Chương Năm: Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử

29/05/20214:43 SA(Xem: 106)
Chương Năm: Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử
Như Hùng
TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG VIỆT NAM
Văn Học Phật Việt 2020 | Thư Viện Hoa Sen 2021

Chương Năm

 THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ

 

1. Ý chí thống hợp và khuynh hướng nhập thế

 

Con đường hành động tích cực của Đạo Phật Việt kết hợp tất cả những chủ lực tư tưởng tạo ra một khuynh hướng đầy tính nhân bản, từ bi, trí tuệ, hầu đáp ứng bước tiến nhập thế tích cực theo từng bối cảnh xã hội. Ý chí thống hợp này đã dẫn đạo cả một sinh mệnh Việt Nam tìm tới đỉnh cao của vinh quang qua con đường hành động đầy siêu việt trong Đạo Phật. Con đường dấn thân phụng sự hình thành từ những chỉ đạo lấy căn bản độc đáo của trí tuệ, từ bi, giải thoát làm chủ đích vận hành mọi tương quan và lèo lái con thuyền dân tộc. Chúng ta có quyền khẳng định một cách chắc nịch rằng, sinh mệnh của dân tộc huy hoàng và thịnh trị trong hai triều đại Lý, Trần đều nhờ ảnh hưởng của Thiền tông Phật Giáo. Một sự ảnh hưởng được xác quyết trung thực về lý tưởng ban vui cứu khổ, mang niềm an lạc đến cho con ngườichúng sinh. Những minh vương xuất hiện ở hai triều đại trên đều thấm nhuần tính chất trí tuệtừ bi cao cả trong Phật Giáo. Vì thế họ biết sử dụng đến phương thức “Lấy ý dân làm ý mình”, lấy lý tưởng giải thoát khổ đau làm nền tảng để dựng xây xã hội. Từ đó tạo nên dòng lịch sử sáng chói và vinh quang cho dân tộc.

Chính nhờ vào sự thống nhất ý chí sức mạnh từ bi dân chủ đã tạo nên một xã hội huy hoàng bao gồm nhiều lĩnh vực, từ văn hóa, chính trị .v.vv…và đó cũng là nền tảng hợp nhất kiên định trong việc đánh bại những cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Đồng thời tổng hợp sự dị biệt của những trào lưu văn hóa, thanh lọc trở thành nền văn hóa độc đáo siêu việt, trãi dài sinh động trên mảnh đất quê hương yêu dấu. Cương quyết đập tan xóa bỏ nền văn hóa ngoại lai mà trong những cuộc xâm lăng trước đó, Bắc phương đã mang vào áp đặt, đồng hóa, lũng đoạn mị dân hại nước. Tất cả đều phải ngã quỵ trước ý thức bảo tồn về dân tộc tính, gìn giữ bản sắc độc đáo của dân tộc mà những thiền sư là những nhân vật quan trọng đi đầu trong việc gạn lọc dung hòa sáng tạo nên cao trào văn hóa mang đầy Việt tính này.

 

Phật Giáo dù ở trong thời đại bối cảnh xã hội nào, thịnh vượng hay suy tàn, ngấm ngầm hay công khai, hầu như đều bị sự công phá kết án từ những thế lực ngoại lai, phi dân tộc, bất đồng quan điểm tôn giáo, chính trị. Thân phận Phật Giáo đã từng bị những mũi tên độc từ nhiều phía bắn vào, vì thế lắm lúc phải ẩn mình chấp nhận, nhẫn nhục chịu đựng, xuyên qua bề dày lịch sử ta đã có được quan niệm đúng mức về điều này. Số phận chung ở đây được gắn liền như một thông lộ hay tuyệt lộ của cả dân tộc mà Phật Giáo vốn gắn liền và đồng hành. Đạo Phật Việt Nam được kể như đạo Phật của đại đa số quần chúng, giá trị của Phật Giáo Việt Nam mang lại trở thành chất liệu trưởng dưỡng nuôi sống sinh mệnh và ý mệnh dân tộc. Xuyên qua mọi thời đạithăng trầm hay vinh nhục, sự có mặt cùng khắp ấy vẫn cận kề sánh bước bên nhau, như bóng với hình như hoa với hương không tách rời ra được. Lý tưởng cho và vì chúng sinh phụng sự trong Đạo Phật đã thấm sâu vào trong tận cùng tâm thức của mỗi chúng ta, và làm nên con đường hành động giải thoát đầy bi trí dũng.

Số phận ấy không tách rời ra nếu còn có dân tộc tức còn có Phật Giáo, còn có nỗi thống khổ là còn có Đạo Phật. Cương lĩnh hành động tích cực này được đúc kết từ đạo Phật Việt, con đường lý tính cao cả bất khả phân ly đời nhà Trần đã chứng minh. Sự thống hợp và dung hòa trong ý nghĩa cao siêu làm nền tảng hướng thượng, mở ra lối đi tìm tới đỉnh cao của thanh bình an lạc ngự trị, ung dung hành hoạt trong mỗi tâm thức và đã tạo nên một xã hội huy hoàng thịnh vượng trong suốt quá trình đi tới mà tư tưởng này chỉ đạo.

 

Đóng góp quan yếu nhất và vĩ đại nhất, đó là nhờ vào sức ảnh hưởng tư tưởng của Trần Thái TôngTuệ Trung Thượng Sĩ, đưa đến sự tổng hợp cả ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, tạo nền móng vững chắc để trở thành một thiền phái duy nhất về sau, đó là thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Đến đời ngài Trần Nhân Tông, sự thống hợp ngày càng rõ nét hơn, ngài đã phát huy xiển dương và trở thành sơ tổ. Đời nhà Trần có thể nói thời đại của Phật Giáo nhất tông vậy.

 

* Thiền sư Thường Chiếu (? - 1203) được kể như nhân vật đầu tiên tạo gạch nối quan trọng cho sự kết hợp cả ba thiền phái và cũng là người gắn liền Phật Giáo đời Lý và đời Trần. Thiền sư Thường Chiếu thuộc thế hệ thứ 12 của thiền phái Vô Ngôn Thông, nhưng Ngài được mời làm tọa chủ chùa Lục Tổ, một tổ đình xưa nhất của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

 

Qua đồ biểu của thiền phái Vô Ngôn Thông ta thấy thiền sư Thường Chiếu có ba vị đệ tửThần Nghi, Thông ThiềnHiện Quang. Ngài Thông Thiền có những đệ tử như Túc Lự rồi Ứng Thuận và những đệ tử của ngài Ứng Thuận như Nhất Tông, Giới Minh, Giới Viên và Tiêu Diêu được kể như những ngôi sao sáng đã đóng góp cho nền Phật Giáo thống nhất đời nhà Trần.

Thiền sư Hiện Quang người đã khai sơn chùa Yên Tử, sau này trở thành thủ đô tâm linh của dân Việt, nơi đây còn mở đầu cho nền Phật Giáo thống nhất.

 

2. Thiền Học Đời Nhà Trần

 

a, Trần Thái Tông (1218 – 1277) một vị thiền sư cư sĩ vĩ đại

Người đã tạo nên triều đại nhà Trần vàng son ảnh hưởng mãnh liệt trên hai bình diện dân tộc và đạo pháp. Về chính trị nhà vua đã mang lại một nước Việt hưng thịnh độc lập đầy đủ năng lực tự cường, có thể khống chế lại bất cứ cuộc xâm lăng nào. Về đạo pháp, ngài góp phần rất lớn trong việc mở ra vận hội mới huy hoàng tỏa hương thơm ngát trên bầu trời tâm linh của dân tộc hằng bao thế kỷ nay. Trần Thái Tông, một quân vương đầy uy quyền nhưng chẳng bao giờ sử dụng tới cái uy quyền đó, ngược lại nội tâm Ngài chứa đựng sự giác ngộ sâu dày, từ bi trí tuệ nhân bản đầy ắp, thong dong thanh thoát tự tại đến đi không hề vướng bận.

 

Trần Thái Tông từ bỏ ngai vàng ra đi trong sự uất ức bực dọc, vì những áp bức của Trần Thủ Độ, ngài tìm tới núi Yên Tử bái kiến Thiền sư Trúc Lâm để xin xuất gia. Cuộc gặp gỡ hùng tráng đó khiến Trần Thái Tông, từ một tâm trạng bất an đau khổ bỗng nhận chân ra được cái thực tại đầy biến động, lại trở nên rực rỡ huy hoàng ngay trong mọi xáo trộn thống khổ phủ vây. Nhờ vào thông điệp từ bi trí tuệ nhân bản vĩ đại của Trúc Lâm Thiền sư mở ra chân trời cao đẹp tươi sáng cho Trần Thái Tông và cho cả dân tộc. Thông điệp đó đã ảnh hưởng trọn vẹn trong suốt những năm ngài trị vì, đưa dân tộc đến chỗ vinh quang phú cường hạnh phúcbản thân nhà vua có được nội tâm lạc an tự do hành hoạt trên mọi lối đi về. Thông điệp ấy còn chứa đầy tư tưởng chỉ đạo cho sinh mệnh của dân tộc của quốc gia xã hội, còn là chiếc chìa khóa mở tung cánh cửa để Trần Thái Tông tự mình đi đến giác ngộ giải thoát.

 

Cuộc gặp gỡ để rồi tạo nên hùng lực siêu việt đó được Trần Thái Tông ghi lại trong lời tựa của tác phẩm Thiền Tông Chỉ Nam như sau: “Trẩm từ thuở ngây thơ, mới có hiểu biết mỗi khi nghe lời dạy bảo của các vị thiền sư tức thì dập tắt mọi sự nghỉ ngơi, trong mình rất là thanh tịnh. Hồi ấy trẩm đã có ý ham mê nội giáo (giáo lý đạo Phật) xem sách thiền tông, đọc chỉ tìm thấy, thành tâm mến đạo. Xong lẽ cái ý khuynh hướng dù đã xảy ra, cái cơ cảm xúc vẫn chưa đạt tới.

Từ khi trẩm lên ngôi báu, một mình đang độ trẻ thơ, trẩm những sớm trưa lo sợ, không có lúc nào ở rỗi. Trẩm thường tự nhủ: Ở trên đời đã không có cha mẹ để nương nhờ, thì ở dưới khiến không đủ cho dân đen thỏa lòng mong mỏi, làm thế nào? Rồi trẫm lại nghĩ: Âu là lui ở núi rừng, rong tìm Phật Giáo để hiểu rõ về sự sống chết và để báo đáp công đức cù lao như vậy há chẳng hay ư? Thế là chí trẫm đã quyết. Hiệu Tiên Phú Chính Bình, năm thứ 5, nhân đêm mùng 3 tháng 4, năm Bính Thân, trẫm bèn giả mặc quần áo người thường, đi ra cửa cung và bảo tả hữu rằng: Ta muốn đi chơi, nghe ngóng lời dân, để coi chí dân ngõ hầu biết sự khó khăn của họ. Lúc đó theo bên cạnh trẩm chẳng qua độ bảy tám người. Đêm ấy vào khoảng giờ mùi, trầm tự lấy một con ngựa cất lên ra đi. Khi đã sang sông đi về phía Đông, trẩm mới bảo thật với bọn tả hữu. Bọn đó ngạc nhiên ai nấy đều ứa nước mắt, khóc lóc. Giờ mão hôm sau, đến một bến đò dưới núi Phù Nhai, thuộc làng Đại Than, sợ có kẻ biết trẩm mới lấy áo trùm mặt mà qua sông, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối, vào ở trong chùa Giác Hạnh đợi cho đến sáng lại đi. Chật vật trèo lội, núi hiểm suối sâu, con ngựa khó nhọc không thể lên núi được nữa trẩm phải bỏ ngựa, vịn vào tảng đá mà đi. Giờ mùi mới đến núi Yên Tử. Sáng mai đến thẳng đỉnh núi vào ra mắt quốc sư Trúc Lâm, vi đại sa môn chùa ấy.

