Chương 1: Cuộc đời đức Phật lịch sử

07/05/20215:41 SA(Xem: 264)
Chương 1: Cuộc đời đức Phật lịch sử
VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC VIỆT NAM
PHẬT ĐIỂN THÔNG DỤNG:
LỐI VÀO TUỆ GIÁC PHẬT
Chủ biên bản dịch tiếng Việt
THÍCH NHẬT TỪ
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO 2021

PHẦN I: CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT

CHƯƠNG I
CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT LỊCH SỬ

  

SỰ THỤ THAI, RA ĐỜI VÀ CUỘC SỐNG THUỞ ĐẦU ĐỜI

L.1 Sự ra đời kỳ diệu của bậc đại nhân

đây, đức Phật bảo ngài Ānanda, vị đệ tử thị giả chính của Ngài. Đức Phật, lúc trước đã nói về nhiều điều kỳ diệu liên hệ đến sự thụ thai và ra đời của ngài, bây giờ, bảo ngài Ānanda tuyên thuyết lại để các tu sĩ khác có thể nghe và lấy đó làm nguồn cảm hứng.

Sau đó, đức Thế Tôn bảo Tôn giả Ānanda: “Này Ānanda, chúng sanh ấy như vậy, con có thể tán dương đầy đủ hơn về những đặc tính vi diệutuyệt vời của Như Lai.”

Vâng bạch Ngài, con đã từng nghe và học điều này từ nơi chính kim khẩu của đức Thế Tôn:

“Này Ānanda, chánh niệm và tỉnh giác,1 Bồ-tát xuất hiện trong cõi trời Đâu-suất (Tuita)2.” Bạch Ngài, con xem điều này là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, chánh niệm và tỉnh giác, Bồ-tát an trú trong cõi trời Đâu-suất (Tuita). Bạch Ngài, con xem điều này là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

1 Đầy đủ tỉnh giác, đầy đủ chánh niệm, hoặc đầy đủ thấy biết.

2 Một trong nhiều loại tái sinh cõi trời. Điểm đặc biệt ở đây được cho rằng đây là nơi các vị Bồ-tát cư trú ngay trước khi kiếp chót các ngài trở thành Phật.

“Này Ānanda, cả trọn đời sống, Bồ-tát trú trong cõi trời Đâu­suất (Tuita). Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, chánh niệm và tỉnh giác, Bồ-tát rời khỏi cung trời Đâu-suất (Tuita) rồi đi vào lòng mẹ.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, khi Bồ-tát rời khỏi cung trời Đâu-suất (Tuita) rồi đi vào lòng mẹ, ánh sáng rực rỡ chói lòa không ngằn mé vượt qua vẻ oai nghi thánh thiện của các vị trời xuất hiện trên thế gian với nhiều vị trời, ma và Phạm thiên,3 với người dân, các bậc xuất gia, Bà­la-môn, vua chúa và mọi người. Và thậm chí trong những khoảng cách thế giới mở kinh sợ, của ảm đạmtối tăm, nơi mặt trờimặt trăng, hùng cường và quyền lực như chúng đang là, có thể không làm ánh sáng của nó sáng tỏ; ở đó, cũng vậy, có một ánh sáng rực rỡ chói lòa không ngằn mé vượt qua vẻ oai nghi thánh thiện của các vị trời xuất hiện. Và những chúng sanh ở đó, được nhìn thấy nhau thông qua ánh sáng này: “Này bạn, thực sự vẫn có nhiều chúng sanh khác được sinh ra ở đây.” Khi mười ngàn thế giới này rung động,4 rung chuyển và chấn động thì có ánh sáng rực rỡ chói lòa không ngằn mé vượt qua vẻ oai nghi thánh thiện của các vị trời xuất hiện trên thế gian này.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, khi Bồ-tát đi vào bào thai của mẹ thì bà vốn đã có đức hạnh từ việc không giết hại chúng sanh, không lấy của không cho, không thực hành tà hạnh, không nói lời sai trái và không uống rượu và các chất say, nguyên nhân của sự phóng túng.”5 Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn

3 Điều này có thể dịch “với các ma và Phạm thiên,” nghĩa là các ma của thế giới đặc biệt chúng ta và các đại Phạm thiên.

4 Hệ thống thế giới: hệ thống thế giới đơn là thế giới giống như hệ mặt trời, mở rộng đến mặt trăngmặt trời trong quỹ đạo của chúng và chiếu sáng bốn phương. Cũng có một tiểu thiên thế giới, trung thiên bao gồm 100 tiểu thiên thế giới, đại thiên bao gồm 1000 trung thiên thế giới (Th.62). Giữa hệ thống thế giới có khoảng thế giới tối đen như mực trong đó chắc chắn có nhiều chúng sanh bất hạn sống cô đơn trong đó.

5 Những điều này cấu thành nên năm điều đạo đức dành cho các cư sĩ.

“Này Ānanda, vào ngày thứ bảy sau khi Bồ-tát chào đời, mẹ của ngài qua đời và được tái sanh lên cung trời Đâu-suất.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, những người phụ nữ trẻ khác hạ sanh sau khi mang thai chín tháng mười ngày, nhưng mẹ của Bồ-tát thì không như vậy. Bà hạ sanh ngài khi mang thai đúng mười tháng.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, những phụ nữ trẻ khác thường sinh con trong tư thế ngồi hoặc nằm, nhưng mẹ của Bồ-tát thì không như vậy. Bà hạ sanh ngài trong tư thế đứng.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, khi Bồ-tát bước ra khỏi thai tạng của mẹ, các vị trời đón nhận ngài đầu tiên rồi sau đó, mới đến loài người.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, khi Bồ-tát ra khỏi bào thai của mẹ, ngài không chạm đất. Có bốn vị trời đón đỡ ngài và đưa đến mẹ ngài rồi nói: “Thưa hoàng hậu, hãy hoan hỷ, bà đã hạ sanh hoàng tử có sức mạnh tuyệt vời.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, khi Bồ-tát ra khỏi thai tạng của người mẹ, ngài không bị dính bụi, được tẩy sạch bằng nước, không dính khí dịch, máu huyết hay bất kỳ sự bất tịnh nào, hoàn toàn trong sạch và không dính bụi trần. Này Ānanda, giả sử có viên ngọc đặt trong vải Kāsi thì viên ngọc ấy sẽ không làm dơ bẩn vải ấy hoặc ngọc đó. Tại sao như vậy? Bởi vì sự thanh tịnh của cả hai. Này Ānanda, cũng vậy, khi Bồ­tát ra khỏi bào thai của mẹ, ngài không bị dính bụi, được tẩy sạch bằng nước, không dính khí dịch, máu huyết hay bất kỳ sự bất tịnh nào, hoàn toàn trong sạch và không dính bụi trần.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, khi Bồ-tát ra khỏi thai tạng của người mẹ, có hai dòng nước xuất hiện phun ra từ trên trời, một lạnh và một nóng, tắm ngài và mẹ. Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, ngay khi Bồ-tát hạ sanh, ngài đứng vững trên mặt đất bằng đôi chân của mình, rồi đi bảy bước, mặt hướng về phương bắc, lọng trắng che phủ, ngài nhìn bốn hướng và thốt ra những lời này, thiết lập sự hướng dẫn của mình:6

“Mình là cao nhất trên đời,

Mình là tốt nhất trong đời,

Mình là tối thượng trong đời,

Đây là kiếp sống cuối cùng của ta;

Bây giờ, không còn hiện hữu tái sanh nữa.”

Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Khi Bồ-tát ra khỏi bào thai của mẹ, ánh sáng rực rỡ chói lòa không ngằn mé vượt qua vẻ oai nghi thánh thiện của các vị trời xuất hiện trên thế gian với nhiều vị trời, ma và Phạm thiên, với người dân, các bậc xuất gia, Bà-la-môn, vua chúa và mọi người. Và thậm chí trong những khoảng cách thế giới mở kinh sợ, của ảm đạmtối tăm, nơi mặt trờimặt trăng, hùng cường và quyền lực như chúng đang là, có thể không làm ánh sáng của nó sáng tỏ; ở đó, cũng vậy, có một ánh sáng rực rỡ chói lòa không ngằn mé vượt qua vẻ oai nghi thánh thiện của các vị trời xuất hiện. Và những chúng sanh ở đó, được nhìn thấy nhau thông qua ánh sáng này: “này bạn, thực sự vẫn có nhiều chúng sanh khác được sinh ra ở đây.” Khi mười ngàn thế giới này rung động,7 rung chuyển và chấn động thì có ánh sáng

6 Nghĩa đen, ngôn ngữ như con bò, nghĩa là tiếng rống của bò đánh dấu sự lãnh đạo của đàn vật nuôi.

7 Hệ thống thế giới: Hệ thống thế giới đơn là thế giới giống như hệ mặt trời, mở rộng đến mặt trăngmặt trời trong quỹ đạo của chúng và chiếu sáng bốn phương. Cũng có một tiểu thiên thế giới, trung thiên bao gồm 100 tiểu thiên thế giới, đại thiên bao gồm 1000 trung thiên thế giới (Th.62). Giữa hệ thống thế giới có khoảng thế giới tối đen như mực trong đó chắc chắn có nhiều chúng sanh bất hạn sống cô đơn trong đó.

rực rỡ chói lòa không ngằn mé vượt qua vẻ oai nghi thánh thiện của các vị trời xuất hiện trên thế gian này.” Bạch Ngài, điều này con cũng xem là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.

“Này Ānanda, chúng sanh đó như vậy, con nên xem điều này cũng là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn: Này Ānanda, ở đây, đối với Như Lai, những cảm xúc được thấy biết khi chúng xuất hiện, khi chúng có mặt, khi chúng biến mất; những tri giác được thấy biết khi chúng xuất hiện, khi chúng có mặt, khi chúng biến mất; những tư tưởng được thấy biết khi chúng xuất hiện, khi chúng có mặt, khi chúng biến mất; này Ānanda, con nên xem điều này cũng là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.”

“Bạch Ngài, vì điều này như vậy nên con xem nó cũng là đặc tính vi diệutuyệt vời của đức Thế Tôn.”

(Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp: Kinh Trung bộ III. 118-120, 122­124, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.2 Dự đoán về điều vĩ đại tương lai của Ngài

Đoạn này kể về cách thức các vị trời thông báo với vị thánh về sự ra đời của Bồ-tát và ông đã nóng lòng đi xem Ngài như thế nào, rồi tiên đoán về sự thành tựu giác ngộ trong tương lai của Ngài.

Tiên A-tư-đà (Asita) thấy vua trời Đế-thích (Sakka),8 chủ của cõi Trời Ba Mươi Ba9 đang hoan hỷhạnh phúc trong diện mạo trang sức thơm tho sạch sẽ, ca hát quá đỗi, mặc đồ trang nghiêm.

Sau khi thấy các vị trời vui mừng trong tâm và phấn khởi, cung kính chào hỏi, tiên A-tư-đà nói lời này: “Tại sao các vị trời quá đỗi hạnh phúc như vậy? Họ tổ chức gì khi giơ tấm vải lên?”

Thậm chí khi có cuộc chiến với các A-tu-la thì chiến thắng thuộc về

8 Đế-thích (Sakka), vua của các vị trời như tên ngài được gọi, là vị cai quản cõi trời Ba Mươi Ba, một cảnh giới thuộc dục giới. Trong tôn giáo Vệ-đà, ngài được biết là Indra, vị thần quyền lực, thỉnh thoảng say sưa, nhưng trong Phật giáo, ngài được chuyển hóa thành vị vua trời đức hạnh, tên là Sakka, có năng lực hoặc quyền năng, được hiểu là vị đệ tử của Phật. Có một điều thú vị là ngài kết hôn với Suja, một công chúa của phe A-tu-la đối nghịch.

9 Con số làm tròn chỉ cho ba mươi ba vị trời.

các vị trời và A-tu-la chiến bại. Họ cũng không vui mừng như thế. Sau khi xem điều kỳ diệu gì làm cho các vị trời Marut phấn khởi như thế?

Các trời ca, hát và chơi nhạc; họ vỗ tay và khiêu vũ. Tôi hỏi ngài, những vị cư ngụ trên đỉnh núi Tu-di (Meru):10 Các ngài vui lòng nhanh phá bỏ lưới nghi của tôi.”

“Bồ-tát, bậc quý báu tuyệt vời, không gì sánh bằng, đã hạ sanh trong vương quốc của dòng tộc Thích-ca (Sakya), tại vườn Lâm­tỳ-ni (Lumbinī), vì lợi íchhạnh phúc trong thế giới loài người. Vì vậy, chúng tôi mừng rỡ, quá đỗi vui sướng như thế.

Ngài là vị tốt nhất trong muôn loài, là bậc tôn quý nhất, là bậc tráng kiện của loài người, là bậc vĩ đại nhất trong nhân loại. Rống tiếng rống của sư tử uy hùng, chúa của muôn loài, ngài sẽ vận chuyển bánh xe pháp tại một khu vườn sẽ được đặt tên có các bậc thấy Pháp.”11

Sau khi nghe lời ấy, ngài vội vàng trở về hạ giới và đến nơi cư ngụ của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana).12 Sau khi ngồi xuống rồi vị tiên nhân nói với dòng tộc Sakya rằng: “Hoàng tử đâu rồi? ta thật sự muốn gặp ngài.”

Các vị trong dòng tộc Sakya sau đó ẵm hoàng tử đến tiên A-tư­đà (Asita), một bé trai với màu da sáng chói, lộng lẫy và huy hoàng, tựa như vàng nung chảy được đánh bóng bởi một thợ kim hoàn thiện xảo nhất trong lò luyện kim.

Thấy đứa bé rực sáng như lửa, thanh tịnh như chúa của các vì sao di chuyển trên bầu trời, giống như mặt trời lấp lánh thoát khỏi những áng mây mùa thu, ngài, trở nên hoan hỷ, có một trải nghiệm chan chứa nhiều hỷ lạc.

Các trời Marut giữa hư không cầm lọng với ngàn lớp nan hoa. Vô lượng quạt đuôi Yak cán vàng tung bay lên xuống; nhưng những vị cầm lọng và quạt lại không được nhìn thấy.

10. Meru, cũng được gọi là Sumeru (Meru tuyệt vời) là ngọn núi cao nhất trong thần thoại Ấn Độ.11 Điều này chỉ cho vườn Isipatana (vườn Nai), nơi đức Phật giảng bài pháp đầu tiên. 12 Tịnh Phạn (Śuddhodana), vị vua dòng tộc Thích-ca (Sakya) của thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu),

phụ thân của vị Bồ-tát.

Vị tiên nhân A-tư-đà (còn gọi là Kanhasiri), bện tóc, sau khi thấy hoàng tử như kim hoàn trên thảm nhung và có lọng trắng che trên đầu, đã đón nhận ngài với tâm phấn khởi vui mừng.

Sau khi đón nhận Ngưu vương dòng tộc Thích-ca, quan sát, ngài, một bậc tinh thông tướng số và mật chú, đã tuyên bố tự tin rằng: “Vị này, không thể sánh bằng, là bậc tối tôn giữa loài hai chân (loài người).”

Rồi sau khi quan chiếu sự lìa đời của chính mình, trở nên ưu sầu, ngài đã bật khóc. Nhìn thấy bậc tiên nhân rơi lệ, các vị dòng tộc Thích­ca thưa hỏi: “Chắc chắn sẽ không có gì hiểm nguy đến với hoàng tử”?

Thấy các vị dòng tộc Thích-ca không vui, vị tiên nhân nói: “Ta không thấy bất kỳ sự nguy hiểm nào đến với hoàng tử cả, cũng không có sự hiểm nguy nào đối với ngài. Đây không phải là con người thấp kém. Hãy vui lên đi.

Đứa trẻ này sẽ đạt được đỉnh cao của sự tỉnh thức. Sau khi xem điều gì là siêu việt thanh tịnh, có lòng trắc ẩn vì lợi ích của đại đa số, Ngài sẽ vận chuyển bánh xe Pháp.13 Cuộc đời thánh hạnh14 của Ngài sẽ được biết đến rộng rãi.

Cuộc đời của ta ở đây, còn rất ngắn ngủi, ta sẽ ra đi sớm. Vì vậy, ta sẽ không nghe được pháp của bậc vô song, nên ta ưu sầu, tràn ngập khổ não.”

(Kinh Nalaka: Kinh tập 670-694, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.3 Cha mẹ

đây, Tỳ-kheo tỉnh thức đặt tên cho cha mẹ Phật, với cha của đức Phật trong ý nghĩa nhất định được xem là “ông nội” của Tỳ-kheo ấy.

Bậc anh hùngtrí tuệ lớn thật sự trong sạch thuần chủng bảy đời trong bất kỳ gia đình nào mà ngài sinh ra. Ta nghĩ, Sakiya (vua Tịnh Phạn - Śuddhodana), ông là vua của các vị trời, vì ông đã sinh ra bậc thánh nhân đích thực như tên gọi.

13 Nghĩa là sẽ thiết lập sự ảnh hưởng của giáo pháp ngài (chánh Pháp). 14 Cuộc sống độc thân tập trung vào việc học và thực hành Pháp.

Cha của bậc thầy vĩ đại tên là Tịnh Phạn (Śuddhodana). Mẹ của bậc tỉnh thức gọi là Ma-da (Māyā), người đã mang thai Bồ-tát, sau khi xả báo thân đã sống hoan hỷ trong ba cõi trời.

Thánh mẫu Gotamī15 (Māyā), sau khi qua đời, đã giáng trần từ đây, thọ hưởng dục lạc cõi trời, tận hưởng năm niềm vui giác quan, được hầu hạ bởi các nhóm trời.

Ta là con (đệ tử) của đức Phật, đã kham nhẫn những điều vượt lên trên sự kham nhẫn, con trai của đại đức Aṅgīrasa16 không gì sánh bằng. Ông, Sakiya (Śuddhodana) là cha của cha ta; thật sự ngài là ông nội của ta, Gotama à.

(Những bài thơ kệ của Kaludayi: Trưởng lão Tăng kệ 533-536, do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.4 Gia đình của Gotama

Đoạn này đề cập về con trai của đức Phật, vị sau này cũng thọ giới trở thành Tỳ-kheo và thành tựu quả vị A-la-hán. Cha của đức Phật vẫn duy trì là vị cư sĩ và chứng ngộ Nhập dòng, cấp đđầu tiên của thánh quả tâm linh; di mẫu của Phật là bà Ma-ha-ba-xà-ba-đ(Mahā­pajāpatī) trở thành vị nữ tu đầu tiên, cũng chứng A-la-hán; vợ ngài cũng xuất giachứng ngộ A-la-hán.

Họ biết tôi là La-hầu-la (Rāhula) “may mắn” - vì hai lý do: một, tôi là con của bậc tỉnh thức; hai, tôi là người thấy ra các chân lý.

(Những câu thơ kệ của Rāhula: Trưởng lão Tăng kệ 295, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.5 Thọ hưởng thanh xuân

Đoạn này mô tả đời sống thuở đầu hết sức tiện nghi, nhưng rồi đi đến quán chiếu về tuổi già, bệnh tật và chết chóc sẽ đến với tất cả chúng ta.

Này các Tỳ-kheo, ta đã sống trong diệu lạc, tối thượng diệu lạc, hoàn toàn diệu lạc. Trong hoàng cung cha ta, có nhiều hồ sen chỉ

15 Hình thức giống cái của họ Gotama.
16 Nó có thể có nghĩa là “Bậc chiếu sáng,” hoặc là thành viên của bộ tộc Angirasa.

tạo riêng dành cho ta: một hồ hoa sen đỏ nở, một hồ hoa sen trắng nở, một hồ hoa sen xanh nở, tất cả đều dành cho ta. Ta không sử dụng hương chiên-đàn nếu nó không xuất xứ từ Kasi.17 Khăn của ta cũng phải từ Kasi, áo ta từ Kasi này, quần ta từ Kasi này, áo choàng ta từ Kasi này. Lọng trắng che phủ ta cả ngày lẫn đêm để bảo vệ ta khỏi lạnh, nóng, bụi, dơ, sương.

Này các Tỳ-kheo, ta có ba cung điện: một cho mùa lạnh, một cho mùa nóng và một cho mùa mưa. Trong suốt bốn tháng mùa mưa, được vui chơi trong cung điện dành cho mùa mưa, bởi hoàn toàn nữ nhạc công, không có bóng dáng nam nhân nào trong ấy, ta thậm chí chưa từng xuống cung điện lầu cao ấy. Trong khi những người hầu, công thợ và tùy tùng thuộc nhà khác được cho ăn gạo nát, cháo đậu thì trong nhà của cha ta, người hầu, công thợ và tùy tùng được cho ăn lúa mạch, gạo và thịt.

Này các Tỳ-kheo, được nhiều sung túc như thế, sống trong cách sung sướng như thế, ta xem xét: “Khi người bình thường không được dạy dỗ, chính hắn là chủ thể của già, không vượt qua già, thấy người khác già, hắn trở nên hoảng sợ, bẻ mặt và ghê tởm, lãng quên đối với chính hắn cũng là chủ thể bị già cả, không vượt qua già cả. Nếu ta là chủ thể chịu già cả, không vượt lên sự già cả, cũng sẽ trở nên hoảng sợ, bẻ mặt và ghê tởm khi xem người khác bị già thì điều ấy sẽ không thích hợp đối với ta.” Khi ta tự hỏi như thế thì việc say đắm tuổi trẻ của thanh niên trẻ tuổi đó hoàn toàn bị tiêu tan.

[Cũng tương tự như thế được nói đến, chỉ thay “già” thành “bệnh,” rồi “chết”] thì việc say đắm sức khỏe của người khỏe mạnh đó hoàn toàn bị tiêu tan thì việc say đắm cuộc sống của người đang sống đó hoàn toàn bị tiêu tan.

(Kinh Được nuôi dưỡng tế nhị: Kinh Tăng chi I. 145, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

17 Vương quốc có thủ phủ là Vārāṇasī.

L.6 Vui sướng các giác quan

Trong đoạn này, đức Phật quán chiếu về các vui sướng thời trẻ của ngài, rồi đến sự hạn chế và hiểm nguy của các hoan lạc ấy.

“Này Māgaṇḍiya,18 lúc đầu ta sống đời sống gia đình, ta tận hưởng chính ta, được cung cấpthọ hưởng năm thú vui giác quan:19 màu sắc được thấy bởi mắt, ưa nhìn, ưa muốn, xứng ý, đáng thích, liên hệ với vui thích giác quan và khêu gợi tham muốn; âm thanh được nghe bởi tai; hương thơm được ngửi bởi mũi; mùi vị được nếm bởi lưỡi; các xúc chạm được nhận biết bởi thân, ưa muốn, ưa thích, xứng ý, đáng thích, liên hệ với sự thích thú giác quan và khêu gợi tham muốn.

Về sau, khi hiểu như chúng thật sự là, về sự phát khởi, biến mất, biết đủ, sự hiểm nguy của dục lạc, thoát khỏi chúng, ta đã từ bỏ tham ái các thú vui giác quan; ta đã vứt bỏ cơn sốt của nhục dục; ta an trú mà không thèm khát, với tâm hướng vào trong an lạc.

Ta thấy các chúng sanh khác không thoát khỏi sự tham đắm thú vui giác quan, bị thiêu đốt bởi tham ái dục lạc, bị nóng cháy bởi cơn sốt nhục dục, chìm đắm trong hoan lạc giác quan. Ta không ganh tỵ họ, cũng không hài lòng với họ. Tại sao vậy? Này Māgaṇḍiya, có một sự hỷ lạc (thiền định) bên ngoài các thú vui giác quan, thoát khỏi các trạng thái bất thiện, nó thậm chí vượt qua thú vui cõi trời. Khi ta có sự hỷ lạc trong đó, ta không thèm muốn điều thấp kém hơn, cũng không hài lòng với nó

Này Māgaṇḍiya, giả sử có người bệnh cùi với sự đau đớn và ghẻ lở khắp tứ chi, bị cấu nghiến bởi trùng đục, cào cấu vết thương xé toang bằng móng tay, hơ nóng thân thể trên lò than bốc cháy. Rồi bạn bè, bằng hữu, thân bằng, quyến thuộc mang người ấy đến vị thầy thuốc để chữa trị. Vị lương y cho thuốc người ấy và bằng phương thuốc ấy, người này được chữa khỏi bệnh cùi, trở nên vui vẻ và hạnh

18 Māgaṇḍiya là người theo chủ nghĩa khoái lạc, cổ xúy việc tận hưởng các thú vui giác quan. Đức Phật ở đây đang dạy ông về những hậu quả đáng sợ của việc theo đuổi dục lạc.

19 Nói rằng một người nam thọ hưởng thú vui từ người nữ; tương tự như thế, một người nữ từ một người nam. Vì vậy, dường như thú vui giác quan (kama) cơ bản chỉ cho thú vui nhục dục (xác thịt).

phúc, tự do, tự làm chủ mình, có thể đi đâu tùy thích. Sau đó, vị này có thể thấy người bệnh cùi khác với sự đau đớn và ghẻ lở khắp tứ chi, bị cấu nghiến bởi trùng đục, cào cấu vết thương xé toang bằng móng tay, hơ nóng thân thể trên lò than bốc cháy.

Này Māgaṇḍiya, con nghĩ sao? Người ấy sẽ thèm muốn với người bệnh cùi ấy vì hơ nóng thân thể trên lò than bốc cháy hay vì sử dụng thuốc? “Không, bạch ngài Gotama đức lớn. Tại sao như thế? Thưa ngài Gotama đức lớn (Cồ-đàm), bởi vì khi có bệnh thì mới cần có thuốc; nhưng khi không bệnh thì sẽ không cần đến thuốc.” “Này Māgaṇḍiya, tương tự như vậy, khi ta sống đời sống gia đình trước đây, ta tận hưởng chính ta, được cung cấpthọ hưởng năm thú vui giác quanVề sau, khi hiểu như chúng thật sự là, về sự phát khởi, biến mất, biết đủ, sự hiểm nguy của dục lạc, thoát khỏi chúng, ta đã từ bỏ tham ái các thú vui giác quan; ta đã vứt bỏ cơn sốt của nhục dục; ta an trú mà không thèm khát, với tâm hướng vào trong an lạc.

Giờ ta thấy các chúng sanh khác không thoát khỏi sự tham đắm thú vui giác quan, bị thiêu đốt bởi tham ái dục lạc, bị nóng cháy bởi cơn sốt nhục dục, chìm đắm trong hoan lạc giác quan, nhưng ta không ganh tỵ họ, cũng không hài lòng với họ. Tại sao vậy? Này Māgaṇḍiya, có một sự hỷ lạc (thiền định) bên ngoài các thú vui giác quan, thoát khỏi các trạng thái bất thiện, nó thậm chí vượt qua thú vui cõi trời. Khi ta có sự hỷ lạc trong đó, ta không thèm muốn điều thấp kém hơn, cũng không hài lòng trong đó.

(Kinh Māgaṇḍiya: Kinh Trung bộ I. 504-506, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

TÌM CẦU SỰ TỈNH THỨC

L.7 Sự tìm kiếm thánh thiện

Trong đoạn này, đức Phật mô tả “Sự tìm kiếm thánh thiện” về điều mà vượt lên trên mọi giới hạn của sự hiện hữuđiều kiện và cách Ngài khởi đầu sự tìm kiếm ấy.

Này các Tỳ-kheo, có hai sự tìm kiếm: tìm kiếm thánh thiệntìm kiếm đê tiện. Này các Tỳ-kheo, thế nào là sự tìm kiếm đê tiện?

Này các Tỳ-kheo, ở đây, có ai đó chính mình là chủ thể của sanh tìm kiếm điều gì cũng là chủ thể của sanh; chính mình là chủ thể của già tìm kiếm điều gì cũng là chủ thể của già, chính mình là chủ thể của bệnh tìm kiếm điều gì cũng là chủ thể của bệnh; chính mình là chủ thể của chết tìm kiếm điều gì cũng là chủ thể của chết; chính mình là chủ thể của ưu sầu tìm kiềm điều gì cũng là chủ thể của ưu sầu; chính mình là chủ thể của phiền não tìm kiếm điều gì cũng là chủ thể của phiền não.

Này các Tỳ-kheo, điều gì được nói là chủ thể của sanh? Vợ và con là chủ thể của sanh; nô bộc nam nữ là chủ thể của sanh; cừu dê là chủ thể của sanh; vàng bạc là chủ thể của sanh. Này các Tỳ­kheo, những sở hữu này là chủ thể của sanh. Người bị trói buộc vào những thứ này, bị mê đắm chúng, bị nghiện ngập chúng, chính hắn là chủ thể của sanh tìm kiếm điều cũng là chủ thể của sanh[vợ và con… v.v... tương tự như thế mỗi cặp được giải thích là chủ thể của “già” và “phiền não,”20 nhưng tất cả ngoại trừ “vàng và bạc” sẽ là chủ thể của “bệnh,” “chết” và “ưu sầu”]. Người nào bị trói buộc vào những thứ này, bị mê đắm chúng, bị nghiện ngập chúng, chính hắn là chủ thể của già [v.v…] tìm kiếm điều cũng là chủ thể của già [v.v…]. Này các Tỳ-kheo, đây là sự tìm kiếm đê tiện.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là sự tìm kiếm thánh thiện? Ở đây, có ai đó chính mình là chủ thể của sanh, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của sanh, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không sanh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn (nirvāa); chính mình là chủ thể của già, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của già, đi tìm sự an toàn tối thượng không già thoát khỏi ràng buộc, niết­bàn; chính mình là chủ thể của bệnh, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của bệnh, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không bệnh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn; chính mình là chủ thể của chết, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của chết, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không chết thoát khỏi ràng buộc; chính mình là chủ thể của ưu sầu, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là

20 Nghĩa là cả hai đều thiếu tinh thần và những điều không thanh tịnh trong các kim loại quý giá.

chủ thể của ưu sầu, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không ưu sầu, niết-bàn; chính mình là chủ thể của phiền não, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của phiền não, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không phiền não thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, đây là sự tìm kiếm thánh thiện.

Này các Tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, chưa giác ngộ hoàn toàn, trong khi ta đang còn là Bồ-tát, chính ta cũng là chủ thể của sanh, tìm kiếm những điều cũng là chủ thể của sanh; chính ta là chủ thể của giàbệnhchếtưu sầuphiền não, ta đã tìm kiếm những gì cũng là chủ thể của những điều này.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta xem xét: “Tại sao, chính ta là chủ thể của sanh, ta tìm kiếm cái gì cũng là chủ thể của sanh? Tại sao, chính ta là chủ thể của giàbệnhchếtưu sầuphiền não, ta tìm kiếm những điều cũng là chủ thể của những thứ trên?

Giả sử rằng, chính ta là chủ thể của sanh, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của sanh, ta tìm kiếm sự an toàn tối thượng không sanh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn. Giả sử rằng, chính ta là chủ thể của già [v.v…], biết được sự hiểm nguy của trong điều gì là chủ thể của già [v.v…], ta tìm kiếm sự không giàsự không bệnhsự không chếtsự không ưu sầusự an toàn tối thượng không phiền não thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, trong khi còn trẻ, một thanh niên tóc đen, vốn được phúc lành của tuổi trẻ, đang thời cường tráng, mặc dù cha mẹ muốn điều khác đi, khóc than thảm thiết đầy mặt, ta vẫn cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.21

(Kinh Thánh cầu: Kinh Trung bộ I. 161-163, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.8 Xuất gia

Đoạn này nói về sự khởi đầu đời sống xuất gia của Gotama (Cồ­đàm) và tìm kiếm tâm linh của Gotama.

21 Cuộc sống của người xuất gia lang thang.

Này Aggivessana, trước khi giác ngộ, chưa giác ngộ hoàn toàn, trong khi ta còn là Bồ-tát, ta xem xét: “Đời sống gia đình là một sự ràng buộc, một môi trường bụi trần;22 còn đời sống xuất giacuộc đời chân trời rộng mở. Thật không dễ dàng, trong khi sống ở nhà,23 để có được đời sống hạnh thánh hoàn toàn tuyệt đốihoàn toàn thanh tịnh như vỏ bóng láng. Giả sử ta cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, xuất gia khỏi đời sống gia đình, sống không gia đình thì sao?”

Này Aggivessana, sau đó, trong khi còn trẻ, một thanh niên tóc đen, vốn được phúc lành của tuổi trẻ, đang thời cường tráng, mặc dù cha mẹ muốn điều khác đi, khóc than thảm thiết đầy mặt, ta vẫn cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.

(Đại kinh Saccaka: Kinh Trung bộ I. 240-241, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.9 Chuẩn bị cho nỗ lực tâm linh

Ta sẽ khen ngợi xuất gia, như người có tầm nhìn xuất gia, sau khi quán sát thì vị ấy có sự hỷ lạc trong sự xuất gia.

Thấy rằng đời sống gia đình này là một sự ràng buộc, một môi trường bụi trần thì sự xuất gia ấy là cuộc đời chân trời rộng mở nên vị ấy xuất gia.

Sau khi xuất gia, vị ấy tránh những hành động xấu ác về thân, từ bỏ những hạnh xấu về lời nói, vị ấy làm thanh tịnh cách sống của mình.

Đức Phật24 đến thành Vương Xá (Rājagaha)25, vị vốn có những đặc điểm tuyệt vời26 đi đến Giribbaja, đi khất thực giữa người dân Ma-kiệt-đà (Magadha).

Đứng trong cung điện của mình, vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra)27

22 Thuộc những phiền não như tham lamsân hận.

23 Trong gia đình, nghĩa là sống cuộc đời thế tục trong gia đình.

24 Mặc dù ngài chưa đạt được giác ngộ, nhưng bài kệ chỉ ngài với từ “đức Phật.”

25 Thủ phủ của vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha).

26 Xem phần L.38.

27 Tần-bà-sa-la (Bimbisāra), vua của Ma-kiệt-đà (Magadha), trở thành một đệ tử rất thân cận đức Phật, viếng thăm ngài bất kỳ khi nào ngài có cơ hội. Lúc tuổi già, vua Bimbisāra bị giết hại bởi đứa con

thấy Ngài; khi nhìn thấy vị có đầy đủ những đặc tính tuyệt vời, nhà vua nói điều này:

“Này các khanh, hãy xem người này, tướng hảo, cao lớn, thanh tịnh; ngài ấy vốn có phẩm hạnh tốt khi ngài chỉ nhìn phía trước một đòn gánh.28

Với mắt nhìn xuống, sở hữu chánh niệm, vị này dường như không phải thuộc gia đình thấp kém. Hãy sai các sứ giả hoàng cung chạy ra ngoài xem thử vị tu sĩ này sẽ đi đâu.”

Các sứ giả được sai đi theo sau ngài (nghĩ rằng): “Vị tu sĩ này sẽ đi đâu? Ngài sẽ cư trú ở nơi nào?”

Tiếp tục đi khất thực xung quanh,29 với các giác quan được bảo hộ,30 được khéo chế ngự, bình bát ngài nhanh chóng đầy, chánh niệm và tỉnh giác.

Sau khi khất thực xong, ra khỏi thành, vị thánh này đi đến núi Paṇḍava (thầm nghĩ): “Đây sẽ là nơi cư trú của ta.”

Sau khi biết được nơi cư ngụ của ngài, ba vị sứ giả ngồi xuống; một người trong số họ trở về bẩm báo với nhà vua:

“Thưa đại vương, vị tu sĩ đó đang ngồi ở phía đông của núi Paṇḍava, giống như cọp chúa hay ngưu vương, như sư tử trong hang núi.”

Nghe lời sứ giả nói, nhà vua vội vàng lên xe hoàng gia đi đến núi Paṇḍava.

Nhà vua đi bằng xe đến khu vườn rồi xuống, đi đến ngài bằng chân. Sau khi tiến tới ngài, vua ngồi xuống.

Sau khi ngồi, nhà vua chào hỏi thân thiện trong truyền thống; sau khi chào hỏi, vua nói lời này:

khát quyền lực, A-xà-thế (Ajātasattu).
28 Khoảng cách của một cán cày, chỉ một khoảng cách nhỏ phía trước, xấp xỉ hai mét.
29 Đi đến từng nhà trong làng để khất thực, mà không có sự lựa chọn, để mỗi gia đình có cơ hội tăng

trưởng những nghiệp tốt bằng cách cúng dường thức ăn.
30 Phòng hộ năm giác quan vật lý và tâm để không khởi lên những trạng thái tâm như tham lam hoặc

sân hận.

“Ngài còn trẻ và sung sức, trong thời kỳ thanh xuân, thanh niên tuổi mới lớn, có nước da, dáng người tốt, giống như vua nguồn gốc tốt.

Làm đẹp quân tiên phong, đứng đầu đội quân voi, ta cho ngài tài sản, xin vui lòng tận hưởng. Nói ta biết từ đâu, nguồn gốc sanh của ngài.”

“Thưa đức vua, đi thẳng về hướng đó, có một bộ tộc, sống trên rặng Hy-mã-lạp-sơn, trù phú và hùng cường, thuộc vào vị có kết nối lâu đời với dòng tộc Ko-sa-la (Kosala).

“Họ thuộc dòng tộc Adicca, có dòng dõi sinh Thích-ca (Sakya). Từ gia đình ấy ta xuất gia, không mong muốn các thú vui giác quan.

Sau khi thấy hiểm nguy trong dục lạc, thấy xuất lyan toàn, ta đi đến nỗ lực. Tâm ta hỷ lạc trong đó.

(Kinh Xuất gia: Kinh tập 405-424, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

CHỨNG ĐẮC CÁC TẦNG THIỀN VÔ SẮC VI TẾ (Đạt được các trạng thái vô nhiễm)

Trong cuộc tìm kiếm tâm linh của mình, Gotama lúc đầu đi đến hai vị thầy, người đã dạy ngài phương cách đạt được hai trạng thái thần bí “vô sắc” vượt lên trên sự nhận thức vật lý, rồi sau đó, ngài cũng kết hợp điều đó trong chính lời dạy của ngài. Trong các đoạn văn sau, mặc dù, sự thật họ thất bại nhưng nhấn mạnh mục đích của ngài chưa đạt được.

L.10 “Cảnh giới không sở hữu gì” được Āāra Kālāma dạy

Này các Tỳ-kheo, sau khi xuất gia như thế, tìm điều thiện lành, kiếm trạng thái cao tột của an lạc tối thượng, ta đi gặp Āḷāra Kālāma rồi thưa với ngài rằng: “Này bạn hữu Kālāma, ta muốn hướng đến cuộc sống thánh hạnh trong pháp và luật này.”31 Này các Tỳ-kheo, khi được thưa như vậy, Āḷāra Kālāma đã nói lời này với ta: “Đại đức có thể ở đây. Pháp này (lời dạy và điều nó hướng đến) là điều mà người trí có thể sớm thâm nhập và trú ẩn trong đó, nhận diện chính mình thông qua tuệ quán trực tiếp pháp mà chính mình là người thầy.”

31 Nghĩa là phương thức triết học tôn giáo về giảng dạy và thực hành.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, không lâu, rất nhanh chóng, ta đã học được pháp ấy. Này các Tỳ-kheo, trong ý nghĩa khẩu truyền và kể lại, ta đã thuyết những lời dạy tri thức và lời dạy của bậc trưởng lão; và ta cũng như các vị khác tuyên bố: “Ta đã thấy biết.”

Này các Tỳ-kheo, ta xem xét: “Thật sự không chỉ thông qua niềm tin thôi mà Āḷāra Kālāma tuyên bố rằng, bằng việc nhận ra chính ngài với tuệ quán trực tiếp, ngài đã thâm nhập và trú ẩn trong pháp này. Chắc chắn, Āḷāra Kālāma đã an trú thấy biết pháp này.” Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta đi đến Āḷāra Kālāma hỏi rằng: “Này bạn hữu Kālāma, bằng cách nào mà ngài tuyên bố rằng, bằng việc nhận ra chính ngài với tuệ quán trực tiếp, ngài an trú thấy biết pháp này?” Này các Tỳ-kheo, đáp lời, Āḷāra Kālāma tuyên bố cảnh giới không sở hữu gì.32

Này các Tỳ-kheo, ta xem xét: “Không chỉ Āḷāra Kālāma có niềm tin, ta cũng có niềm tin; không chỉ Āḷāra Kālāma nỗ lực, ta cũng có nỗ lực; không chỉ Āḷāra Kālāma có niệm, ta cũng có niệm; không chỉ Āḷāra Kālāma có tập trung thiền định, ta cũng có tập trung thiền định; không chỉ Āḷāra Kālāma có trí tuệ, ta cũng có trí tuệ.33 Giả sử ta gắng sức nhận ra pháp mà Āḷāra Kālāma tuyên bố ngài đã thâm nhậpan trú trong đó bằng sự nhận diện chính ngài với tuệ quán trực tiếp?” Này các Tỳ-kheo, sau đó, không lâu, rất nhanh chóng, ta đã thâm nhậpan trú trong pháp ấy bằng việc nhận ra chính mình với tuệ quán trực tiếp.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta đi đến Āḷāra Kālāma và thưa rằng: “Này bạn hữu Kālāma, có phải trong cách này ngài tuyên bố rằng ngài đã thâm nhậpan trú trong pháp này bằng việc nhận ra chính mình với tuệ quán trực tiếp?” “Này bạn hữu, đó là cách ta thâm nhậpan trú trong pháp này bằng việc nhận ra chính mình với tuệ quán trực tiếp.” “Này bạn hữu Kālāma, chính trong cách này ta cũng

32 Hoặc “không-vật thể,” mà trong những lời dạy sau này của đức Phật là tên của sự thành tựu vô sắc thứ ba (xem Th.142). Tuy nhiên, trong Phật giáo, điều này đạt được thông qua bốn cấp độ tập trung thiền định, so với đây thì điều này dường như không phải vậy.

