Phật Giáo Yếu Luận Tập I (Sách Song Ngữ Vietnamese-English PDF)

12/03/20215:00 CH(Xem: 5855)
Phật Giáo Yếu Luận Tập I (Sách Song Ngữ Vietnamese-English PDF)

THIỆN PHÚC
PHẬT GIÁO YẾU LUẬN
ESSENTIAL BUDDHIST ESSAYS
TẬP I | VOLUME I

Phật Giáo Yếu Luận - 1- Thiện Phúc

Copyright © 2021 by Ngoc Tran. All rights reserved.

No part of this work may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying and recording, or by any information storage or retrieval system without the prior written permission of the author, except for the inclusion of brief quotations. However, staff members of Vietnamese temples who want to reprint this work for the benefit of teaching of the Buddhadharma, please contact Ngoc Tran at (714) 778-2832.

 

MỤC LỤC TẬP I

Table of Content of Volume I

 

Mục Lục—Table of Content  
Lời Đầu Sách—Preface    
Luận Thứ Nhất—The First Essay: Sự Thành Hình Phật Giáo—The Formation of Buddhism 
I.      Thời Kỳ Tiền Phật Giáo Trên Thế Giới—The World During the Pre-Buddhism 
II.     Sự Thành Hình Phật Giáo—The Formation of Buddhism
Luận Thứ Nhì—The Second Essay: Đức Phật—The Buddha  
I.      Tổng Quan Về Thuật Ngữ Phật—An Overview of the Term Buddha
II.     Phật Đản Sanh—Buddha’s Birth Day
III.    Thiên Thượng Thiên Hạ Duy Ngã Độc Tôn—In the Heavens Above and Earth Beneath I Alone Am the Honoured One
IV.   Đại Sự Nhân Duyên—For the Sake of a Great Cause
V.    Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni—The Historical Buddha Sakyamuni
VI.   Bốn Cảnh Làm Thay Đổi Cuộc Đời Đức Phật—Four Sights which Changed the Buddha’s Life
VII.  Sáu Năm Khổ Hạnh của Đức Phật—Six Years of Ascetic Praticing of the Buddha
VIII. Hình Ảnh Đức Phật qua Kinh Pháp Cú—The Image of the Buddha in the Dharmapada Sutra
IX.   Bài Pháp Đầu Tiên—First Sermon
X.    Bức Thông Điệp Vô Giá của Đức Phật—The Priceless Message From the Buddha
Luận Thứ Ba—The Third Essay: Đạo Phật—Buddhism 
I.      Tổng Quan & Ý Nghĩa của Đạo Phật—An Overview & the Meanings of Buddhism
II.     Đạo Phật Có Phải Là Tôn Giáo Vô thần Hay Không?—Is Buddhism Atheistic?
III.    Đạo Phật Luôn Được Xây Dựng Trên Trí Tuệ của Con Người—Buddhism Is Always Based on Human Inner Wisdom
IV.   Đạo PhậtTôn Giáo của Chân Lý và  Triết Lý Sống Động—Buddhism Is A Religion of the Truth and A Living Philosophy
V.    Cốt Lõi Đạo Phật—Cores of Buddhism
VI.   Lý Tưởng Phật Giáo—Ideal of Buddhism
VII. Những Vấn Đề Siêu Hình Trong Đạo Phật—Metaphysical Issues in Buddhism
VIII. Đạo PhậtÝ Niệm về Hình Tượng Phật—Buddhism and Buddha’s Statues and Images
IX.   Đạo PhậtQuan Niệm về Nguyên Nhân Đầu Tiên—Buddhism and the Concept of First Cause
X.    Quan Niệm Linh Hồn Trong Phật Giáo—The Concept of a Soul in Buddhism
XI.   Giáo Dục Trong Phật Giáo—Education in Buddhism
XII. Đạo Phật và Việc Thờ Cúng Tổ Tiên—Buddhism and Ancestor Worship
XIII. Đạo Phật và Cái Đẹp—Buddhism and Beauty
XIV. Đạo Phật Bi Quan hay Lạc Quan?—Is Buddhism Pessimism or Optimism?
XV. Đạo Phật và Triết Học—Buddhism vs Philosophy
XVI. Phật Giáo và Khoa Học—Buddhism and Science
XVII. Thế Giới Hòa Bình và Chiến Tranh theo Quan Điểm Đạo Phật—World of Peace and War in Buddhist Point of View
