Chương Một: Những khuôn mặt mở đầu của nền Thiền học Việt Nam

29/05/20214:41 SA(Xem: 130)
Chương Một: Những khuôn mặt mở đầu của nền Thiền học Việt Nam
Như Hùng
TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG VIỆT NAM
Văn Học Phật Việt 2020 | Thư Viện Hoa Sen 2021

Chương Một

 NHỮNG KHUÔN MẶT MỞ ĐẦU 
CỦA NỀN THIỀN HỌC VIỆT NAM

 

1. Thiền tổ Khương Tăng Hội sáng tổ Thiền Tông Việt Nam

 

Khởi nguyên của thiền học Việt Nam bắt nguồn từ tổ Khương Tăng Hội (? - 280) vào đầu thế kỷ thứ 3. Người đã đem nguồn suối thiền tâm linh vị diệu che mát cả bầu trời dân tộc Việt, mấy mươi thế kỷ đã trôi qua ánh sáng đó vẫn soi đường chỉ lối theo từng bước đi của dân tộc, vỗ về an ủi làm chỗ dựa mong cao tột, tạo nên một trào lưu phát triển lớn mạnh của Thiền Tông sau này.

 

Thiền tổ Khương Tăng Hội là người Việt Nam, mang trong người dòng máu Việt Ấn, thân phụ của Ngài gốc người Khương Cư sang Giao Chỉ buôn bán làm ăn, tại nơi đây ông đã lập gia đình với người vợ Việt. Khương Tăng Hội sinh ra lớn lên và xuất gia tại đây, Ngài thông hiểu am tường Phạn Ngữ và Hoa Ngữ, với kiến thức uyên thâm bác học, thông minh xuất chúng “hiểu rõ ba tạng kinh điển, đọc khắp cả sáu Kinh Nho Lão, những sách về thiên văn và đồ vĩ phần lớn ông đều thông thạo” (trong Cao Tăng Truyện). Ngài đã từng chú sớ, dịch thuật, trước tác một số tác phẩm sau đó trở thành những tác phẩm rất quan trọng, trong hệ thống Thiền Học Việt Nam sau này.

 

Thiền tổ Khương Tăng Hội một nhân vật siêu thường trong lịch sử thiền học, ngài không những là một thiền sư chuyên giảng dạy hướng dẫn về thiền mà còn vị tổ sáng lập cả một tông phái thiền mang tên Thiền Tăng Hội. Sách Thiền Uyển Tập Anh đề cập đến tông phái đó đã kéo dài hàng ngàn năm, trong câu chuyện về Thiền sư Thông Biện có câu: “Đại diện cho tông phái của thiền sư Tăng Hội là thiền sư Lôi Hà Trạch đang sống trong thời đại của chúng ta”. Thời đại đó là ở vào đời nhà Lý.

 

Theo sách Cao Tăng Truyện: Khương Tăng Hội đến Kiến Nghiệp kinh đô của nước Ngô vào năm 255, ngài mất năm 280. Như vậy sau khi tu họcchứng ngộ ở Giao Châu, Ngài sang truyền bá Thiền Tông ở Trung Hoa khoảng 25 năm. Ngài là vị sa môn đầu tiên xuất hiện ở Đông Ngô, dựng một ngôi chùa mang tên Kiến Sơ. Uy tíntiếng tăm của ngài đã khiến Ngô Vương Tôn Quyền tin phục và thọ trì ngũ giới.

 

Qua sự chú sớ và đề tựa trong kinh An Ban Thủ Ý do An Thế Cao dịch, khuynh hướng tư tưởng thiền của Khương Tăng Hội, là Đại Thừa hóa Thiền Tông, mang màu sắc của Thiền Đại Thừa. Như vậy sự có mặt của Thiền Việt NamThiền Đại Thừa. Khương Tăng Hội viết “An Ban tức là Đại Thừa của chư Phật để tế độ cho chúng sanh đang phiêu trầm sanh tử”.Thiền đại thừa quan niệm diệu tâm chân nhưbản thể vi diệu của giác ngộ, và bản thể ấy không đơn thuần trong việc đắm mình trong sự suy tư riêng biệt mới thể nhập. Muốn đạt được là phải lăn mình vào cuộc đời, đối diện với tha nhân với chúng sanh, bằng tất cả hùng lực tâm lựcý lực, thường nghiệm quật khởi cởi tung thực tại, trong sự rộng mở của tâm ý.

a, Tư Tưởng Thiền Của Tổ Khương Tăng Hội.