33 Niềm tin, tinh tấn, chánh niệm, tập trung thiền địnhtrí tuệ là năm giác quan tâm linh cũng đã được dạy trong Phật giáo (xem Th.89).

thâm nhậpan trú trong pháp này bằng việc chính mình nhận ra nó với tuệ quán trực tiếp.”

“Này bạn hữu, đó là thành tựu cho chúng ta, đó là thành tựu tuyệt vời cho chúng ta khi mình có bạn đồng hành trong đời sống thánh hạnh. Vì vậy, pháp mà ta tuyên bố ta thâm nhậpan trú bằng việc chính mình nhận ra với tuệ quán trực tiếp là pháp mà bạn cũng thâm nhậpan trú việc chính bạn nhận ra với tuệ quán trực tiếp. Và pháp mà bạn cũng thâm nhậpan trú việc chính bạn nhận ra với tuệ quán trực tiếp cũng chính là pháp mà ta tuyên bố ta thâm nhậpan trú bằng việc chính mình nhận ra với tuệ quán trực tiếp. Vì vậy, bạn biết pháp mà ta biết và ta biết pháp mà bạn biết. Ta sao thì bạn cũng vậy; bạn sao thì ta cũng vậy. Hãy đến đây, bạn hữu, hãy cùng nhau lãnh đạo giáo đoàn này.”

Này các Tỳ-kheo, như thế Āḷāra Kālāma, vị thầy của ta, đã đặt ta, học trò của ông ấy, ngang hàng với chính mình và tán thán ta với lòng tôn kính cao nhất. Tuy nhiên, này các Tỳ-kheo, ta xem xét: “Pháp này không dẫn đến yểm ly, ly tham, kết thúc, an lạc, trí tuệ cao tột, tỉnh thức và niết-bàn, mà chỉ dẫn đến tái sanh trong cảnh giới của không sở hữu gì.” Này các Tỳ-kheo, vì không thỏa mãn với pháp ấy, vì thất vọng với pháp ấy nên ta rời đi.

(Kinh Thánh cầu: Kinh Trung bộ I. 163-165, do G.A.S. dịch tiếng Anh)

L.11 “Cảnh giới không là tưởng cũng không phải không tưởng” được Rāma và con ông dạy

Trong đoạn này, Gotama đã đi vượt trên thầy mình bằng việc đạt được trạng thái mà chỉ có cha của vị thầy này đạt được.

Này các Tỳ-kheo, tìm điều gì là thiện lành, kiếm trạng thái siêu tuyệt của an lạc tối thượng, ta đi gặp Uddaka, con của Rāma (Rāmaputta) và nói với ngài rằng: “Này bạn hữu, ta muốn sống đời sống thánh hạnh trong pháp và luật này.” Này các Tỳ-kheo, được thưa như thế, Uddaka, con trai của Rāma đã nói lời này với ta: “Đại đức có thể ở lại đây. Pháp này (lời dạy và điều nó hướng đến) là điều mà người trí có thể sớm thâm nhậpan trú trong đó, chính mình nhận ra nó thông qua tuệ giác trực tiếp mà chính mình là người thầy.”

Này các Tỳ-kheo, sau đó, không lâu, rất nhanh chóng, ta đã học pháp ấy. Này các Tỳ-kheo, trong ý nghĩa khẩu truyền và kể lại, ta đã thuyết những lời dạy tri thức và lời dạy của bậc trưởng lão; và ta cũng như các vị khác tuyên bố: “Ta đã thấy biết.”

Này các Tỳ-kheo, ta xem xét: “Thật sự không phải thông qua niềm tin thôi mà Rāma tuyên bố rằng, bằng việc nhận ra chính ngài với tuệ quán trực tiếp, ngài đã thâm nhập và trú ẩn trong pháp này. Chắc chắn, Rāma đã an trú thấy biết pháp này.” Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta đi đến Uddaka, con trai của Rāma, hỏi rằng: “Này bạn hữu Kālāma, bằng cách nào mà ngài tuyên bố rằng, bằng việc nhận ra chính ngài với tuệ quán trực tiếp, ngài an trú thấy biết pháp này?” Này các Tỳ-kheo, đáp lời, Uddaka, con trai của Rāma, tuyên bố cảnh giới không phải là tưởng cũng không phải không tưởng.34

Này các Tỳ-kheo, ta xem xét: “Không chỉ Rāma có niềm tin, ta cũng có niềm tin; không chỉ Rāma nỗ lực, ta cũng có nỗ lực; không chỉ Rāma có niệm, ta cũng có niệm; không chỉ Rāma có tập trung thiền định, ta cũng có tập trung thiền định; không chỉ Rāma có trí tuệ, ta cũng có trí tuệ.35 Giả sử ta gắng sức nhận ra pháp mà Rāma tuyên bố ngài đã thâm nhậpan trú trong đó bằng sự nhận diện chính ngài với tuệ quán trực tiếp?” Này các Tỳ-kheo, sau đó, không lâu, rất nhanh chóng, ta đã thâm nhậpan trú trong pháp ấy bằng việc nhận ra chính mình với tuệ quán trực tiếp.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta đi đến Uddaka, con trai của Rāma, thưa rằng: “Này bạn hữu Rāma, có phải trong cách này ngài tuyên bố rằng ngài đã thâm nhậpan trú trong pháp này bằng việc nhận ra chính mình với tuệ quán trực tiếp?” “Này bạn hữu, đó là cách ta

34 Cũng là tên gọi của thiền vô sắc trong Phật giáo: tầng thiền thứ tư, vượt trên cảnh giới không sở hữu gì cả [vô sở hữu xứ].

35 Niềm tin, tinh tấn, chánh niệm, tập trung thiền địnhtrí tuệ là năm giác quan tâm linh cũng đã được dạy trong Phật giáo (xem Th.89).

thâm nhậpan trú trong pháp này bằng việc nhận ra chính mình với tuệ quán trực tiếp.” “Này bạn hữu Rāma, chính trong cách này ta cũng thâm nhậpan trú trong pháp này bằng việc chính mình nhận ra nó với tuệ quán trực tiếp.”

“Này bạn hữu, đó là thành tựu cho chúng ta, đó là thành tựu tuyệt vời cho chúng ta khi mình có bạn đồng hành trong đời sống thánh hạnh. Vì vậy, pháp mà Rāma tuyên bố ông thâm nhậpan trú bằng việc chính ông nhận ra với tuệ quán trực tiếp là pháp mà bạn cũng thâm nhậpan trú việc chính bạn nhận ra với tuệ quán trực tiếp. Và pháp mà bạn cũng thâm nhậpan trú việc chính bạn nhận ra với tuệ quán trực tiếp cũng chính là pháp mà Rāma tuyên bố ta thâm nhậpan trú bằng việc chính ông nhận ra với tuệ quán trực tiếp. Vì vậy, bạn biết pháp mà Rāma biết và Rāma biết pháp mà bạn biết. Ta sao thì bạn cũng vậy; bạn sao thì ta cũng vậy. Hãy đến đây, bạn hữu, hãy cùng nhau lãnh đạo giáo đoàn này.”

Này các Tỳ-kheo, như thế Uddaka, con trai của Rāma, bạn đồng tu của ta, đã đặt ta trong vị trí của bậc thầy36 và tán thán ta với lòng tôn kính cao nhất. Nhưng này các Tỳ-kheo, ta xem xét: “Pháp này không dẫn đến yểm ly, ly tham, kết thúc, an lạc, trí tuệ cao tột, tỉnh thức và niết-bàn, mà chỉ dẫn đến tái sanh trong cảnh giới không gì là tưởng và không phải không tưởng.” Vì không thỏa mãn với pháp ấy, vì thất vọng với pháp ấy nên ta rời đi.

(Kinh Thánh cầu: Kinh Trung bộ I. 165-166, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

ĐỜI SỐNG KHỔ HẠNH VÀ SỰ TỰ BỎ KHẮC KHỔ

Trong giai đoạn tiếp theo của sự tìm kiếm tâm linh của mình, Gotama đã thử một phương pháp phát triển tâm linh khác vốn đã có sẵn: nỗ lực khắc chế thân thể và mong muốn của nó bằng những việc như nhịn ăn và nín thở trong thời gian dài. Sẽ thấy rằng về sau ngài chỉ trích điều này.

36 So với lời thỉnh cầu cùng lãnh đạo của Alara Kalama thì Uddaka, con của Rāma, thỉnh cầu ngài có toàn quyền lãnh đạo, hơn là vị trí bậc thầy.

L.12 Sự cực đoan của việc ngài khổ hạnh

Trong đoạn này, đức Phật mô tả cách thức mà ngài thực tập bốn cách sống khổ hạnh phổ biến lúc bấy giờ và chúng vẫn được thực hành bởi một số nhà khổ hạnh Ấn Độ phi Phật giáo.

Này Xá-lợi-phất (Sāriputta), ta nhớ lại ta đã từng sống đời sống thánh hạnh bao gồm bốn yếu tố: ta là một nhà khổ hạnh, một nhà khổ hạnh tối thượng; ta thực hành dơ bẩn, dơ bẩn tối thượng; ta thực hành thận trọng, thận trọng tối thượng; ta sống ẩn dật, ẩn dật tối thượng.

Này Xá-lợi-phất (Sāriputta), ở sự thực hành khổ hạnh như thế này ta đi chân trần, từ bỏ hội họp, thực hành liếm tay, không đến khi được yêu cầu, không dừng khi được hỏi. Ta không nhận thức ăn được mang đến hoặc thức ăn được đặc biệt chuẩn bị hay lời mời đến bữa ăn; ta không nhận bất kỳ gì từ bình lọ, từ chén bát, thông qua ngưỡng cửa, qua gậy, qua chày, từ hai người ăn cùng nhau, từ phụ nữ mang thai, từ phụ nữ đang cho bú, từ phụ nữ đang nằm giữa những người đàn ông, từ nơi thức ăn được thông cáo để được phân bố, từ nơi con chó đang đợi, từ nơi con ruồi đang bay đậu. Ta không nhận cá thịt, ta không uống rượu nhẹ, rượu hay các chất rượu lên men.

Ta chỉ đến một nhà, ăn một miếng;37 ta chỉ đến hai nhà, ăn hai miếng; ta chỉ đến ba nhà, ăn ba miếng; ta chỉ đến bốn nhà, ăn bốn miếng; ta chỉ đến năm nhà, ăn năm miếng; ta chỉ đến sáu nhà, ăn sáu miếng; ta chỉ đến bảy nhà, ăn bảy miếng.

Ta sống dựa vào thức ăn từ một người cúng, từ hai người cúng, từ ba người cúng, từ bốn người cúng, từ năm người cúng, từ sáu người cúng, từ bảy người cúng; ta ăn mỗi ngày một bữa, hai ngày một bữa, ba ngày một bữa, bốn ngày một bữa, năm ngày một bữa, sáu ngày một bữa, bảy ngày một bữa; thậm chí nửa tháng một bữa, ta an trú theo đuổi thực tập lấy thức ăn vào thời gian đã định trước.

Ta là người ăn rau quả, người ăn hạt kê, người ăn lúa dại, người

37 Nghĩa là chỉ đi đến một nhà để thu lợm một miếng thức ăn.

ăn da vụn, người ăn rong rêu, người ăn cám gạo, người ăn váng gạo, người ăn bột vừng, người ăn cỏ, người ăn phân bò. Ta sống dựa vào rễ rừng và trái cây; ta ăn trái cây rụng.

Ta tự mặc vải gai, vải gai trộn, vải liệm, giẻ bỏ, vỏ cây, da linh dương, mảnh da linh dương, vải cỏ ku-sa (kusa), vải vỏ cây, vải gỗ bào, tóc bện, long thú bện, cánh cú.

Ta là người bức râu tóc,38 theo đuổi sự thực hành bức râu tóc. Ta là người đứng liên tục, từ bỏ các tư thế ngồi. Ta là người chồm hổm liên tục, phát nguyện duy trì tư thế ngồi chồm hổm. Ta là người sử dụng nệm bông; ta tạo nệm bông làm giường.

Ta an trú theo đuổi thực hành tắm (lễ) trong nước (lạnh) ba lần hàng ngày bao gồm buổi tối.

Như thế trong nhiều cách khác nhau, ta an trú theo đuổi sự thực hành giày vò hành xác thân thể. Này Xá-lợi-phất (Sāriputta), như thế là sự thực hành của hạnh của ta.

Này Xá-lợi-phất, ở đó, sự theo đuổi của ta về dơ bẩn như chỉ thân cây tinduka, tích lũy nhiều năm, đóng bánh và bong ra và như thế, dơ và bụi, tích tụ nhiều năm, đóng bánh thân thể ta và bong ra. Điều này không bao giờ xảy ra với ta: “Hãy để ta gãi bụi và bẩn này bằng tay ta, hay hãy để người gãi bụi và bẩn này bằng tay người ấy.” Này Xá-lợi-phất, như thế là cách thực hành của ta về dơ bẩn.

Này Xá-lợi-phất, sự thực hành thận trọng của ta như thế này ta luôn luôn chánh niệm trong bước đi tới và bước đi lui. Ta có đầy đủ thương xót liên hệ một giọt nước39 như sau: “Hãy để ta không làm đau các sinh vật nhỏ bé trong các kẻ hở trên mặt đất.” Này Xá-lợi­phất, như thế là sự thực hành của ta về sự thận trọng.

Này Xá-lợi-phất, sự thực hành của ta về ẩn dật như thế này ta vào sâu một vài khu rừng rồi an trú trong đó. Khi ta thấy người chăn bò hay người chăn cừu hay ai đó thu lượm cỏ củi hay tiều phu thì ta sẽ

38 Các tu sĩ Kỳ-na (Jain) chỉ làm điều này, trong khi tu sĩ Phật giáo cạo chúng. 39 Tương tự, người Kỳ-na giáo xem sự sống có mặt ở mọi nơi.

lẩn trốn từ lùm cây này đến lùm cây khác, từ bụi cây này đến bụi cây khác, từ hố này đến hố khác, từ đồi này đến đồi khác. Tại sao thế? Tại vì để họ không thấy ta và ta không thấy họ.

Này Xá-lợi-phất, giống như con nai rừng, khi thấy con người, sẽ lẩn trốn từ lùm cây này đến lùm cây khác, từ bụi cây này đến bụi cây khác, từ hố này đến hố khác, từ đồi này đến đồi khác, cũng vậy, khi ta thấy người chăn bò hay người chăn cừu hay ai đó thu lượm cỏ củi hay tiều phu thì ta sẽ lẩn trốn từ lùm cây này đến lùm cây khác, từ bụi cây này đến bụi cây khác, từ hố này đến hố khác, từ đồi này đến đồi khác. Này Xá-lợi-phất, đó là cách thực hành ẩn trú của ta.

Này Xá-lợi-phất, ta đã bò đến các chuồng bò khi loài bò này đi và người chăn bò rời khỏi, rồi ta ăn phân của các con bê con đang bú. Này Xá-lợi-phất, ngay khi phân và nước tiểu của ta để lâu, ta lại ăn phân và nước tiểu của chính mình. Này Xá-lợi-phất, đó là sự thực hành của ta về sai lệch vĩ đại trong ăn uống.

Này Xá-lợi-phất, ta ẩn sâu vào trong một vài khu rừng hứng sợ hãicư ngụ ở đó: một khu rừng quá sợ hãi đến nỗi bình thường nó sẽ làm tóc người đàn ông dựng đứng nếu như vị ấy chưa thoát khỏi tham ái.

Này Xá-lợi-phất, khi những đêm đông lạnh giá đến trong suốt thời gian tám ngày sương giá, ta cư ngụ buổi đêm ở ngoài trời và ban ngày ở trong rừng. Vào tháng cuối của mùa nóng, ta cư ngụ ban ngày ở ngoài trời và buổi đêm ở trong rừng.

Này Xá-lợi-phất, lúc đó đến với ta bất chợt câu kệ này chưa từng nghe trước đây:

Bậc thánh đi vào sự tìm kiếm, bị nóng và rét buốt, một mình trong khu rừng hứng sợ hãi, trần truồng, không lửa để ngồi bên cạnh.

Này Xá-lợi-phất, ta làm giường của mình trong nghĩa địa với sự hỗ trợ của bộ xương.

Này Xá-lợi-phất, các cậu bé chăn bò đến rồi nhổ nước bọt vào ta, đi tiểu lên ta, quăng bẩn lên ta, rồi chọc gậy vào tai ta. Này Xá-lợi­phất, nhưng ta không nhớ rằng ta đã từng xuất hiện một tâm niệm xấu ác ghét bỏ chống lại chúng cả. Này Xá-lợi-phất, như thế là cách ta an trú trong sự xả bỏ.

(Đại kinh Sư tử hống: Kinh Trung bộ I. 77-79, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.13 Đau đớn vô ích

Trong đoạn này, đức Phật giải thích rằng, trước giai đoạn ngài trải qua khổ hạnh cực đoan, ngài đã nhận ra rằng sự tỉnh thức không thể cho các hành giả tâm linh mà vẫn còn dính mắc các thú vui giác quan. Sau khi nhận ra rằng ngài phải tránh xa dục lạc giác quan thì ngài thực hành trong loại thực tập khổ hạnh cực đoan. Tuy nhiên, trong khi ngài thực sự phát triển năng lượng vĩ đại và chánh niệmđau đớn thể chất mà chúng mang lại không tác động tâm trí ngài, chúng cũng đem lại sự kiệt sức thể xác Ngài nhận ra rằng chúng không dẫn đến sự tỉnh thức.

“Điều đó đã bao giờ xuất hiện trong ngài, bạch ngài Gotama đức lớn, một cảm xúc hạnh phúc đến nỗi nó có thể xâm chiếm tâm ngài và duy trì? Điều đó đã bao giờ xuất hiện trong ngài, bạch ngài Gotama đức lớn, một cảm xúc đau đớn đến nỗi nó có thể xâm chiếm tâm ngài và duy trì?

“Này Aggivessana, tìm những gì là thiện lành, kiếm trạng thái tuyệt diệu của an lạc tối thượng, ta đã lang thang nhiều đoạn đường toàn bộ vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) cho đến khi dần dần ta đến rừng khổ hạnh (Uruvelā) gần làng Senani (Senanigama). Ở đó, ta thấy một mảnh đất xứng ý, một khu rừng đáng thích với dòng sông chảy trong sạch có hai bờ nhẹ nhàng và hoan hỷ và gần đó có ngôi làng tiện lợi cho việc khất thực. Này Aggivessana, ta xem xét: “Xứng ý là mảnh đất này; đáng thích là khu rừng với dòng sông chảy trong sạch có hai bờ nhẹ nhàng và hoan hỷ và gần đó có ngôi làng tiện lợi cho việc khất thực. Nơi này sẽ thật sự phục vụ cho nỗ lực (cố gắng tâm linh) của một thành viên thị tộc có ý định nỗ lực.” Này Aggivessana, ta ngồi xuống đó với ý nghĩ rằng: “Đây sẽ phục vụ cho sự nỗ lực.”

Này Aggivessana, bây giờ, ba ví dụ này xảy ra đối với ta một cách tự nhiên, chưa từng nghe trước đây. [Tên chúng là, giống như miếng gỗ đầy nhựa sống ẩm ướt hoặc bị chìm không thể đốt được bởi khoan lửa, nhưng gỗ khô thì có thể đốt được, chỉ như vậy] Các Sa-môn và Bà-la-môn40 sống thể xác không thoát khỏi dục lạc giác quan và những ai mà tham muốn giác quan, cảm xúc, tham đắm, thèm khát và lên sốt về vui thích giác quan được từ bỏ và kiềm nén bên trong, dù họ có cảm giác đau đớn, đau nhói, hay không, cảm giác nhức nhối do gắng sức, nhưng họ có khả năng thấy biết và tỉnh thức tối thượng

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử, với răng ta ghì chặt, lưỡi ta ép mạnh lên vòm họng, ta đánh xuống, ghìm và ép tâm với tâm?” Này Aggivessana, vậy với răng ta ghì chặt, lưỡi ta ép mạnh lên vòm họng, ta đánh xuống, ghìm và ép tâm với tâm. Này Aggivessana, trong khi làm như vậy, mồ hôi chảy từ hai nách ta. Này Aggivessana, giống như người đàn ông mạnh nắm lấy người yếu đuối bằng đầu hay vai và đánh hắn ta xuống, ghì chặt hắn ta, ép hắn ta, cũng vậy, với răng ta ghì chặt, lưỡi ta ép mạnh lên vòm họng, ta đánh xuống, ghìm và ép tâm với tâm, mồ hôi chảy từ hai nách ta.

[Đoạn lặp lại:] Này Aggivessana, mặc dù nỗ lực không mệt mỏi được xuất hiện trong ta và niệm biết không ngừng được thiết lập nhưng thân thể ta bị mệt rã rờicăng thẳng bởi vì ta bị kiệt sức bằng gắng sức đau đớn. Nhưng cảm xúc đau đớn như thế xuất hiện trong tâm đã không xâm chiếm tâm ta và duy trì.

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử ta thực hành thiền nín thở?”41 Vì vậy, ta dừng việc thở vàothở ra bằng miệng và mũi. Này Aggivessana, trong khi ta làm vậy, có một âm thanh to lớn của các cơn gió đến từ hai lỗ tai của ta. Này Aggivessana, giống như âm thanh bùng lớn khi gầm của thợ rèn thở dốc, cũng vậy, trong khi ta dừng hơi thở vào và hơi thở ra bằng mũi và tai, có một âm thanh to lớn của các cơn gió xuất ra từ hai lỗ tai ta[Đoạn lặp lại]

40 Xem LI.2 ở trên. 41 Một hình thức thiền không phải của Phật giáo về việc giữ hơi thở.

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử ta thực hành thiền nín thở xa hơn nữa?” Vì vậy, ta dừng việc thở vàothở ra bằng miệng, mũi và tai. Trong khi ta làm vậy, có nhiều cơn đau đớn khủng khiếp trong đầu ta. Này Aggivessana, giống như thể có người mạnh mẽ kéo căng dây da dẻo dai xung quanh đầu ta như dải buộc đầu, cũng vậy, khi ta dừng thở vào, thở ra qua miệng, mũi và tai thì có những cơn đau đớn kinh khủng trong đầu của ta[Đoạn lặp lại]

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử ta thực hành thiền nín thở xa hơn nữa?” Vì vậy, ta dừng việc thở vàothở ra bằng miệng, mũi và tai. Trong khi ta làm vậy, nhiều cơn gió khủng khiếp cắt xé bụng ta. Này Aggivessana, giống như thể một tay đồ tể thiện xảo hoặc đồ đệ của hắn xẻ cắt bụng bò bằng con dao đồ tể siêu bén, cũng vậy, khi ta dừng thở vàothở ra bằng miệng, mũi và tai thì có nhiều cơn gió khủng khiếp cắt xé bụng ta[Đoạn lặp lại]

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử ta thực hành thiền nín thở xa hơn nữa?” Vì vậy, ta dừng việc thở vàothở ra bằng miệng, mũi và tai. Trong khi ta làm vậy, có cơn bùng cháy khủng khiếp trong thân thể ta. Này Aggivessana, giống như thể hai người đàn ông mạnh mẽ tóm lấy người yếu đuối bằng cả hai tay, rồi quay hắn trên một lò than nóng, cũng vậy, trong khi ta dừng thở vàothở ra bằng miệng, mũi và tai thì có cơn bùng cháy khủng khiếp trong thân thể ta[đoạn lặp lại]

Này Aggivessana, bấy giờ nhiều vị trời thấy ta như thế nói: “Sa­môn Gotama chết rồi.” Một số vị trời nói: “Sa-môn Gotama không chết, ngài sẽ chết.” Và một số vị trời khác nói: “Sa-môn Gotama không chết cũng không sẽ chết; ngài là vị A-la-hán (bậc xứng đáng), vì như thế là cách mà các A-la-hán cư trú.”

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử ta thực hành hoàn toàn cắt bỏ thức ăn?”42 Sau đó, một số vị trời đến nói với ta: “Bạch Ngài, đừng thực hành hoàn toàn cắt bỏ thức ăn. Nếu Ngài làm vậy, chúng con sẽ truyền thức ăn trời vào trong lỗ chân lông của ngài và điều

42 Tránh xa thức ăn, một sự thực hành không phải Phật giáo.

này sẽ duy trì sự sống cho ngài.” Này Aggivessana, ta xem xét: “Nếu ta tuyên bố hoàn toàn tuyệt thực trong khi những vị trời này truyền thức ăn của trời vào trong lỗ chân lông ta để duy trì sự sống cho ta thì ta sẽ dối gạt.” Vì vậy, ta từ chối các vị trời này mà nói rằng: “Không cần đâu.”

Này Aggivessana, ta xem xét: “Giả sử ta lấy rất ít thức ăn, một nắm tay mỗi lần, dù đó là cháo đậu xanh hay cháo lăng, cháo đậu tằm, cháo đậu nhỏ?” Vì vậy, ta lấy rất ít thức ăn, một nắm tay mỗi lần, dù đó là cháo đậu xanh hay cháo lăng, cháo đậu tằm, cháo đậu nhỏ. Trong khi ta làm vậy, thân thể ta tiến đến trạng thái gầy mòn cùng cực. Bởi ăn quá ít: tay chân ta trở nên giống như hai đoạn dính của thân nho hay thân tre; lưng ta trở nên như móng guốc con lạc đà; các đốt sống lưng hiện ra như các chuỗi hạt; các xương sườn ta lòi ra hốc hác như rui cột kho thóc cũ không mái; tia mắt ta chìm sâu xuống trong các lỗ hốc, nhìn giống như tia nước bị chìm xuống giếng sâu; da đầu ta bị nhăn rối như trái khổ qua xanh nhăn rối trong nắng gió.

Này Aggivessana, bởi ăn quá ít nên da bụng của ta bị dính chặt với xương sống của ta. Do đó, nếu ta chập da bụng thì ta sẽ đụng xương sống và nếu ta chạm xương sống thì ta đụng da bụng của ta. Này Aggivessana, bởi vì ăn quá ít nên nếu ta đi đại tiện hay tiểu tiện thì ta ngã nhào sấp mặt ở đó. Này Aggivessana, vì ăn quá ít nên nếu ta cố gắng làm dễ chịu thân thể ta bằng cách cọ xát tay chân bằng tay thì tóc lông, bị mục nát ở gốc, sẽ rụng khỏi thân thể ta khi cọ xát.

Này Aggivessana, bây giờ, mọi người thấy ta nói rằng: “Sa-môn Gotama màu đen.” Một số nói: “Sa-môn Gotama không đen, ngài màu nâu.” Một số khác nói: “Sa-môn Gotama không đen cũng không nâu; ngài có da vàng.” Này Aggivessana, quá nhiều như thế về màu sắc sáng rõ ràng của da ta đã bị hư hỏng thông qua việc ăn quá ít.

Này Aggivessana, ta xem xét: “Bất cứ điều gì mà các Sa-môn, Bà-la-môn ở quá khứ đã trải nghiệm cảm xúc đau đớn, hành hạ, nhức buốt do gắng sức, đây là cùng cực, không có gì vượt lên được. Và bất kỳ điều gì mà các Sa-môn, Bà-la-môn trong tương lai sẽ đã trải nghiệm cảm xúc đau đớn, hành hạ, nhức buốt do gắng sức, đây là cùng cực, không có gì vượt lên được. Và bất kỳ điều gì mà các Sa-môn, Bà-la-môn ở hiện tại đang trải nghiệm cảm xúc đau đớn, hành hạ, nhức buốt do gắng sức, đây là cùng cực, không có gì vượt lên được.

Nhưng bằng việc thực hành tra tấn ép xác này ta đã không đạt được bất kỳ sự khác biệt siêu nhân nào trong việc thấy biết đáng kính của các bậc thánh. Có thể có con đường khác dẫn đến giác ngộ?

(Đại kinh Saccaka: Kinh Trung bộ I. 240-246, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.14 Cự tuyệt sự cám dỗ của Ma vương

Trong đoạn này, thần cám dỗ ma vương (cũng được biết là Namuci và Kanha; xem LI. 5 và LI. 7) đến Gotama (chưa thành Phật) vào lúc cuối giai đoạn khổ hạnh, xúi giục ngài từ bỏ phong cách đời sống Sa­môn và trở về đời sống thế tục bình thường mà trong đó ngài có thể tăng trưởng thiện nghiệp và những lợi ích thế gian của nó bằng tiến hành các lễ nghi Bà-la-môn. Gotama, mặc dù, nói ngài không cần bất cứ nghiệp thiện nào nữa (không phải rằng thực hành hiến tễ sẽ thêm thiện nghiệp này) và rằng ngài nhất quyết đạt được tỉnh thức và truyền dạy nhiều đệ tử. Ngài có năm căn niềm tin, tinh tấn, chánh niệm, tập trung thiền định và trí tuệ và sẽ chiến thắng “đội quân” ma vương về lỗi lầm tâm linhđạo đức.

Tận sức cho việc nỗ lực, trong khi ta đang thiền gần sông Ni­liên-thiền (Neranjana), tinh tấn vĩ đại, để đạt được sự an ổn thoát sự ràng buộc.

Namuci tiến đến ta, thốt lên những lời có vẻ như thương xót!: “Ngài trở nên ốm o, da dẻ xấu tệ; cái chết đang đến gần ngài.

Có một ngàn phần chết trong ngài; chỉ một phần ngài là sống. Hãy sống, thưa ngài, sống thì tốt hơn. Nếu ngài sống, ngài sẽ tạo nhiều nghiệp thiện.

Thực hành đời sống thánh hạnhthực hiện việc hiến tế lửa, ngài có thể chất đầy nhiều nghiệp thiện. Ngài muốn gì bằng khổ hạnh ấy?

Con đường khổ hạnh thật khó để mà đi, khó mà thực hiện, khó mà thành tựu.” Nói những câu kệ này, ma vương đứng gần đức Phật.

Đối với ma vương nói như thế, đức Thế Tôn đã nói lời này: “Này người bà con xấu ác lơ đễnh, bạn đến đây vì mục đích của riêng mình.

Ta không có thậm chí nhu cầu nhỏ nhất (nhiều hơn) của nghiệp thiện; ma vương phải nói với những ai thật sự cần nó.

Niềm tin, tinh tấntrí tuệ được thấy trong ta. Tại sao bạn hỏi ta, người tận hiến cho sự nỗ lực như thế, về cuộc sống?

Ngọn gió này có thể thậm chí làm khô cạn các dòng sông; tại sao máu của ta, của người hiến dâng cho sự nỗ lực, không nên bị cạn?

Khi máu của ta trở nên khô cạn thì nước ói và đờm dãi cũng trở nên khô cạn. Khi da thịt ta gầy mòn thì tâm ta trở nên rõ ràng hơn và tất cả chánh niệm nhiều hơn và trí tuệthiền định sẽ đứng vững vàng.

Trong khi ta an trú như vậy, sau khi đạt được cảm giác cao nhất ấy thì tâm ta không có liên hệ gì đến thú vui giác quan. Thấy trạng thái thanh tịnh của một chúng sanh.

Dục lạc giác quan là quân đội đầu tiên của ngươi; bất mãn là đội quân thứ hai; và thứ ba là đói khát ái; thứ tư là tham ái.

Hôn trầmthụy miên là đội quân thứ năm; thứ sáu là sợ hãi; thứ bảy là hoài nghi; đạo đức giả và bướng bỉnh là đội quân thứ tám của ngươi.

Lợi dưỡng, danh vọng, cung kính và bất kỳ điều gì được nhận được một cách sai lầm và bất kỳ ai tán dương chính mình và chê bai người khác, đó là đội quân của ngươi.

Này Namuci, đó là sức mạnh nổi bật của Kanha. Một người không phải anh hùng thì không thể chiến thắng nó, nhưng sau khi chiến thắng nó, ta sẽ đạt được an lạc.

Ta có nên mặc áo cỏ munja?43 Ta có đủ cuộc sống ở đây. Cái chết trong cuộc chiến còn tốt hơn là ta bị thất bại mà sống.

Lao mình vào cuộc chiến này, một số Sa-môn, Bà-la-môn không được nhìn thấy và họ không biết con đường mà những người có tâm nguyện tốt đã đi.

Thấy đội quân này dàn trận tất cả các hướng và ma vương với các con voi của mình, ta tiến lên trong cuộc chiến. Không được kéo ta ra khỏi nơi này.

Đội quân ấy của ngươi mà cả thế gian cùng với các cõi trời không thể vượt qua, ta sẽ phá bỏ chúng bằng trí tuệ, giống như đập vỡ bình gạch bằng cục đá vậy.

Kiểm soát tư tưởng ta, làm chánh niệm được khéo thiết lập, ta lang thang từ vương quốc này đến vương quốc khác, huấn luyện nhiều đệ tử.

Những người thực hành hết mình thận trọng đó về lời dạy của ta sẽ đi đến nơi, mặc dù người, sau khi đi, họ sẽ không đau khổ nữa.”

(Này ma vương:) Đã bảy năm ta theo đức Thế Tôn từng bước. Ta đã không kiếm được một cơ hội nào chống lại đức Phật hoàn toàn tỉnh giác sở hữu chánh niệm.

Ta đã từng thấy con chim lượn quanh cục đá trông có vẻ béo bở mà nghĩ rằng: “Có lẽ ta sẽ tìm cái gì đó mềm mềm ở đây; có lẽ có cái gì đó ngọt ngọt ở đây.”

Không lấy được bất kỳ cái gì ngọt, con chim ấy đi khỏi nơi đó. Giống như con quạ tấn công cục đá ấy rồi trở nên thất vọng, chúng ta, sau khi tấn công Gotama rồi trở nên thất vọng, rồi cũng bỏ đi.

Bị đè lên bởi sầu muộn, đàn tì-bà rơi khỏi nách ma vương, ma thất chí đó biến mất ngay trên điểm đó.

(Kinh Padhana: Kinh tập 425-449, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

43 Tín hiệu của sự từ bỏ.

SỰ TỈNH THỨC VÀ KẾT QUẢ SAU ĐÓ

L.15 Thành tựu các tầng thiền định, thấy được các kiếp quá khứ, vận hành của nghiệp và thành tựu giải thoát

Trong đoạn này, đức Phật nhớ lại sự tỉnh thức/ giác ngộ của ngài. Sau giai đoạn khổ hạnh của mình, gần như bỏ cuộc, ngài đã tự hỏi liệu rằng có con đường khác hiệu quả dẫn đến sự tỉnh thức. Vào lúc đó, ngài nhớ trạng thái thiền mà ngài đã thâm nhập lúc ngài còn nhỏ: cấp đđầu tiên của bốn cấp độ thiền định (Jhānas: xem Th. 140), rất hạnh phúchoan hỷ mà không có cái gì làm với dục lạc giác quan hay bất kỳ trạng thái tiêu cực nào của tâm. Do đó, ngài quyết định quay trở lại trạng thái này như là con đường đưa đến sự tỉnh thức. Được nêu ra rõ ràng từ các đoạn văn khác, điều này sẽ đạt được bằng sự thực hành như chánh niệm hơi thở thì chúng ta có thể thấy rằng con người của ngài. Bây giờ, trở thành một trong những tỉnh thức cẩn trọng về thân, hơn là thành tựu các trạng thái vô sắc hoàn toàn vượt trên thân, hoặc khổ hạnh cùng cực đi đến sự ép buộchành xác thân thể.

Ngay sau đó, cũng lấy lại được sức khỏe thể chất bằng việc chấm dứt nhịn ăn để ngài có thể tiếp tục đạt được bốn tầng thiền theo chiều, sau đó, từ sự định tĩnh và nhạy bén về tầng thiền thứ tư, nhớ được nhiều kiếp trong vô số kiếp quá khứ của ngài, thấy được cách các chúng sanh khác bị sinh trở đi trở lại theo đặc tính nghiệp của họ, hành động của họ, rồi sau đó, quan trọng nhất, đạt được tuệ quán trực tiếp trong bản chất khổ đau của sự hiện hữuđiều kiện (hữu vi), điều gì phát khởi những trạng thái như thế và các nỗi đau thân thểtinh thần của họ, làm sao chúng chấm dứt và con đường đến đây: bốn chân lý của các bậc Thánh (thường được gọi là “sự thật thánh”). Sau đó, trở thành chủ đề của lời dạy đầu tiên của ngài. Tuệ tri về chân lý thứ ba kéo theo sự nhận diện niết-bàn và kết quả là chấm dứt các khuynh hướng say đắm là rào cản đối với điều này. Do đó, ngài đã thấy rằng ngài chưa được tỉnh thức. Ngài là đức Phật.

Này Aggivesana, ta xem xét: “Ta nhớ lại rằng khi cha ta dòng Thích-ca bị chiếm giữ, trong khi ta đang ngồi dưới bóng cây hồng táo, ẩn tránh khỏi các khoái lạc giác quan, ẩn tránh khỏi các trạng thái bất thiện, ta đã thâm nhậpan trú trong tầng thiền đầu tiên bao gồm hỷ và lạc đi cùng với việc tìm kiếm tinh thầnsuy xét, sinh ra ẩn trú. Điều này có thể là con đường đến sự tỉnh thức?” Này Aggivessana, sau đó, theo ký ức đó là sự nhận diện: “Đây thực sự là con đường dẫn đến sự tỉnh thức.”

Này Aggivessana, ta xem xét: “Tại sao ta sợ trạng thái hoan lạc thanh thản mà không làm gì với dục lạc giác quan và các trạng thái bất thiện?” Này Aggivessana, ta xem xét: “Ta không sợ rằng hoan lạc thanh thản không có bất kỳ điều gì làm với các dục lạc giác quan và các trạng thái bất thiện.”

Này Aggivessana, ta xem xét: “Thật không dễ dàng gì để đạt được sự an lạc thanh thản ấy với thân thể quá gầy mòn được. Giả sử ta ăn một vài thức ăn loại cứng: một vài gạo luộc và cháo?” Ta đã ăn một vài thức ăn loại cứng: một vài gạo luộc và cháo.

Này Aggivessana, bấy giờ vào lúc đó năm vị tu sĩ đang đợi ta44 và nghĩ rằng: “Nếu Sa-môn Gotama của chúng ta thành tựu một số trạng thái thiền cao hơn thì ngài sẽ nói với chúng ta.” Nhưng, này Aggivessana, khi ta ăn gạo luộc và cháo, năm vị tu sĩ kia cảm thấy thất vọng rồi bỏ ta đi, nghĩ rằng: “Sa-môn Gotama bây giờ sống xa hoa; ngài đã từ bỏ sự nỗ lực của mình và quay trở lại sự xa hoa.”

Này Aggivessana, khi ta ăn thức ăn loại cứng và lấy lại sức mạnh, sau đó, ẩn tránh các thú vui giác quan, ẩn tránh các trạng thái bất thiện, ta đã thâm nhậpan trú vào tầng thiền thứ nhất, bao gồm hỷ lạc đi với tìm kiếm tinh thần (tầm) và quán xét (tứ). Nhưng cảm xúc hỷ lạc đó xuất hiện trong ta không xâm chiếm tâm ta và duy trì.

Với sự định tĩnh của chú ý và quán xét tinh thần, ta đã thâm nhậpan trú trong tầng thiền thứ hai, bao gồm hỷ lạc sinh ta từ trạng thái tập trung điềm tĩnh, không có chú ý và quán xét tinh thần, mang lại sự sáng tỏ bên trong, có trạng thái nhất tâm. Nhưng cảm giác hỷ lạc ấy xuất hiện trong ta mà không xâm chiếm tâm ta và duy trì.

44 Người sau này trở thành các đệ tử đầu tiên của đức Phật đã từng có diễm phúc trở thành người nghe đầu tiên bài kinh của ngài.

Với việc không dính mắc đến hỷ, ta đã an trú trong xả, chánh niệm tỉnh giác, ta trải nghiệm hạnh phúc về thân; và ta thâm nhậpan trú trong tầng thiền thứ ba mà các bậc thánh tuyên bố: “Ngài sở hữu trạng thái xả, ngài chánh niệm, người an trú trong hạnh phúc.”

Sau khi lúc trước đã từ bỏ niềm vui và đau khổ, với việc biến mất hạnh phúckhông hạnh phúc, ta thâm nhậpan trú trong tầng thiền thứ tư, không có bất kỳ hỷ lạc hay đau đớn (cảm xúc) nào và được thanh tịnh bởi cảm giác xả và chánh niệm. Nhưng cảm xúc hỷ vui ấy xuất hiện trong ta không có xâm chiếm tâm ta và duy trì.

