký chỉ để phúng thích Phật Giáo, từ nhân vật Đường Tam Tạng đến cả chuyện phúng thích chữ “vô tự chân kinh” của Thiền gia để nói đến tham nhũng có ngay trong Phật giới cao cấp. Sự thật trước khi có truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân ( 吳承恩 1506-1581)  ở Trung Hoa đã có nhiều truyện kể về cuộc Tây Du Ký của Huyền Trang. Các truyện này thường do nhiều người làm nghể kể truyện chuyên nghiệp góp công trứ tác. Lịch sử thành hình các loạitiểu thuyết chương hồi” của Trung Hoa đều phát triển theo trình tự này.

[2] Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 51 thuộc Sử Truyện, bộ thứ 3 từ trang 867 đến trang 948, theo thứ tự kinh văn số 2087. Hiện chúng ta đã có một bản dịch Việt Ngữ.

[3] Ibid, T. 2053

[4] Nguyệt Xứng (Chandrakīrti) có thể từng là người kế thừa Hộ Pháp (dharmapāla) làm viện trưởng Nālandā. Xem Vũ Thế Ngọc. Nguyệt Xứng Nhập Trung Quán Luận, nxb Hồng Đức, 2018

[5] Thành Duy Thức Luận 成唯識論 (vijñāptimātratāsiddhi) là một bộ luận lớn của Huyền Trang giới thiệu, dịch và tổng hợp tư tưởng và luận của mười đại luận sư (Thập Đại Luận Sư) của Duy Thức Tông và lấy tư tưởng Hộ Pháp làm cơ sở.

[6] Xem danh sách các dịch phẩm của Huyền Trang bằng Việt ngữ trên internet/ Google. Xem Vũ Thế Ngọc, Trí Tuệ Giải Thoát, nxb Thế Giới 2016, so sánh bản dịch kinh Kim Cương Năng Đoạn của Cưu Ma La Thập và của Huyền Trang.

[7] Nhiều khi vì hàm nghĩa lịch sử, tôi phải dùng danh từ Tiểu Thừa, Đại Thừa. Ngày nay các học giả chỉ dùng các chữ tiểu thừa/ đại thừa như là cách gọi tên thế thôi.

[8] Đây là bản năm 1985 Fumimasa-Bunga Fukui tìm được kho tài liệu ở Động Đôn Hoàng hiện được lưu giữ ở Bảo Tàng Viện Anh (Stein #5648). Đây cũng là bản Tâm Kinh mang số hiệu T. 256 trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh.

[9] Xem Phóng Ảnh bia khắc Tâm Kinh năm 672 - Rất tiếc tôi chưa tìm được phóng ảnh Bia Đá Tâm Kinh Phòng Sơn, khắc năm 661 mới tìm ra năm 2016.

[10] Đường Thái Tông tự viết lời bình khen Tấn Thư Vương Hy Chi Truyện rằng “chữ của Vương Hy Chi tường sát cổ kim, tận thiện tận mỹ”. Chính Đường Thái Tông là lý do Tiêu Dực ăn trộm Lan Đình Tập Tự của nhà sư Biện Tài, khi Thái Tông chết bài Tự này cũng được táng theo. Năm 2010 trong một cuộc bán đấu giá bức thiếp Khoái Tuyết Thời Tình đời nhà Đường chỉ có 4 dòng chữ viết theo bút pháp Vương Hy Chi (chú ý không phải chữ của Vương Hy Chi) đã bán được 48 triệu Mỹ kim (BBC News Asia-Pacific 22 November 2010).