XVIII. Tánh Thực Tiễn của Phật Giáo—Pragmatism of Buddhism
XIX. Quan Niệm của Phật Giáo về Tiền Định—Buddhist Concept on Fate
XX. Phật Giáo và Tri Thức—Buddhism and Epistemology
XXI. Phật Giáo và Cái Gọi Là “Đấng Sáng Tạo”—Buddhism and a So-Called “Creator”
XXII. Chư Ác Mạc Tác, Chúng Thiện Phụng Hành, Tự Tịnh Kỳ Ý—Do no Evil, to Do Only Good, to Purify the Mind
XXIII.Hạnh Phúc Theo Quan Điểm Đạo Phật—Happiness in Buddhist Points of View
XXIV. Hôn Nhân Theo Quan Điểm Phật Giáo—“Marriage” According to the Buddhist Point of View
XXV. Nhân Sinh Quan của Đạo Phật—Buddhist Outlook on Life
XXVI. Vũ Trụ Quan Phật Giáo—Buddhist Cosmology
Luận Thứ Tư—The Fourth Essay: Niềm Tin Trong Đạo Phật—Faith In Buddhism 
I.      Niềm Tin Trong Đạo Phật—Faith in Buddhism
II.     Mê Tín Dị Đoan—Superstition
III.    Đạo Phật Chết—Dead Buddhism
Luận Thứ Năm—The Fifth Essay: Vị Trí Con Người Trong Tôn Giáo—Man’s Place in Religions
I.      Chúng Sanh Con Người—Human Beings
II.     Sanh Làm Người Là Khó—It’s Difficult to Be Reborn as a Human Being
III.    Kiếp Nhân Sinh—Human’s Life
IV.   Vị Trí Của Con Người Trong Tôn Giáo—Man’s Place in Religion
Luận Thứ Sáu—The Sixth Essay: Tứ Diệu Đế—The Four Noble Truths 
I.      Tổng Quan Về Tứ Diệu Đế—An Overview of the Four Noble Truths
II.     Khổ Đế—Suffering
III.    Tập Đế—Accumulation of Suffering
IV.   Diệt Đế—Cease of Suffering
V.    Đạo Đế—The Path leading to the end (extinction) of Suffering
Luận Thứ Bảy—The Seventh Essay: Tam Pháp Ấn—Three Dharma Seals
I.      Tổng Quan Về Tam Pháp Ấn—An Overview of three Dharma Seals
II.     Vô Thường—Impermanence
III.    Khổ—Sufferings
IV.   Vô Ngã—No-Self
Luận Thứ Tám—The Eighth Essay: Khổ Đau Theo Quan Điểm Phật Giáo—Sufferings in Buddhist Point of View 
I.      Đời Là Biển Khổ—Life Is A Sea of Sufferings
II.     Thân Khổ, Tâm Khổ, Cảnh Khổ—Bodily Suffering, Mental Suffering, and the Suffering of the Environment
III.    Bát Khổ—Eight Kinds of Sufferings
Luận Thứ Chín—The Ninth Essay: Bát Thánh Đạo—The Noble Eightfold Path 
I.      Tổng Quan Về Bát Thánh Đạo—An Overview of The Noble Eightfold Path
II.     Sơ Lược Nội Dung Bát Thánh Đạo—A Summary of the Noble Eightfold Path
1.     Chánh Kiến—Right Understanding
2.     Chánh Tư Duy—Right Thought
3.     Chánh Ngữ—Right Speech
4.     Chánh Nghiệp—Right Action
5.     Chánh Mạng—Right Livelihood
6.     Chánh Tinh Tấn—Right Effort
7.     Chánh Niệm—Right Remembrance
8.     Chánh Định—Right Concentration
Luận Thứ Mười—The Tenth Essay: Mười Hai Nhân Duyên—The Twelve Links of Dependent Origination 
I.      Tổng Quan Và Ý Nghĩa Của Mười Hai Nhân Duyên—An Overview and Meanings of the Twelve Links of Dependent Origination
II.     Tóm Lược Nội Dung Của Mười Hai Nhân Duyên—A Brief Content of the Twelve Links of Dependent Origination
III.    Lời Phật Dạy Về Tiến Trình Của Mười Hai Nhân Duyên—The Buddha's Teachings on the Process of the Twelve Links of Dependent Origination
IV.   Đức Phật Dạy Rằng Tận Diệt Vô Minh Cũng Có Nghĩa Là Chấm Dứt Mười Hai Mắc Xích Nhân Duyên—The Buddha Taught That the Eradication of Ignorance Also Meant to Stop the Twelve Links of Dependent Origination