Khi tâm ta được điềm tĩnh như thế, thanh tịnh, sáng nhẹ, không vết nhơ, các phiền não được loại trừ, dễ uốn, dễ sử dụng, vững vàngđạt được đến sự điềm tĩnh, ta hướng nó đến tuệ tri nhớ về các đời sống quá khứ. Ta nhớ lại nhiều đời sống quá khứ của ta, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều kiếp thành, nhiều kiếp trụ, nhiều kiếp thành trụ: “Ở đó ta có tên như vậy, thuộc bộ lạc như vậy, với sự xuất hiện như vậy, sự nuôi dưỡng của ta như vậy, trải nghiệm của ta về vui buồn như vậy, tuổi thọ của ta như vậy; Sau khi qua đời như vậy ở đó, ta tái sanhnơi khác; và ở đó, ta cũng được đặt tên như thế, thuộc bộ lạc như thế, với sự xuất hiện như thế, sự nuôi dưỡng của ta như thế, trải nghiệm của ta về vui buồn như thế, tuổi thọ của ta như thế; Sau khi qua đời như thế ở đó, ta được tái sanh ở đây.”

Do đó, với các phương diện và đặc thù, ta đã nhớ lại (nhiều trong số) các kiếp sống quá khứ của ta. Này Aggivessana, đây là tuệ minh thật sự đầu tiên mà ta thành tựu trong canh đầu tiên của đêm. Vô minh đã bị xua đuổi, tuệ minh thực sự phát khởi, bóng tối đã bị xua tan, ánh sáng xuất hiện, như khi diễn ra trong người an trú tinh cần, nhiệt tâm và kiên định. Nhưng cảm giác hỷ lạc đó xuất hiện trong ta không xâm chiếm tâm ta và duy trì.

Khi tâm ta được điềm tĩnh như thế, thanh tịnh, sáng nhẹ, không vết nhơ, các phiền não được loại trừ, dễ uốn, dễ sử dụng, vững vàngđạt được đến sự điềm tĩnh, ta hướng nó đến tuệ tri nhớ về sự qua đời và tái sanh của các chúng sanh. Với con mắt trời, thanh tịnhsiêu việt qua con người, ta thấy các chúng sanh qua đời và tái sanh, thuộc địa vị thấp hoặc cao, đẹp và xấu, may mắnbất hạnh và ta hiểu cách các chúng sanh đi tiếp theo hành nghiệp của mình (karma) như thế này: “Những chúng sanhhành vi sai trái bằng thân thể, lời nói và tâm ý, chửi rủa các bậc thánh, khư giữ quan điểm sai lầmthực hiện các hành động dựa vào quan điểm sai lầm, với sự tan rã của thân thể, sau khi chết, đã tái sanh trong trạng thái của khổ đau, nơi đến xấu, thế giới biên giới, thậm chí ở địa ngục; nhưng những chúng sanh này có hành vi tốt đẹp bởi thân thể, ngôn ngữ và tâm ý, không mắng nhiếc các bậc thánh, có quan kiến đúng đắnthực hiện hành động dựa trên tầm nhìn chân chánh, khi rời bỏ xác thân, sau khi chết, đã tái sanhcảnh giới tốt đẹp, vào cảnh giới cõi trời.”

Do đó, với con mắt trời, thanh tịnhsiêu việt qua con người, ta thấy các chúng sanh qua đời và tái sanh, thuộc địa vị thấp hoặc cao, đẹp và xấu, may mắnbất hạnh và ta hiểu cách các chúng sanh đi tiếp theo hành nghiệp của mình. Này Aggivessana, đây là tuệ minh thật sự thứ hai mà ta thành tựu được vào canh giữa của đêm. Vô minh đã bị xua đuổi, tuệ minh thực sự phát khởi, bóng tối đã bị xua tan, ánh sáng xuất hiện, như khi diễn ra trong người an trú tinh cần, nhiệt tâm và kiên định. Nhưng cảm giác hỷ lạc đó xuất hiện trong ta không xâm chiếm tâm ta và duy trì.

Khi tâm ta được điềm tĩnh như thế, thanh tịnh, sáng nhẹ, không vết nhơ, các phiền não được loại trừ, dễ uốn, dễ sử dụng, vững vàngđạt được đến sự điềm tĩnh, ta hướng nó đến tuệ tri nhớ về sự kết thúc các khuynh hướng sai lầm.45 Ta trực tiếp biết như nó thực sự là: “Đây là khổ;” “Đây là nguồn gốc của khổ;” “Đây là sự kết thúc của khổ;” “Đây là con đường dẫn đến sự kết thúc của khổ.”

Ta trực tiếp biết như nó thực sự là: “Chúng là những khuynh hướng sai lầm;” “Đây là nguồn gốc của những khuynh hướng sai

45 Để trở thành vị A-la-hán, tỉnh thức/giác ngộ. Xem Th.128 về những khuynh hướng sai lầm.

lầm;” “Đây là sự kết thúc của những khuynh hướng sai lầm;” “Đây là con đường dẫn đến sự diệt tận của những khuynh hướng sai lầm.”

Khi ta thấy biết như thế, tâm ta giải thoát khỏi khuynh hướng sai lầm đối với dục lạc giác quan, khỏi dính mắc sai lầm đối với cách thức thực tại và khỏi khuynh hướng sai lầm đối với vô minh.

Khi được giải thoát, ở đó, xuất hiện tuệ tri: “Được giải thoát.” Ta trực tiếp biết: “Sanh46 đã được tiêu diệt, cuộc sống thánh hạnh đã được sống, điều gì cần phải làm đã được hoàn thành và không còn gì nữa để làm ở kiếp sau.”

Này Aggivessana, đây là tuệ minh thật sự thứ ba được ta thành tựu vào canh cuối của đêm. Vô minh đã bị xua đuổi, tuệ minh thực sự phát khởi, bóng tối đã bị xua tan, ánh sáng xuất hiện, như khi diễn ra trong người an trú tinh cần, nhiệt tâm và kiên định. Nhưng cảm giác hỷ lạc đó xuất hiện trong ta không xâm chiếm tâm ta và duy trì.

(Đại kinh Saccaka: Kinh Trung bộ I. 246-249, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.16 Niềm vui lúc thấy được sự chấm dứt lang thang từ kiếp sống này sang kiếp sống khác

đây, đức Phật diễn tả niềm vui vào lúc xác định và chấm dứt tham ái đã cầm lái ngài, giống như tất cả chúng sanh, thông qua nhiều kiếp tái sanh lặp lại và khổ đau thân tâm mà những điều này mang lại.

Thông qua bao kiếp sống ta lang thang trong luân hồi,47 nhưng không tìm thấy kẻ làm nhà.48 Khổ đau là sự sanh ra lặp đi lặp lại.

Này kẻ làm nhà! Ngươi đã bị thấy. Ngươi sẽ không làm nhà được nữa. Tất cả rui nhà của ngươi đã bị bẻ. Cột kèo của người đã bị gãy đổ. Tâm đã thoát khỏi sự tạo dựng ý chí. Thành tựu là sự kết thúc các tham ái.

(Kinh Pháp cú 153-154, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

46 Nghĩa là tái sanh. Và toàn bộ quá trình tương lai của sanh và chết của các trạng tháiđiều kiện (hữu vi) vô thường.

47 Vòng sanh và tử.

48 Của sự hiện hữuđiều kiện của các nhân.

L.17 Chứng đắc niết-bàn, đạt được tỉnh thức/giác ngộ

Này các Tỳ-kheo, tìm những điều thiện lành, kiếm trạng thái an lạc tối thượng, ta đã lang thang nhiều đoạn đường xuyên suốt vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) cho đến khi dần dần ta đến được rừng Khổ hạnh (Uruvelā) gần làng Senani (Senanigama). Ở đó, ta thấy một mảnh đất xứng ý, một khu rừng đáng thích với dòng sông chảy trong sạch có hai bờ nhẹ nhàng và hoan hỷ và gần đó có ngôi làng tiện lợi cho việc khất thực.

Này các Tỳ-kheo, tôi đã xem xét: “Đây là một mảnh đất dễ chịu; đây là một khu rừng thú vị với dòng sông trong vắt với những bờ phẳng lặng dễ chịu và gần đó là một ngôi làng để khất thực. Nơi này sẽ thật sự phục vụ cho nỗ lực của một thành viên thị tộc có ý định nỗ lực.” Này Aggivessana, ta ngồi xuống đó với ý nghĩ rằng: “Đây sẽ phục vụ cho sự nỗ lực.”

Này các Tỳ-kheo, sau đó, chính mình là chủ thể của sanh, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của sanh, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không sanh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn (nirvāa); ta đã đạt được an toàn tối thượng không sanh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn (nirvāa); chính mình là chủ thể của già, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của già, đi tìm sự an toàn tối thượng không già thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn, ta đã đạt được sự an toàn tối thượng không già thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn; chính mình là chủ thể của bệnh, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của bệnh, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không bệnh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn, ta đã đạt được sự an toàn tối thượng không bệnh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn; chính mình là chủ thể của chết, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của chết, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không chết thoát khỏi ràng buộc, ta đã đạt được sự an toàn tối thượng không chết thoát khỏi ràng buộc; chính mình là chủ thể của ưu sầu, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của ưu sầu, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không ưu sầu, niết-bàn, ta đã đạt được sự an toàn tối thượng không ưu sầu, niết-bàn; chính mình là chủ thể của phiền não, biết được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của phiền não, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không phiền não thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn, ta đã đạt được sự an toàn tối thượng không phiền não thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn.

Sự thấy biết xuất hiện trong ta: “Sự giải thoát của ta thì không thể lay động được. Đây là kiếp sống cuối cùng của ta. Bây giờ, không còn tái sanh nữa.”

(Kinh Thánh cầu: Kinh Trung bộ I. 166-167, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.18 Khám phá lại con đường cổ xưa

Trong đoạn này, đức Phật so sánh sự khám phá của ngài về con đường thánh tám ngành hướng đến sự kết thúc nhóm khổ đau của già và chết v.v… giống như khám phá lại con đường dẫn đến thành phố cổ xưa đã bị lãng quên. Tựa như các Phật xa xưa khác trước ngài, đức Phật đã khám phá con đường đến niết-bàn rồi dạy đó cho tha nhân.

Này các Tỳ-kheo, giả sử người lang thang qua một khu rừng sẽ thấy con đường cổ xưa, một con đường xưa cũ được mọi người lưu chuyển trong quá khứ. Vị ấy theo nó rồi sẽ thấy một thành phố cổ xưa, một thủ phủ cổ xưa được mọi người cư trú trong quá khứ, với các khuôn viên, khu vườn, ao hồ và thành lũy, một nơi khả ái. Sau đó, vị ấy sẽ thông báo với nhà vua hoặc đại thần hoàng gia và thưa rằng: “Thưa Ngài, xin vui lòng khôi phục lại thành phố ấy!” Sau đó, nhà vua hay đại thần hoàng gia khôi phục lại thành phố ấy, rồi một thời gian sau, thành phố đó đã trở nên thành côngthịnh vượng, dân cư đông đúc, đầy ắp mọi người, thành tựu đến sự phát triển và mở rộng.

Này các Tỳ-kheo, cũng vậy, ta đã thấy con đường cổ xưa, một con đường xưa cũ được các đức Phật giác ngộ hoàn toàn của quá khứ đã đi. Con đường cổ xưa đó, con đường xưa cũ đó là gì? Nó chính là con đường thánh tám ngành, đó là, tầm nhìn chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, chánh mạng, chánh niệm, nỗ lực chân chánh, chánh định.

Ta đã theo con đường ấy và bằng việc làm như vậy ta đã trực tiếp biết được sự già và chết, nguồn gốc của nó, sự kết thúc nó và con đường dẫn đến sự kết thúc của nó

Sau khi trực tiếp biết chúng, ta đã giải thích chúng với các Tỳ­kheo, Tỳ-kheo-ni, nam nữ Phật tử. Này các Tỳ-kheo, đời sống thánh hạnh này đã trở nên thành tựuthịnh vượng, mở rộng, phổ biến, lưu truyền, khéo được tuyên bố giữa trời và người.

(Kinh Thành ấp: Kinh Tương ưng II. 105-107, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.19 Tôn kính Pháp

đây, đức Phật thấy rằng không có người nào mà ngài có thể tôn kínhsiêu việt hơn ngài trong các đặc tính tâm linh, nhưng rằng ngài nên tôn kính pháp mà ngài đã giác ngộ. Phạm thiên Sahāmpati, “vị bất lai” có tuổi thọ lâu đã từng được đức Phật quá khứ thuyết giáo (Kinh Tương ưng V. 232-233) xuất hiện trước ngài rồi khẳng địng rằng tất cả các đức Phật đều tôn kính Pháp.

Vào một thời, khi đức Thế Tôn vừa mới giác ngộ, ngài đang ngụ tại rừng Khổ hạnh (Uruvelā) bên dòng sông Ni-liên-thiền (Nerañjarā), dưới cội cây Banyan của người chăn dê. Sau đó, trong lúc ngài ở một mình và ẩn trú, dòng suy nghĩ này xuất hiện trong tâm ngài: “Người sẽ đau khổ nếu an trú mà không có lòng tôn trọngcung kính. Bây giờ, dựa vào Sa-môn, Bà-la-môn nào ta có thể an trú trong sự tôn trọng, cung kính và quy ngưỡng?”

Sau đó, đức Thế Tôn xem xét: “Sẽ là lợi ích cho việc hoàn hảo của thân không hoàn hảo về nguyên tắc đạo đức mà ta sẽ an trú trong sự tôn kính đối với Sa-môn hay Bà-la-môn khác, tôn trọngcung kính vị ấy. Tuy nhiên, trong thế gian này với các vị trời, vị ma, Bà-la­môn, với mọi người, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và dân chúng, ta không thấy vị Sa-môn hay Bà-la-môn hoàn hảo về hạnh thánh hơn ta, để ta có thể an trú trong sự tôn kính, tôn trọng, cung kính vị ấy.

Sẽ nên vì lợi ích cho việc hoàn hảo về thân không hoàn hảo của sự tập trung thiền địnhthân không không hảo về trí tuệthân không hoàn hảo về sự giải thoátthân không hoàn hảo về sự thấy biết giải thoát mà ta sẽ an trú tròn sự tôn kính dựa trên Sa-môn hay Bà-la-môn khácTuy nhiênta không thấy Sa-môn hay Bà-la­môn nào hoàn hảo hơn ta về những điểm này

Liệu rằng ta có thể an trú trong sự tôn kính dựa trên chính pháp này mà ta đã hoàn toàn giác ngộ, cung kínhtôn trọng nó?

Sau đó, khi biết được bằng chính tâm mình về tâm của đức Thế Tôn, như người đàn ông mạnh mẽ duỗi cánh tay hay bẻ cánh tay dài, Phạm thiên Sahāmpati biến mất khởi trời Phạm thiên rồi xuất hiện trở lại trước đức Thế Tôn. Thu xếp chiếc áo trên của mình sang một vai, ngài kính lễ đức Thế Tôn với bàn tay để trước tim mà nói rằng: “Bạch đức Thế Tôn, quả thật vậy! Bậc may mắn, quả thật vậy!...

Các bậc tỉnh thứcquá khứ, các ở tương lai và vị là bậc tỉnh thức hiện tại, xóa bỏ sầu muộn của số đông.

Tất cả đều đã an trú, sẽ an trú, đang an trú, tôn kính pháp chân thật sâu sắc. Đây, đối với các đức Phật, là định luật chuẩn mực.

Cho nên, ai mong muốn thiện lành chính mình, cảm hứng về điều vĩ đại, nên tôn trọng pháp chân thật sâu sắc, nhớ nghĩ lời dạy của đức Phật.”

(Kinh Cung kính: Kinh Tương ưng I. 138-140 <304-306>,49 do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

CÁC THÀNH TỰUBẢN CHẤT CỦA ĐỨC PHẬT

L.20 Như Lai

Đoạn này giải thích đức Phật là “Như Lai,” người đến như thế hoặc đi như thế.50 Thế giới (loka) mà đức Phật đi xuống là nơi khác được mô tả như các giai đoạn hoại diệt của kinh nghiệm: sáu giác quan, các đối tượng giác quan, nhận thức giác quan và các cảm xúc xuất hiệnđiều kiện bởi các tiếp xúc giác quan (Kinh Tương ưng IV. 52), nghĩa là tất cả

49 Hội Kinh Điển Pāli có hai bản cuốn I của kinh Tương ưng; số trang của cuốn mới được ghi trong dấu <>.

50 Xem LI.4 cho thuật ngữ này, nói chung chỉ cho đức Phật.

trong một cách nào đó thì khổ đau, tuy nhiên vi tế như vậy (Kinh Tương ưng IV. 38-40).

Thế gian đã được Như Lai hiểu một cách hoàn toàn. Từ thế giới đó, Như Lai không bị trói buộc. Nguồn gốc của thế gian đã được Như Lai hiểu rõ một cách hoàn toàn. Nguồn gốc của thế gian đã được Như Lai từ bỏ. Sự kết thúc của thế gian đã được Như Lai hiểu rõ một cách hoàn toàn. Sự kết thúc của thế gian đã được Như Lai nhận ra. Con đường dẫn đến sự kết thúc của thế gian đã được Như Lai hiểu rõ hoàn toàn. Con đường dẫn đến sự kết thúc của thế gian đã được Như Lai phát triển.

Bất kỳ điều gì trong thế gian này với các vị trời, ma, Phạm thiên, mọi người, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và quần chúng, đã được thấy, nghe, ngửi, nhận biết, thành tựu, tìm kiếm, cân nhắc bởi người trí, điều đó đã được giác ngộ hoàn toàn bởi Như Lai. Do đó, ngài được gọi là Như Lai.

Từ đêm Như Lai đạt được sự tỉnh thức hoàn toàn siêu việt, cho đến đêm (ngài tịch diệt) ngài đã đạt được niết-bàn cuối cùng trong niết-bàn giới trong vô dư y niết-bàn, bất kỳ điều gì Như Lai đã nói, đã thuyết, đã giải thích thì là như vậy (that’eva), không có gì khác. Do đó, ngài được gọi là Như Lai.

Liên quan đến điều Như Lai nói là điều Như Lai làm (tatha­kari) và liên quan đến điều Như Lai làm là điều Như Lai nói (tatha­vadi). Do đó, ngài được gọi là Như Lai.

Trong thế giới này với các vị trời, ma, Phạm thiên, mọi người, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và quần chúng, Như Lai là bậc chiến thắng bất bại, bậc thấy tất cả, bậc điều khiển quyền lực. Do đó, ngài được gọi là Như Lai.

(Kinh Thế gian: Kinh Phật thuyết như vậy 121-122, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.21 Như Lai là người khiến nhiều điều thiện xuất hiện

Này các Tỳ-kheo, có người xuất hiện trong thế giới này vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng từ bi cho thế gian, vì điều tốt đẹp, lợi íchhạnh phúc cho các vị trời và nhân loại. Người đó là ai? Đó chính là Như Lai, bậc A-la-hán (Bậc xứng đáng tán thán), đức Phật giác ngộ hoàn toàn. Đây là người đó.

Này các Tỳ-kheo, có người xuất hiện trong thế gian này thật khó mà có đượcngười xuất hiện là vị của nhiều điều kỳ diệusự qua đời của vị ấy là một nỗi đau buồn của số đôngngười ấy là duy nhất, không có người ngang hàng, không có người đối xứng, không thể so sánh được, không ngang bằng, vô song, không gì sánh được, vị tốt nhất của loài người. Người đó là ai? Đó là Như Lai, bậc A-la­hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn. Đây là vị đó.

Này các Tỳ-kheo, sự xuất hiện của người là sự xuất hiện của tầm nhìn vĩ đại, ánh sáng vĩ đại, hào quang vĩ đạiNó là sự xuất hiện của sáu điều không vượt trội đượcsự nhận diện của bốn trí tuệ phân tíchsự thâm nhập vào nhiều pháp giới khác nhau, pháp giới đa dạng;đó là sự nhận diện của quả tuệ tri và tự dọsự nhận diện của các quả nhập dòng, nhất lai, bất lai và A-la-hán. Người đó là ai? Đó là Như Lai, bậc A-la-hán, đức Phật giác ngộ hoàn toàn. Đây là người đó. Này các Tỳ-kheo, sự xuất hiện của người này là sự xuất hiện của tất cả điều này.

(Phần Một pháp, kinh 171-187: Kinh Tăng chi I. 22-23, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.22 Các lực của đức Phật

Đoạn này là một phần trả lời của đức Phật khi vị trước đây là Tỳ­kheo bất bình vu cáo ngài bằng cách nói rằng ngài dạy chỉ dựa trên duy lý mà thiếu đi bất kỳ tuệ tri cao hơn lạ thường.

Này Xá-lợi-phất (Sāriputta), người ngu si này Sunakkhatta sẽ không bao giờ hiểu ta trong dòng pháp này: “Đức Thế Tôn ấy hoàn thiện chính tâm ngài các tâm của các loài hữu tình và người khác: ngài hiểu tâm bị tác động bởi tham là bị tác động bởi tham, tâm không tâm bị tác động bởi tham là không bị tác động bởi tham; [tương tự, tâm bị tác động bởi hoặc không tác động bởi sân hoặc si]; ngài hiểu tâm co rút là co rút, tâm sao lãng là sao lãng; ngài hiểu tâm cao thượng là cao thượng, tâm không cao thượng là không cao thượng;ngài hiểu tâm điềm tĩnhđiềm tĩnh, tâm không điềm tĩnh là không điềm tĩnh; ngài hiểu tâm giải thoátgiải thoát, tâm không giải thoátkhông giải thoát.”

Này Xá-lợi-phất (Sāriputta), Như Laimười lực này của Như Lai, sở hữu điều mà ngài tuyên bố địa vị vua đàn, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, vận chuyển bánh xe Phạm thiên.51 Những gì là mười?

Này Xá-lợi-phất, ở đây, Như Lai hiểu như nó thật sự là, có thể là có thể, không thể là không thể. Đó là lực Như LaiNhư Lai có, bằng phẩm hạnh đó mà ngài tuyên bố địa vị vua đàn, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, vận chuyển bánh xe Phạm thiên. Này Xá-lợi-phất, ở đây, Như Lai hiểu như nó thực sự là, các kết quả của những hành động được thực hiện, quá khứ, tương lai và hiện tại, bằng cách khả dĩ và những nguyên nhân;… các cách dẫn đến tất cả (tái sanh) điểm đến;… thế giới với nhiều và các sự vật giới khác nhau;… làm sao chúng sanh có các khuynh hướng khác nhau;tâm tính các giác quan thức của chúng sanh khác, người khác;phiền não, tinh sạch và thoát khỏi đau khổ liên hệ đến các tầng thiền định, giải thoát, chú tâmchứng đắc

Này Xá-lợi-phất, ở đây, Như Lai nhớ lại nhiều kiếp quá khứ: một đời, hai đờinhiều kiếp của thế giới hoại diệt và phát triểnNhư thế với các khía cạnh và đặc thù của chúng, ngài nhớ lại nhiều đời quá khứ của ngài.

Này Xá-lợi-phất, với con mắt trời, thanh tịnh và vượt trên con người, Như Lai thấy các chúng sanh qua đời và tái xuất hiện, ở địa cao hoặc thấp, đẹp hoặc xấu, may mắn hay bất hạnhvà hiểu được làm sao chúng sanh tái sanh tuy theo các hành động của mình

Này Xá-lợi-phất, bằng việc chính mình nhận diện với tuệ tri trực tiếp, Như Lai ở đây, và bây giờ, thâm nhậpan trú trong sự tự do của tâm và tự do bởi tâm không có khuynh hướng sai lầm, với sự kết

51 Nghĩa là bánh xe “siêu việt” của Pháp.

thúc của các khuynh hướng sai lầm. Đó cũng là lực Như LaiNhư Lai có, bằng phẩm hạnh ấy ngài tuyên bố địa vị vua đàn, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, vận chuyến bánh xe Phạm thiên.

(Đại kinh Sư tử hống: Kinh Trung bộ I. 69-71, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.23 Đức Phật là người khởi thủy con đường mà các đệ tử noi theo

Này các Tỳ-kheo, thông qua tỉnh thức với thân sắc, cảm xúc, tri giác, tâm hànhý thức,52 thông qua sự biến mất và kết thúc của chúng, Như Lai, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, đã thoát khỏi bằng sự không dính mắc; ngài được gọi là đức Phật giác ngộ hoàn toàn. Cũng vậy, được áp dụng đối với một tu sĩ được giải thoát bằng trí tuệ

Này các Tỳ-kheo, Như Lai, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, là người khởi thủy con đường chưa được xuất hiện trước đó, người đưa ra con đường chưa được đưa ra trước đây, người tuyên bố con đường chưa được tuyên bố trước đó. Ngài là người biết đường, người khám phá con đường, là bậc thiện xảo trong con đường ấy. Và các đệ tử của ngài Bây giờ, an trú theo sau con đường ấy và cũng trở nên sở hữu nó sau đó.

(Kinh Chánh đẳng giác: Kinh Tương ưng III. 65-66, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.24 Sự xuất hiện của đức Phật mang đến ánh sáng vĩ đại

Này các Tỳ-kheo, miễn khi nào mặt trăngmặt trời chưa xuất hiện trên thế gian này thì lúc đó sẽ không có sự xuất hiện của ánh sáng vĩ đại và sự chiếu sáng, nhưng sau đó, bóng tối mù mịt chiếm ưu thế, một màn đêm tối dày đặc; thì lúc đó ngày và đêm không được phân biệt, tháng và nửa tháng không được phân biệt, các mùa và năm không được phân biệt.

Nhưng, này các Tỳ-kheo, khi mặt trăngmặt trời xuất hiện trên thế gian này thì… [những điều trên xuất hiện và được phân biệt].

52 Năm loại tiến trình cấu thành nên một con người: xem Th.151.

Này các Tỳ-kheo, cũng vậy, miễn là khi Như Lai chưa xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh giác hoàn toàn thì sẽ không có xuất hiện ánh sáng vĩ đại và sự chiếu sáng ngoại trừ đêm tối mù mịt chiếm ưu thế, một màn đêm dày đặc; sẽ không có sự giải thích, giáo huấn, tuyên bố, thiết lập, mở ra, phân tích hoặc làm sáng tỏ bốn chân lý của các bậc thánh. 53

Nhưng này các Tỳ-kheo, khi Như Lai xuất hiện ở đời[thì những điều trên xuất hiện và các chân lý của các bậc thánh được mở ra].

(Kinh Ví dụ mặt trời: Kinh Tương ưng V. 442-443, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

ĐỨC PHẬTĐẠO SƯ

L.25 Quyết định giáo hóa

Trong đoạn này, đức Phật ngần ngại dạy pháp vì ngài nghĩ rằng không ai khác có thể hiểu sự thâm sâu của nó. Tuy nhiên, theo lời thỉnh cầu của Phạm thiên Sahāmpati (về vị này, xem L.19), ngài quyết định thuyết hóa sau khi xem xét rằng cũng có một số người sẽ hiểu.

Vào một thời, đức Thế Tôn đang cư ngụ tại rừng Khổ hạnh (Uruvelā), bên dòng sông Ni-liên-thiền (Nerañjarā) dưới gốc cây Banyan của người chăn dê, vừa mới nhận diện sự tỉnh thức hoàn toàn. Sau đó, trong khi ở một mình và ẩn trú, đức Thế Tôn xem xét: “Pháp này mà ta thấy được thì thật thâm sâu, khó thấy, khó hiểu, an lạc, siêu việt, không thể đạt được bằng suy luận đơn thuần, vi tế, được trải nghiệm bởi bậc trí. Nhưng dân chúng này lại vui trong dính mắc, tận hưởng trong dính mắc và tùy hỷ trong dính mắc. Thật khó cho dân chúng như thế để thấy được trạng thái này, nghĩa là điều kiện cụ thể, lý tương quan.54 Và thật khó để thấy được trạng thái này, nghĩa là sự an tịnh của tất cả tâm hành, từ bỏ tất cả lợi lộc, kết thúc tham ái, chấp thủ, tận diệt, niết-bàn. Nếu ta dạy Pháp,

53 Xem L.27.
54 Xem Th.156-168.

người khác sẽ không hiểu ta và điều đó sẽ làm mệt mỏiphiền phức cho ta.”

Do đó, khi đức Thế Tôn đang quán xét, tâm ngài hướng đến sự không hành động (vô hành), không tuyết Pháp. Ngay sau đó, điều này đến đức Thế Tôn một cách tự nhiên những bài kệ này mà chưa từng nghe trước đây:

Điều gì là điểm cố gắng thuyết pháp mà thậm chí ta thấy khó mà đạt được? - Vì nó không thật sự dễ hiểu bởi người sống trong tham dụcsân hận.

Những ai bị nhuộm màu sắc tham dục, bị bao phủ trong màng tối, sẽ không bao giờ phân biệt được rằng điều đó đi ngược dòng thế gian, trong sáng, thâm sâu, khó thấy và vi tế.

Xem xét như thế, tâm đức Thế Tôn hướng đến việc không hành động hơn là thuyết Pháp.

Sau đó, Phạm thiên Sahāmpati biết trong tâm ngài rằng tư tưởng trong tâm của đức Thế Tônxem xét: “Thế gian sẽ bị lạc lối; thế gian sẽ bị tàn lụi; vì tâm của Như Lai, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, hướng đến sự không hành động hơn là thuyết Pháp.”

Bấy giờ nhanh như người có sức mạnh duỗi tay hoặc gấp tay dài, Phạm thiên Sahāmpati, sắp xếp áo trên của mình trên một vai, chắp tay với lòng tôn kính hướng về đức Thế Tôn bạch rằng: “Bạch đại đức ngài, hãy để đức Thế Tôn thuyết Pháp, hãy để bậc may mắn thuyết pháp. Có nhiều chúng sanh với ít bụi trần trong mắt, người sẽ lụi tàn nếu không nghe được Pháp. Sẽ có những người hiểu được Pháp.”

Phạm thiên Sahāmpati nói như thế rồi sau đó, ngài nói thêm rằng:

Tại Ma-kiệt-đà đã xuất hiện đến nay nhiều học thuyết bất tịnh được bày ra bởi những người vẫn còn ô nhiễm. Xin vui lòng mở các cánh cửa đến sự bất tử! Hãy để họ nghe pháp mà bậc vô nhiễm đã tìm ra.

Giống như ngươi đứng trên đỉnh núi có thể thấy phía dưới mọi người ở tứ phía, vì vậy, thưa bậc trí, vị thánh thấy tất cả, hãy thăng tòa cung điện chánh Pháp. Hãy để bậc không phiền não khảo sát nhân loại này, bị nhận chìm trong khổ đau, vượt qua bởi sanh già.

Hãy đứng lên, bậc anh hùng chiến thắng, bậc lãnh đạo đoàn bộ hành, bậc vô nợ và du hóa trên thế gian này. Hãy để đức Thế Tôn thuyết Pháp, sẽ có người hiểu được.

Sau đó, đức Thế Tôn nghe lời thỉnh cầu của Phạm thiên và vì lòng thương tưởng đối với chúng sanh ngài quan xét thế gian với con mắt của bậc tỉnh thức. Khảo xét thế gian với con mắt của bậc tỉnh thức, ngài thấy: chúng sanh có ít bụi trần trong mắt, chúng sanh có nhiều bụi trần trong mắt; chúng sanh có các giác quan thông lợi, chúng sanh có các giác quan chậm hụt; chúng sanh có các đặc tính tốt, chúng sanh có các đặc tính xấu; có chúng sanh dễ dạy, có chúng sanh khó dạy; và một số an trú thấy sự sợ hãi khiển trách và ở thế giới tương lai.

Giống như trong một ao sen xanh hoặc đỏ hoặc trắng: một số hoa sen sinh ra và lớn lên trong nước phát triển hoàn toàn chìm trong nước mà không ra khỏi đó được; một số hoa sen khác sinh ra và lớn lên trong nước chỉ nằm trên bề mặt của nước; và một số hoa sen khác sinh ra và lớn lên trong nước vượt ra khỏi nước, đứng vững vàng, không bị dính nước - cũng vậy, quán xét thế gian với con mắt của bậc tỉnh thức, đức Thế Tôn thấy: “Chúng sanh có ít bụi trần trong mắt, chúng sanh có nhiều bụi trần trong mắt; chúng sanh có các giác quan thông lợi, chúng sanh có các giác quan chậm hụt; chúng sanh có các đặc tính tốt, chúng sanh có các đặc tính xấu; có chúng sanh dễ dạy, có chúng sanh khó dạy; và một số an trú thấy sự sợ hãi khiển trách và ở thế giới tương lai.

Sau đó, ngài đáp lời Phạm thiên Sahāmpati trong bài kệ: “Mở ra cho chúng là những cánh cửa dẫn đến bất tử, hãy để những ai có tai bây giờ, giải phóng niềm tin của họ. Này Phạm thiên, nghĩ rằng sẽ là điều phiền phức, ta đã không nói chánh pháp vi tếtuyệt diệu này. Sau đó, này Phạm thiên Sahāmpati, nghĩ rằng đức Thế Tôn đã đồng ý lời thỉnh cầu của ông thì ngài sẽ thuyết Pháp, khởi hành ngay tức khắc, sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải của ngài.”

(Kinh Thánh cầu: Kinh Trung bộ I. 167-169, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.26 Vị đầu tiên tiếp nhận lời dạy của đức Phật

Trong đoạn này, đức Phật nghĩ rằng các vị tốt nhất để ngài dạy đầu tiên là hai vị đã dạy ngài chứng được hai cảnh giới không sở hữu gì cả và cảnh giới không tưởng không-không tưởng, Ārāa Kālāma và Uddaka, con của thần Rāma (xem L.10 và L.11). Khi các vị trời bảo ngài về sự qua đời của họ gần đây. Sau đó, ngài cũng khẳng định bằng các năng lực thiền định của mình, ngài sau đó, nghĩ về năm vị tu sĩ lúc trước đã từng thực hành khổ hạnh với ngài. Vào lúc tiến đến năm vị khổ hạnh, lúc đầu họ dự định làm nhục ngài vì sự từ bỏ thực tập khổ hạnh của ngài, nhưng sự khẳng định lặp đi lặp lại về sự thành tựu của ngài đã chỉ cho họ thấy rằng đã có sự thay đổi đối với ngài và rồi sau đó, họ chấp nhận lời dạy của ngài cho đến khi họ cũng đạt được sự tỉnh thức.

Này các Tỳ-kheo, ta xem xét như thế này: “Đối với ai ta nên dạy pháp đầu tiên? Ai sẽ hiểu pháp này nhanh chóng?” Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta suy xét: “Ārāḷa Kālāma là bậc trí, thông minhphân biệt; ngài từ lâu đã có ít bụi trần trong mắt. Giả sử ta dạy pháp đầu tiên cho Ārāḷa Kālāma. Ngài sẽ hiểu nó một cách nhanh chóng.” Này các Tỳ-kheo, sau đó, các vị trời tiến đến ta mà nói: “Bạch đại đức ngài, Ārāḷa Kālāma đã mất cách đây bảy ngày.” Và sự thấy biết này đã xuất hiện trong ta: Ārāḷa Kālāma đã mất cách đây bảy ngày trước. Này các Tỳ-kheo, ta suy xét: “Ārāḷa Kālāma là bậc phân biệt vĩ đại. Nếu ngài nghe được pháp này, ngài sẽ hiểu nó một cách nhanh chóng.”

Này các Tỳ-kheo, ta suy xét như thế này: “Đối với ai ta nên dạy pháp đầu tiên? Ai sẽ hiểu pháp này nhanh chóng?” Này các Tỳ­kheo, sau đó, ta suy xét: “Uddaka, con trai của Rāma, là bậc trí, thông minhphân biệt; ngài từ lâu đã có ít bụi trần trong mắt. Giả sử ta dạy pháp đầu tiên cho Uddaka, con trai của Rāma. Ngài sẽ hiểu nó một cách nhanh chóng.” Này các Tỳ-kheo, sau đó, các vị trời tiến đến ta mà nói: “Bạch đại đức ngài, Uddaka, con trai của Rāma, đã mất đêm qua.” Và sự thấy biết này đã xuất hiện trong ta: Ārāḷa Kālāma đã mất đêm qua. Này các Tỳ-kheo, ta suy xét: “Uddaka, con trai của Rāma, là bậc phân biệt vĩ đại. Nếu ngài nghe được pháp này, ngài sẽ hiểu nó một cách nhanh chóng.”

Này các Tỳ-kheo, ta suy xét như thế này: “Đối với ai ta nên dạy pháp đầu tiên? Ai sẽ hiểu pháp này nhanh chóng?” Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta suy xét: “Các tu sĩ của nhóm năm người đã từng chăm sóc ta trong khi ta thực hành nỗ lực khổ hạnh là các vị hữu ích. Giả sử ta dạy pháp đầu tiên cho họ.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta suy xét: “Nhóm năm vị tu sĩ này hiện nay đang sống ở đâu?” Này các Tỳ-kheo, với con mắt trời, thanh tịnh và siêu vượt con người, ta đã thấy nhóm năm vị này đang cư ngụ ở Vārāṇasī trong vườn Nai tại Isipatana. Này các Tỳ-kheo, sau đó, khi ta cư trú ở rừng Khổ hạnh (Uruvelā) miễn là ta chọn, ta đã bắt đầu du hóa các quãng đường đến Vārāṇasī.

Này các Tỳ-kheo, vị tu sĩ phái Ājīvaka tên Upaka thấy ta đang đi trên đường giữa cây Bồ-đề và Gayā. Ông nói với ta: “Này bạn hữu, các giác quan của ngài thật trong sạch, màu da của ngài thật thanh tịnh và sáng rỡ. Này bạn hữu, ngài đã xuất gia với ai? Hay ai là đạo sư của ngài? Hay ngài thực hành giáo pháp của ai? Này các Tỳ-kheo, được nói như vậy, ta đáp lời vị tu sĩ phái Ājīvaka tên Upaka bằng bài kệ:

Ta là vị siêu vượt hơn tất cả, bậc tuệ tri tất cả, không hoen ố giữa mọi thứ, xuất ly tất cả, giải thoát bằng sự kết thúc tham ái. Sau khi biết tất cả điều này chính ta, ta nên xem ai là đạo sư của mình?

Ta không có thầy; không có ai giống như ta; trong thế gian này với các vị trời, không có ai đối xứng.

Quả thật ta là bậc A-la-hán trên đời; ta là bậc đạo sư siêu việt. Ta là đức Phật tỉnh giác hoàn toàn duy nhất; ta là bậc mà các ngọn lửa bị dập tắttiêu diệt.

Bây giờ, ta đi đến thành phố Kasi để vận chuyển bánh xe Pháp. Trong thế gian này đang bị mù lòa, ta sẽ đánh tiếng trống bất tử.

(Upaka) Này bạn hữu, như bạn tuyên bố, bạn phải là bậc chiến thắng vô tận.

(Đức Phật) Các bậc chiến thắng là những vị như ta đã chiến thắng sự kết thúc các khuynh hướng sai lầm. Ta đã chế ngự tất cả các trạng thái xấu ác; cho nên, này Upaka, ta là bậc chiến thắng.

Này các Tỳ-kheo, khi điều này được nói, Ājīvika Upaka nói rằng: “Này bạn hữu, chúc điều ấy như vậy,” gật đầu, rẽ vào đường mòn, khởi đi.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, vân du nhiều đoạn đường, ta dần dần đến Vārāṇasī, đến vườn Nai ở Isipatana, rồi ta tiếp cận nhóm năm vị tu sĩ. Này các Tỳ-kheo, nhóm năm vị tu sĩ này thấy ta đến từ xa, đồng ý với nhau rằng: “Này bạn hữu, Sa-môn Gotama đang đến đây, người sống một cách xa hoa, người đã từ bỏ sự nỗ lựcquay trở lại sự xa hoa. Chúng ta không nên đảnh lễ hay đứng dậy chào hay tiếp nhận y bát của ngài. Nhưng chỗ ngồi có thể được chuẩn bị để nếu ngài thích ngài có thể ngồi.” Này các Tỳ-kheo, tuy nhiên, khi ta tiến đến, nhóm các tu sĩ năm người nhận ra rằng chính họ không thể giữ hiệp ước của mình. Một số đến gặp ta, lấy y bát của ta; một số chuẩn bị chỗ ngồi; một số chuẩn bị nước rửa chân ta; tuy nhiên, họ gọi ta bằng tên hay là “bằng hữu.”

Này các Tỳ-kheo, ngay sau đó, ta bảo nhóm năm vị tu sĩ: “Này các Tỳ-kheo, không nên gọi Như Lai bằng tên hay là “bằng hữu.” Như Lai là bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn. Này các Tỳ-kheo, hãy lắng nghe, sự bất tử đã được thành tựu! Ta sẽ hướng dẫn các vị, ta sẽ dạy các vị Pháp. Thực hành như các vị được hướng dẫn, bằng việc chính mình nhận ra nó ở đây, và bây giờ, thông qua tuệ tri cao hơn,55 các vị sẽ sớm thâm nhậpan trú trong mục đích tối thượng đó của đời sống thánh hạnh vì lợi ích mà thành viên bộ tộc đúng đắn xuất gia từ đời sống gia đình đến sống đời sống không gia đình.

Này các Tỳ-kheo, khi điều này được nói, nhóm năm vị tu sĩ đã nói điều này với ta: “Này bằng hữu Gotama, bằng giới hạnh, bằng thực tậpkhổ hạnh mà ngài trải qua, bạn đã không đạt được bất kỳ sự khác biệt siêu nhân nào trong việc thấy biết đáng khen ngợi của

55 Tuệ tri trực tiếp là cái biết siêu thường khởi lên từ tâm hợp thiền định.

các bậc thánh. Vì bây giờ, ngài sống một cách xa hoa, sau khi từ bỏ sự nỗ lực rồi trở về đời sống xa hoa, làm sao ngài có thể đạt được bất kỳ sự khác biệt siêu nhân nào về sự thấy biết điều đáng khen ngợi của các bậc thánh?”