Thấy trẩm, quốc sư mừng rỡ, rồi người ung dung bảo với trẫm rằng: “lão tăng ở lâu rừng núi, xương rắn mặt gầy, ăn rau răm, cắn hạt dẻ, uống nước suối, chơi cảnh rừng đã quen, tấm lòng đã giống như mây nổi nên mới theo gió lên đây. Nay nhà vua bỏ ý thệ của đấng nhân chủ, nghỉ sự quê hèn của xứ dong rừng, chẳng hay vua định cầu cái gì mà đến chỗ này”?

Trẩm nghe lời đó, đôi hàng nước mắt tự nhiên ứa ra, liền bảo quốc sư: “Trẩm còn thơ ấu, mới mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ dân, không biết nương tựa vào đâu” và trẫm lại nghĩ: “Sự việc của đế vương đời trước, hưng vong suy bại bất thường nên trẫm muốn vào núi này chỉ cầu làm Phật, không cầu cái gì khác cả”. Quốc sư nói: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện đó chính là Phật nếu bệ hạ giác ngộ tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không còn phải đi tìm cực nhọc ở bên ngoài”.

Bây giờ chú Trần Thủ Độ nghe tin trẩm đi chia ngả sai tả hữu đi khắp mọi nơi dò tìm vết đường đi, gặp trẩm ông ấy nói rất thống thiết: “Tôi chịu lời uỷ thác của đức Tiên quân, vâng nhà vua làm chủ cho nhân gianquỷ thần, dân họ mong nhờ nhà vua cũng như con đỏ mến cha mẹ vậy. Huống chi ngày nay những vị bô lão trong triều đều là họ hàng thân mật, những kẻ sĩ, thứ dân trong nước ai cũng vui vẻ phục tùng cho đến đứa trẻ lên bảy cũng biết nhà vua là cha mẹ dân. Vả lại, Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên mộ chưa khô, lời nói bên tai còn đó thế mà bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng để thoả cái chí của mình. Tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghỉ lại quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về”.

Trẩm nghe thái sư và các quần thần bô lão đều không chịu bỏ trẩm cho nên mới đem lời thái sư mà bạch lại với quốc sư. Quốc sư cầm tay trầm mà nói: “Phàm làm đấng nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, và lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ đều muốn đón bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên”.

Bởi vậy trẩm cùng với mọi người trong triều mới trở về kinh miễn cưỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển của các hệ thống giáo lý chính, không kinh nào là trẫm không nghiên cứu. Có lần đọc kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trẩm bỗng bỏ sách suy nghĩ, chợt thấy mình giác ngộ, làm ra những bài văn này và đặt tên là Thiền Tông Chỉ Nam. Cũng vào năm nay quốc sư từ Yên Tử về kinh sư, trẩm mời ở lại chùa Thắng Nghiêm để mở đầu việc khắc bản ấn hành các kinh điển. Trẩm đem tác phẩm này đưa cho thầy. Thầy xem xong và khen tới ba lần. Ngài nói: “Tâm của chữ Phật ở cả trong này, sao không khắc ra để chỉ bày cho kẻ hậu học”? Trẩm nghe lời ấy bằng cho thợ viết thành chữ và truyền cho đem in. Ý trẫm không những chỉ để góp phần vào việc khai thị hậu thế mà còn tiếp tục làm cho sự nghiệp của thánh nhân đời trước càng thêm rộng lớn. Do đó, tự viết bài kệ này.

 

Qua bài tựa ở trên ta thấy Trần Thái Tông diễn tả cuộc gặp gỡ với Thiền Sư Trúc Lâm (còn có tên Viên Chứng, Đạo Viên), với lời văn trong sáng nhẹ nhàng đong đầy thành khẩn. Thiền sư Trúc Lâm đã trao cho vua thông điệp giác ngộ vô cùng quan yếu: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm, nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ không còn phải đi tìm cực nhọc ở bên ngoài”.

 

Bao nhiêu uẩn khúc đen tối khổ đau đang bao phủ trong tâm Trần Thái Tông lúc bấy giờ, từ từ chuyển hướng thông suốt, hiển lộ nên chân tính tròn đầy. Trần Thái Tông mang tâm trạng của kẻ bí lối cùng quẫn, ngài vượt thành lặn lội đến núi Yên Tử không phải để đi tìm con đường giác ngộ, đúng ra tìm sự lãng quên nguôi ngoai nào đó. Nếu mang tâm trạng như thế để tìm đến sự giải thoát, chắc chắn ngài sẽ thất bại, vì con đường đi đến giác ngộ vốn khước từ những thái độ trốn chạy tiêu cực. Muốn thoát khỏi tử sinh là đi ngược lại làm ngược lại những gì thường tình nhưng với một tâm ý dõng mãnh, quyết tâm vượt thoát chướng ngại nghịch duyên. Đương đầu trực diện, khai thông mọi bế tắc, buông bỏ xả ly, vốn là lối đi nghịch dòng, những tâm tư nào thiếu nghị lực mất ý chí thiếu quyết tâm sẽ bị thời gian đào thải. Sự bắt đầu sẽ không mở lối, nếu những xoay chiều thiếu vắng sự nhiệt tâm phá vỡ thực trạng. Chặng đường ban đầu của ngài Trần Thái Tông hưng động ở chiều hướng đau khổ tìm phương giải quyết, nhưng nhờ vào sự tra vấn thẩm định lại với chính mình, và quan trọng những lời khai thị của Thiền sư Trúc Lâm khiến ngài thức tỉnh, trực diện với khổ đau nhận diện được mặt mũi chính mình. Bằng vào yếu tố nào khiến Trần Thái Tông xoay chiều nhanh như thế, có phải đó là chiếc phao giác ngộ cứu rỗi của Thiền sư Trúc Lâm?

 

Nếu ban đầu Thiền sư Trúc Lâm chấp nhận cho vua Trần Thái Tông đi tu, có phải đó là điều hãnh diện cho thiền sư, vì có được một vị vua xuất gia làm đệ tử? Nhưng do đâu Trúc Lâm Thiền sư đã không làm như vậy, dù rất xót thương cho hoàn cảnh của vua lúc bấy giờ? Tấm lòng thương mếnưu tư của ngài không có nghĩa đẩy Trần Thái Tông rơi vào hố thẳm, ngược lại ngài còn dùng tâm từ bi trí tuệ đưa Trần Thái Tông tự mình thoát ra, bằng một công án xác quyết vi diệu: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta”. Chừng đó cũng đủ để Trần Thái Tông đi từ rối rắm phiền não khổ đau, xoay chiều nhanh chóng soi sáng chính mình, nhìn thấy thật rõ ràng những ý lực nào đã khiến nhà vua tìm tới đỉnh cao của núi Yên Tử.

 

Tất cả đâu đó bỗng nhiên đổ nhào ngã xuống, từng bước đi phá vỡ hiện thực, một hiện thực cho dù phũ phàng đến cách mấy, nhưng nếu tuệ tri nhận biết phong tỏa chuyển hóa, soi chiếu vào đó ánh sáng linh hiện của tỉnh thức giác ngộ, thì nó sẽ vỡ tung ra tạo nên viên kim cương sắc bén đủ sức công phá xoáy thủng hiện vật. Trần Thái Tông vui mừng hớn hở biết rõ bao nhiêu công sức và khổ đau của mình phút chốc tan thành mây khói, nhờ thông điệp giác ngộ của Trúc Lâm Thiền sư, soi đường chỉ lối khai mở đúng lúc đúng thời, khiến cho nội tâm của ngài tức khắc thức tỉnh giác ngộ, trong ý nghĩa cùng quẫn tột cùng là đánh thức giác ngộ trở mình thức dậy.

 

Dẫu sao Trần Thái Tông khi đối diện với Thiền sư Trúc Lâm, chính ngay lúc đó ý niệm cầu làm Phật có mặt, dù hành trình ban đầu đã không xác quyết như vậy. Nhưng trong Ngài vốn có sự xoay chiều chuyển hướng thật mạnh thật nhanh, thời cơ khế hợp chín mùi đúng lúc đúng thời, nhờ vậy chúng ta mới có một Trần Thái Tông trác việt phi thường, với nội tâm giác ngộ tròn đầy rộng lớn. Sự thay đổi và chuyển hóa nhanh chóng đó còn góp phần thúc đẩy ý niệm ban sơ, trở thành chất liệu nung nấu thắng duyên vận dụng cả sức lực bình sanh, cuối cùng chính cái tâm cầu làm Phật càng lúc càng lớn mạnh bao phủ khắp cùng đột nhiên rực sáng. Nhờ nhát gươm trí tuệ của Thiền sư Trúc LâmTrong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta” mạnh tay chặt đứt, mọi kiếm tìm dong ruổi ngã đổ, tất cả bừng dậy hiển lộ toàn diện. Dĩ nhiên ngoài tâm sẽ không có sự giác ngộ không có Phật, câu nói đầy uy lực khủng khiếp đó, đoạn trừ mọi sự vướng bận hướng ngoại tìm cầu nơi Trần Thái Tông, khiến ông giật mình thức tỉnh bao nhiêu mộng mị đều tan biến.

 

Cuộc sống nào tựu thành từ những năng động hướng ngoại, thì cuộc sống ấy sẽ không tìm thấy được những giá trị chân thật nếu không quay vào soi sáng nội tâm. Sự thống khổ lo toan phiền não vướng bận đang ngày đêm bao phủ hành hạ, đều xuất phát từ sự đuổi bắt chạy theo tìm kiếm từ bên ngoài và do bên ngoài tác động đưa đẩy. Phần nhiều tại chúng ta quên khai quật kho tàng vô giá đầy bản năng tuyệt diệu đang ẩn mình trong tâm của mỗi chúng ta. Một kho tàng chân tánh quý giá không phải do giành giật, chạy nhảy lăn xăn mới có được mà nó sẵn có ở đó, khi nào trong ta vén mở đập vỡ được lớp vỏ khô cứng đè nặng phong tỏa của vô minh, tham sân si, thì nó lập tức lộ diện. Thông thường ta ra sức ôm ấp sơn phết tô điểm lớp vỏ nầy bằng sự phóng ý móng tâm chạy theo trần cảnh, quên mất lối về chân như giác ngộ, nên không thấy được đâu là con đường cao đẹp đưa ta thoát khỏi sinh tử đau khổ.

 

Thông điệp thứ hai về trị quốc vô cùng quan trọng và giá trị cho sự nghiệp chính trị của vua Trần Thái TôngTrúc Lâm Thiền sư đã trao, để rồi sau này tạo nên cảnh huy hoàng thịnh trị cho dân tộc. Một sự sáng chói rực rỡ trong lịch sử nước nhà, khiến chúng ta nghiêng mình cúi đầu xưng tụng tán dương trước tuệ giác siêu việt của thiền sư. “Phàm làm đấng nhân quân thì phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình và lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình”. Câu nói bình dị nhưng cao siêu này đã chứa đựng tất cả tinh hoa của từ bi, nhân bản, khai phóng mà Trần Thái Tông đã may mắn tiếp nhận. Quả thật như vậy, vua đã may mắn nhưng dân tộc lại càng may mắn hơn, có được một quốc sư như Trúc Lâm Đại Sa Môn, với nội tâm thông tuệ chứa đầy lòng bi mẫn.