Luận Thứ Mười Một—The Eleventh Essay: Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo—Thirty Seven Aids to Enlightenment
I.      Tổng Quan Về Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo—An Overview of Thirty Seven Aids to Enlightenment
II.     Sơ Lược Về Nội Dung Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo—A Summary of Thirty Seven Aids to Enlightenment
A.    Thất Bồ Đề Phần—The Seven Bodhi Shares
B.    Tứ Chánh Cần—Four Right Efforts
C.    Tứ Như Ý Túc—Four Sufficiences
D.    Ngũ Căn—The Five Faculties
E.    Ngũ Lực—The Five Powers
F.    Tứ Niệm Xứ—Four Subjects to Be Contemplated
G.    Bát Thánh Đạo—Eightfold Noble Path
Luận Thứ Mười Hai—The Twelfth Essay:Lục Độ Ba La Mật—The Six Paramitas
I.      Tổng Quan Về Lục Độ Ba La Mật—An Overview of The Six Paramitas
II.     Sơ Lược Về Nội Dung Lục Độ Ba La Mật—A Summary of The Six Paramitas
1.     Bố Thí—Almsgiving (Charity)
2.     Trì Giới—Observation of Precepts
3.     Tinh Tấn—Right Effort
4.     Nhẫn Nhục—Endurance
5.     Thiền Định—Meditation
6.     Trí Huệ—Wisdom
Luận Thứ Mười Ba—The Thirteenth Essay: Nhân-Duyên-Quả—Causes-Conditions-Effects 
(A)  Nhân—Cause 
I.      Tổng Quan Về Nhân—An Overview of Causes
II.     Các Loại Nhân Trong Giáo Thuyết Phật Giáo—Categories of Causes in Buddhist Teachings
III.    Nhân Sanh Tử—Causes of Birth and Death
(B)  Duyên—Condition
I.     Tổng Quan Về Duyên—An Overview and Meanings of Conditions (Pratyaya)
II.     Nguyên Lý Duyên Khởi—The Principle of Causation
III.    Thập Nhị Nhân Duyên—The Twelve Conditions of Cause-and-Effect
IV.   Trùng Trùng Duyên Khởi—Interbeing Endlessly Interwoven
(C)  Quả—Effect 
I.      Tổng Quan Và Ý Nghĩa Của Quả Báo—An Overview and Meanings of Effects
II.     Quả BáoRecompensations
III.    Năm Loại Quả Báo—Five Fruits or Effects
IV.   Sáu Loại Quả Báo—Six Recompensations
(D)  Đặc Điểm Của Nhân Quả—Special Characters of Cause and Effect 
I.      Đặc Điểm Của Nhân Quả—Special Characters of Cause and Effect
II.     Bốn Quan Điểm Về Nhân Quả Trong Phật Giáo—Four Views of Causality In Buddhism
III.    Thập Nhân Thập Quả—Ten Causes and Ten Effects
IV.   Nhân Quả Trong Đời Này Và Những Đời Tương Lai—Cause and Effect in the Present and Future Lives
(E)   Sự Liên Hệ Giữa Nhân-Duyên-Quả—The Relationships Among Causes-Conditions-Effects
I.      Đạo Phật Khác Với Các Tông Giáo Khác Ở Giáo Lý Cốt Lõi Về Nhân-Duyên-Quả—Buddhism Is Different From Other Regilions on the Core Teachings of Causes & Conditions &Effects
II.     Dây Chuyền Nhân-Duyên-Quả—The Chain of Cause-Condition-Effect
(F)   Quan Điểm Của Bồ TátChúng Sanh Về Nhân Quả—Bodhisattvas' and Sentient Beings' Point of View on Cause and Effect 
I.      Bất Muội Nhân Quả--Bất Lạc Nhân Quả—Not Being Unclear about Cause and Effect-Not Falling Subject to Cause and Effect
II.     Bồ Tát Sợ Nhân, Chúng Sanh Sợ Quả—Bodhisattva Fears of Causes, Ordinary People Fear of Results
Luận Thứ Mười Bốn—The Fourteenth Essay: Nghiệp Báo—Actions & Recompenses
(A) Nghiệp—Actions
I.      Tổng Quan Về Nghiệp—An Overview of Karma
II.    Ý nghĩa Của Nghiệp—Meanings of Actions (Karmas)
III.   Tập Khí—Remnants of Habits
IV.   Tam Nghiệp Thân-Khẩu-Ý—Three Kinds of Karma on Body-Mouth-Mind:
1.    Thân Nghiệp—Karma of the Body
2.     Khẩu Nghiệp—Karma of the Mouth
3.    Ý Nghiệp—Karma of the Mind
V.    Mười Ác Nghiệp—Ten Evil Actions
VI.   Mười Thiện Nghiệp—Ten Wholesome Actions
VII.  Ai Chịu Trách Nhiệm Cho Nghiệp—Who Is Responsible for the Karma? 
1.    Chúng Ta Chịu Trách Nhiệm Cho Nghiệp Của Chính Mình—We Are Responsible for Our Own Karmas
2.     Tạo Nghiệp Bằng Cách Tự Tác Giáo Tha—To Create Karma by Doing Things by Oneself and Telling Others to Do
3.     Tạo Nghiệp Bằng Cách “Kiến Văn Tùy Hỷ”—To Create Karma by “Rejoicing at Seeing and Hearing It Done”
(B)  Báo—Recompenses 
I.      Ý Nghĩa Của Báo—The Meanings of Recompenses
II.    Phân loại Báo—Categories of Recompenses
1.     Hai loại báo ứng—The dual reward
2.     Ba loại báo ứng (Nhân quả ba đời)—Three recompenses  
3.     Bốn loại báo ứng—Four kinds of retribution
Luận Thứ Mười Lăm—The Fifteenth Essay: Lòng Yêu ThươngBốn Tâm Vô Lượng Trong Phật Giáo—Love and Four Immeasurable Minds in Buddhism
(A) Lòng Yêu Thương Trong Phật Giáo—Love in Buddhism
I.      Tổng Quan Về Lòng Yêu Thương Trong Phật Giáo—An Overview of Love in Buddhism
II. Các Loại Yêu Thương Theo Quan Điểm Phật Giáo—Different Kinds of Love in Buddhist Point of View
III.    Lòng Yêu Thương Và Bi Mẫn Trong Phật Giáo—Love and Compassion in Buddhism
IV.   Thương Yêu Và Dục Vọng—Love and Desire
V.    Những Lời Phật Dạy Về Lòng Thương Yêu—The Buddha’s Teachings on Loving
(B) Bốn Tâm Vô Lượng—Four Immeasurable Minds 
I.      Tổng Quan Và Ý Nghĩa Của Tâm—An Overview and the Meanings of Citta
II.     Sơ Lược Về Bốn Tâm Vô Lượng—A Summary of the Four Immeasurable Minds
III.    Chi Tiết Về Bốn Tâm Vô Lượng—Details of the Four Immeasurable Minds
1) Từ Vô Lượng Tâm—Immeasurable Mind of Loving Kindness
2) Bi Vô Lượng Tâm—Immeasurable Compassion Mind
3) Hỷ Vô Lượng Tâm—Immeasurable Mind of Inner Joy
4) Xả Vô Lượng Tâm—Immeasurable Mind of Detachment
Luận Thứ Mười Sáu—The Sixteenth Essay: Thất Tình Lục Dục—Seven Emotions & Six Desires
I.      Thất Tình—Seven Emotions
II.     Lục Dục—Six Desires
Luận Thứ Mười Bảy—The Seventeenth Essay: Phiền Não Tức Bồ Đề—Afflictions Are Bodhi
I.      Nghĩa Của Phiền Não—The Meanings of Afflictions
II.     Hàng Phục Phiền Não—Subduing Afflictions
III.    Phiền Não Tức Bồ Đề—Afflictions Are Bodhi
Luận Thứ Mười Tám—The Eighteenth Essay: Duyên Khởi Luận—The Theory of Causation 
I.      Tổng Quan Và Ý Nghĩa Của Duyên—An Overview and Meanings of Conditions
II.     Từ Đâu Mà Có Duyên Khởi?—From Where Does Causation Arise?
III.    Pháp Duyên Khởi—The Dependent Arising Dharma
IV.   Duyên Khởi Luận—The Theory of Causation
V.    Tứ Duyên Khởi—Four Kinds of Causation
Luận Thứ Mười Chín—The Nineteenth Essay: Tái Sanh—Rebirth 
I.      Tổng Quan Về Tái Sanh—An Overview of Rebirth
II.     Tái Sanh—Rebirth
III.    Thức Tái Sanh—Rebirth Consciousness
IV.   Thân Tiền Hữu—Antecedent Existence Body
V.    Thân Trung Hữu—Intermediate Existence Body
Luận Thứ Hai Mươi—The Twentieth Essay: Sanh-Tử-Luân Hồi—Birth-Death-Reincarnation 
(A)   Sanh Tử—Birth and Death 
(B)   Luân Hồi—Reincarnation  
(C)  Sau Khi Chết Và Sau Kiếp Sống Này—After Death and After This Life
Tài Liệu Tham Khảo—References 