[11] Phòng Sơn Thạch Kinh (房山石經) là một địa danh danh tiếng cách Bắc Kinh khoảng 70 dặm, là khu núi đá có khắc hơn một ngàn bản kinh Phật quanh chùa Vân Cư (雲居寺)và trong núi đá và các hang động lớn nhỏ khắp vùng này. Nguyên lai từ Pháp nạn dưới các vua Bắc Ngụy (550-570) và Bắc Châu (550-570) các nhà sư bắt đầu khắc kinh trên đá để mong giữ lại Phật điển. Công việc khắc kinh trên đá cho đến thế kỷ XVII với sự trợ giúp của triều đình, đặc biệt dưới triều đại nhà Đường. Theo thống kê của UNESCO World Heritage (Library Caves and Stone Tablets of Sutra of Yunju Temple) thì tổng số các kinh được khắc ở đây lên đến 1,122 kinh trên 14,200 bia đá. Phòng Sơn Thạch Kinh từ lâu đã được giới nghiên cứu biết đến, nhưng tấm bia khắc Tâm Kinh năm 661 chỉ mới tìm ra vào cuối năm 2016. Xem các bài giới thiệu về Phòng Sơn Thạch Kinh này của Li, Jung-shi (1979). “The Stone Scriptures of Fang-shan” The Eastern Buddhist. Vol.12, No.1, pp 104-113. Gjertson, Donald E. (1989) Miraculous Retribution: A Study and Translation of T'ang Lin's Ming-pao chi. Berkeley Buddhist Studies Series; Centers for South and Southeast Asia Studies; University of California at Berkeley. Lancaster, Lewis R. (1989). 'The Rock Cut Canon in China: Findings at Fang-shan,' in The Buddhist Heritage, edited by Tadeusz Skorupski [Buddhica Britannica 1]. 143-156. The Institute for Buddhist Studies

[12] Có thể là bản Bát Nhã Tâm Kinh T250 do La Thập dịch

[13] Xem “Bí Mật Đôn Hoàng” trong Vũ Thế Ngọc, Bồ Đề Đạt Ma Tuyệt Quán Luận [1983], nxb Văn Nghệ 2006.

[14] Hai chi tiết (1) bản Hōryū-ji Hṛdaya là bản Bồ Đề Đạt Ma mang đến Trung Hoa và (2) bản này được truyền đến Nhật Bản năm 609, là do D.T. Suzuki viết trong Essays in Zen Buddhism, 3rd series (1953), trang 222. Hōryūji (Pháp Long Tự) là kiến trúc gỗ cổ nhất thế giới do Thánh Đức Thái Tử (Shotoku Taishi) xây từ năm 607, được tái phục nhiều lần nhưng hiện vẫn còn một phần nguyên vẹn.

[15] Muller, Max (biên tập), Buddhist Mahayana Texts, The Sacred Books of the East, Vol. 49. Oxford University Press 1894. (Xem chương so sánh các bản Tâm Kinh Sanskrit và Hán Dịch trong Bát Nhã Tâm Kinh: tổ Long Thọ Giảng).

[16] Các sách Edward Conze mà tôi đang dùng là Buddhist Wisdom Books: Containing the "Diamond Sutra" and the "Heart Sutra" (New edition), Thorsons 1975; Prajnaparamita and Related System: Studies in Honor of Edward Conze do Lewis Lancaster biên tập do University of California xuất bản (1977) và Budhist Studies 1934-1972 của Edward Conze, do Wheelwright Press, Zen Center, San Francisco, California in lại.

[17] Lẽ dĩ nhiên tuyệt đại quần chúng thì chẳng có mấy người hiểu Tâm Kinh một cách trí tuệ. Ngay chính họa sĩ kiêm dịch giả Tanahashi từng được mời làm “scholar in residence” (học giả cơ hữu) nhiều năm ở Zen Center nổi tiếng ở San Francisco, tâm sự “tôi đọc tụng với họ ‘emptiness… emptiness… no eys, no ears…’ cứ loạn lên mà thật ra chẳng hiểu gì cả”. Vợ ông, trong sách của ông, cũng phát biểu “Tôi không hiểu gì cả, nhưng cứ nghe thấy tụng no…no…là tôi sảng khoái lập tức.” Xem The Heart Sutra của Kazuaki Tanahashi, nxb Shambhala 2016

[18] Chúng ta cũng nên biết Nhật Bản không chỉ nổi tiếng với khoa học mà còn là một quốc gia từ lâu đã nổi danh về nghiên cứu Phật học. Nhiều đại sư Nhật chỉ chuyên viết bằng Nhật ngữ nên ít người biết đến các thành tích văn hóa của họ, nên biết Nhật Bản có đến 27 người được giải thưởng Nobel từ văn chương đến khoa học, số lượng này chỉ đứng sau Hoa Kỳ.