Này các Tỳ-kheo, khi điều này được nói, ta bảo nhóm năm vị tu sĩ: “Này các vị, Như Lai không sống xa hoa, hay từ bỏ sự nỗ lực rồi quay trở về đời sống xa hoa. Như Lai là bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn. Này các vị, hãy lắng nghe, sự bất tử đã được thành tựu! Ta sẽ hướng dẫn các vị, ta sẽ dạy các vị Pháp. Thực hành như các vị được hướng dẫn, bằng việc chính mình nhận diện nó ở đây, và bây giờ, thông qua tuệ tri cao hơn các vị sẽ sớm thâm nhậpan trú trong mục đích tối thượng đó của đời sống thánh hạnh vì lợi ích mà thành viên bộ tộc đúng đắn xuất gia từ đời sống gia đình đến sống đời sống không gia đình.

Này các Tỳ-kheo, lần thứ hai, nhóm năm vị tu sĩ đã nói điều này với ta: “Này bằng hữu Gotamalàm sao ngài có thể đạt được bất kỳ sự khác biệt siêu nhân nào về sự thấy biết điều đáng khen ngợi của các bậc thánh?” Này các Tỳ-kheo, khi điều này được nói, ta đã hỏi nhóm năm vị tu sĩ rằng: “Này các vị, đã bao giờ các vị biết ta cứ khăng khăng điều này trước đây?” “Không, bạch đại đức ngài.” “Này các vị, Như Lai là bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn. Này các vị, hãy lắng nghe, sự bất tử đã được thành tựu! Ta sẽ hướng dẫn các vị, ta sẽ dạy các vị Pháp. Thực hành như các vị được hướng dẫn, bằng việc chính mình nhận diện nó ở đây, và bây giờ, thông qua tuệ tri cao hơn các vị sẽ sớm thâm nhậpan trú trong mục đích tối thượng đó của đời sống thánh hạnh vì lợi ích mà thành viên bộ tộc đúng đắn xuất gia từ đời sống gia đình đến sống đời sống không gia đình.

Này các Tỳ-kheo, lần thứ ba, nhóm năm vị tu sĩ đã nói điều này với ta: “Này bằng hữu Gotamalàm sao ngài có thể đạt được bất kỳ sự khác biệt siêu nhân nào về sự thấy biết điều đáng khen ngợi của các bậc thánh?” Này các Tỳ-kheo, khi điều này được nói, ta đã hỏi nhóm năm vị tu sĩ rằng: “Này các vị, đã bao giờ các vị biết ta cứ khăng khăng điều này trước đây?” “Không, bạch đại đức ngài.” “Này các vị, Như Lai là bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn. Này các vị, hãy lắng nghe, sự bất tử đã được thành tựu! Ta sẽ hướng dẫn các vị, ta sẽ dạy các vị giáo pháp. Thực hành như các vị được hướng dẫn, bằng việc chính mình nhận diện nó. Ở đây, và bây giờ, thông qua tuệ tri cao hơn các vị sẽ sớm thâm nhậpan trú trong mục đích tối thượng đó của đời sống thánh hạnh vì lợi ích mà thành viên bộ tộc đúng đắn xuất gia từ đời sống gia đình đến sống đời sống không gia đình.

Này các Tỳ-kheo, ta có thể thuyết phục nhóm năm vị tu sĩ. Này các Tỳ-kheo, sau đó, ta đôi lúc hướng dẫn hai vị trong khi ba vị khác đi khất thực, sáu người chúng ta sống dựa vào những gì ba vị kia mang về từ sự khất thực. Này các Tỳ-kheo, đôi lúc ta hướng dẫn ba vị trong khi hai vị kia đi khất thựcsáu vị chúng ta sống dựa vào những gì hai vị kia mang về từ sự khất thực.

Này các Tỳ-kheo, sau đó, nhóm năm vị tu sĩ, được dạy và hướng dẫn như thế bởi ta, trở thành chính mình là chủ thể của sanh, hiểu được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của sanh, tìm kiếm sự an toàn tối thượng không sanh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn (nirvāa), đạt được an toàn tối thượng không sanh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn. Họ, chính mình là chủ thể của già, hiểu được sự hiểm nguy trong điều gì là chủ thể của già, đi tìm sự an toàn tối thượng không già thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn, đã đạt được sự an toàn tối thượng không già thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn. Họ, chính mình là chủ thể của bệnh... đã đạt được sự an toàn tối thượng không bệnh thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn. Họ, chính mình là chủ thể của chếtđã đạt được sự an toàn tối thượng không chết thoát khỏi ràng buộc. Họ, chính mình là chủ thể của ưu sầuđã đạt được sự an toàn tối thượng không ưu sầu, niết-bàn. Họ, chính mình là chủ thể của phiền nãođã đạt được sự an toàn tối thượng không phiền não thoát khỏi ràng buộc, niết-bàn.

Sự thấy biết xuất hiện trong nhóm năm vị tu sĩ: “Sự giải thoát của ta thì không thể lay động được. Đây là kiếp sống cuối cùng của chúng ta. Bây giờ, không còn tái sanh nữa.”

(Kinh Thánh cầu: Kinh Trung bộ I. 167-173, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.27 Bài kinh đầu tiên: Vận chuyển bánh xe Pháp

Đoạn này là bài kinh đầu tiên nổi tiếng của đức Phật. Nó giới thiệu con đường Phật giáo là “trung đạo” giữa hai cực đoan chìm đắm dục lạckhổ hạnh ép xác, rồi sau đó, tập trung về 1) nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kéo theo khổ đau vật lýtinh thần, để trở nên “khổ đau” (dukkha - như được giải thích đầy đủ hơn trong các đoạn văn Th. 150-152), 2) làm cách nào những điều này xuất hiện từ tham ái hay khao khát tính dục và 3) kết thúc với sự chấm dứt tham ái, 4) nó đạt được nhờ sự thực hành con đường thánh tám ngành. Vào cuối lời dạy, một trong những thính giả của đức Phật đạt được sự nhận diện kinh nghiệm dựa trên nó: vị ấy đạt được “tầm nhìn Pháp” hay “con mắt Pháp,” tuệ giác trực tiếp bên trong cấu thành thực tại (pháp) là bất kỳ điều gì xuất hiện sẽ bị diệt mất ngay lúc ấy. Đặc biệt, hiện tượng khổ đau xuất hiện từ tham ái sẽ bị hoại diệt khi tham ái kết thúc. Việc thành tựu con mắt pháp đánh dấu sự chứng đắc ít nhất thánh quả nhập dòng: trở thành con người thánh về mặt tâm linh (thánh nhân) chắc chắn sẽ đạt được sự giác ngộ hoàn toàn tối đa trong bảy đời nữa. Các bậc thánh là những vị có tuệ giác tâm linh sâu sắc, trở thành tỉnh thức/giác ngộ từng phần hay toàn phần (xem Th. 201). Đối với họ, các chân lý quan trọng nhất, trong ý nghĩa về các khía cạnh thực tại, là hiện tượng khổ đau, điều gì gây ra chúng , sự vượt qua điều khổ đau và con đường dẫn đến điều này; đây là bốn “chân lý của các bậc thánh.”56 Bài kinh kết thúc với thông điệp “sự vận chuyển bánh xe Pháp” của Phật, bằng sự chuyển đổi tuệ giác về Pháp, truyền bá đến nhiều vị trời khác nhau.

Tôi nghe như vầy. Một thời đức Thế Tôn trú tại Vārāṇasī ở vườn Nai (Isipatana). Ở đó, đức Thế Tôn bảo nhóm năm vị tu sĩ như này: “Này các vị, có hai cực đoan không nên theo đuổi bởi một bậc

56 Thường được dịch là “các chân lý thánh,” nhưng điều dẫn đến hiểu lầm chúng là bốn thực tại, chân lý thứ hai được mô tả trong đoạn này là “được từ bỏ,” chỉ khi nó chính là chân lý về nguồn gốc của điều gì là khổ đau có thể là “thánh,” nhưng nếu vậy, nó không cần được từ bỏ.

xuất gia (thành đời sống không gia đình). Gì là hai? Đó là theo đuổi hạnh phúc giác quan trong dục lạc, thấp hèn, thô tục, phương cách của con người tầm thường, đê tiện, không kết nối đến mục đích; và đó là theo đuổi tự khổ hạnh, đau khổ, đê tiện, không kết nối đến mục đích. Này các Tỳ-kheo, không theo hướng một trong hai cực đoan này, Như Lai đã giác ngộ đến con đường trung đạo, giúp xuất hiện tầm nhìn, xuất hiện tuệ tri, dẫn đến an lạc, đến tuệ tri cao hơn, đến sự tỉnh thức hoàn toàn, đến niết-bàn.

Này các Tỳ-kheo, trung đạo đó được giác ngộ bởi Như Lai là gì mà xuất hiện tầm nhìn, xuất hiện tuệ tri, dẫn đến an lạc, đến tuệ tri cao hơn, đến sự tỉnh thức hoàn toàn, đến niết-bàn? Nó chính là con đường thánh tám ngành này, nghĩa là tầm nhìn chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, chánh mạng, nỗ lực chân chánh, chánh niệm, chánh định. Này các Tỳ­kheo, đây chính là con đường trung đạo ấy được giác ngộ bởi Như Lai là gì mà xuất hiện tầm nhìn, xuất hiện tuệ tri, dẫn đến an lạc, đến tuệ tri cao hơn, đến sự tỉnh thức hoàn toàn, đến niết-bàn.

Bây giờ, này các Tỳ-kheo, đây là chân lý của các bậc thánh về khổ: sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ; gần gũi với điều không ưa thích là khổ; chia cách điều ưa thích là khổ; không đạt được điều mình muốn là khổ; tóm lại, năm loại dính mắc về hiện hữu57 là khổ.

Bây giờ, này các Tỳ-kheo, đây là chân lý của các bậc thánh về nguồn gốc của khổ. Chính tham ái này dẫn đến sự hiện hữu lặp đi lặp lại, đồng hành cùng sự vui thíchchấp thủ, tìm kiếm khoái lạc bây giờ, ở đây, bây giờ, ở kia; nghĩa là tham ái về các thú vui giác quan, tham ái trở thành (cái gì đó), tham ái về sự không hiện hữu (của cái gì đó).

Bây giờ, này các Tỳ-kheo, đây là chân lý của các bậc thánh về sự kết thúc khổ đau. Chính là sự biến mất hoàn toànkết thúc của

57 Các loại quá trình thân tâm tạo nên con người, họ dính mắc nó như là con người thật, hoặc một chúng sanh được sở hữu bởi, một cái ngã thường hằng.

cùng tham ái trên, từ bỏxóa bỏ nó, thoát khỏi nó, không dựa vào nó.58

Bây giờ, này các Tỳ-kheo, đây là chân lý của các bậc thánh về con đường dẫn đến sự kết thúc của khổ đau. Nó chính là con đường thánh tám ngành này, nghĩa là tầm nhìn chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói chân chánh, nghề nghiệp chân chánh, chánh mạng, nỗ lực chân chánh, chánh niệm, chánh định.

“Đây là chân lý của các bậc thánh về khổ đau:” trong ta, này các Tỳ-kheo, liên hệ đến điều chưa từng nghe trước đây, ở đó, xuất hiện tầm nhìn, tuệ tri, trí tuệ, tuệ giác và ánh sáng. Giờ về điều này, “Đây là chân lý của các bậc thánh về khổ nên hiểu một cách đầy đủ: trong ta, này các Tỳ-kheo, liên hệ điều những điều chưa từng nghe trước đây, ở đó, xuất hiện tầm nhìn, tuệ tri, trí tuệ, tuệ giác và ánh sáng. Giờ về điều này, “Đây là chân lý của các bậc thánh về khổ - đã được hiểu một cách đầy đủ: trong ta, này các Tỳ-kheo, liên hệ điều những điều chưa từng nghe trước đây, ở đó, xuất hiện tầm nhìn, tuệ tri, trí tuệ, tuệ giác và ánh sáng.

(Tương tự) trong ta, này các Tỳ-kheo, liên hệ điều những điều chưa từng nghe trước đây, ở đó, xuất hiện tầm nhìn, tuệ tri, trí tuệ, tuệ giác và ánh sáng, liên hệ đến: “Đây là chân lý của các bậc thánh về nguồn gốc của khổ đau,” “Đây là chân lý của các bậc thánh về nguồn gốc của khổ đau nên được từ bỏ” và “Đây là chân lý của các bậc thánh về nguồn gốc của khổ đau - đã được từ bỏ.”

(Tương tự) trong ta, này các Tỳ-kheo, liên hệ điều những điều chưa từng nghe trước đây, ở đó, xuất hiện tầm nhìn, tuệ tri, trí tuệ, tuệ giác và ánh sáng, liên hệ đến: “Đây là chân lý của các bậc thánh về sự diệt tận của khổ đau,” “Đây là chân lý của các bậc thánh về sự kết thúc của khổ đau nên được trải nghiệm tự thân” và “Đây là chân lý của các bậc thánh về sự diệt tân của khổ đau - đã được trải nghiệm tự thân.”

58 Nghĩa là: từ bỏ khát ái về “những gì tiếp theo” và đưa chính mình đầy đủ về điều ở đây, bây giờ; từ bỏ sự chấp thủ, quá khứ, hiện tại hay tương lai; tự do đến từ sự biết đủ; không dựa vào tham ái để tâm không bị cuốn theo bất kỳ điều gì, dính chặt vào đó, trú ngụ ở đó.

(Tương tự) trong ta, này các Tỳ-kheo, liên hệ điều những điều chưa từng nghe trước đây, ở đó, xuất hiện tầm nhìn, tuệ tri, trí tuệ, tuệ giác và ánh sáng, liên hệ đến: “Đây là chân lý của các bậc thánh về sự diệt tận của khổ đau,” “Đây là chân lý của các bậc thánh về con đường dẫn đến sự diệt tận khổ đau nên được phát triển” và “Đây là chân lý của các bậc thánh về con đường dẫn đến sự diệt tận của khổ đau đã được phát triển.”

Ngay khi, này các Tỳ-kheo, cái thấy biết của ta về bốn chân lý này của các bậc thánh như chúng thực sự là trong ba giai đoạn (mỗi) và mười hai cách (tất cả cùng nhau) không hoàn toàn thanh tịnh trong cách này, sau đó, trong thế giới với các vị trời, ma, Phạm thiên, nhân dân, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và quần chúng, ta đã không tuyên bố trở thành tỉnh thức hoàn toàn đến sự tỉnh thức hoàn hảo siêu việt. Nhưng khi, này các Tỳ-kheo, cái thấy biết của ta về bốn chân lý này của các bậc thánh như chúng thực sự là trong ba giai đoạn (mỗi) và mười hai cách (tất cả cùng nhau) hoàn toàn thanh tịnh trong cách này, sau đó, trong thế giới với các vị trời, ma, Phạm thiên, nhân dân, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và quần chúng, ta đã tuyên bố trở thành tỉnh thức hoàn toàn đến sự tỉnh thức hoàn hảo siêu việt. Tuệ tri xuất hiện trong ta: “Không lay động là sự giải thoát của tâm ta; đây là kiếp sống cuối cùng: Bây giờ, không còn có tái sanh nữa.”

Đây là điều đức Thế Tôn nói. Thật hân hoan, nhóm năm vị tu sĩ hoan hỷ trong lời đức Thế Tôn. Trong khi sự giải thích này được tuyên nói, ở đó, xuất hiện trong đại đức Kiều-trần-như (Koṇḍañña) không nhiễm bụi trần, cái nhìn vô nhiễm về Pháp: “Bất kỳ điều gì là chủ thể của sinh khởi, tất cả điều đó cũng là chủ thể của sự kết thúc.”

Khi bánh xe pháp đã được vận chuyển bởi đức Thế Tôn, các vị trời ở mặt đất xuất hiện hò reo: “Tại Vārāṇasī, ở vườn Nai Isipatana, bánh xe pháp siêu vượt đã được vận chuyển bởi đức Thế Tôn, điều không thể bị dừng lại bởi bất kỳ Sa-môn hay Bà-la-môn hay chúng ma hay Phạm thiên hay bất kỳ ai trên thế gian này.” Sau khi nghe tiếng hòa reo của các vị trời ở mặt đất, các vị trời ở cõi trời Tứ Thiên Vương cũng xuất hiện hòa reo. Sau khi nghe nó, các vị trời Ba Mươi Ba cũng làm như thế, sau đó, đến các vị trời Dạ-ma (Yama), đến các vị trời Toại nguyện (Đâu-suất), các vị trời ở Hóa Lạc Thiên, các vị trời ở trời Tha Hóa Tự Tại và các vị trời ở Phạm thiên.

Do đó, ngay lúc ấy, vào thời khắc ấy, vào sát-na ấy, tiếng hòa reo vang vọng xa đến thế giới Phạm thiên và mười ngàn thế giới rúng động, rung chuyển và rung động, hào quang rực rỡ không đo lường được xuất hiện trên thế gian này, siêu vượt uy lực của các vị trời.

Sau đó, đức Thế Tôn đã nói lên Cảm hứng ngữ này: “Bậc tôn quý Kiều-trần-như (Koṇḍañña) quả thật đã hiểu! Bậc tôn quý Kiều­trần-như (Koṇḍañña) quả thật đã hiểu! Trong cách này, đại đức Kiều-trần-như có tên A-nhã (Añña, người đã hiểu) Kiều-trần-như.

(Kinh Chuyển pháp luân: Kinh Tương ưng V. 420-424, do P.H. dịch tiếng Anh).

L.28 Bậc thầy thuyết Pháp

Đại vương, Như Lai xuất hiện trên thế gian, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, người có đầy đủ trí tuệ và phẩm hạnh, bậc may mắn, bậc tuệ tri về các thế giới, bậc hóa độ người không ai sánh bằng, bậc thầy của trời và người, bậc tỉnh thức, Thế Tôn. Ngài, sau khi nhận diện nó bằng chính tuệ tri cao hơn chính mình, tuyên bố thế gian này với các vị trời, chúng ma, Phạm thiện, nhân dân, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và quần chúng. Ngài tuyên dạy pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, với ý nghĩadiễn đạt đúng đắn làm hiển lộ đời sống thánh hạnh hoàn toàn toàn hảo và thanh tịnh.

(Kinh Sa-môn quả: Kinh Trường bộ I. 62, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.29 Gửi đi sáu mươi đệ tử giác ngộ tuyên thuyết chánh pháp

Đoạn này mô tả làm sao đức Phật, sau khi tập hợp sáu mươi vị đệ tử tỉnh thức là các bậc A-la-hán giống như chính ngài, gửi đi vì lòng từ bi thuyết pháp cho tha nhân.

Lúc bấy giờ, có sáu mươi vị A-la-hán trên thế gian.

Đức Thế Tôn nói điều này: “Này các Tỳ-kheo, ta đã thoát khỏi tất cả cám dỗ, cả hai thuộc cõi trờicõi người. Này các Tỳ-kheo, các vị cũng vậy, cũng đã thoát khỏi tất cả các cám dỗ, cả hai cõi trờicõi người. Này các Tỳ-kheo, hãy lên đường vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì thiện lành, lợi íchhạnh phúc của trời và người. Đừng để hai vị đi chung một đường.

Này các Tỳ-kheo, hãy dạy pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, với ý nghĩadiễn đạt đúng đắn. Hãy làm hiển lộ đời sống thánh hạnh hoàn toàn toàn hảo và thanh tịnh. Có nhiều chúng sanh với ít bụi trần trong mắt sẽ bị đọa lạc nếu như họ không nghe được Pháp. Sẽ có nhiều người hiểu được Pháp.

Này các Tỳ-kheo, ta cũng sẽ đi đến làng Senanu ở rừng Khổ hạnh để tuyên thuyết giáo pháp.

(Đại phẩm I. 10-11: Luật tạng I. 20-21, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.30 Đảm bảo người không quá đói để hiểu pháp

Đoạn này mô tả phương tiện từ biđức Phật thuyết dạy.

Một ngày, khi bậc đạo sư đang ngồi trong Hương Thất tại Tinh xá Kỳ-viên (Jeta Grove), quan sát thế gian lúc bình minh, ngài thấy người nghèo ở Alavi. Nhận thấy rằng vị ấy có căn lành cho việc chứng đắc, ngài đã đi cùng với đoàn năm Tỳ-kheo quây quanh mình, đi đến Alavi, nơi đó dân chúng ngay tức khắc mời bậc đạo sư làm khách của mình. Người đàn ông nghèo kia cũng đã nghe bậc đạo sư đến và quyết định đi nghe ngài thuyết Pháp. Nhưng chính ngày đó một con bò của ông bị lạc mất. Vì vậy, ông suy xét, “Ta nên đi tìm bò hay ta nên đi nghe Pháp?” Rồi ông quyết định “Ta sẽ kiếm bò trước rồi sau đó đi nghe Pháp.” Theo đó, vào lúc sáng sớm, ông đã khởi hành đi tìm bò của mình.

Các cư dân Alavi cung cấp chỗ ngồi (sàn tọa) cho Tăng đoàn Tỳ-kheo dẫn đầuđức Phật, phục vụ thức ăn, sau bữa ăn lấy bình bát của bậc đạo sư, để ngài có thể tụng kinh chúc phúc. Bậc đạo sư nói: “Vì lợi ích của người ấy mà ta đến đây, một chuyến đi ba mươi lý, vậy mà anh ta đi vào trong rừng để tìm bò bị thất lạc của mình. Cho tới khi nào anh ta trở về thì ta sẽ thuyết Pháp.” Ngài giữ sự an tịnh của mình.

Trong khi vẫn còn là ban ngày, người đàn ông nghèo ấy đã tìm thấy con bò và ngay tức khắc quay đưa nó trở về bầy đàn. Sau đó, ông ta nghĩ, “Thậm chí nếu như ta không làm gì khác thì ta sẽ ít nhất đảnh lễ bậc đạo sư rồi.” Theo đó, mặc dù ông ta đang bị đè nặng bởi cơn đói day dứt, nhưng ông quyết định không quay về nhà mà nhanh chóng đến chỗ bậc đạo sư, rồi sau khi đảnh lễ ngài, ngồi xuống một bên. Khi người đàn ông nghèo này đến đứng trước bậc đạo sư, ngài nói với người quản gia cúng dường “có còn bất kỳ thức ăn nào dành cho Tăng đoàn Tỳ-kheo?” “Bạch đại đức ngài, thức ăn vẫn chưa được đụng tới” “tốt lắm, hãy phục vụ thức ăn cho người đàn ông này.”

Ngay khi sự khổ đau vật lý của người đàn ông nghèo kia được khuây khỏa, tâm anh ta trở nên tĩnh lặng. Sau đó, bậc đạo sư thuyết pháp theo thứ tự từng bước từng bước một,59 rồi chỉ ra (bốn) chân lý (của các bậc thánh). Cuối lời dạy, vị đàn ông nghèo ấy chứng đắc thành quả nhập dòng (tu-đà-hoàn)[Sau đó, đức Phật giải thích với các Tỳ-kheo rằng ngài biết được tình huống của người đàn ông nghèo kia và nghĩ:] “Nếu ta dạy pháp người này trong khi anh ta đang bị đau khổ của sự dày vò đói bụng thì anh ta sẽ không thể nào hiểu nó.”

(Chú giải Kinh Pháp cú III. 261-263, do P.H. dịch Anh).

L.31 Một người thấp kém được tôn kính bởi các vị trời thông qua sự thọ giớigiác ngộ

Ta sinh ra trong một gia đình tầm thường, nghèo, có ít thực phẩm; công việc của ta thấp kém: ta là người gom các hoa héo.

Bị người coi khinh, xem thường, xỉ vả, làm tâm ta tầm thường ta đảnh lễ nhiều người.

Sau đó, ta thấy bậc tỉnh thức, được Tăng đoàn Tỳ-kheo tôn kính,

59 Xem L.34 và Th.28.

vị anh hùng vĩ đại, đi vào thành phố siêu việt của người dân Ma­kiệt-đà (Magadha).

Quăng cây đòn gánh xuống, ta tiến đến đảnh lễ ngài; vì lòng thương tưởng đến ta, bậc tốt nhất của nhân loại đứng im.

Sau khi đảnh lễ dưới chân ngài, đứng qua một bên, ta đã xin thưa bậc tốt nhất của tất cả chúng sanh về việc cho phép gia nhập Tăng đoàn.

Sau đó, bậc đạo sư từ mẫn, thương tưởng đến toàn thế gian, nói với ta: “Hãy đến, này Tỳ-kheo.” Đó là sự gia nhập đầy đủ của ta.

An trú một mình ở rừng, không giải đãi, ta chính mình thực hành lời dạy của ngài, giống như Bậc Chiến Thắng đã cổ vũ ta.

Vào canh đầu tiên của đêm ta nhớ lại các đời sống quá khứ của ta; vào canh giữa của đêm, ta thanh tịnh con mắt trời của ta60; vào canh cuối của đêm, ta xé tan màn lưới vô minh.

Sau đó, vào lúc cuối đêm, hướng bình minh, (Các trời) Inda (Đế-thích -Sakka) và Phạm thiên đến và đảnh lễ ta và chắp tay nói:

“Xin đảnh lễ ngài bậc oai đức của nhân loại; xin đảnh lễ ngài, bậc tốt nhất của nhân loại; đối với ngài, các khuynh hướng sai lầm đã được kết thúc; ngài là bậc xứng đáng được cúng dường, bạch ngài.”

Sau đó, thấy ta được cung kính bởi hội đồng các vị trời, mỉm cười rồi bậc đạo sư nói điều này:

“Bằng sự khổ hạnh, bằng việc sống đời sống thánh hạnh, bằng tự thu thúc kiềm chế, bởi điều này người là một Bà-la-môn; đây là trạng thái tối thượng của vị Bà-la-môn.”

(Những bài thơ kệ của Sunita: Trưởng lão Tăng kệ 620-631, do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.32 Bậc đạo sư thiện xảo: Tinh tấn không được quá hoặc quá chùng

Đoạn này minh họa phương pháp thiện xảo mà đức Phật dạy. Nó

60 Điều đó có thể thấy làm sao các chúng sanh khác tái sanh theo của họ.

liên quan đến Tỳ-kheo mới thọ giới đã quá tinh tấn dồn năng lượng ứng dụng trong thiền hành và rồi gần như sắp từ bỏ đời sống tu sĩ khi mà vị ấy không đạt được các kết quả lợi ích. Đức Phật khuyên ông nên tiếp cận mọi thứ nhẹ nhàng hơn, nhưng không phải theo cách chùng xuống. Khi lời khuyên này liên hệ đến một tu sĩ, nó cũng còn nguyên giá trị chung đối với việc thực hành tâm linh.

Bởi vì áp dụng sự tinh tấn quá nhiệt thành trong việc bước chân lên và xuống, (da) chân của đại đức Sona đã bị bong, nơi bước chân lên xuống trở nên dính máu như thể đã có lò giết mổ gia súc. Sau đó, tư tưởng sau đây xuất hiện trong tâm của đại đức Sona là ngài đang thiền một mình: “Các đệ tử của đức Thế Tôn an trú áp dụng tinh tấn. Ta là một trong số họ, mà tâm ta không thoát khỏi các khuynh hướng sai lầm với sự không chấp thủ. Ta có nhiều tài sản của gia đình ta. Vì vậy, lẽ ra ta có thể tận hưởng các tài sản và làm nhiều hành động nghiệp lành chăng?61 Giả sử rằng ta, sau khi trở về đời sống thấp kém, có nên tận hưởng các tài sản và làm nhiều hành động nghiệp lành chăng?”

Sau đó, đức Thế Tôn bằng tâm mình biết được tâm của đại đức Sona, giống như người đàn ông mạnh mẽ duỗi cánh tay hay gấp cánh tay lại, biến khỏi núi Linh Thứu xuất hiện tại Rừng Lạnh (Cool Grove)[Ngài tiến đến Sona và hỏi có phải con đang nghĩ sẽ trở về đời sống tại gia do sự thất bại của các nỗ lực tâm linh của con phải không. Khi vị ấy nói rằng điều đó là đúng, đức Phật nói:] “Này Sona, con nghĩ gì về điều này? Con đã từng rất giỏi về đàn dây tỳ-bà khi còn tại gia phải không? “Vâng, bạch đại đức ngài.” “Này Sona, con nghĩ gì về điều này? Khi các dây đàn tỳ-bà bị quá căng thì đàn tỳ-bà lúc đó của con có du dương và phù hợp để chơi không?” “Không, thật sự là không, bạch đại đức ngài.” “Này Sona, con nghĩ gì về điều này? Khi các dây đàn tỳ-bà bị quá chùng thì đàn tỳ-bà lúc đó của con có du dương và phù hợp để chơi không?” “Không, thật sự là không, bạch đại đức ngài.” “Này Sona, thậm chí cũng vậy, trong việc áp dụng quá tinh tấn không nghỉ ngơi và nỗ lực quá yếu đuối

61 Đó dẫn đến sự tái sanh tốt, nhưng không giải thoát.

dẫn đến uể oải. Này Sona, cho nên con quyết tâm cân bằng trong tinh tấnquán chiếu, cân bằng các giác quan tâm linh62 và quán chiếu về nó.” Vâng thật sự vậy, bạch đại đức ngài,” đại đức Sona trả lời đức Thế Tôn trong sự vâng lời.

Sau đó, đức Thế Tôn, sau khi sách tấn đại đức Sona với lời cổ vũ này, giống như người đàn ông mạnh mẽ duỗi cánh tay hay gấp cánh tay lại, ngài biến mất ngay trước mặt đại đức Sona ở Rừng Lạnh (Cool Grove), xuất hiện ở núi Linh Thứu (Vulture Peak).

Sau đó, đại đức Sona quyết tâm cân bằng trong sự tinh tấn Ngài soi rọi sự cân bằng các giác quan rồi quán chiếu về nó. Sau đó, đại đức Sona, an trú một mình, ẩn trú, nhiệt tâm, tỉnh thức, tự nguyện, đã sớm nhận diện bây giờ và ở đây, bằng chính tuệ tri cao hơn của mình mục đích tối thượng đó của đời sống thánh hạnh vì lợi ích cho các người con của những gia đình toàn hảo xuất gia đúng đắn từ đời sống gia đình thành đời sống không gia đình, an trú trong đó Ngài hiểu rằng: “Sanh đã bị hoại diệt, các yêu cầu của đời sống thánh hạnh đã được thành tựu, điều gì phải được làm đã được thực hiện và không còn gì nữa để làm kiếp sau.” Vì vậy, đại đức Sona đã trở thành một trong các A-la-hán.

(Đại phẩm V. 1. 13-18: Luật tạng I. 182-183, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.33 Các phương tiện thiện xảo của đức Phật là bậc đạo sư

Trong đoạn này, đức Phật dạy Tỳ-kheo Nanda, người em họ của mình, đảm bảo vị ấy vẫn còn là tu sĩ sau khi vị ấy diễn tả ý định quay trở về đời sống tại gia. Ngài hỏi ông tại sao ông có ý định vậy, rồi sau đó, giúp ông thấy rằng liệu rằng chính người phụ nữ đẹp mà ông thấy thì các cõi trời có rất nhiều, đẹp hơn bất kỳ người nào. Do đó, sau khi giúp ông vẫn là Tỳ-kheo, Nanda sau đó nhận ra rằng làm như thế để có được các thiên nữ đẹp là lý do thấp hèn, nhanh chóng bị chỉ trích bởi các Tỳ-kheo khác, chính ông đã ứng dụng một cách đúng đắn rồi đạt được sự giác ngộ. Do đó, đức Phật đã khéo léo hướng dẫn ông đến

62 Xem Th.89 và Th.91.

mục đích cao nhất, bằng việc trước hết khuyến dụ mục đích thấp hơn đầy quyến rũ.

Một câu chuyện khác về sự khéo léo của đức Phật là bậc đạo sư đến từ luận giải Kinh Pháp cú (III. 425-428). Nó mô tả con trai của người thợ rèn đặc biệt rất dở về tất cả các thực hành thiền định khi được hướng dẫn, được tập trung hầu như về tất cả các phương diện không khả ái của thân thể, vì thế vị ấy nghĩ rằng cậu sẽ không bao giờ có thể tập trung nhập định được. Thất vọng, cậu đến gặp thầy mình là ngài Xá-lợi-phất (Sāriputta) rất nhiều lần. Xá-lợi-phất dẫn cậu đến gặp đức Phật, Ngài đã nhận ra trong nhiều kiếp sống quá khứ, cũng như kiếp sống này, cậu là người thợ rèn và chỉ cần một đối tượng (đề mục) đẹp để an định tâm với mục đích cậu có thể đạt được các tầng thiền định; một đối tượng tiêu cực sẽ không bao giờ, lúc đầu, hữu ích cho cậu. Ngài gợi lên một đóa hoa sen đỏ vàng cho cậu rồi bảo cậu thực hành thiền về đề mục ấy. Vị ấy nhanh chóng chứng đắc bốn tầng thiền định. Đức Phật thấy rằng chỉ bây giờ, với tâm cậu được định tĩnh, là thời điểm thích hợp cho cậu thấy được các dấu hiệu của suy tànhoại diệt. Ngài khiến cho hoa sen héo úa. Cậu bé thấy vậy và rồi sau đó, các hoa sen khác, tự nhiên xuất hiện, tất cả ở nhiều giai đoạn phát triển, từ mới nở hoa đến lúc trưởng thành hoàn toàn, đến suy tàn. Sau bài kệ (Pháp cú 285) từ đức Phật, cậu bé đã giác ngộ.

Một câu chuyện khác trong Chú giải Pháp cú (II. 272-275) về cái chết của đứa bé mới sinh của nàng Kisa Gotamī. Nàng không thể chấp nhận điều này, mang con đi tìm thuốc “chữa trị” cho nó. Mọi người nghĩ nàng điên nhưng có người tử tế hướng dẫn nàng đến gặp đức Phật. Ngài nói ngài có thể chữa trị đứa bé nếu như nàng lấy nắm hạt cải miễn là từ ngôi nhà chưa từng có người chết. Sau khi đi tìm kiếm loại “thuốc” này, nàng chợt nhận ra rằng nàng không phải một mình mất đi ai đó rồi chấp nhận sự thật này. Đức Phật sau đó, dạy nàng và nàng đã chứng đắc quả vị nhập lưu.

“Phu nhân Thích-ca, đối với con, bạch đức Thế Tôn, là bậc khả ải nhất trên đất này, đứng nhìn mái tóc đang chải lỡ cỡ khi con ra khỏi nhà và nói điều này với con “Nguyện cho ngài quay trở lại sớm, bậc đạo sư.” Bây giờ, chính khi nhớ lại điều này mà con, bạch đức Thế Tôn, có cuộc sống thánh hạnhkhông vui thích trong đó, rằng ta không thể tiếp tục đời sống thánh hạnh một cách đúng đắn, rằng ta sẽ từ bỏ tu luyện rồi quay trở về đời sống thấp hơn.”

Sau đó, đức Thế Tôn nắm lấy đại đức Nanda bằng tay và như người đàn ông manh mẽ có thể duỗi cánh tay hay gấp cánh tay lại, ngài đã biến mất khỏi Tịnh xá Kỳ Viên (Jeta Grove) rồi xuất hiện giữa các vị trời Ba Mươi Ba. Và vào lúc đó có năm trăm thiên nữ với “đôi chân bồ câu” đã đến tùy tùng Đế-thích (Sakka), vua của các vị trời, kết quả là đức Thế Tôn nói với đại đức Nanda rằng“Con nghĩ sao này Nanda? Cái nào đáng đẹp hơn, khả ái hơn để nhìn hay truyền cảm hứng an bình hơn: phu nhân Thích-ca là người đáng yêu nhất trên đất này hay là năm trăm vị thiên nữ này có “đôi chân bồ câu?” “Như thể cô ấy là con khỉ què… khi so sánh với năm trăm thiên nữ này…”

“Hãy tìm vui thích ở đó, này Nanda, hãy tìm vui thích ở đó. Ta sẽ đảm bảo của con về sự đạt được năm trăm vị tiên nữ này“Nếu như đức Thế Tôn đảm bảo cho conthì con, bạch đức Thế Tôn, sẽ tìm thấy sự vui thích trong đời sống thánh hạnh.”

[Sau khi họ trở về tịnh xá Kỳ Viên (Jeta Grove)] các Tỳ-kheo đến nghe rằng “Mọi người nói đại đức Nanda, em họ của đức Thế Tôn, con trai của dì ngài, hướng đến đời sống thánh hạnh vì các tiên nữ“Sau đó, các Tỳ-kheo là những vị đồng hành với đại đức Nanda (bây giờ) đặt cho ông các danh hiệu “người làm thuê,” “kẻ mua bán”

Sau đó, đại đức Nanda, trở nên phiền phức, nhục nhã, khó chịu bởi các biệt danh “người làm thuê,” “kẻ mua bán” do các bạn đồng tu đặt, an trú một mình, ẩn dật, siêng năng, tỉnh giác, nhiệt tâm, cẩn trọng, không lâu sau đóđã thâm nhậpan trú trong trạng thái cao tột siêu việt của đời sống thánh hạnh để từ đó người thanh niên trẻ đã đúng đắn xuất gia rời bỏ gia đình sống đời sống không gia đìnhđại đức Nanda trở thành một trong các A-la-hán.

(Kinh Nanda: Kinh Phật tự thuyết 22-23, do P.H. dịch tiếng Anh).

L.34 Tìm kiếm bên trong và bài kinh từng bước

Trong đoạn này, đức Phật đã thúc giục một nhóm đàn ông hãy nhìn vào bên trong là điều đáng tìm kiếm, còn hơn là quan tâm những vấn đề bên ngoài. Sau đó, Ngài dạy những điều được biết là bài kinh từng bước (xem Th.28), trong đó ngài chuẩn bị tâm người nghe trước khi trao cho họ lời dạy cao tột nhất của ngài.

Sau đó, đức Thế Tôn, cư ngụ tại Vārāṇasī cho đến khi ngài thấy thích hợp, đã khởi hành đi đến rừng Khổ hạnh (Uruvelā). Rồi đức Thế Tôn rời đường chính để đi đến khu rừng đã định; đến đó, vào đó, ngài ngồi xuống dưới một gốc cây. Lúc bấy giờ, có một nhóm ba mươi người bạn thuộc tầng lớp quý tộc đang chơi thể thao trong khu rừng ấy với các người vợ của mình. Một vị trong số họ chưa có vợ; đối với cậu, họ kiếm cho một cô gái điếm. Bấy giờ, trong khi họ mải mê thích thú trong các cuộc vui chơi thì cô gái điếm ấy đã trộm lấy các vật dụng tư trang của họ bỏ chạy đi mất.

Sau đó, những người bạn này, giúp đỡ bạn mình, đã đi tìm người phụ nữ ấy, lang thang khắp khu rừng đó, họ thấy đức Thế Tôn đang ngồi dưới một gốc cây. Thấy ngài, họ đi đến chỗ ngài; tiếp cận ngài, họ nói với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, đức Thế Tôn có thấy người phụ nữ đi ngang qua đây không?” “Này các thanh niên trẻ, các vị phải làm gì với người phụ nữ ấy?” “Bạch đại đức ngài, chúng con, ba mươi người bạn thuộc giai cấp cao quý, cùng với vợ mình đang vui chơi ở khu rừng này. Một vị trong chúng con không có vợ; vì cậu ta chúng con kiếm cho một cô gái điếm. Bấy giờ, bạch đại đức ngài, trong khi chúng con mải mê thích thú trong các trò chơi của mình, cô gái điếm đó đã lấy đi các đồ vật dụng tư trang của chúng con bỏ chạy đi mất. Bạch đại đức ngài, vì giúp bạn mình, chúng con, những người đồng hành, đi tìm kiếm người phụ nữ ấy và lang thang khắp khu rừng này.”

“Này các thanh niên trẻ, giờ các vị nghĩ sao? Điều gì là tốt hơn cho các vị: các vị nên đi tìm kiếm người phụ nữ hay các vị nên đi tìm chính mình?” “Bạch đại đức ngài, trong hai cái ấy, điều chúng con nên đi tìm chính bản thân chúng con quả thật tốt hơn cho chúng con.” “Này các thanh niên trẻ, nếu vậy, hãy ngồi xuống, ta sẽ dạy các vị Pháp.” Các vị đồng hành trẻ tuổi giàu có đó trả lời: “Vâng, bạch đại đức ngài.” Họ tôn kính chào hỏi đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở khoảng cách cung kính.

Sau đó, đức Thế Tôn thuyết bài kinh từng bước một, nghĩa là nói về bố thí, nói về các điều luật đạo đức, nói về các cảnh giới trời; ngài làm cho biết sự hiểm nguy, bản chất hạ liệt và khuynh hướng phiền não của các dục lạc giác quan; và sự lợi ích của việc xuất ly chúng; Do đó, họ nhận được, trong khi ngồi đó, con mắt pháp thanh tịnh, không vết nhơ: “Bất kỳ cái gì là chủ thể của phát khởi thì cũng là chủ thể của sự kết thúc.”