Lời Đầu Sách

 

      Đức Phật xuất hiện vì một đại sự nhân duyên: Khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật, hay là giác ngộ theo kinh Pháp Hoa, Phật tánh theo kinh Niết Bànthiên đường cực lạc theo kinh Vô Lượng Thọ. Tưởng cũng nên nhắc lại, khoảng 25 thế kỷ về trước, một con người vĩ đại đã từ bỏ cuộc sống trong cung vàng điện ngọc để làm một du Tăng khất sĩ khổ hạnh ở vùng mà ngày nay là miền Bắc Ấn Độ. Điều này tự nó không lấy gì làm độc đáo: nhiều người khác cũng đi tìm giải thoát tâm linh trong rừng sâu núi thẳm. Sau khi giác ngộ, trong bài pháp đầu tiên, đức Phật đã thuyết giảng về Tứ Diệu Đế. Một cách căn bản, những chân lý này giải thích những lý do tại sao cuộc đời của chúng ta lại đầy những căng thẳng, thất vọng và khổ đau phiền não; và tại sao chúng ta, những chúng sanh con người, lại phải mắc kẹt và đấu tranh như ngọn lửa bám vào củi để mà cháy. Đức Phật cũng đã trao cho chúng ta phương cách chữa trị, đó là Bát Thánh Đạo. Đồng thời, đức Phật cũng đưa ra con đường giải thoát dẫn tới cứu cánh Niết Bàn.

      Trong quá trình tìm kiếm chân lýđức Phật đã tuyên thuyết đã đem lại những câu trả lời được truyền lại hết từ thế hệ này sang thế hệ khác và được giải thích tỉ mĩ, làm sáng tỏ, và được giải thích trở lại để thành hình một trong những truyền thống tín ngưỡng đương thời tuyệt vời nhất. Trong thực tế, Phật giáo còn vượt xa hơn một tôn giáo bình thường: tác động tôn giáo và nền văn hóa của nó qua hàng thế kỷ đã vang dội khắp vùng Nam và Đông Nam Châu Á và gần đây là ở Tây phương, truyền thống này trở nên thật rộng lớn và biến đổi đến nỗi khiến cho những người có cái nhìn thoáng qua hời hợt dường như cho nó có vẻ rời rạc hơn là liên tục. Tuy vậy, phía sau nhiều sự thiếu hợp lý là một dòng liên kết quen thuộc mà người ta có thể nhận ra. Tất cả những hình thức của Phật giáo đều có chung những cội rễ và tất cả đều được thúc đẩy bởi sự tìm kiếm để đạt được một trạng thái mãn nguyện bền vững lâu dài nhờ sự phát triển tâm linhđạo đức. Tất cả đều liên quan đến một con đường nào đó đi đến sự chứng nghiệm giác ngộ của một con người, con người ấy được gọi là Phật. Đạo Phật xuất hiệnẤn Độ vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch và tất cả những hình thức biến đổi của nó có thể lần ra từ cội nguồn này. Theo lịch sử thời cổ đại của Ấn Độ, sự khởi đầu mang tính lịch sử chính xác của truyền thống  có một chút gì không rõ ràng lắm, vì vào thời đó khắp xứ Ấn Độ có quá nhiều vương quốc nhỏ. Tuy nhiên, không còn nghi vấn gì về chuyện vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch, có một vị thầy với khả năng đặc biệt để thu hút môn đệ, có thể là thành viên của dòng tộc Thích Ca trong thành Ca Tỳ La Vệ, ngày nay thuộc vương quốc Népal, bắt đầu thuyết giảng một phương cách giải quyết mới về vấn đề cứu độ đã có từ lâu trước đó.