Xuyên qua bài tựa trong kinh An Ban Thủ Ý, phần nào cũng đủ để cho ta thấy được khuynh hướng tư tưởng thiền đại thừa nơi ngài, ngoài ra Tổ còn chịu ảnh hưởng của Bát NhãDuy Thức. Ngài viết: “Tâm không hình sắc, không có âm thanh, không có tiền hậu, tâm thâm sâu vị tế, không tác tơ hình tướng cho nên Phạm Thiên, Đế Thích và các tiên, thánh khác cũng không thể thấy được, kẻ phàm tục không thể thấy được sự hóa sinh từ hình thức này, sang hình thức khác của các chủng tử, khi thì minh hiển khi thì trầm mặc trong tâm ”.

 

Chính nhờ sự ảnh hưởng đó mà tư tưởng của ngài phóng khoáng vượt thoát,  xuyên qua con đường của không trong Bát Nhãtổng tướng của Duy Thức. Ngài đưa ra một định nghĩa về tâm rất cụ thể, khiến người đọc có thể vén mở sự diệu dụng của tâm qua cửa ngõ An BanNgười hành giả đã chứng đắc được phép An Ban thì tâm bừng sáng, dùng cái sáng ấy để quán chiếu thì không gì tối tăm mà không thấy ”.

 

Dù rằng chưa một quan niệm nào có thể diễn tả trọn vẹn về tâm, bởi lẽ nó bao trùm lên không lưu lại dấu vết, nếu y vào quan niệm để đóng khung, hóa ra ta đã dùng sự suy luận thông thường nhốt cái suy luận ấy chứ không phải tâm. Đó là một giả thể được dựng lên từ hình dung suy tưởng lôi kéo, khiến ý thức của ta không còn chỗ đứng mới bám víu vào khái niệm để hình thành. Những gì còn rơi vào trạng thái này, muôn kiếp ta vẫn phải trôi lăn trong vòng mịt mùng lẩn quẩn, giữa cái hữu tướngvô tướng, hữu thực và vô thực. Một sự lầm lẫn chỉ khi nào bặt hết mọi tương quan đối đãi ta mới tìm thấy được cái ban sơ tuyệt diệu của không cùng vô tận.

Một sự đi tìm và kẻ dày công sống trong đó, nếu làm cuộc thẩm định không qua cửa ngõ luận thuyết, thì điều này không phải vô nghĩa, nhất là khi trông thấy trọn vẹn bản thể như thật, minh chứng bằng quá trình truy tìm thực thể. Quá trình đó, nếu bừng ra ánh sáng và ánh sáng đó có thể không sai khác, nếu ta biết cách thâu ngắn lộ trình, dung hòa chặng đường đi tới một cách liên tục bền bỉ không gián đoạn. Giá trị thật hữu của vấn đề trên đều cân bằng như nhau, nó chỉ khác là kẻ vén mở bằng sự trực nhận tức thì ngay tại điểm khởi của thực tại, đó cũng là lúc ta trông thấy bộ mặt như thật hiện hữu. Tâm vốn không có bắt đầu, nếu có thì cái tâm ấy còn sanh diệt, trong khi bản thể của tâm vốn bặt hết tướng trạng, suy luận, nắm bắt. Một sự vắng bặt không những không có trong ngôn từ mà ngay cả ý niệm thành lập cũng không, nó liên tục xuất hiện, nhưng ở tư thế của kẻ biết lúc nào mới xuất hiện để quyết đoán một cái gì và cái đó không thể có mặt ở trong tâm.