Sau khi thấy Pháp, thành tựu Pháp, biết Pháp, thể nhập vào Pháp, vượt thoát điều không chắc chắn, phá tan tất cả hoài nghi, đạt được tuệ tri hoàn toàn và có được niềm tin đầy đủ về pháp của bậc đạo sư, không dựa vào bất kỳ ai khác, họ nói với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, cho phép chúng con gia nhập (Tăng đoàn) và thọ giới Tỳ-kheo có sự hiện diện của đức Thế Tôn?” “Hãy đến, này các Tỳ-kheo,” đức Thế Tôn nói, “Khéo thuyết là pháp này; dẫn đến cuộc sống thánh hạnh để chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Như thế đó là gia nhập tăng đoàn đầy đủ của các đại đức này.

(Đại phẩm: Luật tạng I. 23-24, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.35 Giáo phápđiều kỳ diệu siêu việt hơn các năng lực siêu nhiên và đọc được tâm người

Trong đoạn này, đức Phật khiển trách sự đề xuất rằng các Tỳ-kheo nên trình diễn năng lực siêu nhiên để tăng trưởng niềm tin về ngài của mọi người. Các Tỳ-kheo có thể thực sự trình diễn những điều kỳ diệu tâm lựcđọc được tâm, dựa trên năng lực thiền định của mình, nhưng điều này sẽ không khiến những kẻ hoài nghi phát khởi niềm tin vì họ sẽ xem những thứ ấy đã được làm bởi một số nhà ảo thuật. Điều “kỳ diệu” thực sự lợi íchgiáo hóa người khác con đường dẫn đến sự tỉnh thức. Trong khi đức Phật diễn tả sự chán ghét ở hai điều “kỳ diệu” đầu tiên, rõ ràng sự khiển trách của ngài trực tiếp hướng đến sự trình diễn chúng đơn giản là thu hút sự hỗ trợ. Ở nơi khác, ngài sử dụng những năng lực như thế để có thể tốt hơn giáo hóa mọi người Ngài không khiển trách các tỳ-kheo sử dụng những năng lực như thế trong cách này. Có lần, đức Phật được cho rằng đã từng sử dụng “thần thông song đôi” mà chỉ có ngài mới có khả năng đó: xuất ra lửa và nước từ nhiều bộ phận thân thể khác nhau và phóng ra hào quang sáu màu sắc (Vô ngại giải đạo - Patīśambhidamagga I. 125-126). Ngài cự tuyệt sự cám dỗ của ma vương (Mara) biến các dãy núi Himālaya thành vàng (Kinh Tương ưng I. 116 <258>).

Một thời đức Thế Tôn ở tại Nālandā, trong vườn xoài Pavarika. Sau đó, cư sĩ Kevaṭṭa63 đến đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ ngài, ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi, ông thưa với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, Nālandā này thì giàu có, trù phú, đông đúc, đầy người có niềm tin vào đức Thế Tôn. Sẽ là điều tốt nếu như đức Thế Tôn hướng dẫn Tỳ-kheo trình diễn các năng lực siêu nhiên về hiệu lực tâm lý. Trong cách này, mọi người ở Nālandā sẽ có niềm tin hơn nữa về đức Thế Tôn.” Khi được thưa như vậy, đức Thế Tôn nói với gia chủ Kevaṭṭa: “Này Kevaṭṭa, đây không phải cách ta dạy pháp đối với Tỳ-kheo, nói rằng: Này các Tỳ-kheo, hãy đi trình diễn các năng lực siêu nhiênhiệu nghiệm tâm lý cho cư sĩ áo trắng.

Khi gia chủ Kevaṭṭa lặp lại lời thỉnh cầu lần thứ ba, đức Thế Tôn nói: “Này Kevaṭṭa, có ba loại kỳ diệu mà ta đã tuyên bố, sau khi nhận ra chúng bằng chính tuệ giác của ta. Gì là ba? Chúng là điều kỳ diệu của năng lực siêu nhiên, điều kỳ diệu đọc tâm người khác và điều kỳ diệu của sự giáo hóa. Này Kevaṭṭa, điều kỳ diệu của năng lực siêu nhiên là gì? Này Kevaṭṭa, ở đây, Tỳ-kheo sử dụng nhiều loại năng lực siêu nhiên khác nhau: từ vị ấy biến thành nhiều; từ nhiều vị ấy biến thành một. Vị ấy xuất hiện rồi biến mất. Vị ấy đi xuyên qua tường, thành lũy và núi non như thể qua bầu trời. Vị ấy lặng trong rồi ra khỏi mặt đất như thể nó là nước. Vị ấy đi trên nước mà không chìm như thể nó ở trên đất. Ngồi chéo chân (kiết già), vị ấy bay trên hư không như chim có cánh. Bằng tay mình, thậm chí vị ấy chạm rồi

63 Được đánh vần là Kevaddha trong một số truyền thống viết tay khác, cùng là tên gọi của bài kinh đó.

vuốt mặt trăng, mặt trời, phi thường và uy hùng. Vị ấy sử dụng thân thể ảnh hưởng thậm chí xa đến các cảnh giới Phạm thiên.”

Sau đó, người có đức tin và sự tin tưởng nhìn thấy Tỳ-kheo đó sử dụng các loại thần thông khác nhauNgười có niềm tintin tưởng đó nói điều này với người khác hoài nghi và không tinVà người đàn ông bất tín và không tin đó có thể nói: “Thưa ngài, có một thứ gọi là bùa ngải Gandhara. Nhờ đó mà Tỳ-kheo sử dụng những phép lạ như là một trong những phép lạ mà vị ấy sử dụng rất nhiềuVị ấy thực hiện ảnh hưởng với cơ thể của mình thậm chí đến tận Phạm thiên giới.

Này Kevaṭṭa, ông nghĩ gì, một kẻ hoài nghi sẽ nói điều đó với người có đức tin? “Bạch đại đức ngài, kẻ ấy sẽ nói như thế.” “Này Kevaṭṭa, đó là lý do tại sao, sau khi thấy hiểm nguy của điều kỳ diệu về năng lực siêu nhiên, ta chán ghét với nó, xấu hổ với nó và xa lánh nó. Này Kevaṭṭa, điều kỳ diệu đọc được tâm người khác là gì? Ở đây, một Tỳ-kheo đọc được các tâm của các chúng sanh khác, của mọi người khác, đọc được các trạng thái tâm của họ, những tư tưởng của họ, những suy nghĩ của họ và nói rằng: “Đó là tâm bạn như thế nào; đó là tâm bạn có khuynh hướng như thế nào; đó là trong tâm bạn.” Sau đó, một ai đó có niềm tintín nhiệm thấy vị ấy đang làm những điều này. Vị ấy kể chuyện này cho những người khác có niềm hoài nghi và không có niềm tinvà người không tin và hoài nghi ấy có thể nói rằng: “Thưa ngài, có một thứ được gọi là ảo thuật Manika. Chính bởi phương tiện này mà Tỳ-kheo kia có thể đọc được các tâm của người khác…”

Này Kevaṭṭa, ông nghĩ gì liệu rằng người hoài nghi sẽ nói như thế với người có đức tin? “Bạch đại đức ngài, hắn ta sẽ nói như thế.” “Này Kevaṭṭa, đó là lý do tại sao, sau khi xem như hiểm nguy của điều kỳ diệu về năng lực siêu nhiên, ta chán ghét với nó, xấu hổ với nó và xa lánh nó. Này Kevaṭṭa, điều kỳ diệu của sự giáo hóa là gì? Này Kevaṭṭa, ở đây, Tỳ-kheo đưa ra sự hướng dẫn như sau: “Hãy nghĩ theo cách này, không phải cách đó, hãy chú ý cách này, không phải cách kia, hãy từ bỏ điều này rồi an trú sau khi thâm nhập vào điều kia.” Này Kevaṭṭa, đó được gọi là sự mầu nhiệm của sự giáo hóa.

[Đức Phật tiếp tục mô tả hướng dẫn người cho đến khi đạt được thánh quả A-la-hán.] Này Kevaṭṭa, đó được gọi là điều kỳ diệu của sự giáo hóa.” Và ta, này Kevaṭṭa, đã trải nghiệm ba điều kỳ diệu này bởi chính tuệ tri cao hơn của ta.

(Kinh Kiên cố: Kinh Trường bộ I. 211-215, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

TÁN THÁN ĐỨC PHẬT

L.36 Các vị trời khen ngợi

Bạch đại đức ngài, Đế-thích, vua của các vị trời, sau khi thấy sự thỏa mãn của họ, đã nói với các vị trời của Tam Thập Tam: “Này các vị, các vị có muốn nghe tám lời tuyên bố chân thật khen ngợi đức Thế Tôn không?” “Vâng, thưa ngài” Khi nhận sự đồng ý của họ, Đế-thích, vua của các vị trời, tuyên bố tám lời tuyên bố chân thật khen ngợi đức Thế Tôn:

“Các vị trời Tam Thập Tam, các vị nghĩ gì về cách mà đức Thế Tôn nỗ lực vì lợi ích của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì từ bi cho thế gian, với lợi íchhạnh phúc cho trời và người, chúng ta không thể tìm thấy bất kỳ bậc đạo sư nào có những đặc tính như thế, dù cho chúng ta xem ở quá khứ hay hiện tại, hơn đức Thế Tôn.

Khéo thuyết bởi đức Thế Tôn là pháp này, có thể thấy một cách trực tiếp (về chân lýthực tại), không trì hoãn (trong các kết quả của nó), mời khảo xét, có thể ứng dụnghướng thượng, tự hiểu bởi bậc trí và chúng ta không thể tìm thấy nhà tuyên bố của pháp hướng thượng như thế, hoặc ở quá khứ hoặc ở hiện tại, hơn đức Thế Tôn.

Khéo giải thích bởi đức Thế Tôn là điều gì thiện và điều gì bất thiện, điều gì đáng khiển trách và điều gì không khiển trách, điều gì nên được theo và điều gì không nên được theo, điều gì là thấp hèn và điều gì là tuyệt vời, điều gì là tối, sáng và hỗn hợp về tính chất.

Chúng ta không thể tìm thấy ai là người tuyên thuyết những điều ấy, hoặc trong quá khứ hoặc ở hiện tại, hơn đức Thế Tôn.

Khéo giải thích bởi đức Thế Tôn đối với các đệ tửcon đường dẫn đến niết-bàn và cả hai, niết-bàn và con đường, hợp nhất, giống như nước của sông Hằng và sông Yamuna hợp lại và chảy cùng nhau. Chúng ta không thể tìm thấy ai là người tuyên bố con đường dẫn đến niết-bàn hoặc trong quá khứ hoặc ở hiện tại hơn là đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn đã có nhiều vị đồng hành, cả hai học trò đã vào đạo và những vị không có các khuynh hướng sai lầm sống đời sống thánh hạnh đức Thế Tôn an trú cùng với họ, tất cả đều tùy hỷ trong một thứ. Chúng ta không thể tìm thấy một bậc đạo sư như thế hoặc trong quá khứ hoặc ở hiện tại hơn đức Thế Tôn.

Đối với đức Thế Tôn, cả hai lợi và danh đều đã được khéo bảo hộ, đối với điểm đó, ta nghĩ, các thành viên của tầng lớp cai trị sẽ tiếp tục dính chặt với ngài, mà đức Thế Tôn lấy thực phẩm mà không ngã mạn. Chúng ta không thể tìm thấy bậc đạo sư làm điều này hoặc trong quá khứ hoặc ở hiện tại hơn là đức Thế Tôn.

Về những điều đức Thế Tôn nói là những gì ngài làm và những gì ngài làm là những gì ngài nói. Hành động như thế, ngài thực hành giáo pháp theo Pháp. Chúng ta không thể tìm bậc đạo sư làm điều này hoặc trong quá khứ hoặc ở hiện tại hơn là đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn đã vượt qua sự dao động, vượt qua tất cả điều không chắc chắn, ngài đã hoàn thành mục đích của mình liên hệ đến sự cứu cánhđời sống thánh hạnh tối thượng. Chúng ta không thể tìm thấy bất kỳ bậc đạo sư nào đã làm điều giống như vậy, dù cho chúng ta xem xét trong quá khứ hay ở hiện tại, hơn đức Thế Tôn.

Khi Đế-thích, vua của các vị trời, đã tuyên bố như vậy về tám lời khẳng định chân thật này tán dương đức Thế Tôn, các vị trời Tam Thập Tam thậm chí còn vui mừng hơn nữa, quá hoan hỷ và tràn ngập phấn khởi và hạnh phúc với điều mà họ nghe được về lời tán dương đức Thế Tôn.

Sau đó, một số vị trời cảm thán: “Ồ! Nếu có bốn đức Phật tỉnh thức hoàn toàn xuất hiệnthế gian này và dạy pháp như đức Thế Tôn! Đó sẽ là vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng từ bi cho thế gian, vì lợi íchhạnh phúc của trời và người!” và một số nói rằng: “Không cần bốn đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, ba là đủ!” Một số khác nói: “Không cần ba, chỉ hai là đủ!”

Điều được nói ra, Đế-thích, vua của các vị trời nói: “Này các vị, thật không thể, điều này không thể diễn ra, rằng hai đức Phật tỉnh thức hoàn toàn sẽ xuất hiện cùng một lúc trong cùng một hệ thống thế giới.64 Điều đó không thể được. Nguyện cầu đức Thế Tôn này sống lâu, nhiều năm tới nữa, thoát khỏi bệnh tật! Điều ấy là vì lợi ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng từ bi cho thế gian, vì lợi íchhạnh phúc của trời và người!”

(Kinh Đại Điển-tôn: Kinh Trường bộ II. 222-225, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

HÌNH DÁNG VÀ PHONG THÁI CỦA PHẬT

L.37 Đức Phật nhìn giống như bất kỳ Tỳ-kheo khác

Trong khi điều này được nói đức Phật có thể thích ứng sự xuất hiệnngôn ngữ của ngài với những ai mà ngài nói chuyện với (Kinh Trường bộ II. 109), trong đoạn này, một đệ tử của Phật chưa bao giờ thấy ngài lúc đầu đã không nhận ra ngài khi vị ấy ở chung nơi ở với ngài, nhưng sau đó, nhận ra ngài là ai khi vị ấy nhận được lời dạy chi tiết từ ngài.

Vào một thuở nọ, đức Thế Tôn đang vân du vương quốc Ma­kiệt-đà và dần dần đến thành Vương Xá (Rājagaha). Ở đó, ngài đến người thợ gốm Bhaggava và nói với ông rằng: “Này Bhaggava, nếu không có gì bất tiện cho ông, ta sẽ nghỉ một đêm tại tiệm của ông.” “Bạch đại đức ngài, thật không bất tiện cho con, nhưng có vị Sa-môn cũng đã ở đó. Nếu như vị ấy đồng ý thì xin hãy ở bao lâu ngài muốn.”

Bây giờ, có vị tộc nhân tên là Pukkusati đã xuất gia rời khỏi gia đình sống đời sống không gia đình vì có đức tin nơi đức Thế Tôn

64 Xem Th.62 về các hệ thống thế giới.

vào lúc đó vị ấy đang ở trong tiệm của vị thợ gốm kia. Sau đó, đức Thế Tôn đi đến đại đức Pukkusati và nói với ngài: “Này Tỳ-kheo, nếu như không có gì bất tiện cho ông, ta sẽ nghỉ một đêm trong tiệm gốm này.” “Này bạn hữu, tiệm gốm này đủ rộng. Đại đức có thể ở bao lâu tùy ngài muốn.”

Sau đó, đức Thế Tôn đi vào tiệm của vị thợ gốm, chuẩn bị sàn cỏ ở góc cuối rồi ngồi xuống, xếp bàn chân chéo nhau rồi giữ thân thẳng và thiết lập niệm ở trước mặt. Sau đó, đức Thế Tôn trải qua hầu như suốt đêm tọa thiềnđại đức Pukkusati cũng trải qua hầu như suốt đêm tọa thiền.

Sau đó, Thế Tôn quán xét: “Vị tộc nhân này chính mình có phẩm hạnh trong con đường gây cảm hứng niềm tin. Giờ ta sẽ hỏi vị ấy?” Vì vậy, đức Thế Tôn hỏi đại đức Pukkusati: “Này Tỳ-kheo, dựa vào ai bạn xuất gia? Ai là thầy của bạn? Bạn thực hành giáo pháp của ai?”

“Này bạn hữu, có vị Sa-môn Gotama, một vị Thích-ca, xuất gia từ dòng tộc Thích-ca. Bấy giờ, có tiếng đồn tốt về ngài Gotama đức lớn đó xuất hiện: “Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, có trí tuệ và phẩm hạnh, bậc may mắn, bậc tuệ tri về các thế giới, bậc hóa độ người không ai sánh bằng, bậc thầy của trời và người, bậc tỉnh thức, Thế Tôn.” Ta đã xuất gia dưới đức Thế Tôn ấy; Thế Tôn đó là thầy của ta; Ta thực hành giáo pháp của Thế Tốn ấy.”

“Này tu sĩ, Thế Tôn ấy, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, bây giờ, đang ở đâu?” “Này bạn hữu! có một thành phố ở phía bắc vương quốc tên là Sāvatthī. Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn, bây giờ, đang ở đó.” “Này tu sĩ, bạn đã từng thấy đức Thế Tôn ấy trước đây chưa? Bạn sẽ nhận ra Thế Tôn ấy nếu bạn thấy ngài chứ?” “Không, này bạn hữu! Ta chưa từng thấy đức Thế Tôn ấy trước đây và ta sẽ không nhận ra ngài ấy nếu ta thấy ngài.”

Sau đó, đức Thế Tôn quán xét: Vị tộc nhân này đã xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình theo ta. Giá như ta sẽ dạy vị ấy Pháp. Vì vậy, đức Thế Tôn gọi đại đức Pukkusati như thế này: “Này tu sĩ, ta sẽ dạy ông Pháp. Hãy lắng nghe và chú ý sâu đến điều ta sẽ nói.” “Vâng, thưa bạn hữu,” đại đức Pukkusati đáp lời

Sau đó, đại đức Pukkusati, sau khi vui thíchhoan hỷ trong những lời dạy của Thế Tôn, đã đứng lên khỏi chỗ ngồi của mình, Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, đi nhiễu quanh bên phải ngài, vị ấy khởi thân để tìm bình bát và y áo của mình. Sau đó, trong khi đại đức Pukkusati tìm kiếm bình bát và y áo, một con bò lạc đã đâm chết ngài.

Sau đó, một số Tỳ-kheo đi đến đức Thế Tôn, sau khi đảnh lễ ngài, họ ngồi xuống một bên và bạch ngài: “Bạch đại đức ngài, tộc nhân Pukkusati, người đã nhận được sự hướng dẫn vắn tắt bởi đức Thế Tôn, đã qua đời. Điểm đến của vị ấy là gì? Tiến trình tương lai của vị ấy là gì?”

Này các Tỳ-kheo, tộc nhân Pukkusati có trí tuệ. Vị ấy đã thực hành y theo pháp và không gây phiền ta trong việc giải thích Pháp. Với sự kết thúc năm phiền não dưới, tộc nhân Pukkusati xuất hiện trở lại tự sinh trong các cõi thanh tịnh65 và sẽ đạt được niết-bàn hoàn toàn ở đó, mà không bao giờ quay trở lại từ thế giới này.

(Kinh Giới phân biệt: Kinh Trung bộ III. 237-247, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.38 Các đặc tính thân thể đức Phật được hình thành bởi các hành động quá khứ tuyệt vời của ngài

Đoạn này được trích dẫn từ một đoạn mô tả ba mươi hai đặc tính thân thể mà Gotama sinh ra đời, chỉ cho tương lai sẽ hoặc là Phật hoặc là vua chuyển luân thánh vương (Cakkavati), vị vua “vận chuyển bánh xe” từ bi. Những đặc tính này hoặc “dấu hiệu” có thể được xem như vật lý theo ý nghĩa thông thường, hoặc như các phương diện của thân thế “tâm linh” mà chỉ những người nhạy bén mới có thể thấy được. Một trong hai con đường, một số trong chúng được sử dụng là nền tảng cho việc quán chiếu đức Phật và những đặc tính ngài biểu hiện, sau đó, cho việc hình thành các hình ảnh đức Phật, khi những điều này phát triển.

65 Các cõi trời mà trong đó chỉ có các vị bất lai (không trở lại nữa) (xem Th.201), nơi đó họ đúng thời trở thành các vị A-la-hán.

Mỗi đặc tính được cho rằng là kết quả nghiệp (nghiệp quả) của sự xuất sắc đặc biệt trong một kiếp sống quá khứđể chỉ cho một đặc tính đặc biệt của cuộc đời đức Phật hoặc Chuyển luân vương (Cakkavati). Chúng bao gồm những đặc điểm như các dấu bánh xe dưới hai bàn chân ngài, hai bàn tay mềm, giọng hay, hai mắt xanh, sợi tóc trắng giữa hai chặng mày, nhục kế trên đỉnh đầu. Các tướng hảo trên được thấy là do bởi các hành động quá khứ như sau:

Đức Thế Tôn trong kiếp trướckhi trước đây ngài sinh ra làm người, có nguyện lực thực hiện, kiên định trong việc làm các hành động thiện lành: phẩm hạnh tốt về thân thể, ngôn ngữ và tâm ý, bố thí, nguyên tắc đạo đức, giữ giới vào các ngày trai giới đặc biệt, cung kính đối với mẹ cha, các bậc Sa-môn, Bà-la-môn, tôn kính các bậc trưởng thượng trong gia đình và mỗi loài trạng thái thiện xảo cao hơnNgài hành động vì hạnh phúc cho nhiều người, phá tan sự kích động, kinh hãi và khiếp sợ, cung cấp sự bảo an và phòng hộ, bảo vệ tùy thuộc Pháp và bố thí với tất cả vật tùy thânSau khi từ bỏ sát hại chúng sanh, ngài tránh xa hãm hại chúng sanh; gậy đã đặt xuống, gươm đã đặt xuống, ngài an trú một cách chu toàn, đầy lòng thương cảm, tùy hỷ đối với việc tốt đẹp của chúng sanhNgài là người bố thí những thức ăn cứng và mềm thượng hạng tuyệt vời, những đồ uống tươi ngonNgài là người đoàn kết mọi người thông qua bốn phương tiện hướng mọi người cùng nhau sống hòa hợp: ban phát (bố thí), nói lời dễ mến (ái ngữ), hành vi hữu ích (lợi hành) và không thiên vị (đồng sự)Ngài là người nói lên những lời cho mọi người quan tâm cả hai lợi íchchánh Phápgiải thích những điều này chi tiết cho họ. Ngài thực hiện những hành động hiến tế về bố thí Pháp, mang lại hạnh phúcích lợi cho chúng sanh. Ngài dạy toàn bộ thủ công hoặc khoa học hoặc đạo đức hoặc hoạt động, nghĩ rằng “Nguyện cho họ hiểu ta nhanh chóng, tỉnh giác nhanh chóng, thành công nhanh chóng, nguyện cầu cho họ không khổ đau lâu dài.”… Ngài đến các Sa-môn, Bà-la-môn và hỏi họ một cách chi tiết: “Thiện là gì, bạch đại đức ngài, bất thiện là gì? Điều gì là đáng khiển trách, điều gì là không khiển trách? Điều gì nên được thực hành, điều gì không được thực hành? Điều gì, nếu thực hiện bởi ta, sẽ mang lại hãm hại và khổ đau trong một thời gian dài? Hay ở khía cạnh khác, điều gì, nếu thực hiện bởi ta, sẽ mang lại lợi ích và khiến hạnh phúc trong thời gian dài?”… Ngài thoát khỏi sự hiểm nguy, đầy sự an ổn; thậm chí khi nói nhiều, ngài không phạm lỗi, trở nên giận dữ, thể hiện nóng giận hay trở nên cứng đầu và không biểu hiện hoặc là phẫn nộ, hoặc giận dữ, hoặc bất mãn; Ngài là vị bố thí các thảm mềm tinh tế và khăn che phủ tốt, vải bông tốt, tơ tằm tốt và len tốtNgài là người mang sự hòa hợp với nhau cho những bà con, thân thuộc, bạn bè và quyến thuộc; ngài là người đoàn kết mẹ với con và con với mẹ, tương tự, cha với con, anh em với nhau, anh chị em với nhau, ngài là người đem lại niềm vui trong việc tạo ra sự hòa hợpNgài tìm kiếm hòa hợp giữa quần chúng, biết ai mỗi người giống nhau, biết đó bằng chính ngài, biết người, biết các đặc tính đặc biệt của mỗi người. Ngài lúc đầu là người làm những điều được yêu cầu tùy theo các đặc tính đặc biệt của mọi người: “Vị này là xứng đáng cho điều này, vị này xứng đáng cho điều kia.” Ngài mong muốn ích lợi cho nhiều người, vì lợi ích của họ, sự tiện lợi của họ và nghỉ ngơi từ sự lao động, ngài luôn nghĩ: “Làm sao họ có thể tăng trưởng niềm tin, quy tắc đạo đức, học hành, bố thí, (kiến thức về) Pháp, trí tuệ, tăng trưởng tài sản và gạo thóc, đất đai và của cải, gia-súc và gia cầm, vợ con, phục vụtùy tùng, thân bằng, quyến thuộc và trong các mối quan hệ bằng hôn nhân?”… Ngài là người mà bản chất là như thế để không hãm hại chúng sanh khác, hoặc là bằng tay, đá, gậy hoặc kiếmNgài là người không gian xảo, không hành động theo cách cong quẹo và không nhìn theo cách tính toán; ngài là người nhìn mọi người theo hướng thẳng, nhã nhặn, với tâm hướng thẳn và với cặp mắt từ áiNgài là người lãnh đạo mọi người trong các hành động thiện: bậc tối thượng trong mọi người về phẩm hạnh tốt đẹp về thân, lời nói và tâm ý; trong việc cung cấp thức ăn, thực hành nguyên tắc đạo đức, giữ giới trong những ngày trai giới, tôn kính mẹ cha, Bà-la-môn, Sa-môn và cung kính trưởng tộc và trong nhiều loại trạng thái thiện xảo cao hơnNgài là người nói chân lý, hợp với chân lý, xác thực, đáng tin cậy, không phải là kẻ lừa dối mọi ngườiNgài, sau khi từ bỏ lời nói chia rẽ, tránh xa lời nói chia rẽ: sau khi nghe điều gì đó từ một nhóm người, ngài sẽ không kể nó ở nơi khác, khiến cho người khác trở nên mâu thuẫn với họ; hoặc sau khi điều gì từ nhóm người đó, ngài sẽ không kể lại cho nhóm thứ nhất, khiến họ trở nên mâu thuẫn với nhóm người kia. Do đó, ngài là người đoàn kết những người bị chia rẽ, làm siết chặt những người đã đoàn kết, thích sự hòa hợp, vui thích trong sự hòa hợp, hoan hỷ trong sự hòa hợp, ngài là người phát ngôn đem đến hòa hợpNgài từ bỏ nói lời thô ác, tránh xa lời nói thô ác; ngài là người nói lời nhẹ nhàng, ưa thích nghe, trìu mến, chạm đến trái tim, lịch sự và thu hút số đôngNgài từ bỏ nói huyên thuyên vô ích, tránh xa sự nói huyên thuyên vô ích: ngài nói đúng thời, điều đúng đắnđi vào trọng tâm, của pháp và các nguyên tắc đạo đức; ngài là vị nói lời trở nên quý giá, đúng thời, có lý do, có phương phápý nghĩaSau khi từ bỏ việc làm sai trái, ngài là người kiếm sống bằng công việc chân chánh: ngài là người tránh xa các cách cong quẹo như lừa dối cân nặng, bọc kim loại và đo lường sai trái, hối lộ, lừa đảogian lận và tránh xa những hành động bạo lực như cắt xén, đánh đập, trói buộc, bịt miệngcướp bóc.

(Kinh Tướng: Kinh Trường bộ III. 142-176, do P.H. dịch tiếng Anh).

L.39 Hoạt động cẩn trọng an tịnhhành vi của đức Phật

Trong đoạn này, một số gần gũi quan sát đức Phật bảy tháng, không những chú ý đến ba mươi hai đặc tính đặc biệt của thân ngài, mà còn cách ngài di chuyển và tư cách chính ngài theo cách an tịnh, cẩn trọng, thư thái, chú tâm, không tham đắm và chu đáo.

Sau đó, học trò Bà-la-môn Brahmayu suy xét: “Sa-môn Gotama vốn có ba mươi hai đặc tướng của bậc đại nhân. Giá như ta có thể theo Sa-môn Gotama để quan sát hành vi của ngài?” Sau đó, học trò Bà-la-môn Brahmayu đi theo đức Thế Tôn trong vòng bảy tháng như bóng với hình, không bao giờ rời ngài. Cuối bảy tháng trong vương quốc của những người Videha, vị ấy bắt đầu khởi hành đi đến Mithila nơi Bà-la-môn Brahmayu đang ở. Khi đến nơi, vị ấy đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên.

Ngay sau đó, Bà-la-môn Brahmayu hỏi chàng: “Hay lắm, này con Uttara, có thông tin đã lan truyền về ngài Gotama đức lớn là đúng hay không? ngài Gotama đức lớn là người như thế phải không?” “Bạch ngài, thông tin lan truyền về ngài Gotama đức lớn là đúng sự thật, không phải khác. Ngài Gotama đức lớn là người như thế, chứ không phải khác. Ngài sở hữu ba mươi hai đặc tướng của bậc đại nhân

Khi ngài đi, ngài bưới chân phải trước. Ngài không bước chân quá xa hay bước chân quá gần. Ngài bước không quá nhanh cũng không quá chậm. Ngài không bước đầu gối chạm đầu gối hay mắt cá chạm mắt cá. Ngài đi mà không đưa bắp đùi lên đưa bắp đùi xuống, hay bước cùng nhau hoặc tách biệt chúng. Khi ngài đi, chỉ có phần dưới của thân di chuyển, Ngài không đi bằng sự nỗ lực toàn thân. Khi ngài chuyển hướng nhìn, ngài làm vậy với toàn thân. Ngài không nhìn thẳng lên, ngài không nhìn thẳng xuống. Ngài không đi nhìn xung quanh. Ngài nhìn phía trước với độ dài một cán cày, vượt lên đó ngài không bị cản trở việc thấy biết.

Khi ngài đi vào trong nhà, ngài không nâng hay hạ thân thể ngài, hay bẻ trước hay bẻ sau. Ngài xoay vòng không quá xa cũng không quá gần chỗ ngồi. Ngài không dựa vào ghế bằng tay. Ngài không nhảy cẫng lên ghế. Khi đã ngồi trong nhà, ngài không cựa quậy tay. Ngài không cựa quậy chân. Ngài không ngồi vắt đùi chéo. Ngài không ngồi hai mắt cá chéo nhau.66 Ngài không ngồi với tay chống cằm. Khi đã ngồi trong nhà ngài không sợ hãi, ngài không rùng mình hay run rẩy, ngài không lo lắng. Vì không sợ hãi, không rùng mình, không run rẩy hay không lo lắng nên tóc ngài không dựng đứng, ngài chăm chú vào sự an trú.

Khi ngài nhận nước bằng bình bát của mình, ngài không nâng lên hay hạ bình bát xuống hay đưa nó lên phía trước hay phía sau. Ngài nhận không quá nhiều nước cũng không quá ít nước vào bình bát. Ngài rửa bình bát mà không làm bất kỳ tiếng ồn tóe nước nào.

66 Niệm chỉ ra việc ngồi với đùi hoặc mắc cá chéo nhau có thể diễn đạt và chứa sự căng thẳng.

Ngài rửa bình bát mà không xoay nó xung quanh. Cho đến khi ngài đặt bình bát xuống đất rồi ngài mới rửa tay; sau khi tay ngài được rửa sạch, bình bát được rửa sạch; sau khi bình bát được rửa sạch thì bàn tay được rửa sạch. Ngài đổ nước cho bình bát không quá xa cũng không quá gần ngài không làm tóe nước.

Khi ngài nhận cơm, ngài không nâng hay hạ bình bát xuống hoặc đưa bình bát ra phía trước hay phía sau. Ngài nhận không quá ít cơm cũng không quá nhiều cơm. Ngài thêm nước sốt vừa đủ; ngài không lấy quá lượng nước sốt một miếng. Ngài chuyển một miếng trên hai hay ba lần trong miệng rồi mới nuốt và không có hạt cơm nào vào thân ngài mà không được nhai và không hạt cơm nào còn sót trong miệng ngài; Sau đó, ngài lấy một miếng khác. Ngài lấy thức ăn thưởng thức vị của nó, mặc dù không nếm mùi vị với tâm tham. Thức ăn ngài lấy có tám yếu tố: nó không phải vì vui thích, cũng không vì say sưa, không vì sắc đẹp thể chấtquyến rũ, mà là vì kéo dài và duy trì thân thể ngài, vì chấm dứt đói bụng và vì hỗ trợ đời sống thánh hạnh; ngài suy xét: “Do đó, ta sẽ chấm dứt các cảm xúc cũ (đói) mà không gợi những cảm xúc mới (từ sự ăn quá nhiều) và ta sẽ được khỏe mạnh, không bị chê trách, ta sẽ sống trong thoải mái.”

Khi ngài ăn và nhận nước vào bình bát, ngài không nâng lên hay hạ xuống bình bát hay đẩy nó lên trước hay xuống sau. Ngài nhận không quá ít cũng không quá nhiều nước vào bình bát. Ngài rửa bình bát mà không làm bất kỳ tiếng ồn tóe nước nào. Ngài rửa bình bát mà không xoay nó xung quanh[như trên]. Khi ngài ăn, ngài đặt bình bát trên sàn cũng không quá xa cũng không quá gần; Ngài không cẩu thả về bình bát cũng không quá ham muốn về nó.

Khi ngài ăn, ngài ngồi im lặng một hồi, nhưng ngài không để thời gian chúc phúc trôi qua. Khi ngài ăn rồi chúc phúc, ngài không phàn nàn về [chất lượng] bữa ăn hay mong đợi một bữa ăn khác; ngài hướng dẫn, thúc giục, đánh thức và làm vui vẻ người nghe đó bằng lời nói thuần về Pháp. Khi ngài hoàn thành vậy, ngài khởi thân rời chỗ ngồi rồi đi. Ngài đi không quá nhanh cũng không quá chậm Ngài không đi như người muốn bỏ chạy.

Y của ngài được mặc không quá cao cũng không quá thấp lên thân ngài, không quá chật cũng không quá lỏng, không để gió thổi bay khỏi thân. Bụi bậm và dơ bẩn không làm dơ thân ngài.

Khi ngài về tinh xá, ngài ngồi xuống sàn tọa đã được chuẩn bị sẵn. Sau khi ngồi xuống, ngài rửa chân, mặc dù ngài không quan tâm chính ngài về sự chải chuốt bàn chân. Sau khi rửa chân, ngài ngồi xếp bằng kiết-già, giữ thân thẳng và thiết lập niệm trước mặt. Ngài không chiếm giữ tâm với sự tự não hại hay não hại người khác hoặc não hại cả hai; ngài ngồi với tâm hướng về lợi ích chính mình, lợi ích cho người, lợi ích cho cả hai và thậm chí lợi ích toàn bộ thế gian.

Khi ngài đi đến tinh xá, ngài dạy pháp cho một thính giả. Ngài cũng không tâng bốc cũng không mắng nhiếc người nghe ấy; ngài hướng dẫn, thúc giục, đánh thức và khuyến khích bằng lời nói thuần về Pháp. Lời nói xuất ra từ miệng ngài có tám đặc tính: nó thì riêng biệt, dễ hiểu, du dương, dễ nghe, trôi chảy, rõ ràng, sâu sắc và vang vọng. Nhưng trong khi giọng ngài dễ hiểu càng xa người nghe ấy mở rộng thì lời nói của ngài không phát ra vượt quá tầm người nghe đó. Khi mọi người được hướng dẫn, thúc giục, đánh thức và làm vui mừng bởi ngài, họ sẽ khởi thân rời chỗ ngồi rồi đi đến chiêm ngưỡng chỉ mình ngài mà không quan tâm gì khác.

Bạch ngài, chúng ta đã thấy ngài Gotama đức lớn đi, chúng ta đã thấy ngài Gotama đức lớn đứng, chúng ta đã thấy ngài Gotama đức lớn đi vào nhà, chúng ta đã thấy ngài trong nhà ngồi im lặng, chúng ta đã thấy ngài ăn trong nhà, chúng ta đã thấy ngài ngồi im lặng sau khi ăn, chúng ta đã thấy ngài chúc phúc sau khi ăn, chúng ta đã thấy ngài đi đến tinh xá, chúng ta đã thấy ngài đi đến tinh xá ngồi im lặng, chúng ta đã thấy ngài trong tinh xá thuyết pháp đến người nghe. Như thế là ngài Gotama đức lớn; như thế chính là ngài và không hơn khác được.

Khi điều này được nói ra, Bà-la-môn Brahmayu khởi thân từ chỗ ngồi, sau khi sắp xếp y trên của mình lên trên vai, ông mở rộng hai bàn tay trong sự chào hỏi cung kính đối với đức Thế Tôn và nói lời tán thán này ba lần: “Đảnh lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn! Đảnh lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đức Phật tỉnh thức hoàn toàn!” và rồi “Có lẽ một dịp nào đó chúng ta có thể gặp ngài Gotama đức lớn, có lẽ chúng ta có thể có cuộc đàm thoại với ngài.”

(Kinh Brahmayu: Kinh Trung bộ II. 136-141, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

CHẾ NGỰGIÁO HÓA NHỮNG NGƯỜI CHỐNG CỰ HOẶC ĐE DỌA NGÀI

L.40 Chỉ cho người đàn ông giận giữ lỗi lầm các ứng xử của mình

đây, đức Phật chế ngự người đàn ông tính khí nóng nảy, như thế vị ấy đã thọ giới Sau đó, chứng đạt giác ngộ.

Akkosaka (Lăng mạ), một Bà-la-môn của bộ tộc Bharadvaja, đã nghe: “Người ta nói rằng Bà-la-môn của bộ tộc Bharadvaja đã xuất bỏ rời bỏ đời sống gia chủ rồi sống đời sống không gia đình dưới sự hướng dẫn của sa-môn Gotama.” Giận dữkhông vui, ông tiến đến đức Thế Tôn, lăng mạ, mắng nhiếc ngài với những lời lẽ thô tục, thô lỗ.

Khi ông nói xong, đức Thế Tôn nói với ông: “Này Bà-la-môn, ông nghĩ gì? Bạn bè, đồng nghiệp, thân bằng, quyến thuộc của ông cũng như các vị khách có đến thăm ông?” “Thưa ngài Gotama đức lớn, thỉnh thoảng họ đến thăm tôi.” “Lúc đó ông có cho họ một ít thức ăn hay bữa ăn hay quà?” “Thưa ngài Gotama đức lớn, thỉnh thoảng tôi làm vậy.” “Nhưng nếu họ không nhận nó từ ông thì sau đó, thức ăn ấy thuộc về ai?” “Nếu họ không nhận nó từ tôi thì thức ăn ấy vẫn thuộc về chúng tôi.”

“Này Bà-la-môn, cũng vậy, chúng tôi, những người không lăng mạ bất kỳ ai, không trách mắng bất kỳ ai, người không xỉ vả bất kỳ ai, từ chối chấp nhận từ ông những lời lăng mạ, trách mắngđả kích mà ông buông ra cho chúng tôi. Này bà-la-môn, nó vẫn thuộc về ông! Này Bà-la-môn, nó vẫn thuộc về ông!

Này Bà-la-môn, người mà lăng mạ chính những lời lăng mạ của mình, người trách mắng vị ấy, người xỉ vả chống lại người xỉ vả vị ấy, ông được nói tham dự bữa ăn, bắt đầu trao đổi. Nhưng chúng tối không tham dự bữa ăn; chúng tôi không bắt đầu trao đổi. Này Bà­la-môn, nó vẫn thuộc về ông! Này Bà-la-môn, nó vẫn thuộc về ông!

(Akkosaka:) “Vua và đoàn tùy tùng của ông hiểu sa-môn Gotama trở thành A-la-hán nhưng ngài Gotama đức lớn vẫn còn giận dữ.”

(Đức Phật:) Làm sao sự nóng giận xuất hiện trong người không còn giận dữ, trong một chúng sanh thuần hóa một cách điềm tĩnh, trong người đã giải thoát bởi tuệ tri hoàn hảo, trong người vững vàng an trú trong an lạc?

Một người trả thù người nóng giận bằng sự giận dữ sẽ làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn cho chính mình. Không trả thù người giận dữ bằng sự nóng giận, ta chiến thắng cuộc chiến khó thắng.

Người thực hành vì lợi ích cả hai, chính mình và tha nhân, khi biết rằng kẻ thù của mình giận dữ, người chánh niệm duy trì sự an tịnh của mình.

Người thành tựu việc chữa trị cho cả hai chính mình và người khác, mọi người nghĩ ta là kẻ ngu thì thật không khéo léo trong pháp vậy.

Khi điều này được nói, Bà-la-môn Akkosaka của bộ tộc Brahmadvaja nói với đức Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, bậc đạo sư Gotama! Thật tuyệt vời, bậc đạo sư Gotama! Pháp đã được làm rõ ràng trong nhiều cách bởi đạo sư Gotama, như thể ngài dựng đứng điều đã bị úp xuống, hiện rõ điều đã bị che dấu, chỉ rõ đường cho người bị lạc, hay thắp sáng đèn trong bóng tối cho người mắt sáng thấy các hình sắc. Con trở về nương tựa bậc đạo sư Gotama, với Pháp và với tăng đoàn các Tỳ-kheo. Cho phép con xuất gia với đạo sư Gotama, cho phép con thọ giới Tỳ-kheo?