      Người ta cho rằng giáo lý của Ngài là phản ứng đối với nền văn hóa thống trị Bà La Môn vào thời đại của Ngài, được tập trung vào hệ thống giáo lý Vệ Đà và những tục lệ tế thần được giai cấp giáo sĩ Bà La Môn tiến hành. Kỳ thật không phải như vậy, giáo lý của Đức Phật rất đơn giản, nó biểu thị lòng nhân ái của con người đối với con người. Điều quan trọng nhất trong đạo Phật là một tâm hồn thanh cao, một trái tim đôn hậu và những cảm xúc nồng ấm. Đức Phật tin rằng mỗi người đều có một cơ hội để chuyển hóagiác ngộthành quả tối thượng của mỗi người. Tuy vậy, Phật giáo cũng tác động đến đời sống tín ngưỡngtri thức của Ấn Độ hơn 16 thế kỷ. Nó có một vai trò cơ bản trong việc xác định rõ nền văn hóa Ấn Giáo, và một trong những thế kỷ đầu của nó nó thật sự làm cho người ta bối rối trong xã hội Ấn Độ (cùng với những giáo lý tâm linh khác trong tiểu lục địa Ấn Độ) chính điều này dẫn đến sự suy nghĩ lệch lạc của người ta về nó như là một phong trào cải cách về ý thức bản thân. Phật giáo trở thành một tôn giáo có cơ sở tu viện, hưởng được sự bảo trợ của hoàng gia, nhưng vào khoảng thế kỷ thứ 8 nó gánh chịu sức ép của Ấn Độ giáo đang phục hưng. Sự suy tàn của nó xuống nhanh do bởi sự xâm lăng của Hồi giáo từ phương Bắc vào thế kỷ thứ 7 và sức ép này tiếp tục gia tăng trong suốt 8 thế kỷ sau đó. Với sự cướp phá tàn nhẫn những trường đại học lớn của Phật giáo vào cuối thế kỷ thứ 12, từ đó Phật giáo hoàn toàn biến mất ở Ấn Độ. Giáo lý của Đức Phật chưa bao giờ dành riêng cho một giai cấp hay một khu vực địa lý nào. Đức Phật và những môn đệ của Ngài đi khắp vùng Bắc Ấn trong suốt mùa khô, rất lâu trước khi đạo Phật biến mất ở Ấn Độ, các nhà sư Phật giáo và khách lữ hành đã mang Phật giáo đi đến khắp các miền Á Châu, từ Sri Lanka, Miến Điện, Cao Miên, Lào, Trung quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan và Việt Nam, nhưng một số ít của các nơi có truyền thống này bám rễ vững chắc. Phật giáo đặc biệt dễ đáp ứng để mở rộng do bởi tính cách phổ biến của giáo pháp của Đức Phật. Chân lý của Ngài được dành cho mọi người, bất kể địa vị xã hội hoặc tầng lớp thu hút họ đi theo con đường dẫn đến giác ngộ và sự diệt khổ. Không có mối liên kết một nơi đặc biệt cũng không thuộc một tầng lớp thượng lưu độc quyền, đạo Phật thường xuyên tìm cách kết hợp chặt chẽ với phong tục địa phương và những đức tin đó được kết hợp với đời sống xã hội. Chính điều này đã làm cho Phật giáo rất ảnh hưởngtrở thành một truyền thống vô cùng đa dạng, tuy thế nó vẫn tìm cách giữ gìn cốt lõi giáo pháp của mình.

      Dù Đức Phật đã nhập diệt, nhưng trên 2.500 năm sau những giáo thuyết của Ngài vẫn còn tế độ  rất nhiều người, gương hạnh của Ngài vẫn còn là nguồn gợi cảm cho nhiều người, và những lời dạy dỗ của Ngài vẫn còn tiếp tục biến đổi nhiều cuộc sống. Chỉ có Đức Phật mới có được oai lực hùng mạnh tồn tại sau nhiều thế kỷ như thế ấy. Đức Phật không bao giờ tự xưng rằng Ngài là một thần linh, là con của thần linh, hay là sứ giả của thần linh.  Ngài chỉ là một con người đã tự cải thiện để trở nên toàn hảo, và Ngài dạy rằng nếu chúng ta noi theo gương lành ấy chính ta cũng có thể trở nên toàn hảo như Ngài. Ngài không bao giờ bảo đệ tử của Ngài thờ phượng Ngài như một thần linh.  Kỳ thật Ngài cấm chỉ đệ tử Ngài làm như vậy. Ngài bảo đệ tử là Ngài không ban phước cho những ai thờ phượng Ngài hay giáng họa cho ai không thờ phượng Ngài. Ngài bảo Phật tử nên kính trọng Ngài như một vị Thầy.

       Kỳ thật, từ xa xưa lắm, con người nguyên thủy tự thấy mình sống trong một thế giới đầy thù nghịch và hiểm họa. Họ lo sợ thú dữ, lo sợ không đủ thức ăn, lo sợ bệnh hoạn và những tai ương hay hiện tượng thiên nhiên như giông gió, bão tố, núi lửa, sấm sét, vân vân. Họ không cảm thấy an toàn với hoàn cảnh xung quanh và họ không có khả năng giải thích được những hiện tượng ấy, nên họ tạo ra ý tưởng thần linh, nhằm giúp họ cảm thấy thoải mái tiện nghi hơn khi sự việc trôi chảy thuận lợi, cũng như có đủ can đảm vượt qua những lúc lâm nguy, hoặc an ủi khi lâm vào cảnh bất hạnh, lại cho rằng thượng đế đã sắp đặt an bài như vậy. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, người ta tiếp tục niềm tin nơi “thượng đế” từ cha anh mình mà không cần phải đắn đo suy nghĩ. Có người cho rằng họ tin nơi thượng đếthượng đế đáp ứng những thỉnh nguyện của họ mỗi khi họ lo âu sợ hãi. Có người cho rằng họ tin nơi thượng đếcha mẹ ông bà họ tin nơi thượng đế. Lại có người cho rằng họ thích đi nhà thờ hơn đi chùa vì những người đi nhà thờ có vẻ sang trọng hơn những người đi chùa. Phật giáo thì ngược lại với những niềm tin vừa kể trên. Kỳ thật, đạo Phật không phải là một hệ thống về niềm tin, mà đạo Phật chính là ngọn đèn khiến cho người ta có thể thấy được chân lý, con đường của sự thực hành để giúp chúng ta buông xả sự dính mắc và ngừng đấu tranh ngay chính trong tâm của mình.