 

Tất cả mọi khởi động móng ý đều có bóng dáng linh hiện tiềm ẩn của nó, ở đâu và bất cứ nơi nào khả năng quyền biến của tâm cũng đều ngự trị, nhưng nếu bảo đó là tâm ắt xa lạc nghìn trùng. Dùng cái năng động để xác quyết là việc làm vô nghĩa, chỉ khi nào động và tịnh không còn ranh giới sai biệt, hòa quyện cùng một thể duy nhất, đòi hỏi trong ta sự nhận biết thường nghiệm tinh tường, nỗ lực liên tục trong việc hoán chuyểngiải phóng mọi ngăn ngại.

 

Trong Lục Độ Tập Kinh, tổ đề cập đến bốn phương pháp của Thiền như sau:

* Phương pháp thực hành của nhất Thiền: “Là khử bỏ tham ái, ngủ yên tà sự, như khi mắt thấy sắc đẹp tâm sinh dâm cuồng, khử bỏ những thanh hương vị và xúc thường gây tai hại. Người có chí hành đạo ắt phải xa lánh chúng. Lại còn diệt trừ năm sự ngăn che: sự tham dục, sự giận dữ, sự mê ngủ, sự dâm lạc, và sự hối hận nghi ngờ. Đối với những vấn đề có đạo hay không có đạo, có Phật hay không có Phật, có kinh hay không có kinh, tâm ý đạt đến hiểu biết, trở nên thanh tịnh không dơ bẩn, tâm sáng thấy được chân lý, đạt tới trình độ không gì là không biết, các loại trời rồng và quỷ mị không thể nào đánh lừa được. Đạt được nhất Thiền cũng như người có mười loại oán thù đã thoát ly thân thuộc một mình ở trên núi chẳng ai hay biết, không còn sợ ai, vì xa lìa được tình dụcnội tâm vắng lặng”.

* Phương pháp nhị Thiền: “Như người đã thoát ly oán thù tìm tới chốn thâm sơn để cư trú nhưng còn sợ oán thù có thể tìm tới, kẻ hành giả tuy đã xa mười thứ dục tình nhưng còn sợ những thứ này tìm theo để lung lạc chí hành đạo của mình. Vì vậy, kẻ hành giả không nên vui cái vui đã dùng thiện để diệt ác, thiện tiến thì ác lui, bởi cái vui nầy là mầm của lo sợ. Phải diệt trừ quan niệm thiện ác chống nhau, do đó ý niệm vui và sợ đều tiêu diệt, mười điều ác tuyệt dứt, không còn ngoại duyên nào có thể tới xâm nhập tâm mình. Cũng như khi ở trên đỉnh núi cao thì không còn dòng nước nào có thể làm cho mình bị ngập lụt, cũng không sợ mưa và rồng làm cho chìm đắm. Chính là từ đỉnh núi đó mà các dòng suối lưu xuất, từ sự hành đạo này mà các điều thiện do tâm xuất hiện và các điều ác không còn do đâu phát sinh được nữa”.

* Phương pháp tam Thiền: “Giữ gìn tâm ý một cách kiên cố, cả thiện và ác cũng đều không thâm nhập được, tâm an ổn như núi Tu Di, từ bên trong thiện cũng không phát xuất mà từ bên ngoài thiện áctịch diệt cũng không xâm nhập được. Tâm như hoa sen, rễ hoa trong bùn, khi hoa chưa mọc thì còn bị lấp dưới nước. Người thực hành tam thiền thanh tịnh như hoa”.

* Phương pháp tứ Thiền: “Tới đây cả thiện và ác đều bỏ, tâm không nhớ thiện cũng không nhớ ác, tâm yên và sáng như ngọc lưu ly, như nàng công chúa tự tắm gội và lấy hương thơm ướp mình, mặc xiêm y mới. Bồ Tát khi đã đạt được tứ thiền thì các loại tà cấu không còn làm hư tệ tâm mình. Đạt được tứ thiền thì muốn làm gì cũng được, phi hành nhẹ nhàng trên không, đi dưới nước, phân tâm tán thể, biến hóa vạn cách, ra vào không ngăn cách, tồn vong tự do, có cả mặt trời mặt trăng, động tới cả thiên địa, đắc nhất thiết trí”.