[19] Harada Waso 原田和宗. Hannya shingyō no seiritsu shiron (般若心経」の成立史論)(History of the Establishment of Prajñāpāramitāhṛdayasūtram). 東京: 大蔵出版  2010. Cũng xem Harada Waso [komoto hannya shingyō] 梵文 (小本・般若心経)和訳 (The Prajñāpāramitāhṛdaya). Association of Esoteric Buddhist Studies, 2002,

[20] Fukui Fukui Fumimasa 福井文雅 (1987). Hannya shingyō no rekishiteki kenkyū 般若心経の歴史的研究. 東京: 春秋社. 

[21] Mời độc giả vào thế giới Internet nghe thử các bài tụng kinh Tâm Kinh của các Lạt Ma trên Hy Mã Lạp Sơn hoặc xem các bài Tâm Kinh Hip-hop vui nhộn hay hợp xướng nghiêm trang trên sân khấu broadway với các ca sĩ và các dàn nhạc giao hưởng danh tiếng.

[22] Xem Nāgārjuna and the Quantum World.

[24] Muller, Max, ed. Buddhist Texts from Japan, Oxford: Clarendon Press 1881

[25] Tam Tạng Hán Ngữ này được gọi là Gorye Tripitaka (Cao Ly Tạng) lần đầu được khắc năm 1011 dưới triều đại của vương triều Goryeo (高麗 Cao Li) và hoàn tất vào năm 1087. Bộ đại tạng này bị tiêu hủy trong cuộc xâm lăng của Mông Cổ năm 1232. Đến năm 1251 mới được khắc lại.

[26] Fukui, Fumimasa-Bunga. Hannya Shingyo no Sagoteki Kenkyu (Comprehensive Study of the Heart Sutra) Tokyo: Shunjusha, 2000

[27] Theo truyền thuyết thì khi vua Quang Trung (vua giả?) khi đến triều kiến vua Càn Long, cũng được tặng cho một bản ngự bút của Càn Long chép Bát Nhã Tâm Kinh như bản này. Việt Nam thì kinh luận Phật học đều có nói đến Bát Nhã Tâm Kinh. Tuy nhiên cho đến nay chúng ta chỉ còn biết đến bản chú giải quốc âm cổ nhất có tên là Bát Nhã Tâm Kinh Thích Giải của ngài Minh Châu Hương Hải (1628-1715) của dòng Trúc Lâm Yên Tử.

Nguồn: Thư Viện Hoa Sen


 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 169885)
01/04/2012(Xem: 16711)
08/11/2018(Xem: 1528)
08/02/2015(Xem: 25972)
10/10/2010(Xem: 99732)
10/08/2010(Xem: 103430)
08/08/2010(Xem: 107822)
21/03/2015(Xem: 11633)
27/10/2012(Xem: 56503)
Tôi đã từng viết 1 bài có tựa đề “Đức cha tuyệt vời ở Tây Ban Nha thờ Quan Thế Âm Bồ Tát” và nhận được rất nhiều động viên và cổ cũ của quý vị bạn đọc cũng như quý Phật tử. Nay lại có một chuyện khác về một vị cha người Nga nữa.
Chào đón xuân Kỷ Hợi, năm 2019, Phật lịch 2563, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tôi có lời thăm hỏi ân cần và lời chúc mừng năm mới đại hoan hỷ, vô lượng an lạc, vô lượng cát tường tới toàn thể các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chư Tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài.
Hội Đồng Giáo Phẩm Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ xin nhất tâm Chúc Tết đến chư tôn Thiền Đức Tăng Ni cùng toàn thể quí Thiện Tín, Cư Sĩ, Phật tử, Đồng hương được nhiều thuận duyên và phước lạc. Xin chư Phật, chư Tổ, Hồn Thiêng Dân tộc độ trì cho chúng con làm rực sáng một Đạo Phật nơi quê hương mới.