 

Để rồi sau đó, trong những tháng năm suốt cuộc đời hành hoạt của Trần Thái Tông đều ẩn mang hai khía cạnh tâm linh và chính trị đã được tiếp nhận. Ngài thong dong dong ruổi trên bầu trời tâm linh không vướng bận, và trong việc trị quốc ngài đã hoàn thành xuất sắc phương cách phụng sự nhân dân bằng chính nguyện vọng của họ. Trần Thái Tông thành tựu cả hai sự nghiệp vĩ đại này, kết quả đều ngang bằng như nhau, sự nghiệp của một quân vương Bồ Tát y vào tinh thần trí tuệ từ bi giải thoát của Phật Giáo làm nền tảng và sự nghiệp tâm linh thực chứng của một con người giác ngộ đem sở đắc của mình để hoằng hóa độ sanh. Hai khía cạnh đó cho đến bây giờ vẫn còn bàng bạc bao phủ sáng soi trên bầu trời dân tộc, nhắc nhở mời gọi chúng ta lên đường tìm đến chân trời hạnh phúc thật sự trong mỗi tâm thức. Chỗ dựa mong an lành cao đẹp cho những ai đang còn khổ đau phiền lụy tìm về giác ngộ giải thoát.

 

Trong bài tựa Kinh Kim Cương Tam Muội in trong sách Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông ghi lại nỗ lực trị quốc và sự tu tập của mình như sau: “Trẩm lo việc chăn dân mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc quên cả sớm chiều, công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao lăm. Siêng công việc tiếc ngày giờ tẩm cố học hành thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách, học sách Nho rồi còn học kinh Phật”.

Tấm lòng từ bi nhân hậu và sự kham nhẫn quý hiếm của Trần Thái Tông quả thật cao cả ít ai sánh kịp. Đêm ngày bỏ công ra sức chăm lo cho cuộc sống của người dân được no ấm đủ đầy, còn trang bị cho mình những kiến thức tuệ giác hiểu biết. Ngài rút tỉa kinh nghiệm trong lĩnh vực Nho học để áp dụng trong việc trị quốc, và dùng sự nghiên cứu tu học kinh Phật để khai mở tâm linh thoát ra ngoài phiền lụy khổ đau. Ngài đã dung hợp thành công cả hai khuynh hướng Phật và Nho, thăng hoa và hướng dẫn con người xã hội đến nơi chân thiện mỹ.

Những tác phẩm của Trần Thái Tông gồm có:

1. Thiền Tông Chỉ Nam

2. Kim Cương Tam Muội Kinh chú giải

3. Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi

4. Bình Đẳng Lễ Sám Văn

5. Khóa Hư Lục

6. Thi Lập

 

Trong tác phẩm Khóa Hư Lục, bài Phổ Khuyến Sắc Thân có đoạn: “Nếu chưa đạt được tâm Phật ý tổ thì trước hết hãy trì giới, niệm kinh. Đến khi đạt tới trình độ Phật cũng không mà tổ cũng không thì còn giới nào cần trì, kinh nào cần niệm? Lúc đó thì dù cư trú trong thế giới chân sắc, ở trong phàm thân mà kỳ thực đã ở trong pháp thân”.

 

Tâm Phật là tâm gì và ý tổ là ý gì? Đó là tâm giác ngộ giải thoát tròn đầy vi diệu chiếu diệu soi sáng muôn phương, phủ trùm lên tất cả không chướng ngại. Cái tâm an lạc thảnh thơi tự tại an nhiên khắp cùng. Một khi đạt được tâm đó, một khi nhận được yếu nghĩa rốt ráo ý tổ đến chỗ cùng tuyệt, thì dù rong chơi mọi nẻo luân hồi hỗn độn, cũng không vướng gót bận lòng, đi vào tử sinh như đi trên thảm hoa, ung dung thanh thoát trên mọi lối đi về.

 

Cũng trong ý nghĩa đó, dưới đây là những trao đổi minh chứng.

 

* Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258 - 1308) một hôm nghe đồ chúng tụng kinh bèn hỏi:

- Chúng làm gì?

- Có vị tăng ra thưa:

- Chúng niệm tâm Phật,

Sư bảo:

- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật, Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm, thế gọi cái gì là tâm?

- Sư lại hỏi vị tăng khác:

- Chúng làm gì?

- Tăng thưa: Niệm Phật

- Sư bảo:

- Phật vốn không tâm thì niệm cái gì?

- Tăng thưa: Chẳng biết

- Sư nói:

- Người đã chẳng biết, vậy nói đó là ai?

- Tăng không đáp được.

 

Cuộc đối đáp trên Thiền sư Hương Vân Đầu Đà muốn hiển bày nên sự nhận thức minh bạch về tâm và Phật, vấn đề này rất quan yếu và cấp bách trong việc tìm ra đâu là khuôn mặt đích thực mang hai từ ngữ này. Nếu nói là tâm thì cái tâm đó không phải là Phật, bởi lẽ “ngoài Phật không tâm và ngoài tâm không Phật” như vậy phải chăng tuy hai mà một cùng chung một thể tánh? Khi nào những mê mờ chưa vén mở thì gọi là vọng tâm, một khi thể tánh giác ngộ hiển lộ thì gọi là chơn tâm. Chơn và vọng, trong vọng luôn có sự hiện hữu của chơn nhưng ở vào tư thế tiềm ẩn, trong chơn cũng vậy nếu không khéo vẫn còn bóng dáng trá hình thấp thoáng đâu đó. Muốn khai mở được điều này, cần phải tách rời quan niệm đối lập, thấu rõ vượt thoát hư ngụy chân giả, đêm ngày nỗ lực dụng công quán chiếu, thường sống trong sự tỉnh thức, thì mới có thể trông thấy được bóng dáng như thật của từng vấn đề. Một khi nhận biết đâu đó rõ ràng minh bạch, thì nơi đâu khắp chốn cũng đều là tâm Phật tâm giải thoát, Phật tánh ở trong ta trong mọi chúng sinh.

 

* Thiền sư Thiện Hội (? - 900) một hôm vào thất, hỏi Thiền sư Cảm Thành:

- Trong kinh có nói: “Đức Thích Ca Như Lai đã từng tu hành trãi vô số kiếp mới được thành Phật” nay thầy dạy rằng “Tâm tức là Phật” con chưa hiểu lẽ đó, cúi xin thầy một phen khai ngộ cho?

- Thiền sư Cảm Thành bảo:

- Trong kinh là người nào nói?

- Sư thưa:

- Đâu không phải là Phật nói ư?

- Thiền sư Cảm Thành hỏi lại: Nếu là Phật nói thì tại sao trong kinh Văn Thù lại nói: “Ta trú ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ dạy người”. Vả lại cổ đức nói: Người tìm nơi văn, chấp nơi chúng càng thêm trệ, người khổ hạnh cầu Phật là mê, người lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo, người chấp tâm tức Phật là ma”

- Sư lại hỏi tiếp: Như thế, tâm ấy cái gì chẳng phải Phật, cái gì là Phật?

- Thiền sư Cảm Thành đáp: Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: “Tâm tức là Phật, tâm nào là Phật?” Mã Tổ bảo: “Ông nghĩ cái nào chẳng phải là Phật chỉ ra xem? Người kia không đáp được. Tổ dạy: “Đạt thì khắp tất cả cảnh, chẳng ngộ hằng trái xa”. Chỉ câu nói này, ngươi lại hội chăng?

- Sư liền thưa:

- Nay con hội rồi.

- Thiền sư lại hỏi tiếp: Ngươi hội thế nào?

- Sư trả lời: Khắp tất cả chỗ không đâu chẳng phải tâm Phật

Nói xong Sư sụp lạy

- Thiền sư Cảm Thành bảo:

- Thế là người hiểu đúng rồi

Nhân đó Thiền sư Cảm Thành ban cho sư hiệuThiện Hội.

 

Con người đã từng mang câu hỏi kinh khiếp “Tâm Phật là gì? Ý Tổ là gì” gõ cửa khắp chốn thiền môn mong được câu trả lời như ý. Nhưng đâu đó chỉ thấy cửa cài then đóng, miệng như khóa lại đóng mốc meo, và nếu có trả lời âm thanh câu nói chưa kịp tan loãng bỗng mất dấu bặt tăm, cuốn hút vào tận cùng hư vô lặng thinh, quấn chặt đẩy con người vào mê hồn trận, không biết đâu là đầu mối thoát ra, bí ẩn rối tung lại càng thêm mịt mùng bí lối. Ý nghĩa tối hậu của câu hỏi đó, cho đến bây giờ vẫn còn bao phủ trên mọi nẻo đi về của tâm ý, những tra vấn suy tư luận bàn những lãng quên bỏ qua vụt mất. Giá trị đích thật của câu trả lời ấy đêm ngày đánh động khắp cõi nhân gian, từ tâm đến cảnh từ nhận thức đến đối tượng. Chiêm nghiệm thẩm định, hiển bày nguồn cơn là cả một tiến trình bắt nhịp tư duy vực dậy bản thể thường tại. Chọc thủng chẻ đôi khuấy động vấn đề này ra ta thấy nó chập chờn hiện hữu, nhưng hưng động ở những trạng thái tâm cảnh khác nhau, dù ta gắng sức tìm kiếm trong ngữ ngôn, mò tìm trong kinh viện, mong tìm ra lời giải đáp. Nhưng khổ một nỗi là ta sẽ không bao giờ có được đáp án đúng nghĩa, cho dù ta đặt ra không ít phương trình để giải quyết, cố đè bẹp mọi khởi động của tâm ý đến chỗ bặt niệm mà vẫn chưa tìm ra được đầu mối của vấn đề. Có phải sự mong cầu năng động trong ta quá lớn mạnh nhiêu khê, càng gỡ thì càng buộc, càng dốc sức cầu cạnh để được dứt niệm bặt niệm hết niệm, thì lại vô tình tạo thêm ảo tưởng phóng tâm móng ý lăn xăn nhiều hơn. Do bởisự cố gắng ra công sức truy tìm đáp án cho nhanh cho gọn khiến nó ngút ngàn bay xa thăm thẳm, chụp bắt ôm giữ túm lấy nó thì như cơn lốc vô thường đẩy xô hất trọn. Vậy thì ý ấy tâm ấy là vô ý là không tâm?

 

Nếu vậy, sự hiện hữu của chư Tổ Sư trong ý nghĩa nào có mặt? Tùy duyên hóa độ đến đi tự tại không hề vướng bận, hiện hữu chỉ bày để rồi không bao giờ lưu lại dấu vết, phủi sạch duyên trần dứt tuyệt tử sinh vô tung vô ảnh? Tất cả chỉ còn lại tâm lực lên đường vượt thoát tử sinh thể nhập chốn không cùng, uống ngụm nước đầu nguồn. Phá vỡ được yếu tính này hay không và bằng cách nào như thế nào đều hoàn toàn tuỳ thuộc vào chính ta, nếu có thì đừng mang theo tâm Phật ý Tổ.

 

Thông thường khi đứng trước một thực tế biến động phũ phàng, khi đối diện với khổ đau bất an, ta có nhiều cách để nghĩ suy đối phó và hành động. Cho dù cách nào điều cần nhất ta phải vận dụng sự hiểu biết tư duy đúng đắn, tra vấn đánh động mãnh liệt vào chính bản chất của từng hiện tượng. Phá vỡ giai tầng biên độ tâm cảnh đến chỗ nguồn cội uyên nguyên, có sự tỉnh thức liên tục không gián đoạn. Những tác động lưu xuất từ thân đến tâm, đều phải tác động ngay từ bây giờ trên thực tại này tâm cảnh này. Quá khứ, tương lai hiện tại đến đi đều do ta thiết lập, sẽ không có giá trịý nghĩa nếu hiện tại này ta không ra công nhọc sức hết lòng để đạt được giác ngộ. Cơn lốc của vô thường chóng vánh, không chờ đợi một ai không bỏ sót một cá nhân chúng sanh nào cần phải thận trọng.