 

Qua bốn trình tự của Thiền, Thiền tổ Khương Tăng Hội đã mở tung cánh cửa nhiệm mầu hiển bày nên cái nhất ý, hội tụ năng lực cao độ hoàn thành sự nghiệp giác ngộ. Ở đây không còn bóng dáng ngã chấp pháp chấp, lôi kéo những vướng bận nơi tâm cảnh, gây nên những đảo lộn biến động ở bên trong. Nếu để nguyên vị không xê dịch bóp méo, với sự quán chiếu bền bỉ, hiểu biết nhận thức tinh tường thì đây mới là điều tuyệt diệu. Những gì còn níu kéo, cái ấy được đánh động tra vấn bởi hai ranh giới hoặc thuận nghịch, tốt xấu, thiện ác, như sự phán đoán tạm gởi nào đó ở trong ta. Ranh giới đó vô cùng phức tạp, chúng ta khó có thể trông thấy trọn vẹn được những chuyển động mà không rơi vào lầm lẫn. Có những điều thoạt nhiên ta tưởng là thiện, nếu người sử dụng biết khéo léo ngụy trang, che đậyru ngủ ta ở những dạng thái khác ta sẽ lạc lối và lầm tưởng ngay. Nhưng ở một cái nhìn sáng suốt rõ ràng, thực tế là ta bị lường gạt một cách trắng trợn. Đây có thể là thiện ở bên ngoài chứ không thiện trong bản chất. thiện trong hoàn cảnh chứ không phải thiện ở trong tâm ý. Nếu ta dùng ý thức vọng động để nhìn ngắm ta sẽ không bao giờ cảm nhận đúng mức đâu là ranh giới đích thực của từng vấn đề. Thông thường, trong xã hội kẻ giết người phải bị luật pháp trừng trị, thậm chí có khi bị tử hình, nhưng cũng có những kẻ giết hàng trăm hay ngàn người nhưng nhờ ngụy trang, núp bóng dưới mỹ từ, chiêu bài dân tộc, ý thức hệ tôn giáo nào đó. Nghiễm nhiên họ trở thành người hùng của chế độ, bậc vĩ nhân của dân tộc họ. Và đâu là nguyên uỷ chính xác của vấn đề này?

Về khía cạnh giác ngộkhông nên vui cái vui đã dùng thiện để diệt ác” xác quyết kinh khiếp này phủ trùm lên quan niệm cố hữu trong chúng ta, một sự cảnh tỉnh nhắc nhở vô cùng thiết thực và hữu ích. Giác ngộ không phải bãi chiến trường tranh chấp, tàn sát tiêu diệt lẫn nhau, chúng ta phải chấm dứt hoàn toàn mọi cuộc chiến tranh giằng co trong tâm ý, gạt bỏ sự vui mừng chỉ vì điều thiện vượt lên lấn đi chiến thắng cái ác. Bởi nếu không loại trừ sẽ gây nên những khủng hoảng, đổ vỡ, hoài công, không có cơ may hàn gắn lại được, không khéo kẻ chiến thắng trở thành chiến bại với chính kết quả toan tính đó. Thông thường những tranh giành tước đoạt đều đưa đến sự nguy hại, còn mất trong hơn thua, biến dạng, lo sợ, dù cuối cùng chỉ còn lại niềm hân hoan vui mừng của điều thiện. Khi nào ý niệm đối nghịch thật sự rời xa buông bỏ, ta mới thảnh thơi, trên lối đi về ngập tràn hạnh phúc an lạc. Lúc ấy điều ác không cần phải trốn chạy, khiến ta phóng mình rượt theo tiêu diệt, mà nó đã được chuyển hóa trở thành chất liệu vô cùng hữu ích. Bởi lẽ không còn cơ hội xâm lấn gây tác hại, đã đến lúc cái tâm rộng mở dung chứa tất cả, nhưng không làm hề hấn dù đó là thiện hoặc ác.