(Kinh Phỉ báng: Kinh Tương ưng I. 161-163 <347-349>, do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.41 Thuần hóa một cưngã mạn nghĩ rằng ông đã đạt được sự không dính mắc của vị Sa-môn

Sau đó, vào một buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, lấy bình bát và y ngoài, đi đến Apana để khất thực. Khi ngài vân du khất thực ở Apana rồi trở về, sau bữa ăn, ngài đi đến một khu rừng nhất định cho việc an trú (thiền định) trong ngày đó. Sau khi vào rừng, ngài ngồi xuống dưới một gốc cây.

Gia chủ Potaliya, trong khi đi lang thang để lễ bái, mặc áo chỉnh tề với dù, dép, cũng đến khu rừng ấy, sau khi đi vào rừng, ông đi đến đức Thê Tôn rồi chào hỏi ngài. Khi cuộc nói chuyện lịch sự hòa nhã hoàn thành, ông đứng sang một bên.

Đức Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, có nhiều chỗ ngồi, hãy ngồi xuống nếu ông muốn.” Khi điều này được nói, gia chủ Potaliya xuy sét: “Sa-môn Gotama gọi ta là “gia chủ,” giận dữkhông vui lòng, ông giữ im lặng. Lần thứ hai, đức Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, có nhiều chỗ ngồi, hãy ngồi xuống nếu ông muốn.” Và lần thứ hai, gia chủ Potaliya xuy sét: “Sa-môn Gotama gọi ta là “gia chủ,” giận dữkhông vui lòng, ông giữ im lặng. Lần thứ ba, đức Thế Tôn nói với ông: “Này gia chủ, có nhiều chỗ ngồi, hãy ngồi xuống nếu ông muốn.”

Khi điều này được nói, gia chủ Potaliya xuy sét: “Sa-môn Gotama gọi ta là “gia chủ,” giận dữkhông vui lòng, ông nói với đức Thế Tôn, “Ngài Gotama đức lớn, thật không phù hợp cũng không đúng đắn ngài gọi ta là “gia chủ.” “Này gia chủ, ông có nhiều phương diện, đặc điểm và dấu hiệu của một gia chủ.” “Ngài Gotama đức lớn, tuy thế mà ta đã từ bỏ tất cả công việc và bỏ tất các thế sự của ta.” “Này gia chủ, bằng cách nào ông từ bỏ tất cả công việc của mình và cắt bỏ hết thế sự của mình?” “Ngài Gotama đức lớn, ta đã từ bỏ tài sản, gạo thóc, bạc vàng cho con cái là tài sản thừa kế của chúng. Không khuyên bảo cũng như trách mắng chúng, ta sống chỉ dựa vào thức ăn và đồ mặc. Đó là cách ta từ bỏ tất cả công việc của mình và cắt bỏ hết thế sự của mình.”

“Này gia chủ, việc cắt bỏ các thế sự như ông mô tả như thế là một chuyện, nhưng trong nguyên tắc của bậc thánh, việc cắt bỏ thế sự thì khácNày gia chủ, có tám điều này trong giới luật của bậc thánh dẫn đến sực cắt bỏ các thế sự. Những gì là tám? Với sự hỗ trợ không giết hại chúng sanh, việc giết hại chúng sanh sẽ được từ bỏ. Với sự hỗ trợ chỉ lấy những gì được cho, việc lấy những gì không cho sẽ được từ bỏ. Với sự hỗ trợ lời nói không chia rẽ thì lời nói chia rẽ sẽ được từ bỏ. Với sự hỗ trợ tránh xa tham tham thì tham lam sẽ được từ bỏ. Với sự hỗ trợ việc tránh xa la mắng cay đắng thì sự la mắng cay đắng sẽ được từ bỏ. Với sự hỗ trợ việc tránh xa thất vọng giận dữ thì thất vọng giận dữ sẽ được từ bỏ. Với sự hỗ trợ của việc không ngạo mạn thì sự ngạo mạn sẽ được từ bỏ. Đây là tám điều, được tuyên bố vắn tắt, không được giải thích chi tiết, dẫn đến sự cắt bỏ các thế sự trong giới luật của bậc thánh.

[Đức Phật tiếp tục giải thích mỗi loại trong các lỗi trên nên được từ bỏ bằng việc nhận ra rằng nếu người không từ bỏ đó, người ấy sẽ khiển trách chính mình, bậc trí sẽ phê bình, người sẽ có tái sanh cảnh giới xấu và người sẽ thấy rằng việc không từ bỏ nó là “phiền não và kiết sử.” Ngài cũng đưa ra nhiều ẩn dụ để minh họa nhiều sự hiểm nguy của dục lạc giác quanlợi ích của việc vượt qua chúng.]

“Bạch đại đức ngài, đức Thế Tôn đã truyền cảm hứng trong con tình yêu về các vị Sa-môn, niềm tin về các vị sa-môn, tôn kính các vị Sa-môn.”

(Kinh Potaliya: Kinh Trung bộ I. 359-368, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.42 Thuần phục Mānatthaddha cao ngạo

Bây giờ, vào một thuở nọ có vị Bà-la-môn tên Mānatthaddha67 đang ở tại Sāvatthī. Ông không tôn kính đối với cha mẹ mình, cũng không đối với thầy cô và anh mình. Bấy giờ lúc đó đức Thế Tôn đang dạy pháp cho một hội chúng nhiều người xung quanh. Sau đó, Bà-la-môn Mānatthaddha suy xét: “Sa-môn Gotama đang dạy pháp cho hội chúng nhiều người quây quanh. Hãy để ta đến ngài. Nếu sa-môn Gotama chào gọi ta thì ta sẽ chào hỏi ngài trở lại. Nhưng nếu như ngài không chào hỏi ta thì ta cũng sẽ không chào hỏi ngài.

67 Manatthaddha, “dính với kiêu ngạo,” có thể là biệt danh của ông.

Sau đó, Bà-la-môn Mānatthaddha tiến đến đức Thế Tôn rồi đứng im lặng một bên, nhưng đức Thế Tôn không chào gọi ông. Sao đó Bà-la-môn Mānatthaddha, nghĩ rằng, “Sa-môn Gotama này không biết gì cả,” muốn trở về, nhưng đức Thế Tôn, sau khi biết được ý nghĩ trong tâm vị Bà-la-môn này bằng chính tâm ngài, đã chào gọi Bà-la-môn Mānatthaddha bằng bài kệ:

Này Bà-la-môn, nuôi dưỡng kiêu ngạo không bao giờ tốt cho người muốn lợi ích chính mình. Ông nên thay đổi ý đồ nuôi dưỡng mà ông đến đây đi.

Sau đó, Bà-la-môn Mānatthaddha, nghĩ rằng, “Sa-môn Gotama biết tâm của ta,” đã quỳ lạy ngay ở đó, với đầu chạm chân đức Thế Tôn. Ông hôn bàn chân của Thế Tôn, vuốt ve chân ngài bằng đôi tay của mình và tuyên bố tên mình như vầy, bạch ngài Gotama đức lớn, con là Mānatthaddha, bạch ngài Gotama đức lớn, con là Mānatthaddha!”

Sau đó, hội chúng ấy gióng lên tiếng vui mừngmọi người đồng hô, “Bạch ngài, thật là tuyệt vời! bạch ngài, quả thật tuyệt vời thay! Bà-la-môn Mānatthaddha không tôn kính đối với cha mẹ mình, cũng không đối với thầy cô và anh mình, mà ông thể hiện sự tôn kính tối thượng như thế đối với sa-môn Gotama.”

Sau đó, đức Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mānatthaddha, “Này bà­la-môn, đủ rồi! Hãy đứng dậy rồi ngồi chỗ của mình, khi tâm ông đã có niềm tin nơi ta.”

(Kinh Mānatthaddha: Kinh Tương ưng I. 177-178 <381-383>, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.43 Hóa độ những người được sai đi giết ngài

Anh họ Phật, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), là một Tỳ-kheo xấu, ganh tỵ với tầm ảnh hưởng của Phật. Do đó, ông yêu cầu thái tử bạn ông là Ajatasattu (A-xà-thế) ám sát đức Phật để ông có thể trở thành người lãnh đạo Tăng đoàn. Một tên sát thủ được sai đi giết đức Phật và rồi nhiều tên sát thủ cũng được sai đi giết kẻ sát thủ kia khi trở về và rồi các sát thủ khác cũng giết những sát thủ trên để đảm bảo bí mật.

Sau đó, kẻ sát thủ ấy một mình, cầm kiếm và khiên, buộc cung tên, tiến đến đức Thế Tôn; sau khi tiến đến, khi hắn gần tới sát đức Thế Tôn, hắn đứng yên, thân thể hắn khá tê cứng, e dè, lo lắng, sợ hãi, hoảng hốt. Đức Thế Tôn thấy sát thủ ấy đứng yên, thân khá tê cứng, e dè, lo lắng, sợ hãi, hoảng hốt và rồi thấy hắn ngài nói lời này với hắn: “Hãy đến, này bạn hữu, đừng sợ hãi.” Sau đó, người đàn ông đặt kiếm khiên, cung tên của mình xuống một bên, tiến lại gần đức Thế Tôn, sau khi tiến đến, cuối đầu đến chân đức Thế Tôn và nói với ngài: “Bạch đại đức ngài, tội lỗi đã chồng chất con, ngu muội, lạc lối, không khéo léo đó là con và rằng con đến đây với tâm độc ác, tâm con là kẻ giết người. Bạch Đại đức, xin Thế Tôn chấp nhận cho con tội lỗi này là tội lỗi để con xa tránh nó trong tương lai.”

“Quả thật vậy, này bằng hữu, tội lỗi đã chế ngự ôngNhưng nếu ông, này bạn hữu, sau khi thấy được tội lỗitội lỗisám hối nó theo điều đúng đắn, ta sẽ chấp nhận nó cho ông; vì, này bạn hữu, trong giới luật của bậc thánh, điều này là tăng trưởng: bất kỳ ai, sau khi thấy được tội lỗitội lỗi, thừa nhận nó theo điều đúng đắn, vị ấy đạt được sự phòng hộ trong tương lai.”[Đức Phật sau đó, dạy ông và ông chứng đắc quả vị Nhập dòng, trở thành đệ tử tại gia. Đức Phật sau đó, cảnh báo ông đi tránh các sát thủ khác, mặc dù khi họ đến, mỗi vị đều được đức Phật dạy và cũng chứng đắc quả vị Nhập dòng.]

(Tiểu phẩm VII. 3. 6-8: Luật tạng II. 191-192, do P.H. dịch tiếng Anh).

L.44 Thuần phục voi hung dữ sai đi giết ngài

Sau khi nỗ lực giết hại trên bị thất bại, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) chính mình cố gắng giết Phật bằng cách lăn tảng đá lớn xuống ngài; nhưng nó bị trật và chỉ có mảnh vụn của nó cắt chân Phật. Devadatta sau đó, cố gắng lần thứ ba giết Phật, bằng một con voi hung tợn giết người tên Nāḷāgiri, để xổng ra đường mà đức Phật đang tiến đến.

Voi Nāḷāgiri thấy đức Thế Tôn đến từ xa; thấy ngài, sau khi vuốt cái vòi lên, nó xông đến đức Thế Tôn, tai và đuôi đó dựng đứng. các Tỳ-kheo đi với Phật thấy điều này và nói với đức Thế Tôn, “Bạch đại đức ngài, con voi Nāḷāgiri này, đang đến dọc con đường này là kẻ giết người hung tợn. Bạch đại đức ngài, hãy để đức Thế Tôn trở lại, hãy để bậc May Mắn trở lại.” “Hãy đợi, này các Tỳ-kheo, chớ có sợ hãi, thật không thể, này các Tỳ-kheo, nó không thể xảy ra rằng bất kỳ ai có thể lấy mạng sống của Như Lai bằng tấn công; này các Tỳ­kheo, các đức Như Lai chứng đạt niết-bàn không còn dư y không phải vì một cuộc tấn công.”[Các Tỳ-kheo lập lại lời thỉnh cầu của họ hai lần nữa Đức Phật đáp lại y nguyên như thế mỗi lần.]

Bây giờ, lúc bây giờ, mọi người, sau khi leo trèo an toàn trên các ngôi nhà dài, ngôi nhà cong và các mái nhà, đã đợi ở đóSau đó, đức Thế Tôn làm mềm voi Nāḷāgiri bằng tâm từ. Sau đó, voi Nāḷāgiri, được làm mềm ra bởi đức Thế Tôn với tâm từ, đã hạ vòi xuống, tiến đến đức Thế Tôn, Sau khi tiến đến, đứng trước ngài. Sau đó, đức Thế Tôn, chạm vào trán của voi Nāḷāgiri bằng tay phải, gọi nó bằng các câu kệ sau

Sau đó, voi Nāḷāgiri, sau khi phủi bụi ở chân đức Thế Tôn bằng vòi của mình, đã phủi phủi đầu của mình, đã lùi về sau cúi lạy trong khi vẫn nhìn chằm chằm hướng về đức Thế Tôn. Kế đến, voi Nāḷāgiri, sau khi trở lại voi thuần phục, đứng tại nơi của chính mình và đó là cách nó được thuần phục như thế.

(Tiểu phẩm VII. 3. 11-12: Luật tạng II. 194-195, do P.H. dịch tiếng Anh).

L.45 Thuần phục kẻ cướp giết người Agulimāla (Vòng Ngón Tay)

Đoạn này mô tả làm sao đức Phật thuần phục kẻ cướp giết người này đã làm khiếp sợ tất các người khác để ông sau này trở thành Tỳ­kheo và nhà vua đang tìm kiếm chiến thắng ông đến đảnh lễ ông như một Tỳ-kheo. Vượt trên phần này, Agulimāla tiếp tục giúp người phụ nữ có ca đẻ khó bằng năng lực phát ngôn sự thật rằng ngài chưa bao giờ giết bất kỳ ai từ khi sinh ra đời, nghĩa là từ khi sinh ra là bậc thánh. Ngài tiếp tục đạt được giác ngộ, dù sau đó, ngài bị chảy máu từ mọi người ném nhiều đồ vật vào khi họ nhận ra ngài. Đức Phật thúc giục ngài hãy kham nhẫn chịu đựng điều này như là kết quả nghiệp của những hành động quá khứ của ngài, điều mà lẽ ra phải trải qua hàng ngàn năm trong sự tái sinh địa ngục nếu như ngài không thay đổi hoàn toàn các cách của ngài. Đoạn văn bao gồm thông điệp về sự cải tạo những người phạm tội.

Bấy giờ có một kẻ cướp trong lãnh thổ của vua Pasenadi (Ba-tư­nặc) của vương quốc Kosala (Kiều-tát-la) tên là Aṅgulimāla, là kẻ giết người, bàn tay dính máu, đánh đòn và bạo lực, tàn nhẫn với mọi người. Các làng mạc, thị trấn và quận huyện bị bỏ hoang bởi ông. Ông luôn luôn giết hại và đeo các ngón tay của họ như tràng hoa.

Sau đó, vào một buổi sáng, đức Thế Tôn đắp y, lấy bình bát và y ngoài, đi vào thành Sāvatthī để khất thực. Khi ngài vân du khất thực ở Sāvatthī, rồi trở về khi khất thực xong, sau bữa ăn, ngài thiết đặt nơi nghỉ ngơi theo trật tự và rồi lấy bình bát và y, khởi hành lên đường tiến về hướng của Aṅgulimāla.

Những người chăn bò, chăn cừu, đi cày và du hành thấy đức Thế Tôn đang đi dọc con đường hướng đến Aṅgulimāla rồi nói với ngài: “Này sa-môn, chớ đi vào đường này. Trên đường này có kẻ cướp Aṅgulimāla, là kẻ giết người, bàn tay dính máuhắn đeo các ngón tay của họ như tràng hoa. Nhiều người đã đi dọc theo đường này theo từng nhóm mười, hai mươi, ba mươi, thậm chí bốn mươi, nhưng họ vẫn thất bại dưới bàn tay của Aṅgulimāla.” Khi điều này được nói, đức Thế Tôn tiếp tục đi trong im lặng. Lần thứ haiLần thứ ba Những người chăn bò, chăn cừu, đi cày và du hànhnói điều này với đức Thế Tôn[như trước]. Khi điều này được nói lần thứ ba, đức Thế Tôn vẫn tiếp tục đi trong im lặng.

Kẻ cướp Aṅgulimāla thấy đức Thế Tôn đến từ xa. Khi hắn thấy ngài, hắn suy xét: “Thật tuyệt vời! Thật tuyệt diệu! Nhiều người đã đi dọc theo đường này theo từng nhóm mười, hai mươi, ba mươi, thậm chí bốn mươi, nhưng họ vẫn thất bại dưới bàn tay của ta.

Nhưng bây giờ, tên sa-môn này lại đến một mình, không người đồng hành, như thể đã tới số rồi. Tại sao ta không lấy mạng của tên sa-môn này nhỉ?”

Aṅgulimāla sau đó, lấy kiếm, khiên rồi bó cung tên, đi theo đằng sau đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn thực hiện nhanh nhẹn một năng lực thần thông như thể tên cướp, mặc dù đi bộ nhanh nhất hắn có thể, không thể bắt kịp đức Thế Tôn được, người chỉ đi bộ với tốc độ bình thường.

Sau đó, kẻ cướp Aṅgulimāla suy xét: “Thật tuyệt vời! Thật tuyệt vời! Trước đây ta có thể bắt kịp thậm chí một con voi chạy nhanh và nắm lấy nó; ta có thể bắt kịp thậm chí một con ngựa chạy nhanh và nắm lấy nó; ta có thể bắt kịp thậm chí một xe ngựa chạy nhanh và nắm lấy nó; ta có thể bắt kịp thậm chí một con nai chạy nhanh và nắm lấy nó; nhưng bây giờ, mặc dù ta chạy nhanh nhất có thể, ta cũng không thể bắt kịp vị sa-môn này, người chỉ đi với tốc độ bình thường.

Sau đó, kẻ cướp Aṅgulimāla dừng lại rồi kêu lớn đức Thế Tôn: “Dừng lại, Sa-môn! Dừng lại, Sa-môn!” (Đức Thế Tôn trả lời:) “Này Aṅgulimāla! Ta đã dừng lại, con cũng dừng lại.” Sau đó, kẻ cướp Aṅgulimāla suy xét: “Các sa-môn, Thích-ca, nói sự thật, xác quyết sự thật; nhưng dù vị sa-môn này vẫn còn đang đi mà ngài nói: “Này Aṅgulimāla! Ta đã dừng lại, con cũng dừng lại.” Giả sử ta sẽ hỏi vị sa-môn này.” Sau đó, kẻ cướp Aṅgulimāla gọi đức Thế Tôn bằng những bài kệ như sau:

“Này sa-môn, trong khi ngài đang đi, ngài nói tôi ngài đã dừng lại; nhưng giờ, trong khi tôi đã dừng lại, ngài nói tôi chưa dừng lại. Này sa-môn, tôi hỏi ngài về ý nghĩa đó bây giờ: Sao lại như thế, ngài đã dừng còn tôi chưa dừng?”

“Này Aṅgulimāla, ta đã dừng mãi mãi, ta dừng sự bạo lực với chúng sanh; nhưng con chưa kiềm chế đối với những sinh vật sống: Đó là lý do tại sao ta đã dừng còn con chưa dừng.”

“Ồ! Giờ phút cuối cùng vị Sa-môn này, bậc thánh khả kính, đã đến khu rừng to lớn này vì lợi ích cho ta. Sau khi nghe bài kệ của ngài dạy con Pháp, con sẽ thật sự từ bỏ việc ác mãi mãi.”

Nói như vậy xong, tên cướp này lấy kiếm và vũ khí ném xuống hố sâu vực thẳm; tên cướp đảnh lễ dưới chân bậc Thiện Thệ, rồi sau đó, xin ngài cho xuất gia.68

Bậc tỉnh thức, bậc thánh đại bi, bậc thầy của thế gian của tất cả vị trời, đã gọi ông bằng những lời: “Hãy đến, này Tỳ-kheo.” Và đó là cách mà ngài trở thành một vị Tỳ-kheo.

Sau đó, đức Thế Tôn khởi hành vân du trở lại thành phố Sāvatthī với Aṅgulimāla làm thị giả. Vân du nhiều đoạn đường, ngài dần dần đến Sāvatthī và ở đó, ngài cư ngụ tại Tinh xá Kỳ Viên (Jeta), vườn của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika).

Bây giờ, lúc bấy giờ, nhiều đám đông tập hợp tại các cửa nội thành của vua Pasenadi, la lớn và ồn ào, khóc than: “Đại vương, tên cướp Aṅgulimāla đang ở trong lãnh thổ của ngài; hắn là kẻ giết người, bàn tay dính màu, đánh đòn và bạo lực, tàn nhẫn với mọi người. Các làng mạc, thị trấn và quận huyện bị bỏ hoang bởi hắn. Hắn luôn luôn giết hại và hắn đeo các ngón tay của họ như tràng hoa! Nhà vua phải trừng trị hắn!”

Sau đó, vào giữa ngày vua Pasenadi của vương quốc Kosala đi ra khỏi thành Sāvatthī đoàn kỵ binh năm trăm người và tiến đến tinh xá. Ngài đi như thế xa đến con đường có thể đi được dành cho xe ngựa, rồi sau đó, vua xuống ngựa, đi bộ đến đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ đức Thế Tôn, vua ngồi xuống một bên, đức Thế Tôn nói với vua “Đại vương, điều đó là gì? Có phải vua Seniya Bimbisāra (Tần­bà-sa-la) của vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà) tấn công ngài, hay các vị Licchavi của Vesāli, hay các vị vua thù địch khác?” “Bạch đại đức ngài, không phải vua Seniya Bimbisāra (Tần-bà-sa-la) của vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà) tấn công ngài, cũng không phải các vị Licchavi của Vesāli, hay các vị vua thù địch khác. Mà có một tên cướp trong lãnh thổ của con tên là Aṅgulimāla, là kẻ giết người,

68 Thọ giới.

bàn tay nhuốm máuBạch đại đức ngài, con sẽ không bao giờ có thể bắt hắn được.

“Đại vương, giả sư ngài thấy Aṅgulimāla cạo bỏ râu tóc, mặc y áo, xuất gia từ bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình; rằng vị ấy từ bỏ giết hại chúng sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ ngôn ngữ sai trái; rằng vị ấy ăn chỉ một bữa mỗi ngày, sống độc thân, có đức hạnh, nhân cách tốt. Nếu ngài thấy vị ấy như vậy thì ngài sẽ đối xử vị ấy như thế nào?”

Bạch đại đức ngài, chúng con sẽ đảnh lễ vị ấy, hoặc đứng dậy chào vị ấy, hoặc mời vị ấy ngồi; hoặc chúng con sẽ mời vị ấy nhận y áo, thức ăn, nơi nghỉ và các nhu yếu thuốc men; hoặc chúng con sẽ sắp xếp cho vị ấy an toàn đúng luật, phòng hộ và bảo vệ. Nhưng bạch đại đức ngài, làm sao người phi đạo đức như thế, một trong nhân cách xấu ác, lại có thể giữ nguyên tắc đạo đứckiềm chế như thế?”

Bây giờ, vào lúc đó, đại đức Aṅgulimāla đang ngồi không xa đức Thế Tôn. Sau đó, đức Thế Tôn chỉ cánh tay phải của mình rồi nói với vua Pasenadi của vương quốc Kosala, “Đại vương, đây là Aṅgulimāla.” Sau đó, vua Pasenadi hoảng sợ, hoảng hốt và khiếp đảm. Biết điều này, đức Thế Tôn bảo vua, “Này đại vương, chớ có sợ hãi, chớ có sợ hãi. Không có gì để ngài sợ hãi từ vị ấy. Sau đó, sự sợ hãi, hoảng hốt và khiếp đảm của vua lắng dịu. Vua đi đến đại đức Aṅgulimāla và nói “Bạch thầy, có phải ngài là, đại đức, thực sự là Aṅgulimāla? “Vâng, thưa đại vương” “Đại đức ngài, cha của thầy thuộc gia đình nào? Mẹ của ngài thuộc gia đình nào?” “Thưa đại vương, cha tôi là Gagga; mẹ tôi là Mantāṇī.” “Hãy để thánh Gagga, con của Mantāṇī nghỉ yên lòng. Ta sẽ cung cấp y áo, thức ăn, nơi nghỉ và nhu yếu thuốc men cho vị thánh Gagga, con của Mantāṇī này.”

Bây giờ, vào lúc ấy, đại đức Aṅgulimāla người trú ở rừng, người ăn đồ khất thực, người mang giẻ bỏ và hạn chế chính mình với ba

y. Ngài hồi đáp: “Thưa đại vương, đủ rồi, ba y của ta có đủ.” Vua Pasenadi, sau đó, trở lại đức Thế Tôn, rồi sau khi đảnh lễ ngài, vua ngồi xuống một bên rồi nói: “Bạch đại đức ngài, thật là vi diệu, thật là tuyệt diệu! Làm sao đức Thế Tôn thuần phục những kẻ khó thuần phục, đem lại an bình cho nơi không an bình và hướng dẫn đến niết-bàn cho những ai chưa đạt được niết-bàn. Bạch đại đức ngài, chúng con chính mình không thể thuần phục vị ấy bằng vũ lực hay vũ khí. Bạch đại đức ngài, bây giờ, chúng con đi đây. Chúng con bận bịu và có nhiều việc phải làm.”

(Kinh Agulimāla: Kinh Trung bộ II. 98-102, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

CUỘC ĐỜI THIỀN ĐỊNH CỦA PHẬT VÀ TÁN THÁN VỀ SỰ AN TỊNH VÀ BIẾT ĐỦ

L.46 Thiền một mình

Trong đoạn này, một Bà-la-môn được kể từ một số thanh niên học trò của mình rằng trong khi thu lượm củi họ đã thấy Sa-môn (đức Phật) đang thiền trong bụi cây rừng gần đó. Cho nên ông đến đó rồi gọi chào đức Phật bằng bài kệ.

“Đi vào trong rừng hoang vắng trống rỗng, sâu vào trong rừng gỗ, nơi nhiều sự khiếp sợ ẩn náu, với thân bất động, kiên định, khả ái, làm sao ngài thiền, này Tỳ-kheo, quá đẹp như vậy!

Trong rừng không nghe hát nhạc, bậc thánh an trú đã cư ngụ trong các khu rừng! Điều này làm thức tỉnh ta là điều kỳ diệu (thần thông) rằng ngài cư trú với tâm hoan hỷ một mình trong các khu rừng.

Ta cho rằng ngài mong muốn ba cõi trời tối thượng, cộng đồng các vị trời trên thế gian; cho nên ngài cư trú trong khu rừng hoang vắng: ngài thực hành khổ hạnh ở đây, để đạt được Phạm thiên.”

(Đức Phật): Bất kỳ điều gì có nhiều ước vọnghỷ lạc thì luôn luôn dính mắc đối với nhiều yếu tố, những mong được có động cơ từ gốc không biết. Tất cả ta phá hủy cùng với gốc rễ của chúng.

Ta không có ước vọng, ta không dính mắc, không vướng bận; cái nhìn của ta với tất cả mọi thứ đã được thanh tịnh. Này bà-la-môn, sau khi đạt được sự tỉnh thức tối thượng, tốt lành, tự tin, ta thiền một mình.”

(Kinh Kaṭṭhahāra: Kinh Tương ưng I. 180-181 <389-390>, do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.47 Các đệ tử chú tâm tịch tĩnh

Trong đoạn này, vị du sĩ ngoại đạo, có các đệ tử nói nhiềuồn ào, nhận đức Phật và lặp lại với ngài rằng ông đã nghe điều đó, trong khi các bậc đạo sư khác mất các đệ tử chỉ trích họ thì các đệ tử của đức Phật khá chuyên tâm và thậm chí nếu họ có trở về đời sống cư sĩ thì họ vẫn con duy trì sự tôn kính đối với đức Phật vì sự thực hànhtán thán các đặc tính như biết đủ (tri túc).

Sau đó, đức Thế Tôn đi đến Vườn Công, nơi vườn ở của các du sĩ. Lúc bấy giờ, du sĩ Sakuludayin ngồi giữa hội chúng rộng lớn các du sĩ đang làm náo động, lớn tiếng và nói năng ồn ào nhiều loại nói chuyện không trọng tâm như nói về vua chúa, các tên cướp, cận thần, quân đội, các sự nguy hiểm, cuộc chiến, thức ăn, đồ uống, y phục, giường nằm, tràng hoa, nước hoa, bà con, xe cộ, làng mạc, thị trấn, đô thành, quốc gia, phụ nữ, anh hùng, đường xá, giếng nước, người chết, chuyện vặt, nguồn gốc thế giới, nguồn gốc biển cả, liệu rằng những điều đó là vậy hoặc không là vậy.

Sau đó, du sĩ Sakuludayin thấy đức Thế Tôn đến từ xa. Thấy ngài đến từ xa, ông yêu cầu chính hội chúng của mình nên im lặng như sau: “Các vị, xin giữ im lặng; các vị, xin đừng làm ồn. Sa-môn Gotama đến đây. Vị đại đức này thích sự yên tĩnh và khen ngợi sự yên tĩnh. Có lẽ nếu ngài tìm thấy hội chúng của chúng ta yên tĩnh thì ngài nghĩ sẽ gia nhập chúng ta.” Sau đó, các du sĩ trở nên im lặng.

Đức Thế Tôn đi đến du sĩ Sakuludayin, người đã nói với ngài: “Hãy để đại đức ấy đến! Hãy chào mừng đại đức ấy! Đã lâu rồi đại đức ấy mới tìm cơ hội đến đây. Hãy để đại đức ấy ngồi; chỗ ngồi này đã sẵn sàng.” Đức Thế Tôn ngồi xuống chỗ ngồi đã được chọn sẵn và du sĩ Sakuludayin lấy chỗ thấp hơn rồi ngồi xuống một bên. Khi ông làm vậy xong, đức Thế Tôn mới hỏi ông: “Này Udayin, các ông cùng nhau ngồi đây đang thảo luận điều gì? Điều gì các ông thảo luận bị tạm dừng?”

Bạch đại đức ngài, hãy để cuộc thảo luận vì điều chúng tôi đang cùng ngồi ở đây. Đức Thế Tôn có thể nghe về nó sau. Bạch đại đức ngài, trong những ngày gần đây, khi các Sa-môn, Bà-la-môn của nhiều trường phái khác nhau đã tập hợp cùng nhau và ngồi lại nhau trong hội trường tranh luận, chủ đề này được nêu ra: “Thật là điều lợi cho người dân Anga và Magadha mà nơi đó các Sa-môn, Bà-la­môn, các vị đứng đầu tăng đoàn, đứng đầu hội nhóm, các bậc đạo sư các phái, các giáo chủ sáng lập nổi tiếng, ai cũng biết được nhiều người xem là các bậc thánh, phải trải qua mùa mưa ở Vương Xá (Rājagaha)[Nhiều vị lãnh đạo khác nhau được đề cập bằng tên, rồi sau đó, mọi người nói rằng nhiều trong số các đệ tử của họ đã rời khỏi họ sau khi chỉ trích họ.]

Một số vị nói điều này: “Sa-môn Gotama này là vị lãnh đạo một tăng đoàn, là người đứng đầu một hội chúng, là bậc đạo sư của một hội chúng, là bậc sáng lập tông phái nổi tiếng, được nhiều người biết đến, được nhiều người xem là bậc thánh. Ngài được tôn kính, tôn trọng, cung kínhđảnh lễ bởi các đệ tử ngài và các đệ tử ấy sống phụ thuộc vào ngài, cung kínhtôn trọng ngài. Có lần Sa­môn Gotama đang giảng pháp đến hội chúng có hàng trăm tín đồ và ở đó, có một đệ tử ngài tằng hắng cổ họng. Ngay sau đó, một trong số người đồng học với vị ấy trong đời sống thánh hạnh đã thúc vị ấy bằng đầu gối để chỉ rằng: “Đại đức, xin giữ yên lặng, đừng có làm ồn; đức Thế Tôn, bậc đạo sư đang dạy chúng ta Pháp.”

Khi sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng có hàng trăm tín đồ, lúc đó sẽ không có âm thanh ho hay tằng hắng cổ họng từ các đệ tử của ngài. Vì lúc đó hội chúng lớn ấy đang trong tư thế sẵn sàng mong đợi: “Chúng ta hãy ở đây, vì pháp mà đức Thế Tôn sắp thuyết.” Cũng giống như người đàn ông ở ngã tư đường đang vắt mật ong thuần tịnh và một nhóm người lớn đang trong tư thế sẵn sàng mong đợi, cũng vậy, khi Sa-môn Gotama đang thuyết pháp cho hội chúng có hàng trăm tín đồ, lúc đó sẽ không có âm thanh ho hay tằng hắng cổ họng từ các đệ tử của ngài. Vì lúc đó hội chúng lớn ấy đang trong tư thế sẵn sàng mong đợi: “Chúng ta hãy ở đây, vì pháp mà đức Thế Tôn sắp thuyết.”

Thậm chí các đệ tử đó của ngài sa ngã với các đồng học trong đời sống thánh hạnhtừ bỏ tu tập để trở về đời sống thế tục thì họ vẫn tán thán đức Thế Tôn, pháp và Tăng đoàn; họ tự khiển trách mình thay vì khiển trách người khác, nói rằng: “Chúng ta không may mắn, chúng ta có ít nghiệp lành; vì mặc dù chúng ta xuất gia trong đời sống không gia đình trong chánh pháp được khéo thuyết như thế, nhưng chúng ta không thể sống một đời sống thánh hạnh hoàn hảothanh tịnh cho những đời sống còn lại được.” Sau khi trở thành người phụ giúp tu viện hay cư sĩ tại gia, họ vẫn thực hành giữ năm điều đạo đức. 69 Do đó, Sa-môn Gotama được tôn kính, tôn trọng, cung kínhđảnh lễ bởi các đệ tử ngài và các đệ tử ấy sống phụ thuộc vào ngài, cung kínhtôn trọng ngài.

“Này Udayin, có bao nhiêu đặc tính ông thấy trong ta bởi vì chúng mà các đệ tử ta tôn trọng, cung kính, đảnh lễtôn kính ta và sống phụ thuộc vào ta, cung kínhtôn trọng ta?”

 

“Bạch đại đức ngài, tôi thấy năm đặc tính trong đức Thế Tôn mà vì đó các đệ tử vị ấy tôn trọng, cung kính, đảnh lễtôn kính vị ấy và sống phụ thuộc vào vị ấy, cung kínhtôn trọng vị ấy. Những gì là năm? Đại đức ngài, đức Thế Tôn ăn ít và khen ngợi việc ăn ít; đây tôi thấy là đặc tính đầu tiên của đức Thế Tôn mà vì đó các đệ tử vị ấy tôn trọng, cung kính, đảnh lễtôn kính vị ấy và sống phụ thuộc vào vị ấy, cung kínhtôn trọng vị ấy. Bạch đại đức ngài, đức Thế Tôn biết đủ với bất kỳ loại y phụ nào và khen ngợi việc biết đủ với bất kỳ loại y phục nào đức Thế Tôn biết đủ với bất kỳ nơi nghỉ nào và khen ngợi việc biết đủ bất kỳ việc biết đủ với bất kỳ nơi nghỉ nào đức Thế Tôn ẩn cư và khen ngợi việc ẩn cưThưa đại đức ngài, đó là năm đặc tính tôi thấy ở đức Thế Tôn mà bởi vì đó các đệ tử vị ấy tôn trọng, cung kính, đảnh lễtôn kính vị ấy và sống phụ thuộc vào vị ấy, cung kínhtôn trọng vị ấy.

(Đại kinh Sakuludayi: Kinh Trung bộ II. 1-7, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

69 Thuộc đạo đức tại gia: xem Th.110.

L.48 Thu hút sự giúp đỡ của chú voi cũng tìm nơi tĩnh mịch

Đoạn này đến thời điểm đức Thế Tôn bỏ đi vào trong rừng để tìm nơi tĩnh mịch, sau khi trải nghiệm với một số Tỳ-kheo mâu thuẫn và tranh cãi ở Kosambi. Ngài nhận sự giúp đỡ từ chú voi đực cũng đang tìm kiếm sự yên tĩnh.

Đi trên đường theo đúng trình tự, đức Thế Tôn đến Parileyya rồi ở đó, trong Khu Rừng Cây Bảo Hộ (Guarded Woodland Thicket), dưới gốc cây Sa-la khả ái. Sau đó, đức Thế Tôn hành thiền một mình, một suy luận xuất hiện trong tâm ngài như sau: “Trước đây, bị bao vây bởi các Tỳ-kheo ở Kosambi, những người tạo ra xung đột, người người tạo ra tranh cãiTa đã sống không thoải mái; nhưng giờ ta ở một mình với không ai khác, ta đang sống trong thoải mái, rời bỏ những Tỳ-kheo kia…”

Bây giờ, một con voi đực to lớn cũng bị bao vây bởi nhiều voi và voi cái, bởi các con voi mới lớn và con voi đang bú; nó ăn cỏ đã bị gặm bởi chúng và chúng ăn những bó nhành mà nó bẻ gãy xuống; và nó uống nước bị vẫy bùn khi nó băng qua suối cạn, những con voi cái xô đẩy lên thân nó. Sau đó, điều này xuất hiện đối với con voi đực to lớn đó: “Giờ ta đang sống bị bao vây với nhiều con voi và voi cáiTa sẽ sống một mình, ẩn trú từ đám đông này chăng?

Sau đó, con voi đực to lớn đó, rời khỏi đàn, tiến đến Parileyya, Khu Rừng Có Bảo Hộ, cây sa-la khả ái đức Thế Tôn; sau khi đến nơi, bằng cái vòi của mình, nó lấy nước uống cho đức Thế Tôn và nước để tắm rửa, rồi nó giữ cỏ nằm bẹp xuống. Sau đó, điều này xảy ra đối với con voi đực to lớn kia: “Bây giờ, trước đây, ta đã bị bao vây bởi các con voi và voi cái; nhưng giờ ta ở một mình với không ai khác, ta đang sống trong sự thoải mái.”

(Đại phẩm X. 4. 6-7: Luật tạng I. 352-353, do P.H. dịch tiếng Anh).

THÂN BỆNH CỦA PHẬT VÀ TÂM TỪ CHĂM SÓC CHO NGƯỜI BỆNH

L.49 Mệt mỏi và cơn đau lưng kéo dài

Nhiều bài kinh bao gồm một vài thông tin rất “người” về đức Phật.

Sau đó, đức Thế Tôn đắp y, lấy bình báty phục, đi cùng với hội chúng Tỳ-kheo đến hội trường. Khi ngài đến, ngài rửa chân rồi sau đó, vào trong hội trường và ngồi xuống cạnh cột trung tâm, mặt hướng về phía đông. Và các Tỳ-kheo cũng rửa chân, vào hội trường, ngồi xuống cạnh tường phía tây, mặt quay về hướng đông, với đức Thế Tôn trước họ. Và các vị Thích-ca của thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu) rửa chân, vào hội trường rồi ngồi xuống cạnh tường phía đông, mặt hướng phía tây, với đức Thế Tôn trước họ.

Sau đó, khi đức Thế Tôn đã hướng dẫn, thúc giục, đánh thức và làm vui lòng các vị Thích-ca của thành Kapilavatthu bằng cuộc nói chuyện về pháp cho đến quá đêm, ngài nói với đại đức Ānanda: “Này Ānanda, hãy nói với các vị Thích-ca của thành Kapilavatthu về đệ tử trong sự tu tập cao hơn (Tỳ-kheo), người đã đi vào đạo. Lưng của ta cảm thấy không thoải mái. Ta sẽ nghỉ ngơi.” “Vâng, bạch đại đức ngài, đại đức Ānanda trả lời.”

Kế tiếp, đức Thế Tôn chuẩn bị áo choàng vải gấp thành bốn rồi nằm xuống phía bên phải trong tư thế sư tử, với chân này gối lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác, sau khi chú ý trong tâm thời gian để thức dậy (sau khi ngủ).

(Kinh Hữu học: Kinh Trung bộ I. 354,70 G.AS. dịch tiếng Anh).

L.50 Thỉnh cầu nước nóng

Bây giờ, lúc bấy giờ đức Thế Tôn bị trúng gió và đại đức Upavana là thị giả của ngài. Sau đó, đức Thế Tôn gọi đại đức Upavana như thế này, “Hãy đi, này Upavana, kiếm một ít nước nóng cho ta.” “Vâng, bạch đại đức ngài, đại đức Upavana hồi đáp.”

Sau đó, đại đức Upavana đắp y, lấy bình báty phục, đi đến nơi ở của Devahita, một Bà-la-môn, nơi ông đứng im lặng một bên. Bà-la-môn Devahita thấy đại đức Upavana đang đứng yên lặng một bên và gọi ngài bằng bài kệ:

70 Tương đương Kinh Trường bộ III.209.

“Im lặng, bậc A-la-hán đứng, đầu trọc, che phủ trong y áo chắp vá, ngài muốn gì? Ngài tìm gì? Ngài đến đây để xin gì?”