 

Trong Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm, ngài Trần Thái Tông viết: “Công danh cái thế chẳng qua một giấc mộng dài, phú quý kinh người khó tránh “vô thường” hai chữ. Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không, khéo giỏi khéo hay rốt cùng chẳng thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ, núi khe mòn mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà đầu bạc đã phai, kẻ mừng mới đi thì người điếu đã tới. Một bao máu mủ bao năm khó luyến ân tình, bảy thước xương khô mặc sức xan tham tiền của. Thở ra không hẹn thở vào, ngày nay không tin ngày kế, trôi nổi sông yêu gió nào nghĩ, nấu nung nhà cháy biết bao thôi?”

 

Trong tinh thần cảnh tỉnh nhắc nhở, ngài Trần Thái Tông đã trao cho ta cái nhìn rõ ràng về thân phận của con người, khơi dậy bản chất đích thật của vô thường biến đổi, chỉ cho ta thấy hướng đi tích cực. Đó là ta phải thoát ly ra ngoài tự ngã tìm đến tự do của chân ngã rộng lớn bao la, nhận thức ý nghĩa đích thật của vô thường biến dịch tìm về trú ngụ nơi chân thường. Sự hình thành bản ngã, ngã sở, ngã chấp, luôn cấu kết quấn chặt trong mọi tư duy hành động, thường xuyên đối kháng lại với những hiện trạng ta xúc tác chạm vào. Về khía cạnh tâm vật lý, ta thường ôm giữ những thuộc tính chủ quan định kiến do kẻ khác xác quyết ở năng khiếu riêng để áp dụngthỏa mãn. Cho dù ngay từ đó đã hàm chứa sự biến đổi sai lầm không thật, nhưng ta vẫn thích thú khi tiếp nhận và chạy thật nhanh thật lẹ để bắt kịp cái gọi là trào lưu tư tưởng của thời đại. Dù trong lúc hối hả rượt theo đó, ta vấp ngã đớn đau nhiều lần gây phiền toái đổ vỡ đến kẻ khác, nhưng hấp lực đằng trước quá mạnh khiến ta cứ thế lầm lũi tiến bước. Khởi đầu cho sự ra đi mà ta tưởng chừng tới đó, oái oăm thay là ta chỉ chạy theo vòng ngược lại nhưng không hề hay biết và với tâm lý ỷ lại ta chẳng thèm muốn biết. Mà nếu có biết thì ta lại tìm cách đổ thừa, tại vì lười biếng bận rộn không có thời gian, nghĩa là có muôn ngàn lý do để ta bào chữa viện dẫn lý luận, vì thế con đường trở về với tự tánh lại thăm thẳm mù khơi ngút ngàn nổi trôi lên xuống.

 

Những tâm ý và lực đẩy nào khiến ta rơi vào trạng huống không lối thoát, những dẫn đưa nào khiến ta mù mờ không tìm thấy được phương hướng? Có phải ta là kẻ thường sống với bản năng bất thiện, để cho vô minh biến động mặc sức tung hoành ngang dọc vẫn chưa thức tỉnh, cứ mải miết để cho tam độc làm chủ tác yêu tác quái? Thỉnh thoảng ta lên đường tìm kiếm cái gì mới lạ cung phụng cho bản ngã và lấp vào cái khoảng thiếu vắng nghiệt ngã đang ở trong ta, dù ta đang tận hưởng và có đủ đầy nhưng vẫn chưa bằng lòng hả dạ. Ta cắm đầu chúi mũi đêm ngày lục lạo đào bới lung tung, mong có được cái gì thêm vào thế chỗ. Đến khi có được nắm được nó lấp lánh sắc màu, nhưng lại ẩn chứa dấu vết vô thường biến đổi trá hình lẫn lộn ở trong. Ta không dám chấp nhận đây là sự thật, gạt bỏ qua một bên quay đầu trốn chạy, không cần biết chẳng cần hiểu, hấp lực của bản năng bất thiện trong ta quá lớn khiến ta mãi nổi chìm. Nếu ta thật sự khát khao tìm ra ý nghĩa chung cuộc, thì làm gì vẫn còn mờ mịt lạc lối tử sinh đến tận hôm nay, chưa chịu quay đầu nhận ra đâu là bến bờ giác ngộ, đâu là đường mê lối mộng?

 

Cuộc viễn du bất định không hẹn ngày về, lắm lúc ta cảm giác thiếu vắng trống trãi làm sao, chưa tìm ra được nguyên nhân, chưa nhận thức được nguồn cơn. Cứ thế dày vò vô cớ cứ thế trăn trở đêm ngày, cứ vậy và vì vậy nó ào đến ập đến bao phủ trong từng suy tư hít thở. Sự rỗi rảnh phó mặt để cho tâm ý đi lang thang, không biết phải làm gì và bắt đầu từ đâu, đưa ta rơi vào từng nỗi cô đơn trống vắng lạ thường. Để ru ngủ bản ngã lòng tham, trong sự cùng đường bí lối ta lại ước mong thầm nguyện cầu xin sự vỗ về tâng bốc của kẻ khác, nhằm thỏa mãn cho cái bản ngã đang khô héo rã rời trong ta. Ở đời thiên hạ thường quan niệm rằng, không tiếc gì một lời khen miễn sao phần lời thuộc về họ, nhưng ta đâu có chịu suy nghĩ như thế, luôn hướng vọng tìm cầu miễn sao lấp đầy no đủ cho cái tôi những gì của tôi thuộc về tôi. Ta không chịu tìm hiểu nhận thức ra khi đón nhận ân huệ của kẻ khác là ta đã đánh mất đi một phần của tự do, dù đó chỉ là một nụ cười hết sức đơn giản. Bởi nụ cười thì lúc nào cũng đáng yêu, nhưng nếu truy tìm nguyên nhân thực sự của nụ cười lại là vấn đề khác. Làm sao để có được nụ cười đến từ kẻ khác, thì chính điều đó và làm sao để được đó, khiến cho ta cố tập trung suy tư biến thành điệu bộ, tức là ta phải diễn trò phải hài hước phải làm vừa lòng kẻ khác bằng mọi giá. Nhiều khi ta lừa dối cả chính bản thân để thích hợpphù hợp với nhãn quan suy nghĩ, thì lúc đó họ mới bằng lòng trao ra nụ cười và vỗ tay tán thưởng.

 

Cho cùng chỉ vì chạy theo o bế cái bản ngã lòng tham, muốn thiên hạ tung hô ca tụng, muốn có lời khen nụ cười kẻ khác ban tặng miễn phí, làm cho ta đêm ngày lao tâm mệt trí, lặn hụp mãi trong ảo tưởng vui buồn, chạy hụt hơi theo ánh mắt nụ cười của thiên hạ. Cớ sự cơ sự, sự sinh sinh sự, căn nguyên nguồn cơn ngài Trần Thái Tông chỉ bày tỏ rõ, ta đã hiểu đã biết và đã trải nghiệm cũng đến lúc ta cần phải chấm dứt trò múa rối tung hứng lường gạt để thanh thản sống thật với chính mình, không để có sự xen vào quyết định và ra lệnh của một ai cả. Làm sao để có được sự sống đúng nghĩa trọn vẹn với chính mình bằng lòng hả dạ cho mình, phút giây an lạc của riêng mình cho mình và vì mình. Có được sự tự do tuyệt vời đúng nghĩa trong sự biến đổi của vô thường sanh diệt? Nếu ta tìm cách phóng mình thoát ra khỏi ngôi nhà lửa, đã từng thiêu đốt nhốt kín ta vào trần gian đen tối khổ đau này, thì ta sẽ bắt gặp được những gì ở ngoài đó? Có phải để rồi thêm nhiều lần đau khổ lừa lọc nữa hay không, nhất là khi ta chưa chuẩn bị và không quen hành động với những thật giả khó phân, lọc lừa dối trá đang chờ đợi, khi những điều ấy ta chỉ nghe kẻ khác nói về, chứ chưa thật sự trông thấy và có sự trải nghiệm bao giờ.

 

Dù ngoài hay trong thì những xáo trộn về tâm sinh lý, từng khiến con người run rẩy lo sợ trên những khuynh hướng lệ thuộc. Nhưng nếu nhìn thật kỹ nhận diệntrạng thái tỉnh thức, đều khiến cho ta giật mình hoảng sợ. Nó khủng khiếp dù bên ngoài được bao bọc bằng lớp nhung gấm mềm mại, tưởng chừng như khó chọc thủng. Nhưng khi xúc tác đụng đến thì êm dịu miên man, khi quay lưng ngoảnh mặt cõi lòng lại vấn vương níu kéo. Chỉ khi nào bí đường cùng lối, khổ đau bất an mải miết hành hạ, ta mới nghĩ đến việc thoát ly, nhưng rồi trong tích tắc lạc bước tìm vui ta lại quên ngay. Bởi ta thường sống trong sự tùy hứng và tùy tiện, chao đảo mất phương lạc hướng, và đó cũng là một thứ bản năng bất thiện những cảm tính trá hình tai hại đong đầy trong ta.

 

Thiền vốn cứu ta thoát ra ngoài sự bất an đau khổ và đáng thương ấy, một sự đáng thương mà thỉnh thoảng con người phải lắc đầu lo sợ. Bằng cách nào thiền giúp ta thoát ra được? Trước tiên thiền mở bày để ta nhận diện bản chất của thực tại qua cái nhìn tương tác, nghĩa là phải lột trần phơi bày nguyên thể dù nằm ở bất cứ dạng thái nào, chôn kín che dấu từ đâu, khám phá và soi chiếu trong tận cùng để thấy bản thể dị biệt hay đồng nhất, tạo mọi điều kiện tối ưu cho giác ngộ khởi động. Đây là cách vén mở nội tính một cách toàn diện, đi vào thức giác kêu gọi sức bật dậy bùng lên của giác ngộ vốn đã bị che dấu khuất lấp từ trước.

Sự đi lại lẫn quẩn, những khuynh hướng rối ren phiền nhiễu tồn tại trong tri thức sẽ trở nên ngăn ngại và không được thiền chấp nhận. Phải là sự tự do thanh thoát thường nghiệm, vượt ra ngoài mọi phạm trù hệ lụy, không nằm ở dưới bất cứ dạng thức dị biệt nào, và khi nào thật sự chuyển hóa hoàn thành xuất sắc, ta mới có thể thành tựu nhập thẳng vào thể tánh nhất như bằng con đường thực ngộ rộng mở.

 

Những gì ta thường bắt gặp trong cuộc sống thường nhật, đều ngầm chứa và trá hình mọi toan tính biến động thật giả khó phân. Bằng vào ý thức thông tục suy diễn lung tung, tâm thức chạy nhảy lăng xăng, sự hiện hữu của muôn vật lấp lánh sắc màu lôi cuốn. Khiến ta ngây ngất chạy theo dính bám lệ thuộc vào sự mô phỏng dẫn dắt của ảo giác, qua sự tích lũy huân tập từ trước. Không một cái gì nằm trong ý thức mà ta cam lòng để cho cái ấy trở nên đơn thuần nguyên vị và nguyên mẫu, ta luôn kéo nó lại gần để mổ xẻ thẩm định suy diễn, gắn vào đó hình hài vóc dáng khác khuôn mặt khác mới lạ chẳng hề liên quan gì đến nó cả, hoặc bươi móc tưới tẩm bằng những quan niệm sai biệt do sự điều khiển của vô minh chủ động. Làm sao để ta có được con mắt huệ sáng soi chọc thủng màn đêm tăm tối, an trú trong thường trụ pháp thân vén mây mở lối cho giác ngộ tựu thành?