 

Chúng ta có quyền phân biệt đâu là ranh giới thiện ác chánh tà, nhưng không có nghĩa đưa ra giáo điều để rồi chết chìm trong sự phân biệt đó. Đúng ra ta dùng ánh sáng linh hiện trong tâm, sáng soi từng bước đi thoát khỏi tử sinh qua những lối khác, ít ra ý thức của ta không còn bị sai sử, ngụy biện lũng đoạn do vô minh gây rối nữa. Dù rằng ta chỉ mới đoạn trừ được phần nào, nhưng không có nghĩa ta hoàn toàn tiêu diệt. Nếu có cuộc chiến tranh giằng co trong tâm ý, kẻ chết không phải ác không phải thiện, mà là chính ta chủ nhân của hai vấn đề này.

 

b, Những tác phẩm liên quan đến Thiền tổ Khương Tăng Hội gồm có:

1. An Ban Thủ Ý Kinh do An thế Cao dịch, Tăng Hội và Trần Tuệ chú sớ, Khương Tăng Hội đề tựa.

2. Pháp Cảnh Kinh, An Huyền dịch, Tăng Hội chú sớ và đề tựa.

3. Đạo Thọ Kinh, An Huyền dịch, Tăng Hội chú sớ và đề tựa.

4. Lục Độ Yếu Mục, Tăng Hội biên tập (nay không còn)

5. Nê Hoàn Phạm Bối, Tăng Hội biên tập (nay không còn)

6. Đạo Hạnh Bát Nhã, của Ngô Phàm, Tăng Hội dịch (nay không còn)

7. Lục Độ Tập Kinh, Tăng Hội biên tập.

 

2. Ngài Chi Cương Lương Tiệp người đầu tiên dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội

 

Đồng thời với tổ Khương Tăng Hội còn có ngài Chi Cương Lương Tiệp (dịch Chính Vô Uý) người nước Nhục Chi, ngài có mặt ở Giao Châu vào thế kỷ thứ 3, dịch kinh Pháp Hoa Tam Muội tại đây vào khoảng 255 hoặc 256. Chữ Tam Muội còn có nghĩa là Định, ngay tựa đề của kinh cũng đủ chứng tỏ khuynh hướng thiền Đại Thừa nơi ngài, dưới đây một đoạn trong kinh.

Trong pháp thân có tất cả các pháp, tất cả đều huyễn hóa biến hiện khi nổi khi chìm. Các phiền não như dâm, nộ và si, thực ra đều vô hình vô thể, cũng như các bọt bèo hiện trên mặt nước nên quan sát thân ta và mọi hiện tượng như an trú nơi tịch diệt vô hình. Chúng được thành lập do sự hội hợp và ly tán nếu phân biệt kỹ lưỡng, thì sẽ thấy rõ bản tính của chúng là không”.

 

Không phải chỉ có Thiền tổ Khương Tăng Hội mới mở tung nền Thiền học đại thừa lúc bấy giờ mà ngài Chi Cương Lương Tiệp cũng đã đưa nền Thiền Học đến chỗ tuyệt đỉnh, xuyên qua câu: “Trong pháp thân có tất cả pháp”. Vậy ngoài pháp thân còn có pháp nào để ta rong ruổi nắm bắt? Có phải “tất cả đều huyễn hóa biến hiện khi nổi khi chìm”?