“Bậc A-la-hán, đạo sư trong đời, bậc thánh, bị trúng gió. Này Bà­la-môn, nếu có nước nóng thì vui lòng cho một ít đến bậc thánh ấy.

Ngài được tôn kính bởi những ai xứng đáng lễ kính, cung kính bởi những ai xứng đáng cung kính, được tôn trọng bởi những người xứng đáng tôn trọng: Nó là đối với ngài ấy mà tôi muốn lấy nước.”

Sau đó, Bà-la-môn Devahita sai một người mang bình đựng nước nóng và dâng một túi mật ong đối với đại đức Upavana. Sau đó, đại đức Upavana tiến đến đức Thế Tôn. Ông tắm đức Thế Tôn bằng nước nóng và rồi ông trộn mật ong với nước nóng rồi dâng nó lên Ngài. Sau đó, cơn đau của đức Thế Tôn lắng xuống.

(Kinh Devahita: Kinh Tương ưng I. 174-175 <375-377>, do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.51 Chịu đựng đau đớn từ thương tích và vượt qua nó

Vào một thời, đức Thế Tôn đang cư ngụ tại thành Vương Xá (Rājagaha) trong Vườn Nai (Maddakucchi). Bây giờ, vào lúc ấy, chân của đức Thế Tôn bị cắt bởi mảnh đá. Từng cơn đau gay gắt tấn công đức Thế Tôn, cảm xúc thân thể thì đau đớn, đau nhói, dữ dội, nhức nhói, nhức đau và khó chịu. Nhưng đức Thế Tôn chịu đựng được chúng, chánh niệm, tỉnh giác, mà không trở nên rầu buồn.

Sau đó, đức Thế Tôn xếp y làm bốn, rồi nằm xuống bên hông phải trong tư thế sư tử, chân này xếp lên chân kia, chánh niệm, tỉnh giác.

Sau đó, ma vương, kẻ xấu xa, tiến đến đức Thế Tôn, rồi chào ngài bằng bài kệ:

Có phải ngài nằm xuống trong sự say mê hay say sưa về thi ca? Có phải ngài không đủ những mục đích để gặp? Nằm một mình trong nơi ẩn đơn, tại sao ngày lại ngủ với khuôn mặt thờ thẫn?

“Ta không nằm trong say mê hay say sưa về thi ca, sau khi đạt được mục đích ta thoát khỏi khổ đau. Sống một mình trong nơi ẩn trú ta nằm xuống với đầy đủ lòng từ mẫn đối với tất cả chúng sanh.

Thậm chí những ai với sự phóng lao trong ngực làm đau đớn tim họ từ khắc này qua khắc khác, thậm chí những gì nơi đây, bị đánh đập, khi đi ngủ; tại sao ta không nên khi mà lao của ta đã được được lấy ra, ta không nằm thức trong sự sợ hãi hay ta, cũng không sợ ngủ. Đêm và ngày không ảnh hưởng đến ta; thấy chính ta không trở lại trong đời này. Cho nên ta có thể ngủ trong an lạc, đầy đủ lòng thương xót đối với tất cả chúng sanh.”

Sau đó, ma vương, kể xấu xabiến mất ngay nơi đó.

(Kinh Phiến đá: Kinh Tương ưng I. 110-111 <245-246>, do

G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.52 Hồi phục từ bệnh tật bằng bảy yếu tố giác ngộ được trùng tuyên

Trong đoạn này đức Phật hồi phục từ bệnh tật bằng bảy yếu tố hướng đến Giác Ngộ (bảy yếu tố giác ngộ -bojhanga) được trùng tụng ; trong hai bài kinh trước chính ngài cũng đã trùng tuyên bảy yếu tố giác ngộ này đối với các tỷ-kheo Mahākassapa (đại Ca-diếp) và Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên) để giúp họ hồi phục từ bệnh tật của mình.

Vào một thời, đức Thế Tôn đang cư ngụ tại Thành Vương-xá, ở Trúc Lâm, khu vườn sóc. Bây giờ, vào dịp ấy đức Thế Tôn bị bệnh, đau đớn, bệnh nghiêm trọng. Sau đó, đại đức Mahā Cunda tiến đến đức Thế Tôn, đảnh lễ ngài và ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn sau đó, nói với đại đức Mahā Cunda: “Hãy trùng tụng các yếu tố giác ngộ, này Mahā Cunda.”

Bảy yếu tố giác ngộ này, bạch đại đức ngài, đã được đúng thời tuyên thuyết bởi đức Thế Tôn, khi được phát triển và tu tập, chúng sẽ dẫn đến tuệ tri cao hơn, đến sự tỉnh thức, đến niết-bàn. Những gì là bảy? yếu tố giác ngộ niệm,... quán xét pháp,... tinh tấn,... hỷ,... khinh an…, tập trung thiền định, ... xả...”

Chắc chắn rồi, này Cunda, chúng là bảy yếu tố giác ngộ! Chắc chắn rồi, này cunda, chúng là bảy yếu tố giác ngộ! Đây là điều đại đức Mahā Cunda nói, bậc đạo sư tán thành. Đức Thế Tôn hồi phục từ căn bệnh ấy. Bằng cách như thế đức Thế Tôn được chữa khỏi bệnh của mình.

(Kinh Bệnh: Kinh Tương ưng V. 81, do P.H. dịch tiếng Anh).

L.53 Từ tâm giúp đỡ Tỳ-kheo bệnh

Đoạn này mô tả từ tâm thực tế của đức Phật, chăm sóc cho Tỳ-kheo bệnh và khuyến khích các Tỳ-kheo nên chăm sóc các bạn đồng tu bị bệnh của mình như họ sẽ làm cho thành viên gia đình.

Lúc bấy giờ, có Tỳ-kheo bị bệnh lỵ. Ông nằm hôi hám trong nước tiểu và phân của chính mình. Sau đó, đó đức Thế Tôn trên chuyến vân du khảo sát các nơi ở với đại đức Ānanda là thị giả, đã đi đến nơi ở của Tỳ-kheo đó. Khi đến, thấy Tỳ-kheo đang nằm hôi hám trong đống phân và nước tiểu của chính mình.

Khi thấy ông, đức Thế Tôn đi đến Tỳ-kheo ấy và nói: này Tỳ­kheo, bệnh của ông là gì? Bạch đại đức ngài, con bị bệnh lỵ. Này Tỳ­kheo, ông có thị giả không? “Không, bạch đại đức Ngài, con không có ai cả.” “Này Tỳ-kheo, tại sao các Tỳ-kheo khác không giúp ông? “Bạch đại đức Ngài, con không làm bất kỳ điều gì cho các Tỳ-kheo ấy, đó là lý do tại sao họ không giúp đỡ con.”

Sau đó, đức Thế Tôn bảo đại đức Ānanda: “Này Ānanda, hãy đi lấy một ít nước, chúng ta sẽ lau cho Tỳ-kheo này. Vâng bạch đại đức ngài, đại đức Ānanda trả lời và đi lấy nước. Đức Thế Tôn tắm nước lên Tỳ-kheo ấy và đại đức Ānanda lau khô. Sau đó, với Đức Thế Tôn khiêng đầu Tỳ-kheo ấy và đại đức Ānanda khiếng chân, họ nâng vị ấy lên và đặt vị ấy lên giường.

Sau đó, đức Thế Tôn, từ nguyên nhân này, vì sự kiện này, đã tập hợp các Tỳ-kheo. Ngài hỏi các ấy, “Này các Tỳ-kheo, có một Tỳ-kheo bệnh ở nơi cư trú ấy ở đằng kia phải không?” “Vâng, bạch đại đức ngài, có ạ.” “Này các Tỳ-kheo! Bệnh của vị ấy là gì?” “Bạch đại đức ngài, vị ấy bị lỵ.” “Này các Tỳ-kheo, vị ấy có thị giả không?” “Không, bạch đại đức ngài, vị ấy không có.” “Này các Tỳ-kheo, tại sao các Tỳ-kheo không giúp đỡ vị ấy?” “Bạch đại đức ngài, vị ấy không làm bất kỳ điều gì cho các Tỳ-kheo, đó là tại sao các Tỳ-kheo không giúp vị ấy.”

“Này các Tỳ-kheo, các vị không có mẹ, các vị không cha, người có thể chăm sóc các vị. Nếu các vị không giúp đỡ nhau thì ai sẽ giúp các vị? Này các Tỳ-kheo, bất kỳ ai muốn chăm sóc ta thì nên chăm sóc người bệnh.”

(Đại phẩm VIII. 26: Luật tạng I. 301-302, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.54 Giúp đphụ nữ lao động

Đoạn này liên hệ đến Suppavāsā, người phụ nữ đang mang thai lâu ngày và đã lao động nhiều ngày, trong cơn đau đớn cực độ. Cô ấy đã có niềm tin kiên cố về đức Phật, Khi cô ấy thỉnh cầu ngài giúp đỡ, ở từ xa, ngài sử dụng năng lực của mình đđảm bảo cô ấy hạ sanh dễ dàng.

Bị ảnh hưởng bởi các cơn đau nhức nhối, dữ dội, đau đáu và đớn đau, nàng đặt lên nó với ba ý nghĩ: “Đức Phật tỉnh giác hoàn toàn, thật sự, là đức Thế Tôn, người dạy pháp vì để từ bỏ khổ đau của những sắc thân như thế này; phẩm hạnh tốt, thật sự, là Tăng già đệ tử của đức Thế Tôn, thực hành vì để từ bỏ khổ đau sắc thân như thế này; hạnh phúc hoàn toàn, thật sự, là niết-bàn, nơi đây khổ đau của sắc thân như thế này sẽ không được tìm thấy.”

Sau đó, nàng Suppavāsā, con gái của Koliya, gọi chồng nàng, nói rằng, “Chàng nên đi đến đức Thế Tôn. Sau khi đến Ngài, chàng nên đảnh lễ ngài với trán chạm chân ngài thay thế cho em và thỉnh ngài giúp em giải thoát khỏi phiền não, thoát khỏi chướng ngại, khinh an của thân, sức mạnhcảm xúc trong thoải mái[và nói ngài về những điều kiện đau đớn của em và ba ý nghĩ].”

[Khi chàng ấy làm vậy xong, rồi đức Thế Tôn đáp lại:] “Nguyện cho Suppavāsā, con gái của dòng tộc Koliya, được an bình; nguyện cho nàng sức khỏe, nguyện cho con sanh ra cậu con trai khỏe mạnh.” Và với lời nói ấy, hơn nữa, từ đức Thế Tôn, Suppavāsā, con gái của dòng tộc Koliya, trở nên an tịnh, mạnh khỏe và hạ sanh cậu con trai khỏe mạnh.

[Khi người chồng trở về với vợ mình và thấy những điều đã diễn ra, ông nói:] “Đó thật sự là tuyệt vời, phu nhân của ta, đó là thật sự một điều chưa hề thấy, phu nhân của ta, trạng thái khả năng tâm lý tuyệt vời này, trạng thái oai nghiêm tuyệt vời này, của đức Thế Tôn, bởi vì, tên là, Suppavāsā nàyCó thể với lời nói này từ đức Thế Tôn trở nên an tịnh, mạnh khỏe và hạ sanh cậu con trai khỏe mạnh, vì đó ông trở nên vui mừng, hân hoan, đầy đủ hoan hỷhạnh phúc.

(Kinh Suppavāsā: Kinh Phật tự thuyết 15-16, do P.H. dịch tiếng Anh).

ĂN NGỦ

L.55 Đức Phật đã ngủ như thế nào

Những đoạn văn này nói về cách mà đức Phật chánh niệm đi ngủ và ngủ ngon.

Vào một dịp đức Thế Tôn đang cư ngụ tại thành Vương-xá trong vườn trúc lâm, nơi nuôi các chú sóc. Sau đó, đêm sắp tàn, đức Thế Tôn, đã trải qua phần lớn thời gian của đêm thiền hành đi tới lui giữa bầu trời, rửa chân, rồi đi vào nơi cư ngụ và nằm xuống bên hông phải trong tư thế thế sư tử với chân này xếp lên trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, chú ý đến các ý tưởng khởi sinh.

(Kinh Thụy miên: Kinh Tương ưng I. 107 < 239-240>, do G.A. Somaratne dịch tiếng Anh).

“Nhưng ngài Gotama đức lớn có nhớ giấc ngủ trong ngày không?” “Này Aggivessana, ta nhớ rằng trong tháng cuối của mùa nóng, khi trở về từ khất thực, sau bữa ăn, ta xếp y gấp thành bốn, rồi nằm xuống về hông bên phải, ta ngủ một cách chánh niệmhoàn toàn tỉnh giác.

(Đại kinh Saccaka: Kinh Trung bộ I. 249, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

Ngài thực sự luôn luôn ngủ ngon, vị Bà-la-môn đã được dập tắt đầy đủ, người không dính mắc vào các dục lạc giác quanan tĩnh nơi tâm, mà không có cái đạt được.

Sau khi cắt đứt tất cả chấp thủ, gỡ bỏ quan tâm từ tim, bậc an tịnh ngủ ngon, sau khi đạt được sự an lạc của tâm.

(Kinh Sudatta: Kinh Tương ưng I. 212 <458>, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.56 Thịt có thể chấp nhận trong bình bát của sa-môn không?

Đoạn này làm rõ ràng rằng các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni không nên nhận thức ăn gồm thịt nếu như họ thấy, nghe hoặc nghi ngờ rằng thịt ấy đến từ chúng sanh bị giết đặc biệt cho họ ăn. Cũng thấy bất kỳ ai liên quan đến giết hại động vật là những kết quả nghiệp xấu tăng trưởng cho chính họ. Các tu sĩ, mặc dù, có chấp nhận thịt được mua bởi vị cúng dường cư sĩ tại chợ. Đối với cưPhật tử giết hại động vật hoặc cá hoặc bán thịt của chúng sẽ là tà mạng, mặc dù nhiều cưPhật tử có thể ăn một ít thịt, như cá, trong các chế đăn uống của chính mình.

Sau đó, ngự y Jīvaka Komarabhacca đi đến đức Thế Tôn. Sau khi đảnh lễ ngài, ngài ngồi xuống một bên và nói với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, con đã nghe điều này: Họ giết hại chúng sanh cho Sa-môn Gotama; Sa-môn Gotama cố ý ăn thịt được chuẩn bị cho ngài từ các loài động vật bị giết để phục vụ ngài. Bạch đại đức ngài, có phải có ai đó nói như vậy nói những điều đã được thuyết bởi đức Thế Tôn và không trình bày sai ngài với điều ngược lại với thực tế? Có phải họ giải thích theo pháp trong cách như thế rằng không điều gì cung cấp lý do phê phán có thể được suy diễn một cách hợp lý từ những điều quyết đoán của họ?”

“Này Jivika, những ai nói như vậy đã không nói những điều được ta nói, mà suy diễn sai ta với những điều không đúng sự thật và mẫu thuẫn với sự thật. Này Jivika, ta nói rằng có ba trường hợp mà trong đó thịt không nên ăn: khi nó được thấy, nghe, hoặc nghi ngờ rằng chúng sanh ấy được giết hại cho người ấy. Ta nói rằng thịt không nên được ăn trong ba trường hợp này. Ta nói rằng có ba trường hợp mà trong đó thịt có thể được ăn khi nó không được thấy, nghe, hoặc nghi ngờ rằng các chúng sanh được giết cho chính họ. Ta nói rằng thịt có thể được ăn trong ba trường hợp này…”

“Bạch đại đức ngài, con đã nghe điều này: “Phạm thiên an trú trong tâm từ.” Bạch đại đức ngài, đức Thế Tôn là nhân chứng có thể thấy được của con về điều đó; vì đức Thế Tôn an trú trong tâm từ.”

“Bạch đại đức ngài, con đã nghe điều này: “Phạm thiên an trú trong tâm xả.” Bạch đại đức ngài, đức Thế Tôn là nhân chứng có thể thấy được của con về điều đó; vì đức Thế Tôn an trú trong tâm xả.”

“Này Jivika, bất kỳ dính mắc, bất kỳ sân hận, bất kỳ si mê nơi sự tàn bạo, bất mãn hay ác cảm có thể xuất hiện đã được từ bỏ bởi Như Lai, cắt đứt tại gốc, tạo ra như gốc cây cọ, bị chặt đứt để chúng không còn là chủ thể cho sự khởi sanh tương lại. Nếu những điều con nói chỉ đến điều đó thì ta cho phép nó về con.”

“Này Jivika, nếu bất kỳ ai giết hại chúng sanh cho Như Lai hoặc đệ tử của ngài, vị ấy tích lũy nhiều nghiệp bất lợi trong năm trường hợp: Khi vị ấy nói: “Đi bẫy chúng sanh đó,” đây là trường hợp thứ nhất mà vị ấy tích lũy nhiều nghiệp bất lợi. Khi chúng sanh ấy trải nghiệp đau đớnsầu khổ khi bị bắt treo cổ, đây là trường hợp thứ hai mà vị ấy tích lũy nghiệp bất lợi. Khi vị ấy nói: “Đi giết chúng sanh đó, đây là trường hợp thứ ba mà vị ấy tích lũy nhiều nghiệp bất lợi. Khi chúng sanh ấy trải nghiệp đau đớnsầu khổ khi bị giết hại, đây là trường hợp thứ tư mà vị ấy tích lũy nghiệp bất lợi. Khi vị ấy cung cấp cho Như Lai hoặc đệ tử của ngài thực phẩm mà không được cho phép, đó là trường hợp thứ năm mà vị ấy tích lũy nghiệp bất lợ. Bất kỳ ai giết hại một chúng sanh cho Như Lai hoặc đệ tử của ngài thì khởi lên nhiều nghiệp bất lợi trong năm trường hợp trên.

(Kinh Jīvaka: Kinh Trung bộ I. 368-371, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.57 Hỗ trợ vật chất cho Phật giáo không cần được độc chiếm

Trong đoạn này, người hỗ trợ đắc lực của Kỳ-na giáo, sau khi cải đạo với đức Phật, đã tuyên bố rằng vị ấy muốn là đệ tử của ngài. Hồi đáp của đức Phật thật rộng mở và bao la.

“Bây giờ, này Sīha, hãy làm sự quan xét đúng đắn: điều này là thích hợp trong trường hợp của những người nổi tiếng như chính ông.”

“Con bạch đức Thế Tôn, thật sự rất vui và hài lòng với những điều đức Thế Tôn nói với conVì nếu các thành viên của các tôn phái khác có con là đệ tử, họ sẽ phô trương một tấm ba-nô xung quanh thành Vesāli, nói rằng “Tướng quân Sīha đã gia nhập các đệ tử chúng tôi.”Vì vậy, mong đức Thế Tôn chấp nhận con là đệ tử cư sĩ trở về nương tựa từ ngày hôm nay trở về sau đến khi hết đời.”

“Đã từ lâu, này Sīha, gia đình ông có sự cúng dường rộng rãi đối với các vị Nigantha (tu sĩ Kỳ-na giáo). Ông nghĩ ông sẽ vẫn cúng dường khi họ tiến đến ông chứ?”

“Con bạch Thế Tôn, thực sự rất vui và hài lòng với điều đức Thế Tôn nói với conCon đã nghe, bạch đức Thế Tôn, “Sa-môn Gotama nói như thế này, “Những vật dụng nên được dâng cúng một mình ta thôi, không cho ai khác. Những vật dụng nên được dâng cúng một mình đệ tử của ta thôi, không cho đệ tử của ai khác” Nhưng sau khi đức Thế Tôn khuyên con nên cúng dường cho các vị Nigantha cũng vậy. Quả thực, bạch đức Thế Tôn, chúng con sẽ biết đúng thời có điều ấy.”

(Đại phẩm: Luật tạng I. 236-237, do P.H. dịch tiếng Anh).

SÁNG TÁC VÀ TẬN HƯỞNG THƠ CA

L.58 Trả lời thơ bằng thơ

đây, đức Phật chơi thơ với chàng chăn bò về sự hạnh phúc của đời sống thế tụcđời sống sa-môn.

“Con với cơm được nấu, sữa được làm,” Dhaniya, chàng chăn bò nói. “Con sống với mọi người dọc bờ sông Mahi. Túp lều được che mái, lửa được đốt; vậy nếu ngài muốn, thần (mưa), đi tới và mưa.”

“Ta thoát khỏi sân hận, với tính ngoan cố đã mất,” đức Thế Tôn nói. Ta sống một đêm dọc bên bờ sông Mahi. Túp lều được mở, lửa bị tắt; vậy nếu con muốn, thần, đi tới và mưa.”

“Không có con muỗi mòng nào được tìm thấy,” Dhaniya, chàng chăn bò nói; “Các con bò di chuyển khắp đồng cỏ đầm lầy nơi các cỏ phát triển. Chúng có thể dưới mưa nếu nó đến; Vì vậy, nếu ngài muốn, thần, đi tới và mưa.”

“Chiếc bè, được làm tốt, đã được cột chắc cùng nhau,” đức Thế Tôn nói; sau khi vượt qua nó, đi đến bờ bên kia (niết-bàn), ta đã làm dịu lũ lụt. (Bây giờ) không cần chiếc bè; Vì vậy, nếu con muốn, thần, đi lên và mưa.”

“Vợ con hay vâng lời, không bất cẩn,” Dhaniya, chàng chăn bò nói; “Nàng sống với con lâu và quyến rũ. Con không nghe xấu ác về nàng gì cả; vậy nếu ngài muốn, thần, đi tiếp và mưa.”

“Tâm ta vâng lời, giải thoát,” đức Thế Tôn nói, “và đã từ lâu được nuôi dưỡng, khéo chế ngự. Không có xấu ác nào được tìm thấy nơi ta; nếu con muốn, thần, đi tiếp và mưa.”

“Con tự mình kiếm ăn,” Dhaniya, chàng chăn bò nói; “Và những đứa con trai con sống trong sự hòa hợp, trong sức khỏe tốt. Con không nghe điều xấu ác về chúng cả; Vì vậy, nếu ngài muốn, thần, đi tiếp và mưa.”

“Ta không phải người làm của ai,” đức Thế Tôn nói. “Ta vân du khắp thế gian về lợi lộc (được cúng dường). Ta không cần kiếm sống; vậy nếu con muốn, thần, đi tới và mưa.”

“Có nhiều bò cái và bò đực non,” Dhaniya, chàng chăn bò nói; “Và những bò cái trong bê hoặc những bò cái đang sinh. Có con bò đực to lớn, đứng đầu đàn; Vì vậy, nếu ngài muốn, thần, đi tiếp và mưa.”

“Không có những bò cái và bò đực non,” đức Thế Tôn nói. “Và không có những bò cái trong bê hoặc những bò cái đang sinh. Không có một con bò đực to lớn, đứng đầu đàn; vậy nếu con muốn, thần, đi tới và mưa.”

“Nhiều cỏ bị chôn sâu, không di chuyển được,” Dhaniya, chàng chăn bò nói; “Các mày cắt cỏ Munja non, khéo kết; thậm chí những con bò khỏe không thể phá bỏ; Vì vậy, nếu ngài muốn, thần, đi tiếp và mưa.”

“Sau khi đã bẻ gãy những dính mắc của ta giống nhưng bò đực to lớn, như voi to lớn xé nát dây leo mục nát; ta không bao giờ sẽ nằm trong bào thai nữa; Vậy nếu con muốn, thần, đi tới và mưa.”

Đám mây lớn kéo mưa xuống thẳng tắp, rải phủ hết mảnh đất thấp cao. Nghe thần đổ mưa xuống, Dhaniya khẳng định ý nghĩa này:

“Lợi ích của chúng ta thật tuyệt vời làm sao khi chúng ta chiêm ngưỡng đức Thế Tôn! Chúng ta đi đến ngài, bậc có tầm nhìn, để nương tựa. Xin ngài hãy là bậc đạo sư của chúng con! Thưa bậc đại thánh?”

“Vợ con và con vâng lời. Hãy để chúng con đi theo đời sống thánh hạnh dưới bậc Thiện Thệ. Đến bờ bên kia của già chết, chúng ta hãy chấm dứt khổ đau.”

“Những ai với con cái vui vẻ vì con cái của họ,” ma vương, kẻ xấu xa nói. “Những ai với gia súc của mình vui thích với đàn bò của mình. Vui thích của một người đến từ sở hữu, vì một người không có sở hữu gì sẽ không vui thích.”

“Những ai vơi con cái sẽ ưu phiền vì con cái của họ,” đức Thế Tôn nói. “Những ai với gia súc của mình sẽ ưu phiền với đàn bò của mình. Ưu phiền của một người đến từ sở hữu, vì người không có sở hữu gì sẽ không ưu phiền.”

(Kinh Dhaniya: Kinh tập 18-34, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.59 Thưởng thức thơ ca

Trong đoạn này, đức Phật thưởng thức thơ ca của Tỳ-kheo Vagīsa, là đệ tử xuất sắc nhất trong số những thiên tài về ngôn ngữ truyền cảm hứng (Kinh Tăng chi I. 24). Vị ấy có khả năng sáng tác thơ ca một cách tự nhiên.

Một thuở nọ, đức Thế Tôn đang cư ngụ tại thành phố Sāvatthī Tinh xá Kỳ-viên, vườn của ông Cấp Cô Độc, cùng với hội chúng Tỳ­kheo 1.250 vị. Lúc bấy giờ đức Thế Tôn đang hướng dẫn, sách tấn, truyền cảm hứng và làm vui mừng các Tỳ-kheo với bài pháp thoại về pháp liên quan đến niết-bàn. Và những Tỳ-kheo này đang lắng nghe pháp với đôi tai thiết tha, tập trung hướng về nó như là vấn đề thiết yếu, hướng toàn bộ tâm trí về điều đó.

Sau đó, điều này xảy ra đối với đại đức Vaṅgīsa: “đức Thế Tôn đang hướng dẫn các Tỳ-kheoTa hãy tán dương đức Thế Tôn trước mặt với những câu kệ thích hợp.” Sau đó, đại đức Vaṅgīsa khởi thân từ chỗ ngồi, sắp xếp y thượng lên vai và chắp tay cung kính đảnh lễ hướng về đức Thế Tôn, rồi nói với ngài, “Bạch đức Thế Tôn, một cảm nghĩ đến với con! Bạch đức Thế Tôn, nguồn cảm hứng đã đến với con! “Này Vaṅgīsa, hãy diễn đạt nguồn cảm hứng của con! Sau đó, đại đức Vaṅgīsa tán dương đức Thế Tôn trước mặt bằng những câu kệ thích hợp:

“Với hơn ngàn Tỳ-kheo ở đây, chú ý về đức Thế Tôn khi ngài giảng dạy pháp không bụi trần, niết-bàn, không sợ hãi.

Họ lắng nghe đến pháp không bụi trần được tuyên thuyết bởi Đức Phật tỉnh thức hoàn toàn. Quả thật bậc tỉnh thức chiếu soi được cung kính bởi tăng đoàn các Tỳ-kheo.

Bạch đại đức ngài, tên của ngài là Naga,71 bậc thấy biết xuất sắc nhất trong các bậc thấy biết. Giống như một áng mây to lớn mang cơn mưa trút xuống lên các đệ tử.

Sau khi xuất hiện từ nơi ở ban ngày, từ sự mong muốn để nhìn ngắm bậc đạo sư, đệ tử của ngài, Vaṅgīsa, bậc đại anh hùng, cúi đầu đảnh lễ tôn kính dưới chân của ngài.

“Này Vaṅgīsa, có phải ông đã nghĩ sẵn những vần kệ này không? Có phải chúng xuất hiện trong con một cách tự nhiên phải không? 

Bạch đại đức ngài, con đã không nghĩ sẵn về những vần kệ này, chúng xuất hiện trong con một cách tự nhiên.

“Này Vaṅgīsa, trong trường hợp đó, hãy để một vài vần kệ nữa, không có sẵn trong ý nghĩ, xảy đến nơi ông.” “Vâng bạch đại đức

71 Voi đực, một hình ảnh của sức mạnh được điều khiển.

ngài, đại đức Vaṅgīsa hồi đáp. Sau đó, đại đức Vaṅgīsa tán thánh đức Thế Tôn với một vài dòng kệ nữa mà chúng chưa từng xuất hiện trước đây chưa được nghĩ ra:

Sau khi vượt qua con đường sai lầm của ma vương đạo, ngài đi sau khi phá bỉ sự khô khan của tâm. Nhìn ngắm bậc là vị giải thoát khỏi ràng buộc, không chấp thủ, tuệ phân tích.

Vì giúp ích dẫn chúng ta vượt qua cơn lũ, ngài đã tuyên bố con đường với nhiều khía cạnh. Các bậc thấy pháp đứng bất động trong trạng thái bất tử được tuyên thuyết bởi ngài.

Người thắp ánh sáng, sau khi chọc thủng ngay toàn bộ, đã thấy tính siêu việt của tất cả các trạm (thức tái sanh); sau khi biết và nhận ra nó chính ngài, vị ấy dạy vấn đề chính đối với năm điều trên.

Khi pháp đã được khéo thuyết như vậy, sự cẩu thả nào ở đó, cho những ai hiểu nó? Cho nên, sống siêng năng trong lời dạy của đức Thế Tôn, ta nên luôn luôn tôn kính tu luyện trong nó.

(Kinh Một ngàn và nhiều hơn: Kinh Tương ưng I. 192-193 <414­417>, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

NHỮNG NGÀY THÁNG CUỐI ĐỜI CỦA ĐỨC PHẬT

Kinh Đại bát niết-bàn của Trường bộ kinh (II. 72-168) là bài kinh độc lập dài nhất trong kinh tạng Pāli, thảo luận về ba tháng cuối của cuộc đời đức Phật, trong năm thứ tám mươi của ngài, cao điểm là đại bát niết-bàn của ngài: niết-bàn hoàn toàn đến với sự ra đi của một con người tỉnh thức.

L.60 Vượt qua cơn bệnh dữ dội và giảng dạy chánh niệm là cách trở về nương tựa chính mình và giáo pháp

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ­kheo, hãy đi bây giờ, và kiếm nơi ở bất kỳ nơi đâu ở nơi gần thành phố Vesāli nơi các con được chào đón, giữa những người quen và bạn bè, rồi ở đó, trải qua mùa mưa. Đối với ta, ta sẽ trải qua mùa mưa ở chính nơi này, trong làng Beluva.” “Rất tốt, bạch đại đức ngài, các Tỳ-kheo nói.”

Khi đức Thế Tôn đã đi vào mùa mưa, ở đó, xuất hiện trong ngài cơn đau dữ dội, những cơn đau điếng người và đau buốt, đến ngài. Đức Thế Tôn chịu đựng chúng một cách chánh niệm, tỉnh giác và không xao động.

Sau đó, đức Thế Tôn suy xét: “Sẽ là không phù hợp nếu ta nhập niết-bàn không còn thân thể (qua đời) mà không thông báo cho những vị thị giả ta, mà không nói với cộng đồng Tăng đoàn. Sau đó, hãy để ta kìm nén cơn đau này bằng sức mạnh của ý chí, nguyện duy trì các hoạt động duy trì mạng sống và sống tiếp.” Đức Thế Tôn đã kìm nén cơn đau bằng sức mạnh ý chí, quyết tâm duy trì các hoạt động duy trì mạng sống và tiếp tục sống. Vì vậy, nó đến rằng bệnh của đức Thế Tôn được dịu đi. Rồi đức Thế Tôn phục hồi từ cơn bệnh đó; và ngay sau khi hồi phục, ngài đi ra khỏi nơi ở của mình và ngồi xuống trong bóng cây của một tòa nhà, trên một chỗ ngồi được chuẩn bị cho ngài.

Sau đó, đại đức Ānanda tiến đến đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ ngài và ngồi xuống một bên, ngài nói với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, thật may mắn thật sự cho con khi thấy đức Thế Tôn an tịnh lần nữa! Bạch đại đức ngài, thật may mắn thật sự cho con khi thấy đức Thế Tôn hồi phục! Bạch đại đức ngài, thật sự, khi con thấy bệnh của đức Thế Tôn như thể chính thân thể con trở nên yếu ớt như dây leo, mọi thứ xung quanh trở nên u ám đối với con và các giác quan của con thất bại. Bạch đức Thế Tôn, con vẫn còn có một ít sự thoải mái trong tư tưởng rằng đức Thế Tôn sẽ không đến niết­bàn cuối cùng khi giảng một số hướng dẫn cuối cùng liên quan đến tăng đoàn tu sĩ.” đại đức Ānanda nói như thế.

Đức Thế Tôn trả lời ngài: “Này Ānanda, còn gì nữa tăng đoàn tu sĩ mong đợi từ ta? Ta đã truyền trao pháp mà không có tạo bất kỳ phân biệt nào giữa pháp bí mật hay công khai. Này Ānanda, không có gì liên quan đến những lời dạy mà Như Lai giữ cho đến cuối với nắm tay đóng của vị thầy vẫn giữ một số điều lại. Bất kỳ ai có thể nghĩ rằng chính vị ấy nên hướng đến cộng đồng các Tỳ-kheo, hay rằng tăng đoàn phụ thuộc vị ấy, chính người như thế sẽ phải đưa ra những lời dạy cuối cùng liên quan đến họ. Nhưng, này Ānanda, Như Lai không có ý tưởng như thế chính vị ấy nên hướng đến tăng đoàn tu sĩ, hay tăng đoàn phụ thuộc ngài. Vì vậy, lời hướng dẫn nào vị ấy nên đưa ra liên quan đến tăng đoàn tu sĩ?

Này Ānanda, bây giờ, ta mỏng manh, già cả, đi xa theo năm tháng. Giờ là năm thứ tám mươi của ta và cuộc đời của ta đã trải qua. Này Ānanda, thậm chí như cỗ xe cũ được giữ lại với nhiều khó khăn, Cũng vậy, thân thể của Như Lai đang giữ tiếp đi chỉ bằng nhiều hỗ trợ. Này Ānanda, chính chỉ khi Như Lai, bất chấp bất kỳ các đặc tính của mọi thứ trong tập trung thiền địnhthoát khỏi các đặc tính, mà thân ngài thoải mái hơn.

Cho nên, này Ānanda, an trú chính các con là những hải đảo (của an toàn), chính các con là những nơi nương tựa, mà không phải ai khác là nơi nương tựa; với pháp là hải đảo của con, pháp là nơi nương tựa của con, mà không phải bất lời dạy nào khác là nơi nương tựa. Này Ānanda, làm thế nào Tỳ-kheo an trú chính mình là hải đảo, chính mình là nơi nương tựa, mà không phải ai khác là nơi nương tựa, với pháp là hải đảo chính vị ấy, pháp là nơi nương tựa, mà không phải cái khác là nơi nương tựa?

Khi vị ấy an trú, liên quan đến thân, quán thân, sở hữu nỗ lực, tỉnh giácchánh niệm, gỡ bỏ mong muốn nhiều về và bất hạnh với thế gian; khi vị ấy an trú quán thọ trong thọ, tâm trong tâm, các thành tố thực tại trong các thành tố thực tại, sở hữu nỗ lực, tỉnh giácchánh niệm, vượt thoát sầu ưu ở đời, sau đó, thực sự, vị ấy an trú chính mình là hải đảo, chính mình là nơi nương tựa, mà không phải ai khác là nơi nương tựa, với pháp là hải đảo, pháp là nơi nương tựa, mà không phải ai khác là nơi nương tựa.

Này Ānanda, những Tỳ-kheo ấy của ta, bây giờ, sau khi ta đi, an trú chính mình là các hải đảo, chính mình là nơi nương tựa, mà không phải ai khác là nơi nương tựa, với pháp là hải đảo, với pháp là nơi nương tựa, mà không phải lời dạy khác là nơi nương tựa: Chính họ sẽ trở thành những bậc tối thượng, nếu họ có mong muốn tu học.”

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 98-101, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.61 Từ bỏ kéo dài tuổi thọ đầy đ

Trong đoạn này, một đức Phật già bệnh, sau khi thấy rằng ngài đã hoàn thành hạnh nguyện của mình, đã từ bỏ kéo dài cho việc duy trì đời sống con người dài nhất và chấp nhận rằng ngài sẽ sống chỉ ba tháng nữa.

Sau đó, đức Thế Tôn, sẵn sàng trước ngọ, lấy y bát rồi đi đến Vesāli để khất thực. Sau khi khất thực và thọ trai, khi ngài trở về, ngài nói với đại đức Ānanda, “Này Ānanda, sửa soạn sàn tọa, chúng ta sẽ ở một ngày tại đền Cāpāla.” “Rất tốt, bạch đại đức ngài.” Rồi đại đức Ānanda chuẩn bị sàn tọa, rồi ngồi trên chỗ được chuẩn bị cho ngài. Khi đại đức Ānanda đã ngồi sang một bên sau khi đã đảnh lễ đức Thế Tôn, đức Thế Tôn nói với ngài, “Này Ānanda, khả ái là Vesāli; khả ái là các đền Udena, Gotamaka, Sattambaka, Bahuputta, Sarandada và Cāpāla.”

Khi đại đức Ānanda đi ra phía xa, Ma vương, bậc xấu ác, đã tiến đến đức Thế Tôn. Khi đứng một bên, hắn nói với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, bây giờ, hãy để đức Thế Tôn đi đến niết-bàn hoàn toàn (bằng cách tịch diệt). Hãy để bậc Thiện Thệ nhập vô dư y niết-bàn! Thời gian đã đến cho việc nhập niết-bàn hoàn toàn của đức Thế Tôn. Bạch đại đức ngài, vì đức Thế Tôn đã nói những lời này với con (ngay sau khi sự thức tỉnh của ta): “Này kẻ xấu xa (Ma vương), ta sẽ không nhập niết-bàn không còn thân thể khi nào ta có các đệ tử Tỳ-kheo các đệ tử Tỳ-kheo-ni các đệ tử cư sĩ namcác đệ tử cư sĩ nữ... đã được thành tựu, tu luyện, thiện xảo, tu học, thành thạo trong Pháp, đang thực hành giáo pháp tùy thuận Pháp, đang thực hành con đường đúng đắn, đáng hướng chính mình đến Pháp, những người sẽ tiếp tục những điều họ đã đạt được từ chính bậc đạo sư của mình, dạy nó, tuyên thuyết nó, thiết lập nó, giảng dạy nó, phân tích nó, làm nó trở nên rõ ràng, cho đến khi họ có thể, bằng phương tiện chánh Pháp, có thể từ chối những lời dạy sai lầm đã xuất hiện và dạy pháp của hiệu quả tuyệt vời.” Bạch đại đức ngài, bây giờ, các đệ tử của đức Thế Tôn, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ đã[trở nên thâm nhập chính con đường này]. Vì vậy, hãy để đức Thế Tôn đến niết-bàn hoàn toàn. Thời gian đã đến cho sự nhập niết-bàn hoàn toàn của đức Thế Tôn.

Bạch đại đức ngài, vì đức Thế Tôn đã nói những lời này với con: “Này kẻ xấu xa, ta sẽ không nhập niết-bàn không còn thân thể cho đến khi đời sống thánh hạnh này được dạy bởi ta trở nên thành công, thịnh vượng, nổi tiếng vang xa, phổ biến và vang rộng, cho đến khi nó được khéo tuyên thuyết giữa cõi trờiloài người.” Bạch đại đức ngài, điều này cũng đã trở thành trong chính con đường này. Vì vậy, hãy để đức Thế Tôn đến niết-bàn hoàn toàn. Hãy để bậc Thiện Thệ đạt được niết-bàn hoàn toàn. Thời gian đã đến cho sự nhập niết-bàn hoàn toàn của đức Thế Tôn.

Khi điều này được nói, đức Thế Tôn nói với ma vương, bậc xấu xa, “Này kẻ xấu xa, đừng có làm phiền chính mình. Không bao lâu nữa thì sự nhập diệt niết-bàn của Như Lai sẽ đến. Ba tháng sau Như Lai sẽ nhập vô dư y niết-bàn.

Vì vậy, đức Thế Tôn ở đến Cāpāla, chánh niệm, tỉnh giác, đã từ bỏ sự kéo dài thọ mạng đầy đủ, khi điều này xảy ra có một cơn chấn động mạnh, khủng khiếp, dựng tóc gáy, cùng với sấm sét.

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 102-107, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.62 Lời sách tấn cuối cùng

Trong lời dạy này, đức Phật tóm tắt con đường mà ngài đã dạy như bảy nhóm tính chất được biết là ba mươi bảy tính chất hướng đến giác ngộ.

“Này Ānanda, chúng ta hãy đi đến hội trường của ngôi nhà nóc nhọn, trong Đại Lâm.” “Rất tốt, bạch đại đức ngài,” đại đức Ānanda nói. Sau đó, đức Thế Tôn, với đại đức Ānanda, đi đến hội trường của ngôi nhà nóc nhọn, trong Đại Lâm. Và ở đó, ngài nói với đại đức Ānanda, “Này Ānanda, hãy đi bây giờ, và tập hợp trong hội trường thính giả tất các các Tỳ-kheo đang cư trú nơi gần Vesāli.” “Rất tốt, bạch đại đức ngài,” đại đức Ānanda nói.

Đại đức Ānanda tập hợp tất cả các Tỳ-kheo cư ngụ nơi giáp biên giới Vesāli và nhóm họp trong hội trường thính giả. Rồi sau đó, đảnh lễ đức Thế Tôn và đứng một bên, ngài nói, “Bạch đại đức ngài, hội chúng các Tỳ-kheo đã được nhóm họp. Bây giờ, đức Thế Tôn hãy làm như ngài muốn.”