     Chính vì những nét đặc thù vừa kể trên mà giáo pháp nhà Phật trở nên vô cùng đặc biệt. Tuy nhiên, cũng chính vì vậygiáo pháp ấy cũng là một vấn đề không dễ lãnh hội như những giáo pháp khác. Cuộc hành trình của người tu Phật đòi hỏi nhiều cố gắnghiểu biết liên tục. Chính vì thế mà mặc dù hiện tại đã có quá nhiều sách viết về Phật giáo, tôi cũng mạo muội biên soạn bộ “Phật Giáo Yếu Luận” song ngữ Việt Anh nhằm giới thiệu giáo lý nhà Phật một cách tổng quát cho Phật tử ở mọi trình độ, đặc biệt là những người sơ cơ. Những mong sự đóng góp nhoi nầy sẽ mang lại lợi lạc cho những ai mong cầu có được cuộc sống an bình, tỉnh thứchạnh phúc.

 Thiện Phúc

 

 

Preface

 

      The Buddha appeared, for the changing beings from illusion into enlightenment (according to the Lotus Sutra), or the Buddha-nature (according to the Nirvana Sutra), or the joy of Paradise (according to the Infinite Life Sutra). It should be noted that some twenty-five centuries ago a great man took up the life of a wandering ascetic in what is today Northern India. This in itself was not a unique event: many others also sought spiritual liberation walking in the deep forests and high mountains. In the first sermon after His enlightenment, the Buddha preached the Four Noble Truths. Basically, these Truths explain the reasons why our life is full of stresses, disappointments, sufferings and afflictions; and why we, human beings, are stuck and struggling like a flame stuck to fuel. The Buddha also gave us the remedy, which is the Eightfold Noble Path. At the same time, the Buddha also offered the path to liberation that leads to the final Nirvana.

      The Buddha’s quest resulted in answer that have been handed down to successive generations and, in the process, have been elaborated, interpreted and reinterpreted to form one of the greatest living religious traditions. In fact, Buddhism is much more than a religion: its cultural and philosophical impact has for centuries reverberated throughout South and Southeast Asia and, more recently, in the West. The tradition has become so vast and diverse that a superficial glance seems to reveal more disparity than continuity. Nevertheless, behind the many incongruities there is a recognizable common thread. All forms of Buddhism share the same roots and all are motivated by the quest to attain a long-lasting state of contentment through mental, spiritual and moral development. All relate in some way to the enlightenment experience of one man, who is known as the “Buddha.” Buddhism began in India in the 5th century B.C. and all its variants can be traced to these origins. According to ancient Indian history, the precise historical beginning of the tradition is somewhat obscure, for at that time there were so many small kingdoms all over India. However, there is no question that around the 5th century B.C., an exceptionally charismatic teacher, probably a member of the Sakya clan in Kapilavastu, in present day Nepal, began to preach a new approach to the age-old problem of salvation.