 

3. Ngài Ma Ha Kỳ Vực

 

Ma Ha Kỳ Vực, một vị cao tăng người Tây Trúc, Ngài đã từng đến Giao Châu khoảng những năm 168 - 169, ngài thuộc khuynh hướng Mật Giáo, được kể như một trong những vị cao tăng có phong thái kỳ bí, Ngài thường làm nhiều phép lạ không ai có thể đoán trước được. Sách Cao Tăng Truyện chép: “Ma Ha Kỳ Vực, đã vân du khắp các xứ văn minh và mọi rợ, không ở yên một nơi nào. Ngài có những hành động mà các đệ tửtùy tùng không biết trước được. Ngài đi từ nước Tây Trúc đến nước Phù Nam, rồi dọc theo bờ biển,  đến Giao Châu về Quảng Châu. Nơi nào đi qua ngài đều làm nhiều phép lạ khiến dân chúng rất khâm phục. Khi đến sông Tương Dương, người lái đò thấy ngài rách rưới nên không cho qua sông. Nhưng khi thuyền tới bến bên kia người ta thấy ngài đứng đó rồi. Vào cuối triều Huệ Đế nhà Tần ngài đến Lạc Dương, khi có nhiều biến loạn ngài bèn trở về Tây Trúc ” .

 

4. Ngài Đạt Ma Đề Bà

 

Vào thế kỷ thứ 5, Giao Châu lại tiếp đón một nhân vật từ Ấn Độ sang đó là Đạt Ma Đề Bà, tư tưởng thiền của Ngài thâm cao, siêu thoát không thua gì ngài Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Hoa. Nhưng tổ Bồ Đề Đạt Ma thì rất nổi tiếng, trái lại ngài Đạt Ma Đề Bà ít được sử liệu đề cập đến. Có lẽ vì sách vở tư liệu của nước ta lúc bấy giờ bị loạn lạc binh lửa nên không bảo tồn được, và cũng có thể nền Thiền Học Việt Nam phần nhiều chú trọng đến việc thực hànhtruyền bá, ít quan tâm đến việc ghi chép tư liệu, di sản tinh thần của tiền nhân, để bảo tồn gìn giữ lưu lại cho hậu thế.

 

5. Thích Huệ Thắng vị Thiền sư Việt Nam thứ hai đem thiền học phát huy ở Trung Hoa

 

Ngài Đạt Ma Đề Bà trong lúc hành đạo tại Giao Chỉ, có một người học trò là Thích Huệ Thắng, một vị thiền sư Việt Nam tiếng tăm lẫy lừng vang dội, Ngài đã từng đem thiền học tung hoành ngang dọc truyền báTrung Quốc. Sách Cao Tăng truyện viết: “Thích Huệ Thắng là người Giao Chỉ, ở chùa núi Tiên Châu, đã từng vân du khắp các miền sông núi, thung dung giải phóng, đọc kinh Pháp Hoa mỗi ngày tới một lần, đã từng theo vị thiền sư ngoại quốc là Đạt Ma Đề Bà để học phương pháp quán hạnh về thiền, mỗi khi nhập định thì tới ngày mai mới xuất. Lưu TíchBành Thành khi làm thái thú ở Nam Hải có nghe nói đến đạo phong của ngài, lúc về nước đã đến thỉnh ngài cùng đi, Huệ Thắng thiền sư nhận lời. Khi về tới Bành Thành cư trú tại chùa U Thê để chỉ bày chân thể mầu nhiệm. Ngài thường làm ra vẻ như người ngu ngốc, nhưng những kẻ đã ở lâu với ngài thì rất kính trọng, nhất là những học giả về thiền thì rất khâm phục. Năm Vĩnh Minh thứ 5 ngài dời về ở Diên Hiền Tịnh Xá tại núi Khê Chung. Từ trẻ tới già ngài vẫn giữ một tâm trinh chánh, ngài mất trong khoảng niên hiệu Thiên Giám, tuổi vừa bảy mươi”.

 

Qua những dữ kiện trên, chúng ta có thể xác quyết rằng, Thiền sư Huệ Thắng là nhân vật phi thường độc đáo, đã từng được thỉnh mời đến thuyết giảngBành Thành, một trung tâm Phật Giáo lớn vào bậc nhất ở Trung Hoa lúc bấy giờ, đồng thời khiến những học giả lỗi lạc về thiền của Trung Hoa rất khâm phục, kính nể. Như thế Thiền sư Huệ Thắng có đủ thẩm quyền để cho Trung Hoa thấy được trình độ thực chứng của nền Thiền học Việt Nam có những điểm vượt thoát cao siêu. Như vậy trước khi Bồ Đề Đạt Ma có mặt ở Trung Hoa, ít nhất cũng đã có hai thiền sư Việt Nam đến truyền bá Thiền Tông tại nơi đây.