 

Trong bài Phổ Khuyết Sắc Thân, ngài Trần Thái Tông viết: “Nếu đã có con mắt sáng, kíp nên phản tỉnh hồi quang: cất mình vượt khỏi hố sinh tử, giăng tay xé toạc lưới ái ân; nam cũng vậy, nữ cũng vậy, đều có thể tu; trí cũng thế, ngu cũng thế đều có dịp. Nếu chưa đạt được tâm Phật ý Tổ, thì trước hãy nương vào phép trì giới niệm kinh, kíp đến khi đạt được trình độ Phật cũng không mà Tổ cũng không thì còn giới nào trì kinh niệm Phật? Ở nơi ảo sắc mà cũng như ở nơi chân sắc, an trú trong phàm thân mà cũng an trú trong pháp thân. Phá lục tặc làm nên lục thân thong dong rong chơi trên miền bát khổ như trên biển tự tại”.

 

Khuynh hướng thiền học của ngài Trần Thái Tông, đẩy bung ta ra ngoài những lầm chấp sai biệt, hiển bày cho ta trông thấy vẹn toàn thể tính với những năng khiếu khác thường không đi qua chặng đường sai khiến của căn trần thức. Ở đây, những nắm bắt tinh tế những tóm thâu vi diệu của trực nghiệm thường quán, sự có mặt liên tục của tỉnh thức giác ngộ, được tựu thành từ những năng lực tâm ý cao dày, quật khởi đào sâu vào hiện thực một cách tinh vi lạ thường. Những chỉ lối mở bày của ngài Trần Thái Tông hướng vào điểm then chốt vô cùng quan trọng đó là mở tung cánh cửa kiến tính (tánh). Theo ngài “tính là đối tượng trong việc đạt được giải thoát và là nền tảng quan yếu”. Dù rằng ở đây ta hoàn toàn không dựng lên rào cản hay thiết lập một đối tượng nào ngay cả đối tượng của tử sinhniết bàn. Bởi vì, chặng đường để thành tựu cho dù xử dụng đối tượng dùng để nhận thức cũng có thể là một hố thẳm ngăn ngại toan tính khác, nhất là còn nằm kề cận ở biên giới nhị nguyên sai biệt thì vẫn là một hố thẳm.

 

Bởi lẽ, tâm ý của ta luôn xê dịch chuyển động nổi trôi, từ những biến chuyển tư duy tác tạo bun nhiễm, tạo thành một tổng hợp đa năng đa chiều khác nhau. Vì thế khó thoát ra ngoài lối mòn thông tục đi lại phiền nhiễu, và chính điều này là đầu mối tạo nên bất an thống khổ. Lật ngược và phá vỡ ranh giới khúc mắc này, hẳn chắc ta không có phương tiện nào ngoài sự soi tỏ quán chiếu thân tâm. Những gì từ bên ngoài đến từ đâu đó và do ngoại giới mang lại, hoàn toàn trở nên xa lạ và không giúp ích gì được. Ở đây được hiểu như sức bật dậy phản ứng cần thiết tức thì, lúc nào cũng ở vào trạng thái tỉnh thức, dõi theo không ngừng nghỉ trên từng biến động, thường xuyên nổ lực tra vấn đặt lại vị thế rõ ràng như thật, để cho tự tánh giác ngộ trỗi dậy. Dĩ nhiên ta phải vận dụng tất cả mọi cơ năng, sống trực tiếp với cái tánh thức linh hiện ấy, thay vì ta chỉ biết tìm cách chứng minh hoặc biểu thị bằng ngôn từ quan niệm. Sự sống đúng nghĩa là phải vượt ra ngoài phạm trù suy diễn, sống thường xuyên với tánh giác, thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp những cảm thức vụt khởi, nhưng được chuyển hóa và hình thành ở tư thế tỉnh thức, một dạng tiếp cận tạo sức bật dậy để giác ngộ thường xuyên có mặt.

 

Khi đề cập đến thiền, nếu đóng khung vào những giả định quy cách, dù thiết lập hay dựng lên từ bất cứ nơi đâu ở đâu, nó sẽ vụt bay mất dấu bặt tăm, và càng không thể gán ghép đưa vào bất cứ cái gì điều gì để xác định thủ đắc. Ở chừng mực nào đó, ta vẫn có thể trực nhận bằng cánh cửa khác, hoặc tạm sờ mó vào diệu dụng của thiền để từ đó ta phăng ra nguồn cội. Lắm lúc ta không bằng lòng với mớ lý luậncảm thấy có một cái gì hấp lực hơn ngôn từ ý niệm. Thiền phá tan dấu vết vòng vo lẩn quẩn, bất cứ khởi niệm nào trước sau đều để lại tỳ vết lôi kéo trói buộc, và ta sẽ không rút lui dễ dàng nếu chưa buông bỏ phủi sạch. Những gì tựu thành theo bản năng cố hữu, một khi nó đi qua sẽ lưu lại dấu vết khó lòng phá vỡ, ở trong tâm thức cũng không ngoại lệ. Kiến tánh, thấy bản thể giác ngộ vẹn nguyên rõ ràng thấy cái như thật hiển lộ trọn nên, như thật nghĩa tánh tướng. Một sự rộng mở cùng khắp chụp lấy khi cơ sự vừa diễn ra đúng lúc đúng thời ở ngay trong chính cái thực trạng nguyên thể nguyên vẹn và trọn nguyên đó. Không để cho chặng đường toan tính có dịp tác động, vén mở phút giây hiện tại nhập thẳng vào sát na vi diệu, phăng ra đầu mối nguồn cơn tỏ rõ phá vỡ tận cùng ngăn ngại, vẹt mây cởi trói càn khôn hiển lộ.

 

Trong sự khủng hoảng trôi lăn của kiếp người, sẽ không có sự cứu rỗi nào đến từ bên ngoài, và không có sự vận dụng đúng nghĩa nào của ký ức hoặc kho tàng tri thức có thể đưa ta ra thoát khỏi dòng nổi trôi biến động. Ta thường nương vào ỷ lại nhờ đến ý thức ngôn từ, nhưng ta lại không biết chính nó góp phần đắc lực đẩy ta rơi vào đau khổ lo sợ bất an, tạo nên thống cảnh chết ngộp hôm nay. Đã bao lần ta tìm cách thoát ly nhưng vẫn chưa đi được bước nào thật sự có ý nghĩa. Hơn nữa ta sống trong sự hoang tưởng và ảo vọng chỉ có trong suy luậnngôn từ phô diễn. Đêm ngày mãi miết trông mong ngóng đợi tiếc rẻ, nhưng rốt cuộc ta trông mong điều gì đợi chờ cái gì và để làm gì? Liệu đến bao giờ lối mòn đi lại lẩn quẩn này mới thật sự chấm dứt, để ta thong dong trở về với bản tính chân như tròn đầy tuyệt nhiên đến đi không vướng bận?

 

Trong bài tựa kinh Kim Cương Tam Muội Chú Giải, vua Trần Thái Tông viết: “Bản tính huyền ngưng, chân tâm trạm tịch, đứt tuyệt ý niệm về tròn khuyết nếu không phải do thánh trí thì không tìm được đến giềng mối của nó, nó không hợp, không tan, không còn không mất, mắt thấy tai nghe không thể tìm được vang bóng của nó, vì nó không phải hữu cũng không phải vô, không xuất thế cũng không nhập thế, nó ngang nhiên độc tôn siêu việt, ngoài nó không có gì khác vì vậy nó được gọi là tự tính kim cương”.

 

Để có được một thực tại tuyệt vời, là cái hiện thực ấy không còn chịu sự sai sử xúi dục tác động làm chủ của vô minh, để có được một tâm thức an lành trụ vững giữa muôn ngàn bão tố, là ta phải mở tung cánh của nội giới để tỉnh thức thường xuyên ngự trị. Đến đi tự tại thong dong ở trần gian nhưng không vướng lụy, sống ở đời nhưng an ổn thân tâm không dính bụi nhiễm ô, rong chơi trên muôn vạn nẻo luân hồi hỗn độn mà không chùn bước. Một sự vượt thoát an nhiên trên từng hiện hữu, lối về tự tính phủ trùm lên tất cả, chân tâm lắng đọng tròn đầy.

 

Trong sách Khóa Hư Lục, một tác phẩm vô cùng giá trị của nền văn học Việt NamPhật Giáo. Ngài ghi lại sở đắc của mình qua bút pháp cao siêu, thể hiện nội tâm giác ngộ không cùng vô tận, không vướng vào văn tự chữ nghĩa, chứa đầy sự giải thoát an nhiên. “Khi nói phải biết rằng như gió thổi tùng reo, khi im phải biết rằng như hồ trong soi chiếu, khi đi phải biết rằng như gió thổi mây trôi, khi đứng phải biết rằng như núi yên non vững. Lối nói nào cũng nằm trong kế hoạch linh hoạt của Thích Ca, câu nào cất lên cũng phù hợp với gia phong Sơ Tổ. Buông đi thì tám chữ mở toang, nắm lại thì nhất môn tuyệt đỉnh. Hàng ma quỷ sẽ trở thành lâu đài Di Lặc, núi Hắc sơn sẽ chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền, đâu đâu cũng là đài quang minh tạng, căn cơ nào cũng là bất đại nhị pháp môn. Ngại gì ánh sáng đến khi bóng tối đi, quản chi đến mây che thì trăng hết tỏ. Ngọc minh châu nằm lòng bàn tay xanh thì chiếu sắc xanh, vàng thì ánh sắc vàng. Gương cổ đựng trên đài, hồ thì hiến hồ, hán thì hiến hán đâu cần nhìn đến huyển thể. Vì đâu đâu cũng là pháp thân, khỏi nhọc đỉnh đầu phóng hào quang, vốn sẵn đã có sáu thần thông diệu dụng. Cung điện ma vương đảo lộn, tâm cang ngoại đạo lật bày, biến trái đất làm vàng ròng cho quốc gia, đãi nhân thiên lấy sông dài làm sữa ngọt, chuyển pháp luân thường trực trong lỗ mũi, hóa bảo tháp hiện thực dưới lông mi. Trên sóng nước thiếu nữ bằng đá múa khúc Bà Sa, trong mây bạc nhạc công người gỗ thổi sáo bài ca lưu khách. Khi gặp vũ trường liền diễn xuất, lúc thấy chỗ tốt liền nghĩ ngơi, hoặc đưa tay tìm đất, hoặc quay về sơn dã. Khi biếng nhác thì theo chân đám mây ngự trên tảng đá, lúc hưng trí thì vinh nguyệt triều phong, ung du nơi tửu tứ trà phòng, tiếu ngạo nơi đường hoa liễu bá. Hoa vàng rỡ rỡ không đâu là không tâm bát nhã, tre tím xanh xanh không đâu là không lý chân như. Nhổ cỏ dại hiện bản lai diện mục con đường mòn cắt đứt nẻo tử sinh. Hồi đầu cởi ngựa sắt mã về, xỏ mũi trâu bùn đi bước một. Không lấy một pháp trong vạn pháp làm bạn thì đâu còn sở đắc nào, Phật cũng không tâm cũng không, chân cũng đúng mà giả cũng đúng. Ngoài cửa tam yếu dù hét ”nhị” cũng là “tam”, đầu đường thập tự có hô “cửu” cũng là “thập”. Lấy sáo không lỗ tấu khúc vô sinh, dùng đàn không giây gảy bài khoái hoạt. Ai mà không phải tri âm đâu đâu lại chẳng là bè bạn? Một con đường hướng thượng ấy làm sao ta hiểu được? Hãy nghe kỷ nghe kỷ, ai mà lọt được thiền ngữ ấy thì tái ba chiếc đặc. Nếu chẳng nghe lọt được thiền ngữ ấy há lại bỏ đi hay sao? Bởi vì nơi nào cũng có cây dương xanh có thể bước ngựa, nhà nào cũng có con đường dẫn về kinh đô. Đường về dưới nguyệt ít ai đến, một ánh trăng khuya lánh khắp miền”.