Ngay sau đó, đức Thế Tôn đi vào hội trường thính giả, rồi ngồi một nơi đã được chuẩn bị cho ngài, ngài sách tấn các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ-kheo, bây giờ, ta nói với các vị rằng những đặc tính này mà ta có tuệ tri cao hơn và ta đã làm cho các vị biết - những điều các vị nên học đầy đủ, tu tập, phát triển và thường xuyên thực hành, rằng đời sống thánh hạnh có thể được thiết lập và có thể kéo dài, vì lợi íchhạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng cho thế gian, vì lợi ích, vì an lạchạnh phúc của loài trời và loài người.

Này các Tỳ-kheo, những đặc tính này là gì? Chúng là bốn nền tảng của chánh niệm, bốn tinh tấn đúng đắn, bốn nền tảng của thành tựu, năm căn tâm linh, năm lực, bảy yếu tố giác ngộcon đường đạo thánh tám ngành.72 Này các Tỳ-kheo, đây là những đặc tính mà ta có tuệ tri cao hơn và ta đã làm cho các vị biết - những điều các nên học đầy đủ, tu tập, phát triển và thường xuyên thực hành, rằng đời sống thánh hạnh có thể được thiết lập và có thể kéo dài, vì lợi íchhạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng cho thế gian, vì lợi ích, vì an lạchạnh phúc của loài trời và loài người.”

Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo thêm: “Này các Tỳ-kheo, ta sách tấn các vị: mọi thứ có điều kiện (các sự vật hữu vi) có bản chất hoại diệt, nhưng bằng chú tâm các vị sẽ thành công. Thời gian của nhập vô dư niết-bàn của Như Lai đã gần. Ba tháng sau Như Lai sẽ nhập vô dư y niết-bàn.”

Sau khi nói những lời này, bậc Thiện Thệ, bậc đạo sư, nói một lần nữa:

Năm tháng của ta bây giờ, đã chín muồi. Đời sống còn lại rất ngắn.

72 Về các nền tảng chánh niệm, chánh tinh tần và con đường thánh đạo tám ngành, xem Th.91, về niệm căn và lực, xem Th.89, về các yếu tố giác ngộ, xem phần cuối của Th.139. Bốn nền tảng của thành công (tứ như ý túc) là năng lượngthiền định được hỗ trợ bởi mong muốn hành động, tinh tấn, hướng tâm và thẩm xét.

Ra đi, ta đi từ các vị, phụ thuộc vào chính mình mà thôi. Này các Tỳ-kheo, hãy chuyên tâm, chánh niệmgiữ giới đạo đức! Với nguyện lực vững chắc, bảo vệ các tâm của chính mình! Ai tinh cần theo đuổi Pháp và luật Sẽ vượt qua dòng các kiếp ống và chấm dứt khổ đau.

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 119-121, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.63 Bữa ăn cuối cùng

đây, chúng ta thấy đức Phật đang thọ thực bữa ăn mang lại cơn đau cuối cùng của ngài, dẫn đến cái chết của ngài, cũng như sự quan tâm của ngài rằng không ai có thể chỉ trích người đã dâng cúng ngài bữa ăn đó.

Vào một thời, trong khi đi du hành giữa những người dòng tộc Malla cùng với hội chúng lớn các Tỳ-kheo, đức Thế Tôn đã đến Pava. Đức Thế Tôn đã cư ngụ ở Pava trong vườn xoài của Cunda, người thợ rèn. Bây giờ, Cunda, người thợ rèn, nghe rằng, “Người ta nói rằng đức Thế Tôn, trong khi đi du hành giữa những người dòng tộc Malla cùng với hội chúng lớn các Tỳ-kheo, đức Thế Tôn đã đến Pava. Đức Thế Tôn đã cư ngụ ở Pava trong vườn xoài.”

Sau đó, Cunda, người thợ rèn, tiến đến đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Thế Tôn hướng dẫn, đánh thức, truyền cảm hứng và làm vui lòng vị vấy bằng bài pháp thoại. Sau đó, Cunda, người thợ rèn, nói với đức Thế Tôn, “Bạch đại đức ngài, xin hãy nhận lời mời cúng dường bữa ăn của con vào ngày mai cho đức Thế Tôn cùng với tăng đoàn Tỳ-kheo.” Đức Thế Tôn đồng ý bằng cách duy trì im lặng.

Sau đó, sau khi thấy rằng đức Thế Tôn đồng ý, Cunda, người thợ rèn, đứng dậy từ chỗ ngồi, cung kính đảnh lễ đức Thế Tôn và nhiễu bên phải ngài rồi đi ra. Khi đêm kết thúc, Cunda, người thợ rèn, chuẩn bị sự lựa chọn trong nơi ở của chính mình các loại thức ăn cứng và mềm bao gồm một số lượng thịt heo mềm73 và thông báo

73 Sūkara-maddava, nghĩa đen là “heo-mềm:” chú giải Cảm hứng ngữ (Udāna) (tr.399) nói rằng “đại luận này” hiểu cái này là thịt heo mềm có sẵn từ chợ, nhưng những vị khác hiểu nó là măng tre hoặc nấm

với đức Thế Tôn về thời gian sẵn sàng cho bữa ăn, “Bạch đại đức ngài, đã đến giờ, bữa ăn đã sẵn sàng.”

Sau đó, đức Thế Tôn, trước ngọ, mặc áo rồi lấy bình bát và y áo, cùng với hội chúng Tỳ-kheo, đi đến nhà của Cunda, người thợ rèn. Sau khi đến, ngài ngồi xuống chỗ được chuẩn bị cho ngài và nói với người thợ rèn Cunda, “Này Cunda, hãy phục vụ thịt heo mềm mà con đã chuẩn bị và phục vụ hội chúng Tỳ-kheo món ăn khác.” “Vâng! Bạch đại đức ngài,” người thợ rèn Cunda nói.

Ông phục vụ đức Thế Tôn với thịt heo mềm và hội chúng Tỳ­kheo với các thức ăn đã chuẩn bị. Sau đó, đức Thế Tôn nói với người thợ rèn Cunda, “Này Cunda, hãy chôn trong một cái hầm những gì còn sót lại của thịt heo mềm này, vì ta không thấy trong thế gian với các vị trời, ma vươngPhạm thiên, với mọi người, Sa-môn, Bà-la-môn, vua chúa và quần chúng, bất kỳ ai ở đây, có thể ăn và tiêu hóa trọn vẹn nó hơn Như Lai.” “Vâng, bạch đại đức ngài,” người thợ rèn Cunda nói. Ông đã chôn những gì còn lại của thịt heo mềm trong cái hầm. Sau đó, ông trở về lại đức Thế Tôn, cung kính đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Khi ông ngồi ở đó, đức Thế Tôn hướng dẫn, đánh thức, truyền cảm hứng và làm vui lòng ông bằng bài pháp thoại. Sau đó, ngài khởi thân từ chỗ ngồi rồi ra đi.

Sau đó, sau khi đức Thế Tôn ăn thức ăn của người thợ rèn Cunda, một cơn bệnh dữ dội xuất hiện trong ngài, kiết lỵ cùng với chảy máu, những cơn đau điếng ngườikinh khủng. Những cơn đau này đức Thế Tôn chịu đựng được, chánh niệm và tỉnh giác, mà không có phàn nàn gì. Sau đó, đức Thế Tôn nói với đại đức Ānanda, “Đi, này Ānanda, chúng ta sẽ đi đến Kusinārā (Câu-thi-na).” Đại đức Ānanda đã vâng lời đức Thế Tôn, nói rằng “Vâng, bạch đại đức ngài.”

Khi ăn thức ăn người thợ rèn Cunda dâng cúng, vì vậy, ta đã nghe,

Bậc trí cảm thấy cơn đau dữ dội, gần chết

mọc ở nơi những con heo đạp chân lên (maddita), hoặc một loại thuốc tiên. Xem L.56 về quan điểm của đức Phật về những trường hợp mà vị sa-môn chấp nhận thịt.

Khi ngài ăn thịt heo mềm, cơn đau dữ dội xuất hiện trong bậc đạo sư.

Sau đó, bị tẩy xổ, đức Thế Tôn tuyên bố, “Ta sẽ đi đến thành phố Kusinārā.”

Sau đó, đức Thế Tôn bước ra khỏi đường, đi đến một gốc cây rồi nói với đại đức Ānanda, “Hãy đi, này Ānanda, xếp y của ta làm bốn và chuẩn bị chỗ ngồi. Ta mệt và sẽ ngồi xuống.” “Vâng, bạch đại đức ngài,” đại đức Ānanda hồi đáp đức Thế Tôn và xếp y thành bốn, vị ấy chuẩn bị chỗ ngồi cho đức Thế Tôn ngồi xuống. Ngồi ở đó, đức Thế Tôn gọi đại đức Ānanda, “Hãy đi, này Ānanda, múc cho ta một ít nước, này Ānanda, ta khát nước và muốn uống nước.”

Ngay sau đó, đại đức Ānanda nói với đức Thế Tôn: “Bạch đại đức ngài, bây giờ, có như năm trăm xe bò vừa mới vượt qua con sông và nước sông bị khuấy đục bởi những bánh xe chạy làm vấy bùn. Nhưng có con sông Kukudha gần đó, với nước thanh tịnh, mát mẻ, êm đềm và trong lành dễ dàng có thể tiếp cận và tọa lạc một nơi hấp dẫn. Ở đây, đức Thế Tôn có thể uống nước và làm mát thân thể ngài.”

Sau đó, lần thứ hai, rồi lần thứ ba, đức Thế Tôn nói, “Hãy đi, này Ānanda, múc cho ta một ít nước” “Vâng, bạch đại đức ngài,” đại đức Ānanda hồi đáp đức Thế Tôn, rồi lấy bình bát, ngài đi đến dòng sông. Sau đó, khi đại đức Ānanda tiến đến, chỗ nước cạn đó, bị khuấy đục bởi các xe bò và chảy làm dấy bùn, đã trở nên trong sạch, thành tịnh và không còn bùn nữa. Sau đó, đại đức Ānanda suy xét, “Quả thật đây là điều tuyệt vời, quả thật đây là điều kỳ diệu, tiềm năng lạ thường vĩ đại và năng lực của Như Lai! Dòng sông nàyBây giờ, chảy trong sạch, thanh tịnh và không có bùn.”

Lấy một ít nước vào bình bát, vị ấy tiến đến đức Thế Tôn rồi nói, “Quả thật đây là điều tuyệt vời, quả thật đây là điều kỳ diệu, tiềm năng lạ thường vĩ đại và năng lực của Như Lai!... Bạch đại đức ngài, xin hãy uống nước. Bạch bậc thiện thệ, xin hãy uống nước.”

Đức Thế Tôn đã uống nước ấy. Sau đó, đức Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến sông Kukudha, rồi đi xuống nước, ngài tắm và uống nước. Sau khi tắm xong, ngài đi đến một vườn xoài rồi nói với đại đức Cundaka, “Hãy đi, này Cundaka, xếp y làm bốn và chuẩn bị giường nằm. Ta mệt và sẽ nằm xuống.” “Vâng, bạch đại đức ngài,” đại đức Cundaka trả lời và xếp y thành bốn, vị ấy đã chuẩn bị giường nằm. Đức Thế Tôn nằm xuống về hông bên phải trong thế nghỉ ngơi của sư tử, đặt chân này xếp lên chân kia, chánh niệm và tỉnh giác, hướng định thời gian thức dậy. Đại đức Cundaka ngồi trước đức Thế Tôn.

Bậc tỉnh thức đến sông Kukudha, với nước thanh tịnh, thích thútrong sạch.

Bậc đạo sư ngâm trong trạng thái mệt mỏi, Như Lai, không thể sánh trong thế gian.

Sau khi tắm, uống nước và trở lại ngoài, bậc đạo sư tôn kính giữa hội chúng Tỳ-kheo, bậc đạo sư tối thượng, đức Thế Tôn ở đây, bây giờ, bậc đại thánh đi đến vườn xoài.

Đối với Tỳ-kheo tên Cundaka ngài nói, “Hãy chuẩn bị y ta gấp thành bốn.”

Được hỏi bởi người biên soạn, Cunda nhanh chóng đặt y đã gấp bốn phần xuống. Bậc đạo sư nằm xuống trong trạng thái mỏi mệt và Cunda ngồi xuống đó phía trước ngài.

Sau đó, đức Thế Tôn nói với đại đức Ānanda: “Này Ānanda, có thể có ai đó sẽ khiến hối hận cho người thợ rèn Cunda mà nói rằng, “Này bạn hữu Cunda, đó là điều mất mát cho ông, đó là điều xấu ác cho ông, rằng Như Lai nhập niết-bàn không còn thân thể sau khi ngài nhận bữa ăn khất thực cuối cùng từ ông.” Điều hối hận đó của thợ rèn Cunda nên được xóa tan theo cách này: “Này bạn hữu Cunda, đây là điều lợi cho ông, đây là điều lợi to lớn cho ông, rằng Như Lai nhập niết-bàn không còn thân thể sau khi ngài nhận thức ăn khất thực cuối cùng từ ông. Này bạn hữu Cunda, mặt đối mặt tôi đã nghe điều này từ đức Thế Tôn, mặt đối mặt tôi đã học được điều này: “Hai sự cúng dường khất thực có trái kết bằng nhau, có kết quả bằng nhau, có kết trái to lớn hơn nhiều và lợi ích hơn bất kỳ sự cúng dường khất thực khác. Gì là hai? Cúng dường ấy cho khất thực sau khi đã ăn nhờ đó Như Lai chứng ngộ tối thượng và sự cúng dường khất thực mà sau khi ăn Như Lai nhập niết-bàn không còn thân thể với niết-bàn không còn thành tố nào còn xót lại. Hai sự cúng dường khất thực có trái kết bằng nhau, có kết quả bằng nhau, có kết trái to lớn hơn nhiều và lợi ích hơn bất kỳ sự cúng dường khất thực khác.” Hành động đã được thực hiện bởi người xứng đáng thợ rèn Cunda có ích lợi sống thọ, có sắc đẹp, hạnh phúc, sanh cõi trời, nổi tiếngnổi bật. Theo cách này, nỗi hối hận của thợ rèn Cunda sẽ bị xóa bỏ.”

(Kinh Cunda: Kinh Phật tự thuyết 81-85,74 do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.64 Nghỉ ngơi cuối cùng

Đoạn này chỉ các vị trời khiến có các loài cây ra hoa và mưa xuống hoa dâng lên đức Phật, mà ngài nói rằng sự cúng dường thật sự là được thể hiện bằng cách thực hành giáo pháp mà ngài dạy.

Sau đó, đức Thế Tôn gọi đại đức Ānanda, nói rằng, “Hãy đi, này Ānanda, chúng ta hãy qua bên bờ kia của sông Hirannavati, rồi đi đến rừng Sala của những người Malla, gần Kusinārā.” “Vâng, bạch đại đức ngài.” Đức Thế Tôn, cùng với hội chúng to lớn của các Tỳ­kheo, đi đến bờ bên kia của sông Hirannavati, đến rừng Sala của những người Malla, gần Kusinārā.

Ở đó đức Thế Tôn nói với đại đức Ānanda, “Này Ānanda, hãy chuẩn bị cho ra giường nằm giữa hai cây Sala đôi này, với đầu hướng về phía bắc. Này Ānanda, ta mệt mỏi, muốn nằm xuống.” Đại đức Ānanda đã làm như đức Thế Tôn yêu cầu ngài làm. Sau đó, đức Thế Tôn nằm xuống về phía hông bên phải, trong tư thế sư tử, nghỉ chân này xếp lên chân kia và vì vậy, có ý sẵn chính ngài, chánh niệm và tỉnh giác.

Lúc bấy giờ hai cây Sala song sinh đột nhiên nở hoa, mặc dù đây không phải là mùa hoa nở. Và các hoa nở rơi xuống như mưa lên xác

74 Kinh Đại bát niết-bàn: Kinh Trường bộ II.126-129 và 135-136.

thân của Như Lai và rơi xuống và rải xuống, được rải lên thân cúng dường lên Như Lai. Và các loài hoa Mạn-đà-la cõi trờihương hoa chiên đàn cõi trời từ không trung mưa xuống lên xác thân của Như Lai và rơi xuống và rải xuống, được rải lên thân cúng dường lên Như Lai. Và âm thanh của các giọng nói vị trời và các nhạc cụ trời trỗi nhạc trong hư không vang ra cúng dường lên Như Lai.

Rồi đức Thế Tôn nói với đại đức Ānanda, nói rằng: “Này Ānanda, hai cây Sala này trong trạng thái nở hoa, mặc dù đây không phải là mùa hoa nởâm thanh của các giọng nói vị trời và các nhạc cụ trời trỗi nhạc trong hư không vang ra cúng dường lên Như Lai.

Này Ānanda, nhưng đó không phải là điều như thế Như Lai được tôn kính, đảnh lễ, quý trọng, được cúng dườngcung kính ở cấp độ cao nhất. Mà, này Ānanda, bất kỳ Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo­ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào, thực hành giáo pháp theo Pháp, thực hành đúng đắn, đi trên con đường Pháp, chính bằng cách như thế mà Như Lai được tôn kính, đảnh lễ, quý trọng, được cúng dườngcung kính ở cấp độ cao nhất. Cho nên, này Ānanda, các nên tu tập chính mình như thế này: “Chúng ta sẽ thực hành giáo pháp y như Pháp, thực hành đúng đắn và đi trên con đường Pháp.”

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 137-138, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.65 Sự đau buồn của Ānanda

đây, đức Phật tìm cách an ủi nỗi u buồn của Ānanda, Tỳ-kheo làm thị giả cho ngài nhiều năm qua.

Sau đó, đại đức Ānanda đi đến nơi ở rồi dựa vào trụ cửa và khóc (nghĩ rằng), “Ta vẫn còn là bậc hữu học, với nhiều điều cần làm (để đạt được thánh quả A-la-hán). Nhưng, ôi, bậc đạo sư của ta, người có quá nhiều lòng từ mẫn đối với ta, sắp sửa nhập niết-bàn cuối cùng!

Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo, “Này các Tỳ-kheo, Ānanda đang ở đâu?” “Bạch đại đức ngài, đại đức Ānanda Ānanda đi đến nơi ở rồi dựa vào trụ cửa và khóc (nghĩ rằng), “Ta vẫn còn là bậc hữu học, với nhiều điều cần làm (để đạt được thánh quả A-la-hán). Nhưng, ôi, bậc đạo sư của ta, người có quá nhiều lòng từ mẫn đối với ta, sắp sửa nhập niết-bàn cuối cùng!

Sau đó, đức Thế Tôn bảo Tỳ-kheo đem đại đức Ānanda đến ngài, nói rằng, “Hãy đi, này Tỳ-kheo và nói với Ānanda, “Này bạn hữu Ānanda, bậc đạo sư gọi ngài.” Rồi Tỳ-kheo ấy đi nói với đại đức Ānanda như đức Thế Tôn bảo vị ấy làm. Đại đức Ānanda đi đến đức Thế Tôn, đảnh lễ ngài và ngồi xuống một bên.

Sau đó, đức Thế Tôn nói với đại đức Ānanda: “Thôi đủ rồi, này Ānanda! Đừng đau buồn, đừng than khóc nữa! Ta đã chưa dạy những gì ngay từ lúc đầu với tất cả điều ấy đáng yêu và khả ái phải được thay đổi, xa lìa và chia rẽ sao? Vậy thì làm sao mọi thứ khác có thể đạt được ở đây, này Ānanda? Cái gì được sanh ra, trở nên tồn tại, có điều kiện, chủ thể của hoại diệt, làm sao ta có thể nói, “Cầu cho điều này không bị tan rã!”? Không thể có trạng thái của mọi vật như thế.

Này Ānanda, bây giờ, đã một thời gian dài, con đã phục vụ Như Lai với lòng từ trong hành động, ngôn từ và tâm ý, nhẹ nhàng, hoan hỷ, nhất tâm và vượt trên sự đo lường. Này Ānanda, con là người đã làm rất tốt! Bây giờ, con nên nỗ lên tinh tấn hơn và sớm con cũng sẽ thoát khỏi các khuynh hướng sai lầm.”

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 143-144, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.66 Sự hoảng hốt của dòng tộc Malla về sự sắp ra đi của đức Phật

“Này Ānanda, bây giờ, hãy đi đến Kusinārā và tuyên bố với người dân Malla: “Này Các Vāseṭṭha, hôm nay vào canh cuối của đêm, sự nhập niết-bàn cuối cùng của Như Lai sẽ diễn ra. Này Các Vāseṭṭha, tiến đến gần! Đừng có đau buồn sau này với ý nghĩ rằng, “Trong thị trấn của chúng ta, chính nơi này sự nhập niết­bàn cuối cùng của Như Lai sẽ diễn ra, nhưng chúng ta không thấy được ngài lúc cuối.” “Vâng, bạch đại đức ngài.” Đại đức Ānanda tự mình chuẩn bị, rồi lấy bình báty phục, đi với các bạn đồng tu đến Kusinārā.

Lúc bấy giờ người dân Malla đã tập hợp trong hội trường dành cho các vấn đề cộng đồng. Đại đức Ānanda tiến đến họ và tuyên bố: “Này các Vāseṭṭha, hôm nay vào canh cuối của đêm, sự nhập niết­bàn cuối cùng của Như Lai sẽ diễn ra. Này các Vāseṭṭha, tiến đến gần! Đừng có đau buồn sau này với ý nghĩ rằng, “Trong thị trấn của chúng ta, chính nơi này sự nhập niết-bàn cuối cùng của Như Lai sẽ diễn ra, nhưng chúng ta không thấy được ngài lúc cuối.”

Khi họ nghe đại đức Ānanda nói những lời này, người dân Malla với con cái, vợ con của mình, các vợ của các người con, vô cùng đau buồn, đau buồn ở tâm và khổ sở; và một số vị đã khóc, với tóc tai của họ rối bời, với tay giơ lên trong thất vọng; chính mình gục xuống đất, họ lăn lộn từ phía này sang phía kia, than khóc, “Quá sớm đức Thế Tôn nhập vô dư y niết-bàn! Quá sớm bậc Thiện Thệ nhập vô dư y niết-bàn! Quá sớm con mắt của thế gian sẽ biến mất khỏi tầm nhìn!”

Đau khổ như thế và tràn đầy u buồn, người dân Malla, với các người con trai, những người vợ và những người vợ của các người con trai này, đi đến rừng Sala, khu vườn giải trí của người Malla, đến với địa điểm nơi đại đức Ānanda ở. Đại đức Ānanda suy xét, “Nếu như ta cho phép người dân Malla đến đảnh lễ đức Thế Tôn từng người một thì cả đêm sẽ trôi qua đến sáng trước khi tất cả họ hiện diện trước ngài. Cho nên ta hãy chia họ theo bộ tộc, mỗi gia đình thành một nhóm và rồi đưa họ giới thiệu đến đức Thế Tôn: “Dân Malla với tên như thế như vậy, bạch đại đức ngài, với người vợ và con cái của họ, các tùy tùng và bạn bè, đảnh lễ dưới chân của đức Thế Tôn.”

Đại đức Ānanda đã chia những người dân theo bộ tộc, mỗi gia đình thành một nhóm và rối đưa họ giới thiệu đến đức Thế Tôn. Vì vậy, chính điều đó đại đức Ānanda khiến dân Malla của Kusinārā được hiện diện đối với đức Thế Tôn bằng bộ tộc, mỗi gia đình thành một nhóm, thậm chí trong canh cuối của đêm.

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 147-148, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.67 Người cải đạo cuối cùng và một câu hỏi về các bậc đạo sư khác

Lúc bấy giờ, một du sĩ tên Subhadda đang cư ngụ tại Kusinārā. Rồi du sĩ Subhadda nghe nói rằng, “Hôm nay vào canh ba của đêm, sự nhập niết-bàn của Sa-môn Gotama sẽ diễn ra.”

Du sĩ Subhadda suy xét: “Ta đã nghe điều này được nói bởi các du sĩ trưởng lão khả kính rằng sự xuất hiện của các đức Như Lai, các bậc A-la-hán, các đức Phật tỉnh giác hoàn toàn rất hiếm có trên đời. Mà chính ngày nay đây, vào canh cuối của đêm, sự nhập niết­bàn hoàn toàn của Sa-môn Gotama sẽ diễn ra. Bây giờ, có một sự nghi trong ta; nhưng đối với vấn đề này ta có niềm tin vào Sa-môn Gotama, rằng ngài ấy có thể dạy ta pháp để gỡ bỏ mối nghi ngờ đó.”

Sau đó, du sĩ Subhadda đi đến rừng Sala, vườn giải trí của dân Malla và kéo gần đến đại đức Ānanda, thông báo đại đức Ānanda về sự quan tâm của vị ấy, nói rằng: “Này bạn hữu, Ānanda, thật là tốt đẹp nếu như tôi được phép vào trong diện kiến Sa-môn Gotama.” Nhưng đại đức Ānanda trả lời vị ấy, “Thôi đủ rồi, này bạn hữu Subhadda! Xin đừng làm phiền Như Lai. Đức Thế Tôn đang mệt mỏi.” Nhưng lần thứ hai và lần thứ ba, du sĩ Subhadda đưa ra thỉnh cầu, rồi lần thứ hai, lần thứ ba đại đức Ānanda từ chối vị ấy.

Đức Thế Tôn đã nghe cuộc nói chuyện giữa hai vị, rồi ngài gọi đại đức Ānanda và nói: “Hãy dừng lại, này Ānanda! Đứng từ chối Subhadda. Này Ānanda, Subhadda có thể được phép vào trong diện kiến Như Lai. Đối với bất kỳ điều gì vị ấy hỏi ta, vị ấy sẽ hỏi vì tuệ giác nhưng không phải phỉ báng. Và câu trả lời ta trao cho vị ấy thì vị ấy sẽ sẵn sàng hiểu được.”

Ngay sau đó, đại đức Ānanda nói với du sĩ Subhadda, “Này bạn hữu Subhadda, hãy đi đến, đức Thế Tôn cho mời ông vào.” Sau đó, du sĩ Subhadda tiến đến gần Thế Tôn và chào ngài một cách lịch sự. Sau khi chào hỏi lễ phépvui vẻ, du sĩ Subhadda ngồi xuống một bên và hỏi đức Thế Tôn: “Bạch ngài Gotama đức lớn, có nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là những bậc thượng thủ của các đại chúng đệ tử vĩ đại, những vị có nhiều tùy tùng, những vị lãnh đạo của các tông phái, nổi tiếng và được nhiều người biết đến, được dân chúng kính mến, như các bậc đạo sư Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambala, Pakudha Kaccāyana, Sañjaya Belaṭṭhaputta, Nigaṇṭha Nāṭaputta.75 Tất cả các vị này đạt được giác ngộ chưa? Vì mỗi vị họ đã có niềm tin chưa? Hay không ai cả, hay có phải một số giác ngộ và một số không?”

“Thôi đủ rồi, này Subhadda! Hãy cứ đế nó như nó có thể vậy, liệu rằng tất cả họ giác ngộ, như mỗi vị họ có niềm tin, hay dù không ai trong số họ có, hay dù một số chứng ngộ và một số không. Này Subhadda, ta sẽ dạy ông Pháp; hãy lắng nghe và khéo chú ý, rồi ta sẽ nói.” “Vâng, bạch đại đức ngài.”

Đức Thế Tôn nói thế này: “Này Subhadda, trong bất kỳ pháp và luật nào không tìm thấy con đường đạo thánh tám ngành thì sẽ không tìm thấy vị Sa-môn đích thực của các bậc thánh thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư.76 Bây giờ, này Subhadda, trong bất kỳ pháp và luật nào tìm thấy con đường đạo thánh tám ngành thì sẽ tìm thấy vị Sa-môn đích thực của các bậc thánh thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư. Này Subhadda, trong pháp và luật này tìm thấy con đường đạo thánh tám ngành thì chắc chắn ở đây, cũng sẽ tìm thấy những vị Sa-môn đích thực của các bậc thánh thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư. Không có các Sa-môn đích thực là các hệ thống của các Sa-môn khác. Nhưng này Subhadda, nếu các Tỳ-kheo sống chơn chánh thì thế gian này sẽ không thiếu các A-la-hán

Khi điều này được nói, du sĩ Subhadda nói với đức Thế Tôn: “Thật tuyệt vời, bạch đại đức ngài, thật tuyệt vời tối thượng, bạch đại đức ngài! Bạch đại đức ngài, nó như thế điều được dựng đứng điều đã bị ném bỏ, hay làm hiển hiện những điều bị che giấu, hay chỉ ra con đường cho người lạc lối, hay thắp sáng ngọn đền trong đêm tối để những ai có mắt có thể thấy --- thậm chí đức Thế Tôn đã tuyên thuyết pháp trong nhiều cách khác nhau. Và cũng vậy, bạch đại

75 Họ là sáu vị thầy Sa-môn ngoại đạo nổi tiếng: những người theo chủ nghĩa định nghiệp, duy vật, hoài nghi và các vị lõa thể.

76 Xem phần “Các bậc thánh nhân” trong mục lục.

đức ngài, con xin trở về nương tựa đức Thế Tôn, pháp và tăng đoàn Tỳ­kheo. Xin đức Thế Tôn cho phép con xuất gia và thọ đại giới?”

“Này Subhadda, bất kỳ ai trước đây đã từng là tín đồ của một giáo phái khác muốn đi xuất giathọ giới77 trong pháp và luật này duy trì tập sự thử thách trong khoảng thời gian bốn tháng. Vào cuối bốn tháng này, nếu các Tỳ-kheo hài lòng với vị ấy, họ sẽ chấp nhận cho vị ấy xuất giathọ giới là Tỳ-kheo. Nhưng trong vấn đề này, ta nhận thấy có nhiều điểm khác nhau tùy thuộc các cá tính.”

Đức Thế Tôn gọi đại đức Ānanda và nói rằng: “Này Ānanda, hãy để Subhadda xuất gia.” Đại đức Ānanda trả lời: “Vâng, bạch đại đức ngài.” Sau đó, du sĩ Subhadda nói với đại đức Ānanda, “Này bằng hữu Ānanda, thật là điều cho ngài tất cả, một phúc lành, rằng trước sự hiện diện của bậc đạo sư chính ngài đã nhận cơn mưa rào của quán đảnh là các đệ tử ở nơi này.”

Vì vậy, xoay chuyển rằng du sĩ Subhadda, trước sự hiện diện của đức Thế Tôn, đã xuất giathọ giới. Và từ thời gian thọ giới, đại đức Subhadda vẫn ở một mình, ẩn cư, tinh cần, tỉnh giácchuyên tâm. Không lâu sau, vị ấy đạt được mục đích của người xứng đáng xuất gia chơn chánh rời bỏ gia đình, sống đời sống không gia đình, mục đích tối thượng của đời sống thánh hạnh; chính vị ấy đã nhận diện ra với tuệ giác cao hơn, vị ấy an trú trong đó. Vị ấy biết: “Sanh đã hủy diệt, các yêu cầu của đời sống thánh hạnh đã được hoàn thành, điều cần phải làm đã được làm và không còn gì nữa để làm kiếp sau nữa.”

Đại đức Subhadda không gì khác đã trở thành một trong số các A-la-hán và vị ấy là đệ tử cuối cùng của chính đức Thế Tôn.

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 148-153, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.68 Những lời cuối cùng của đức Phật

Trong đoạn này, đức Phật kiểm tra rằng các đệ tử của ngài có còn

77 “Xuất gia” khỏi thế gian nghĩa chấp nhận đời sống của một Sa-môn, dựa vào chính nó đánh dấu thọ giới là Sa-di trong tăng đoàn tu sĩ. “Thọ giới” đánh dấu việc trở thành Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni.

nghi vấn còn lại nào không trước khi tuyên thuyết những lời dạy cuối cùng sau khi ngài chắc chắn rằng họ không có bất kỳ nghi vấn nào.

Bây giờ, đức Thế Tôn nói với đại đức Ānanda, “Này Ānanda, có thể một số trong các có thể suy xét rằng “Hướng dẫn của bậc đạo sư đã chấm dứt, bây giờ, chúng ta không còn bậc đạo sư nữa.” Nhưng này Ānanda, nó không nên được suy nghĩ như vậy. Này Ānanda, vì rằng ta đã tuyên thuyết và làm cho được biết là pháp và luật, đó sẽ là bậc đạo sư của các khi ta ra đi.

Này Ānanda, so với bây giờ, các Tỳ-kheo xưng hô với nhau là “bằng hữu,” đừng làm như vậy nữa khi ta nhập diệt. Này Ānanda, các Tỳ-kheo lớn có thể gọi các Tỳ-kheo nhỏ bằng tên, tên họ, hoặc là “bằng hữu;” nhưng các Tỳ-kheo nhỏ nên xưng hô các Tỳ-kheo lớn là “đại đức” hoặc “thưa tôn đức.”

Này Ānanda, nếu như muốn, tăng đoàn có thể, sau khi ta ra đi, bỏ một số điều luật nhỏ nhặt và không quan trọng.

Này Ānanda, khi ta ra đi, hãy để hình phạt Phạm thiên áp dụng lên Tỳ-kheo Channa.”78 Bạch đại đức ngài, gì là hình phạt Phạm thiên? “Này Ānanda, Tỳ-kheo Channa có thể nói điều vị ấy sẽ, nhưng các Tỳ-kheo không nên nói chuyện với vị ấy, cũng không ủng hộ vị ấy, cũng không khiển trách vị ấy.”

Sau đó, đức Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ-kheo, có thể rằng một trong các vị còn nghi ngờ hay bối rối về Phật, Pháp, Tăng, con đường và sự thực hành. Sau đó, hãy hỏi, này các Tỳ-kheo! Đừng để hối hận về sau với ý nghĩ rằng “bậc đạo sư đã ở với chúng ta mặt đối mặt nhưng chúng ta lại không hỏi ngài trực tiếp mặt đối mặt.”

Nhưng khi điều này được nói, các Tỳ-kheo im lặng. Và nhưng lần thứ hai, lần thứ hai đức Thế Tôn nói với họ: “Này các Tỳ-kheo, có thể rằng một trong các vị còn nghi ngờ hay bối rối về Phật, Pháp, Tăng, con đường và sự thực hành. Sau đó, hãy hỏi, này các Tỳ­kheo! Đừng để hối hận về sau với ý nghĩ rằng “bậc đạo sư đã ở

78 Ngài là người đánh xe ngựa mà Gotama có trong khi ngài ở cuộc sống lâu đài. Sau đó ngài chứng đạt A-la-hán sau khi trở nên xấu hổ về hình phạt Phạm thiên được ap dụng lên ngài (Luật Tạng II.292).

với chúng ta mặt đối mặt nhưng chúng ta lại không hỏi ngài trực tiếp mặt đối mặt.”

Lần thứ hai, lần thứ ba, các Tỳ-kheo im lặng. Sau đó, đức Thế Tôn nói với họ: “Này các Tỳ-kheo, có thể vì tôn kính bậc đạo sư mà các vị không hỏi nghi vấn nào. Sau đó, các Tỳ-kheo, hãy để bạn hữu giao tiếp với bạn hữu (hỏi giùm cho bạn của mình).” Nhưng các Tỳ­kheo vẫn im lặng. Đại đức Ānanda nói với đức Thế Tôn: “Tuyệt vời làm sao, bạch đại đức ngài, tuyệt vời tối thượng làm sao! Niềm tin này con có trong tăng đoàn Tỳ-kheo rằng không có một Tỳ-kheo nào hoài nghi hay lúng túng về Phật, Pháp, Tăng, con đường hay sự thực hành.”

“Này Ānanda, vì niềm tin mà con nói như vậy. Nhưng, này Ānanda, ở đây, Như Lai biết chắc rằng giữa tăng đoàn Tỳ-kheo này, sẽ không còn có một Tỳ-kheo nào hoài nghi hay lúng túng về Phật, Pháp, Tăng, con đường hay sự thực hành. Vì, này Ānanda, giữa năm trăm Tỳ-kheo này, thậm chí thấp nhất cũng là thánh quả nhập lưu, bảo đảm thoát khỏi từ sa đọa, chắc chắn hướng về đến giác ngộ.”

Đức Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo, “Này các Tỳ-kheo, chú ý bây giờ, ta gọi các vị: Tất cả các thứ có điều kiện đều có bản chất hoại diệt, nhưng bằng sự nhiệt tâm các vị sẽ thành tựu!” Đây là lời nói cuối cùng của Như Lai.”

(Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 154-156, do G.A.S. dịch tiếng Anh).

L.69 Sự nhập diệt của đức Phật

Sau khi những lời dạy cuối cùng của ngài, đức Phật trải qua chuỗi các trạng thái thiền định: từ cấp độ thiền thứ nhất đến thứ hai, thứ ba và thứ tư (xem Th. 140); Sau đó, trải qua bốn trạng thái thiền vô sắc (xem Th.142) -cảnh giới không gian vô biên, ý thức vô biên, không sở hữu và không tưởng cũng không phải không tưởng, sau đó, đến trạng thái kết thúc tri giáccảm xúc (diệt thọ tưởng định). Sau đó, ngài đi trở lại tất cả các trạng thái này đến tầng thiền thứ nhất, sau đó, trở lên đến tầng thiền thứ tư, từ đó, ngài đạt được sự tỉnh thức. Sau khi biểu lộ tự thành thạo đầy đủ, ngài sau đó, nhập diệt.

Sau khi xuất hiện từ tầng thiền thứ tư, ngay tức khắc sau điều này, đức Thế Tôn trực tiếp đạt được niết-bàn cuối cùng.

Khi đức Thế Tôn nhập vô dư y niết-bàn, cùng lúc với sự nhập diệt của ngài, Phạm thiên Sahāmpati79 trùng tụng bài kệ:

Tất cả chúng sanh trên thế gian này cuối cùng rồi cũng để thân thể xuống,

Vì một bậc như thế là bậc đạo sư, người có một không hai trên thế gian,

Như Lai, bậc có sẵn các năng lực, bậc tỉnh thức, đã nhập niết-bàn cuối cùng.

Khi đức Thế Tôn chứng đạt niết-bàn cuối cùng, cùng lúc với sự nhập diệt của ngài, Đế-thích,80 vua của các vị trời, trùng tụng bài kệ:

Vô thường quả thật là các sự vật hữu vi

Bản chất của chúng là xuất hiệnhoại diệt

Sau khi sanh khởi, chúng hoại diệt

Hạnh phúc là sự an tĩnh của chúng

Khi đức Thế Tôn chứng đạt niết-bàn cuối cùng, cùng lúc với sự nhập diệt của ngài, đại đức Ānanda trùng tụng bài kệ:81

Sau đó, có sự kinh hãi, sau đó, có sự rúng động,

Khi bậc tỉnh thức hoàn hảo trong tất cả các đặc tính tuyệt vời nhập vô dư y niết-bàn.

Khi đức Thế Tôn chứng đạt niết-bàn cuối cùng, cùng lúc với sự nhập diệt của ngài, đại đức Anurudha trùng tụng bài kệ:

Không còn có hơi thở vào-ra nữa trong một bậc bất động tâm trí vững chắc

Khi không bị lay động, hướng về an tịnh, bậc có mắt sáng nhập vô dư y niết-bàn.

79 Về vị này, xem L.19 và L.25.

80 Về vị này, xem L.2, 31, 33, 36 và Th.34, 38.

81 Bài kệ này không nằm trong Kinh Đại bát niết-bàn, mà trong một đoạn tương tự ở kinh Tương ưng I.157-159 <340-342>.

Với tâm không lùi bước, ngài đã cam chịu cơn đau; Giống như sự dập tắt của ngọn đènsự giải thoát của tâm. (Kinh Đại Bát-niết-bàn: Kinh Trường bộ II. 156-157, do G.A.S.

dịch tiếng Anh).

*** 
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 180967)
01/04/2012(Xem: 26607)
08/11/2018(Xem: 6776)
08/02/2015(Xem: 38164)
25/07/2011(Xem: 103471)
10/10/2010(Xem: 100616)
Giáo sư Richard Gombrich là một nhà Phật học, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ Pali, Sankrit tài ba. Ông đã dành hơn bốn mươi năm để nghiên cứu, giảng dạy và thực hành Phật giáo. Có thể nói ông là một Phật tử lớn, một học giả nghiên cứu Phật học lớn của thời đại hôm nay, đặc biệt là nghiên cứu ngôn ngữ cổ: Pali và Sankrit, đây cũng là hai ngôn ngữ chính của kinh điển Phật giáo. Ngày 17.7/2021 này, giáo sư sẽ tròn tám mươi tư tuổi
Được biết đến như một vị “đại sư” cao tay trong vùng, song người đàn ông Indonesia này lại “thách đấu” với virus corona để chứng minh đại dịch chỉ là “tin đồn”.
Tình cờ, tôi được biết trên internet, dạo gần đây có một nhóm người truyền dạy nhau cách niệm số, đọc dãy số 126002600 kèm với Nam-mô Dược Sư Phật để trị bệnh Covid-19. Một nhóm khác thì truyền dạy nuốt trùn đất sống (địa long) cũng để phòng trị dịch bệnh Covid-19. Điều đáng nói là cả hai nhóm này đều bàn đến triết lý và tu hành Phật giáo, thậm chí mặc y phục của cư sĩ và tu sĩ Phật giáo. Xin hỏi quan điểm của Phật giáo về vấn đề này thế nào?