 

Chúng ta có quyền hãnh diện trong lịch sử đã có những nhân vật như vậy, xét về bối cảnh lúc bấy giờ, dù dân tộc ta sống trong vòng kìm kẹp nô lệ bởi ngoại bang. Trung Hoa ra sức đồng hóa dân ta, nhưng cha ông thầy tổ đã không những không bị đồng hóaĐạo Phật Việt Namđặc biệt Thiền Tông đã sản sinh un đúc những người con ưu tú, độc đáo, phi thường. Đó là niềm tự hào cho tất cả chúng ta, trong bối cảnh đọa đày điêu linh, thống khổ đó. Sự có mặt của những Thiền Sư Việt Nam trên đất Trung Hoa lúc bây giờ, còn là một tuyên cáo quan yếu đập phá thành trì tư tưởng của đối phương. Xuyên qua con đường hành động tích cực của mình trong việc truyền bá sự an lạcnội tâm đến cho quần chúng của họ. Trong khi chính họ lại nuôi mộng xâm lăng, đày đọa dân tộc khác với chủ trương khai hóa dân tộc “mọi rợ”. Và cũng để cho Trung Hoa thấy rằng dân tộc Việt Nam không dễ dàng bị đồng hóa, mà ngược lại còn tỏa sáng vượt trội. Ý thức về dân tộc tính, niềm tự hào và tự chủ của cha ông thầy tổ ta quả thật cao siêu vời vợi.

 

Dân tộc Việt Nam vốn là dân tộc oai hùng bất khuất, mảnh đất Việt Nam là nơi tiếp thu những trào lưu văn hóa dị biệt của Ấn Hoa nhưng đã được gạn lọc, tiêu hóa, chuyển đổi, bằng những phương pháp dung hòa đặc thù, phù hợp với tiến trình vươn lên đi tới của dân tộc. Vì thế những gì thuộc về bản sắc đặc thù của Dân Tộc của Đạo Phật Việt, sự riêng biệt của lịch sử Thiền Tông chúng ta cần phải tôn thờ gìn giữ phát huy.

 

Sau đó từ Thông Biện Thiền Sư đời nhà Lý cho đến nay chúng ta thường quan niệm rằng Thiền Việt Nam được truyền vào từ Trung Hoa, đây là điều cần xét lại. Nhân vật Tỳ Ni Đa Lưu Chi đắc pháp với Tam Tổ Tăng Xán ở Trung Hoa, trong lịch sử Thiền Học Việt Nam ngài được gọi là Sơ Tổ là do ngài lập nên thiền phái mang tên Ngài và thiết lập hệ thống truyền thừaquy củ. Bởi lẽ chùa Pháp Vân nơi ngài cư trú đầu tiên vốn là một thiền viện đã được xây dựng từ trước, Thiền sư Quán Duyên đang giảng dạy Thiền tại đây, ngài Pháp Hiền là một trong những học trò của ông.

 

Đồng ý rằng, thiền đến bất cứ từ đâu cũng không quan trọng, điều quan yếu là những đóng góp của thiền đã cứu vớt được gì trong bối cảnh thống khổ hôm nay. Tuy nhiên trên lĩnh vực truy tìm tư liệu chính xác để duy trì nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, và đặc biệt sự truyền thừa của Thiền Tông Việt, vốn đã nuôi sống tâm linh chúng ta hằng mấy mươi thế kỷ qua. Công ơn đó, di sản tinh thần quý giá đó, ta không thể nào không biết đến, không nêu cao gìn giữ, không chiêm nghiệm tra vấn với chính mình, không ngẩng cao tự hào, kính ngưỡng tôn thờ?

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 6890)
14/04/2020(Xem: 4460)
24/02/2020(Xem: 1515)
02/11/2019(Xem: 2021)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”