 

Tư tưởng thiền học của Trần Thái Tông đã đạt đến mức cùng tuyệt thâm sâu diệu vợi, nội tâm giác ngộ vững chắc như kim cương phá thủng hiện vật mà không hề hấn. Nhà thiền học uyên thâm bác học, một con người siêu việt, một nhân cách cao tột, một trí tuệ siêu thoát, soi sáng sinh mệnh và ý mệnh của dân tộc và đạo pháp từ ngàn xưa đến tận hôm nay.

 

b, Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291) vị thiền sư cư sĩ siêu việt

 

Nhờ sự ảnh hưởng và những đóng góp to lớn của Trần Thái TôngTuệ Trung Thượng Sĩthiền học đời Trần có được khuôn mặt mới. Đồng thời với việc kết hợp dung hòa cả ba thiền phái làm một, tạo nên thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang đậm sắc thái đặc thù của dân tộc Việt. Thiền phái này còn có rất nhiều những vị Thiền Sư đã có những cống hiến vô cùng lớn lao và giá trị cho nền văn hóa, văn học, thi ca của Việt NamPhật Giáo.

Tuệ Trung Thượng Sĩ được kể như một vị thiền sư cư sĩ đặc biệt với một phong thái siêu việt độc đáo, sống giữa trần gian trong sự tự do phóng khoáng nhưng không hề bị lệ thuộc. Sự tự do tuyệt diệu nơi Ngài có được là vượt ra ngoài định mức phán đoán của tự do. Ở đó duy nhất còn lại kẻ đứng chơ vơ hiên ngang giữa đất trời lồng lộng, cất lên lời thiền ca chấn động càn khôn, phá tan mê mờ lầm chấp, xóa tan lạnh lùng băng giá. Lối nói pháp của Ngài khiến người nghe kinh hồn khiếp đảm, không gì có thể đo lường ngăn ngại được tâm tư vĩ đại của Tuệ Trung, người đã đi vào trần gian bằng tâm năng cao siêu thực chứng, người dạo chơi khắp nẻo tử sinh luân hồi hỗn độn nhưng chưa một lần lo sợ run rẩy.

 

Tuệ Trung Thượng Sĩđệ tử của thiền sư Tiêu Diêu, mà thiền sư Tiêu Diêu lại là học trò đắc pháp với thiền sư cư sĩ nổi tiếng đó là Ứng Thuận. Trong số những vị đắc pháp với Ứng Thuận còn có quốc sư Nhất Tông, thiền sư Giới Minh, Giới Viên”. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

 

cư sĩ hay tu sĩ, tùy tục hay không tùy tục, làm giống như con người hay khác, đâu đó đều xóa nhòa mất dấu không thể tồn tại với năng lực tuệ giác vô cùng của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tất cả chỉ là diệu dụng tùy nghi, ngôn ngữ của Ngài là “bày đặt” nhằm đối trị lại cái tâm năng động so sánh, phân biệt, phiền não chất chứa trong ta. Tuệ Trung phá tan hoang san bằng ngã chấp pháp chấp, những bám víu vào quan niệm tư tưởng, bằng cách đánh lạc hướng đẩy ta bung ngoài muôn trượng chơi vơi, không còn chỗ để nương náu trụ bám. Chính nhờ vào tấm lòng từ bi, trí tuệ và hùng lực, một cách vi diệu thâm sâu như thế, khiến ta từng bước thoát ra ngoài biên kiến nhị nguyên, phá vỡ giai tầng nắm giữ đi lại biến động của tâm thức. Tự mình quật tung bản thể chân như hằng hữu, thấy được pháp thân thường trụ soi tỏ. Cuộc đối thoại dưới đây còn cho ta thấy rõ ràng phương pháp đối trị của ngài:

 

- Một vị tăng hỏi: Thế nào là pháp thân trong sạch?

- Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp:

Ra vào đống phân ngựa

Nghiêng tầm vũng nước trâu”.

- Vị tăng hỏi: Làm sao mà chứng nhập được?

- Ngài đáp:

Bỏ được những khái niệm về dơ bẩn thì tự khắc đó chính là pháp thân trong sạch”.

- Ngài bèn nói bài kệ sau đây:

Dơ sạch là tên suông

Xưa nay chưa hề có

Pháp thân không giới hạn

Có dơ sạch bao giờ”.

(Bản lai vô cấu tịnh

Cấu tịnh tổng hư danh

Pháp thânquái ngại

Hà trược phục hà thanh?)

 

Hình ảnh của pháp thân thanh tịnh ta luôn ước ao trân quý, và đó cũng là một dạng cảm tính ưa thích tìm cầu thường xuyên xuất hiện trong ta. Nhưng lại được Tuệ Trung Thượng Sĩ, đưa ngay vào hình ảnh của sạch dơ, phân ngựa và vũng nước. Thông thường tâm của ta ham ưa những gì sạch sẽ thơm tho, đắm say những gì dễ nhìn dễ mến, ghét những gì không thuận tai, nghịch lại tâm ý. Sống với bản năng mãi chạy theo tâm cảnh, thường xuyên nhập nhằng lẫn lộn bỏ quên lơ là, vì thế không phăng ra được đâu là đầu mối đâu nguồn cơn đích thực.

 

Lối nói pháp của Tuệ Trung Thượng Sĩ, còn lật ngược làm ngược đi ngược lại tâm lýquan niệm thông thường ở trong ta, lối nói này mới nghe qua thì rất ư khủng khiếp khó nghe và khó tiếp nhận. Nhưng cũng chính từ cung cách đó lại biểu lộ tấm lòng từ bi cao cả, chứa đựng hùng lực sâu dày của ngài, đoạn trừ phá tan chặt phăng mạnh tay gạt bỏ tất cả, những khái niệm bám chặt những chấp trước vào danh lý ngôn ngữ tâm pháp. Lối nói pháp của Ngài phủ định sự có mặt của ngữ ngôn, biến thành năng lượng biểu thị rõ ràng minh bạch. Cũng chính nhờ vào nguồn tuệ giác vô biên không cùng vô tận nơi Ngài đến chỗ cao sâu tâm ý rốt ráo, không vướng mắc thoát ra ngoài ngôn từ ý niệm. Ngữ ngôn được ngài lật trái đẩy vào trong tận cùng của hố thẳm, trực diện thẳng thừng với những gì gọi là thanh cao sạch sẽ, nhưng lại biến dạng ngầm chứa danh lý suông. Rõ ràng, Tuệ Trung Thượng Sĩ còn ném mạnh hất tung đuổi cùng diệt tận gốc rễ những giả dối lầm tưởng những bám víu chấp chặt. Vì đó là những trở ngại sở tri làm lũng đoạn nội tâm tăng trưởng mê mờ vô minh không tạo cơ hội để cho trí tuệ phát sinh.

 

Có lần em gái ngài là Hoàng Hậu Thiên Cẩm, một hôm đãi tiệc mời Ngài tham dự, trên bàn có đầy đủ thịt cá chay mặn. Khi gặp thịt cá ngài cũng không từ, tự nhiên gắp ăn, thấy thế Hoàng Hậu ngạc nhiên hỏi: “Anh tu thiềnăn thịt ăn cá thì làm sao thành Phật được”? Ngài cười đáp: “Phật là Phật, anh là anh. Anh chả cần làm Phật, Phật chả cần làm anh. Em chẳng nghe cổ đức nói “Văn Thù là Văn Thù, giải thoátgiải thoát đó sao”?

 

Thoạt đầu, mới nghe qua ta đành chào thua cách trả lời của ngài, như là sự ngụy biện, bướng bỉnh làm sao ấy? Hay đây là tính cách quyền biến diệu dụng mà ngài nhắm tới mục đích và tiêu điểm rõ ràng, hoặc bản chất của con người tự tại vượt thoát trong ngài vốn dĩ như thế không hề câu nệ chấp trước? Cho đến khi ta nghĩ suy chín chắn, thì rõ ràng ngài có chủ ýmục đích khai thị nhằm phá vỡ và ngăn chặn những ai muốn tìm lý giải trong kinh điển, bám víu chấp chặt. Chỉ sống với những kiến thức được gặt hái từ giáo điều kinh viện, rồi huênh hoang tự đắc la lối cho rằng đã chứng đã ngộ. Mặt khác ngài còn đạp đổ những định kiến luận kiến chủ quan, ta thường dựa vào đó y cứ vào đó để phán xét thẩm định. Việc ăn chay hay mặn, tùy vào quan niệmmục đích của mỗi chúng ta, thông thường thể hiện lòng từ bi đối với sinh vật, ta không nỡ giết hại, cướp đi mạng sống của chúng, để bồi bổ cho tấm thân tứ đại của mình. Nhưng mặt khác rất ư quan trọng nhưng ta thường bỏ sót, đó là tâm từ của ta có sẵn sàng ban trải khắp cùng cho và vì chúng sinh hay không, và ta có thường xuyên nuôi dưỡng lòng từ bi trong ta cho thật lớn mạnh? Đó mới là những giá trị cốt lõi, chứ không phải chỉ có mỗi một việc ăn chay hay mặn mà thôi.

 

Hình tướng, tướng trạng chỉ là lớp vỏ bên ngoài, nhiều khi thấy vậy nhưng không phải như vậy, nếu họ cố tình ngụy trang bao bọc khéo léo thì rất dễ đánh lừa người đối diện. Cũng như giá trị đích thật của việc giữ giới, đâu phải chỉ có gìn giữ ở bên ngoài, còn gọi là tướng giới mà là gìn giữ nơi nội tâm hay còn gọi là tánh giới mới là chính yếu. Tuy vậy, điều đó chỉ thật sự có ý nghĩa đối với những kẻ đã sống trọn vẹn trong sự giác ngộ, và ngược lại sẽ là điều vô cùng nguy hiểm cho những ai chỉ đề cập giác ngộ bằng ngôn từ lý thuyết suông.

 

Đi vào tư tưởng của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ, cần nhất phải gạt bỏ mọi lầm chấp thủ đắc, nội tâm rộng mở thênh thang không vướng bận nhẹ nhàng thanh thản, thì may ra mới cảm nhận được những pháp ngữ thâm sâu tinh túy mà ngài truyền trao mở lối. Từ đó liên tục chiêm nghiệm tư duy, quật khởi nội tâm phăng ra cội nguồn hiển bày tuệ giác. Nguồn cơn từ sự xác quyết đó, vốn không nằm nơi tâm ý thường tình hay trong kho tàng suy luận đơn phương của kẻ chưa từng thể nghiệm, nhưng một khi tựu thành từ sự cách mạng triệt để, phá vỡ thuộc tính của từng đối thể thì may ra phần nào ta mới chạm đến được. Và rằng, tất cả điều đó cũng chưa quan trọng, điều trọng yếu ở đây là sẽ không bao giờ tìm được giá trị đích thật của những giá trịcon người thường quan niệm. Chỉ có sự tra vấn mãnh liệt, sự đào bới trong tận cùng tư duy, sự quán chiếu miên mật trong không cùng vô tận, sự tựu nên thường sáng tỏ trong mỗi tâm thức. Từ đó đưa ta đến những cánh cửa mầu nhiệm linh hiện khác, cánh cửa không môn không lối không ngần mé biên độ, nhưng lại rộng mở thênh thang dung chứa cả sơn hà đại địa.

 

Bài thi kệ của Tuệ Trung Thượng Sĩ dưới đây, còn cho ta thấy rõ nét hơn những chuyển động của tâm ý, cho dù có vi tế đến đâu cũng được Ngài đặt lại một cách linh động vượt thoát.