      It has been suggested that the Buddha's teaching was a reaction to the dominant “Brahmanical” culture of his time, which centered on the Vedas and on the sacrificial practices that were carried out by the priestly class. As a matter of fact, Buddhism is very simple. This religion is a demonstration of kindness towards other human beings. The most important thing in Buddhism is a good mind and warm feelings. The Buddha believes that each individual has an opportunity to change his own life and enlightenment is the utmost achievement of everybody. However, Buddhism exerted an enormous influence on the intellectual, religious and cultural life of India for more than sixteen centuries. It played a formative part in defining Hindu culture  and, during its first centuries, was so enmeshed in Indian society (together with other spiritual teachings of the subcontinent) that it is misleading to think of it as a self-conscious reformist movement. Buddhism became established as a monastic religion, enjoying spells of royal patronage, but around the 8th century it came under pressure from a resurgent Hinduism. Its decline was precipitated by Muslim invasions from the North, which began in the 7th century and gradually intensify during the following eight centuries. With the ruthless sacking of the great Buddhist universities at the end of the 12th century, Buddhism all but disappeared from India. The teachings of Buddhism have never been exclusive to one class or limited to one geographical area. The Buddha and his monks spent the dry months wandering in what is today northern India and, long before Buddhism’s disappearance from India, their beliefs were carried by monks and travelers all over Asia, to Sri Lanka, Burma, Cambodia, Laos, China, Japan, Korea, Thailand, Tibet and Vietnam, to name but few of the places where the tradition has taken root. Buddhism is particularly amenable to expansion because of the universality of the Buddha’s teaching. His Dharma (Truth) is designed to appeal to every individual, regardless of rank or class, inviting him or her to follow the path leading to enlightenment and the cessation of suffering. Being linked to neither a specific place nor a single society, Buddhism has generally managed to incorporate the local customs and beliefs that it has encountered in its expansion, especially that are traditionally associated with the social life. This has opened up Buddhism to a host of influence and has resulted in a greatly varied tradition, which nevertheless manages to preserve the core of its teaching.

      Even though the Buddha is dead but 2,500 years later his teachings still help and save a lot of people, his example still inspires people, his words still continue to change lives. Only a Buddha could have such power centuries after his death. The Buddha did not claim that he was a god, the child of god or even the messenger from a god. He was simply a man who perfected himself and taught that if we followed his example, we could perfect ourselves also. He never asked his followers to worship him as a god. In fact, He prohibited his followers to praise him as a god. He told his followers that he could not give favors to those who worship him with personal expectations or calamities to those who don’t worship him. He asked his followers to respect him as students respect their teacher.

       In fact, a long time ago, when primitive man found himself in a dangerous and hostile situations, the fear of wild animals, of not being able to find enough food, of diseases, and of natural calamities or phenomena such as storms, hurricanes, volcanoes, thunder, and lightning, etc. He found no security in his surroundings and he had no ability to explain those phenomena, therefore, he created the idea of gods in order to give him comfort in good times, courage in times of danger and consolation when things went wrong. They believed that god arranged everything. Generations after generations, man continues to follow his ancestors in a so-called “faith in god” without any further thinkings. Some says they in believe in god because god responds to their prayers when they feel fear or frustration.  Some say they believe in god because their parents and grandparents believed in god. Some others say that they prefer to go to church than to temple because those who go to churches seem richer and more honorable than those who go to temples. Buddhism is contrary to the above mentioned faith or belief. As a matter of fact, Buddhism is not so much a belief system, but it is a light that enables people to see the Truth; it is the path of practices that enables us to stop our own attachments and struggles.

      For these reasons, the Buddhist Dharma becomes exceptionally special; however, it is also a matter not easily comprehensible. The Buddhist practitioners' journey demands continuous efforts with right understanding and practice. Presently even with so many books available on Buddhism, I venture to compose this booklet titled “Essential Essays Of Buddhism” in Vietnamese and English to introduce general and basic things in Buddhism to all Vietnamese Buddhist followers, especially Buddhist beginners, hoping this little contribution will help Buddhists in different levels to understand on how to achieve and lead a life of peace, mindfulness, and happiness.

                                                                       

Thiện Phúc

pdf_download_2
Phật Giáo Yếu Luận -1 - Thiện Phúc








Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 180213)
01/04/2012(Xem: 25656)
08/11/2018(Xem: 6173)
08/02/2015(Xem: 37140)
25/07/2011(Xem: 102925)
Thật sự ai có chút từ tâm hẳn cũng phải nghẹn thở khi nhìn hình ảnh người cảnh sát da trắng đè gối lên cổ người da đen cho đến chết, mặc lời van xin thảm thiết.
Nguồn gốc của Chủ nghĩa Dân tộc Phật giáo bắt nguồn từ quá khứ, Myanmar đã trở thành thuộc địa nằm dưới sự kiểm soát, cai trị của thực dân đế quốc Anh vào năm 1824. Chính quyền thuộc địa đã rút lại sự hỗ trợ truyền thống của nhà nước đối với các cơ sở tự viện tôn giáo, thúc đẩy giáo dục thế tục, đàn áp các truyền thống Phật giáo và khuyến khích hoạt động truyền giáo của đạo Cơ Đốc.
Chuyện dài tranh chấp sở hữu chùa Bảo Quang, Santa Ana, kể từ sau khi hòa thượng viện chủ viên tịch, vừa được Tòa Thượng Thẩm California ở Orange County ra phán quyết kết thúc hôm Thứ Hai, 22 Tháng Ba.