Thân từ vô tướng vốn là không

Huyễn hóa phân ra thành nhị kiến

Ta, người như móc cũng như sương

Phàm, thánh như sấm cũng như chớp

Công danh, phú quý, mây bồng bềnh

Năm tháng, đời người, tên bay biến

Ghét, yêu, như mắt lóe tia sao

Khác nào bỏ bột tìm bánh bao

Mày ngang mũi dọc đều như nhau

Phật cùng chúng sanh không sai khác.

Ai là phàm chừ ai là thánh?

Muôn kiếp sưu tầm mất căn tính

Không tâm không thị cũng không phi

Không kiến chẳng tà cũng chẳng chánh”

 

Tuy vậy, điều ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nhắm đến vẫn không nằm ở đó, và không nằm ở bất cứ nơi đâu, từ tâm năng ý động hay ngữ ngôn. Muốn đến gần bắt nhịp, ta phải gạt bỏ mọi lầm chấp của tâm pháp, quán chiếu tư duy rõ ràng, nhập vào cội nguồn uyên nguyên bản thể vi diệu. Bởi trí tuệ của Tuệ Trung bay bỗng trên chín từng mây thoát ra ngoài suy tư luận bàn của nhân thế. Vì thế, những gì ngài khơi mở, hẳn chắc không nằm trong khuôn mẫu tỷ giảo sắc pháp tâm pháp, lý lẽ đo lường của ý thức năng động, dù đó là sự tra vấn nổ tung ở biên giới mê ngộ, chánh tà phàm thánh giai bậc. Tất cả như dòng thác lũ đổ ào cuốn phăng hất trọn, càn quét triệt tiêu cặn bã tàn dư, những toan tính lầm lẫn, xoáy thẳng vào tận cùng tâm thức vực dậy thể tánh chân như soi tỏ càn khôn.

 

Tâm cảnh ta chung sống thường xuyên biến động nổi trôi, ngôn ngữ ta thường sử dụng phần nhiều để kêu gào mời gọi thúc đẩy xúi giục, nó lạnh lùng đơn độc, giống như tảng băng trôi lững lờ giữa dòng nước, chỉ chứa một điều duy nhất đó là tái tê buốt giá trong sự bí lối cùng quẫn. Điều này càng tố giác nỗi lo sợ, hãi hùng thay nhau phủ ngập đày đọa, trong thế giới bao la của kiếp sống vốn chứa đầy tranh giành chiếm đoạt hệ luỵ khổ đau. Sự sống đích thật và có ý nghĩa, là ta quyết không tạo nên bãi chiến trường để phân chia nắm giữ tước đoạt, dù đó là điều chỉ nằm trong tâm ý, trong lằn ranh biên giới của mê ngộ thánh phàm. Muốn không có hệ lụy đột chứng xuất huyết nào, thì đừng bao giờ giả lập dựng nên tổng thể rồi biến thành tiêu điểm để ta luôn phiên xạ kích, hoặc toan tính tìm cách này cách nọ để tiêu diệt thanh toán hơn thua lẫn nhau. Tuệ Trung Thượng Sĩ san bằng ủi sập đốn nhào tất cả dù ngay chính cái ý niệm dùng để san bằng vẫn là điều phủ quyết trong ngài. Những pháp ngữ của Tuệ Trung phô bày lồng lộng, không còn là ngữ ngôn thông tục mà nó trở thành biểu tính đồng nhất đập thẳng dội mạnh vào nội tâm, mở ra cánh cửa mầu nhiệm sẵn có trong mỗi chúng ta.

 

Vấn đề là ở ta có bắt kịp đúng lúc đúng thời, tạo thắng duyên cơ hội tốt lành để cho dòng tuệ giác len lỏi đi vào phát huy hay không? Cơ hội để mở ra đạt được vẫn còn là điều bí mật phủ trùm như những ẩn ngữ tàng chứa trong từng khai thị của Tuệ Trung. Lắm lúc pháp ngữ ấy còn là mũi tên cực độc đẩy vào tâm thức của kẻ đối diện, hoặc kẻ ấy may mắn thoát ra ngoài tử sinh trong đường tơ kẽ tóc, hoặc kẻ ấy mãi không nhận diện trầm luân vạn nẻo. “Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh, Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt”. Trong sự khủng hoảng mờ mịt của sống chết tử sinh, không còn là vấn đề lo toan trăn trở một khi ta nhận chân ra được sự vi diệu trong ý nghĩa tái sinh một cách tuyệt vời của giác ngộ. Hoặc kẻ ấy chỉ biết quờ quạng kêu gào la khóc khi độc tố đang từ từ dẫn vào tim, kết thúc một đời chìm đắm trong mộng mị. Trong sự dật dờ nửa say nửa tỉnh nghìn trùng lạc lối, vẫn chưa trông thấy đâu là khuôn mặt đích thực của chính mình, thì những pháp ngữ thinh âm của Tuệ Trung Thượng Sĩ vẫn nhắn gởi chỉ bày tỏa hương soi lối.

 

Khúc Ca Phật Tâm

Phật ! Phật !Phật ! không thể thấy !

Tâm ! Tâm ! Tâm ! không thể nói !

Khi tâm sanh tức là Phật sanh

Bằng Phật diệt là lúc tâm diệt.

Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu

Diệt Phật còn tâm bao giờ hết.

Tâm ! Tâm ! Tâm ! không thể nói !

Khi tâm sanh tức là Phật sanh

Bằng Phật diệt là lúc tâm diệt.

Diệt tâm còn Phật chuyện không đâu

Diệt Phật còn tâm bao giờ hết.

Muốn biết tâm Phật, tâm sanh diệt

Hãy chờ Di-lặc sau sẽ quyết.

Xưa không tâm, nay không Phật,

Phàm Thánh trời người như điện phất.

Tâm thể không thị cũng không phi,

Phật tánh chẳng hư cũng chẳng thực.

Bỗng dưng khởi, bỗng dưng dừng,

Xưa nay qua lại luống lẩn quẩn.

Há chỉ chôn vùi nếp tổ tông,

Lại khiến yêu ma vào nhà lộng.

Muốn cầu tâm, chớ tìm ngoài,

Bản thể như nhiên vốn không tịch.

Niết-bàn sanh tử buộc ràng suông,

Phiền não bồ-đề hư giả nghịch.

Tâm tức Phật, Phật tức tâm,

Linh diệu chiếu cùng kim cổ thông.

Xuân đến, tự hoa xuân mỉm miệng,

Thu về, đâu chẳng nước thu trong.

Bỏ vọng tâm, giữ chân tánh,

Khác nào tìm ảnh mà quên kính.

Nào hay ảnh vốn tự gương ra,

Chẳng biết vọng do từ chân hiện.

Vọng lên chẳng thực cũng chẳng hư,

Gương nhận không tà cũng không chính.

Vẫn không tội, vẫn không phúc,

Lầm sánh ma-ni cùng bạch ngọc.

Ngọc có vết chừ châu có tỳ,

Tánh vốn không hồng cũng không lục.

Cũng không được, cũng không mất,

Bốn mươi chín ấy là thất thất.

Sáu độ muôn hạnh: biển sóng trào,

Ba độc chín tình: giữa không nhật.

Lặng ! lặng ! lặng ! Chìm ! chìm ! chìm !

Tâm của muôn loài tức Phật tâm.

Phật tâm bèn với tâm ta hiệp,

Pháp vốn như nhiên suốt cổ kim.

Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,

Giữa lò lửa rực một cành sen.

Ý khí mất đi thêm ý khí,

Được an tiện đấy cứ an tiện.

Chao ! chao ! chao ! Ối ! ối ! ối !

Bọt trong biển cả uổng chìm nổi.

Các hạnh vô thường thảy thảy không,

Linh cốt tiên sư tầm đâu tá!

Thức thức tỉnh ! Tỉnh tỉnh thức !

Dẫm đất bốn bề chớ lệch nghiêng.

Ai có như lời tin được vậy,

Đạp đảnh Tỳ-lô bước bước lên.

Hát” !

Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục

 

Con ngườipháp ngữ của ngài Tuệ Trung quả thật cao thâm sâu lắng, phong kín tất cả mọi kẻ hở tác tạo, những tưởng chừng dọ dẫm để tìm một chút hy vọng tô bồi vun vén cho tư duy ý niệm lại càng lạc lối hơn, vốn khởi đi từ những xô đẩy mê hoặc nào đó của ý thức. Vì thế tìm đến tư tưởng của Tuệ Trung Thượng Sĩ là ngưng ngay tất cả mọi ý niệm, bặt hết mọi nắm bắt toan tính, chấm dứt mọi nghĩ suy truy tìm một điều gì. Cứ thế nhẹ nhàng thong thả, những tương quan phổ cập cứ vậy len lõi vào tận cùng huyết quản, đập thẳng dội mạnh vào thức giác bùng lên ngọn lửa thiêu rụi đốt tan tất cả. Nếu không thì chẳng bao giờ tìm thấy tinh túy cốt lõi phủ trùm trong đống tro tàn đang bị cơn lốc cuồng phong cuốn hút vào lặng thinh.

 

Tác phẩm của Tuệ Trung Thượng Sĩ

1. Thượng Sĩ Ngữ Lục

Tuệ Trung Thượng Sĩ vẫn mãi là biểu tượng tuyệt vời cao cả, không phải trong tư duy, không hẳn trong ngữ ngôn, không chỉ trong giác ngộ, mà còn là một vừng đông sáng lạng huy hoàng, xô đẩy những hắc ám tối tăm đang phủ ngập quanh ta. Khi nào sự tác động trong ta chín muồi vượt ra ngoài thể lực cọ xát ở những tương quan, ta mới có cơ may để ánh sáng ấy dội vào đánh động. Cung cách nào để đạt được, điều đó không chỉ có trong từng pháp ngữ của Tuệ Trung mà hẳn chắc nằm ở nơi tâm năng ý lực tinh chuyên của chính ta, nơi những hưng động dù là thánh phàm giai bậc. Làm sao để vén nó lên, hỡi mộng mị hỡi thánh phàm tử sinh?

 

3. Bảng liệt kê thế hệ truyền thừa Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử

 

- Thiền sư Hiện Quang chính là Tổ khai sơn chùa Hoa Yên núi Yên Tử.

- Tổ thứ hai của thiền phái Yên TửThiền sư Trúc Lâm, người mà vua Trần Thái Tông đã từ bỏ ngai vàng để xin xuất gia làm đệ tử. Sau này được tôn làm quốc sư.

- Tổ thứ ba là Thiền sư Đại Đăng, anh em đồng sư với vua Trần Thái Tông, từng được phong làm quốc sư.

- Tổ thứ tư là Thiền sư Tiêu Diêu thầy của Tuệ Trung Thượng Sĩ, một trong những cây đuốc sáng rực của nền thiền học Việt Nam

- Tổ thứ năm là Thiền sư Huệ Tuệ bạn đồng sư với Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Nhân Tông đắc pháp với Tuệ Trung và là người thừa kế của Thiền sư Huệ Tuệ tiếp nối tổ thứ sáu của thiền phái Yên Tử.

- Từ khi Nhân Tông xuất gia vào năm 1299 tại chùa Hoa Yên, tính theo thừa pháp thì ngài chính là Tổ đời thứ sáu.

(Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận).

4. Những Vị Vua Đi Xuất Gia

 

Theo một vài sử liệu ghi lại, ta thấy ít nhất có ba vị vua đã từng đi xuất gia. Còn nếu nói ở chùa làm chú tiểu sau đó làm vua, sáng lập ra nhà Lý thì có Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) (974 – 1208) được Thiền Sư Vạn Hạnh nuôi dưỡngđào tạo. Còn làm vua rồi mới đi xuất gia nhà Lý có: Lý Huệ Tông, pháp hiệu Huệ Quang Đại Sư, đời nhà Trần có vua Trần Thánh Tông, đạo hiệu Vô Nhị Thượng Nhân, Trần Nhân Tông, còn có ngoại hiệu Trúc Lâm Đại Sĩ, Hương Vân Đại Đầu Đà.

a, Lý Huệ Tông (1194 – 1226)

 

Vị vua thứ nhất đi xuất gia, đó là Lý Huệ Tông hoàng đế thứ tám của nhà Lý. Năm 1216 Trần Thị Dung được phong làm Hoàng Hậu, những việc quan trọng lớn nhỏ trong triều đều rơi vào tay họ Trần. Từ chính sự đến mọi việc trong triều vua đều giao phó cho Trần Tự Khánh, sau khi Tự Khánh mất quyền lực lại rơi vào tay em họ là Trần Thủ Độ, vua phong cho Trần Thủ Độ giữ chức Điện Tiền Chỉ Huy Sứ. Về sau dưới sức ép của Trần Thủ Độ nhà vua chính thức nhường ngôi lại cho con gái là công chúa Chiêu Thánh tức Lý Chiêu Hoàng mới có tám tuổi. Lý Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng và đi tu ở chùa Bát Tháp với pháp danh Huệ Quang Đại Sư. Không lâu sau Trần Thủ Độ sắp xếp để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh, nhà Lý mất về tay nhà Trần từ đó. Sau khi nhà vua xuất gia được hai năm, để lòng dân không còn tơ tưởng nhớ nghĩ đến nhà Lý, một hôm Trần Thủ Độ đi ngang qua chùa Chân Giáo, thấy Huệ Quang đang ngồi nhổ cỏ,

Trần Thủ Độ nói: “Nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc”.

Huệ Tông nói: “Điều ngươi nói ta hiểu rồi”.

Sau đó ngài tự tử ở sau vườn, thọ 33 tuổi, ở ngôi vua được 14 năm, xuất gia được 2 năm.

 

b, Trần Thánh Tông (1240 – 1290)

 

Vị vua thứ nhì Trần Thánh Tông, theo Thánh Đăng Ngữ Lục, Thượng Hoàng về cuối đời đã đi tu tại chùa Tư Phúc, dưới sự hướng dẫn của Quốc sư Đại Đăng. Ngài lấy đạo hiệu Vô Nhị Thượng Nhân. Phần nhiều ngài dành thời gian cho việc viết sách và đàm đạo với các nhà thiền học. Một trong những vị thiền sư được ngài kính trọng đó là Tuệ Trung Thượng Sĩ, tức Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, anh của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Trong sách Thượng Sĩ Ngữ Lục do ngài Trần Nhân Tông biên soạn có thuật lại cuộc đàm đạo như sau: “Nhà vua làm lễ trai tăng ở trong cung, nhân khi Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm qua đời. Trong lễ khai đường, vua thỉnh những vị danh đức từ các nơi về dự lễ, theo thứ lớp mỗi vị thuật bài kệ ngắn để trình kiến giải, sở đắc tu tập của mình. Phần nhiều những kiến giải trình lên vua chưa có chỗ tỏ ngộ, Nhà vua bèn lấy quyển tập đưa cho Thượng Sĩ, Thượng Sĩ cầm lấy và viết một mạch bài kiến giải như sau:

Kiến giải trình kiến giải,

Tợ ấn mắt làm quái.

Ấn mắt làm quái rồi,

Rõ ràng thường tự tại.”

Vua đọc xong, cầm bút phê tiếp như sau:

Rõ ràng thường tự tại,

Cũng ấn mắt làm quái.

Thấy quái chẳng thấy quái,

Quái ấy ắt tự hoại.”

Thượng Sĩ đọc, thầm nhận đó”.

 

Trong sách Thánh Đăng Ngữ Lục, còn ghi lại một vài thư từ trao đổi với Tuệ Trung Thượng Sĩ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời ngài Trần Thánh Tông, Vô Nhị Thượng Nhân.

Vua bệnh Thượng Sĩ gửi thơ đến thăm, vua viết vào trang cuối đáp lại:

Hơi nóng hừng hực mồ hôi đẫm,

Chiếc khố mẹ sanh vẫn ráo khô.

(Viêm viêm thử khí hãn thông thân,

Hà tằng hoán đắc nương sanh khố?)

Đến khi bệnh tình nặng thêm, vua thường lấy ngón tay gõ vào chiếc gối như có sở đắc điều gì. Lát sau vua đòi đưa giấy bút viết bài kệ:

Sinh như mặc áo

Chết tợ cởi trần

Từ xưa đến nay

Không đường nào khác”.

(Sanh như trước sam

Tử như thoát khố

Tự cổ cập kim

Cánh vô dị lộ).

Liền hét, nói: “Chữ bát mở toang đà trao phó, còn đâu việc nữa đáng trình anh”. Vua đuổi hết kẻ hầu người hạ, chỉ để một mình ngài Nhân Tông đứng hầu một bên, ngài Nhân Tông thưa: Bệ hạ còn nhớ lời của ngài Vĩnh Gia chăng?

Rành rành thấy, không một vật

Cũng không người chừ cũng không Phật.

Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp...

Dẫu cho vòng sắt trên đầu chuyển

Định tuệ sánh tròn vẫn không mất”.

Vua nghe xong, bất chợt cười lên rồi gõ chiếc gối tụng:

Rành rành thấy, không một vật

Cũng không người chừ cũng không Phật

Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp”.

Xong, ngay chiều hôm đó, sấm gió nổi dậy, thấy một vầng sáng tròn rọi nơi bức vách ngăn, vua băng hà hưởng thọ 51 tuổi, nhằm ngày 22 tháng 5 năm Canh Dần (1290).”

 

Những tác phẩm về thơ văn của Trần Thánh Tông gồm có:

 

1. Di Hậu Lục (Chép để lại cho đời sau)

2. Cơ Cầu Lục (Chép việc nối dõi nghiệp nhà)

3. Thiền Tông Liễu Ngộ (Bài ca giác ngộ Thiền Tông)

4. Phóng Ngưu (Thả trâu)

5. Chỉ Giá Minh (Bài minh về sự cung kính)

6. Trần Thánh Tông Thi Tập (Tập thơ Trần Thánh Tông)

7. Và một số thư từ ngoại giao, nhưng tất cả đều bị thất lạc, chỉ còn lại 7 bài thơ.

 

Tư tưởng thiền học của Trần Thánh Tông, Vô Nhị Thượng Nhân đạt đến chỗ vời vợi cao sâu, ngôn từ lại giản dị tự nhiên có thể đánh thức chơn tánh thường tại đang tiềm ẩn trong mỗi chúng ta. Ta đọc bài thơ dưới đây ghi lại sở đắc của Ngài khi đọc Đại Huệ Ngữ Lục. Tác phẩm Đại Huệ Ngữ Lục, ghi lại những trao đổi của Thiền Sư Đại Huệ với các môn đồ. Đại Huệ Thiền Sư (1088 - 1163) người Trung Hoa đời thứ 12 phái thiền Lâm Tế, là một “Thiền sư triệt ngộ, phương tiện cơ xảo rất xuất sắc nổi tiếng từ lúc đương thời cho đến ngày nay. Các bậc sĩ phu quan lại triều đình thừa tướng, thượng thư...đều quy y học thiền với ngài và có nhiều người đã được chứng ngộ”.

Cảm Xúc Khi Đọc Đại Huệ Ngữ Lục

1

Đập ngói dùi rùa ba chục niên,

Mồ hôi ướt đẫm bởi tham thiền

Một mai nhìn thấu dung nhan mẹ

Mới biết khuôn trăng khuyết một bên.

2

Mắt tai nào có sắc cùng thanh

Chỉ một tâm kia tự đúc thành

Môi lưỡi bỏ ngoài thanh với sắc

Mặc người “bác báo” với “đô đinh”.

Phạm Tú Châu dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 trang 406

1

(Đả ngõa toàn quy tam thập niên

Kỷ hồi hãn xuất vị tham thiền

Nhất tiêu thức phá nương sanh diên

Tỵ khổng nguyên lai một bán biên).

2

(Nhãn tiền vô sắc nhĩ vô thanh

Nhất phiến tâm đầu tự đả thành

Thanh sắc bất can thành thiệt ngoại

Nhậm tha bác báo dữ đô đinh).

 

Những thiền ngữ như “Đập ngói dùi rùa” (Đả ngõa toàn quy) rất thịnh hành vào thời Lý, Trần, có lẽ nhằm chỉ cho những việc làm khổ công và sự nỗ lực của người học đạo. Và còn có nghĩa khác chỉ cho việc tùy tiện máy móc sự hoài công vô ích. Cho dù có mang một ý nghĩa nào đi nữa, thì đây cũng chính là sự nhắc nhở cảnh tỉnh cho chúng ta, không khéo lại đi sai đường lạc lối, tốn thời gian công sức nhưng chẳng đem lại kết quả như ý. Không phải cứ hễ tu tập là đi đến nơi đến chốn, không phải cứ việc hành thiền là đạt được giác ngộ, và càng không phải sự dụng công nào cũng mang lại kết quả hoặc khi gõ cửa lập tức cửa sẽ mở. Điều quan trọng ở chỗ, ta phải biết cách dụng công nhận chân ra được cội nguồn của vấn đề, phải biết cách khai mở năng lực nội tại. Ngay việc gõ cửa cũng vậy, cánh cửa để đi vào thể tánh giác ngộ ở đâu ra làm sao mặt mũi như thế nào, và cánh cửa ấy có là cánh cửa hay một sự ẩn dụ nào đó? Bởi cửa thiền còn gọi “vô môn quan”, cánh cửa không “không môn”, không phải ta gõ ầm ầm vào thì cửa sẽ mở, hoặc ta kêu gào mỏi miệng hụt hơi khóc lóc thảm thiết là cửa ấy sẽ tự động mở ra. Cánh cửa đó, vì là cánh cửa không môn không lối để vào, nếu không đi vào bằng tất cả tâm thành đem tất cả nghị lực dũng khí bình sanh, sự đương đầu trực nhận vượt thắng nội tại. Cánh cửa giải thoát chỉ mở ra khi ta có được sự dụng công tinh cần rốt ráo tròn đầy. “Một mai nhìn thấu dung nhan mẹtự tánh chân như, khuyết hay tròn bí hiểm hay vô nghĩa, chỉ có chính ta mới cảm nhận trọn vẹn được nguồn cơn, chỉ có chính ta mới đủ thẩm quyền quyết định ranh giới của mê ngộ, chỉ có chính ta mới lĩnh hội được gia phong cốt yếu của Thiền, chỉ có chính ta mới biết rõ ràngnhìn thấu” khuôn mặt thật sự đó ra làm sao.

 

Bài thơ: Cảm Xúc Khi Đọc Phật Sự Đại Minh Lục

Bốn mươi năm lẻ một tâm thành

Cửa khổ muôn trùng, vượt nhẹ tênh

Động tựa hang không gào gió táp

Tĩnh như đầm lặng rọi trăng thanh

Năm huyền nghĩa lý gồm thâu được

Bốn ngả dọc ngang mặc sức mình

Ai kẻ hỏi ta sinh với diệt

Mây trên trời biếc, nước trong bình”.

Hải Thạch dịch, Thơ Văn Lý Trần, tập 2 quyển Thượng

(Tứ thập dư niên nhất phiến thành

Lao quan khiêu xuất vạn trùng quynh

Động như không cốc phong xao hưởng

Tĩnh nhược hàn đàm nguyệt lậu minh

Cú lý ngũ huyền thân thấu đắc

Lộ đầu thập tự nhậm tung hoành

Hữu nhân vấn ngã hà tiêu tức

Vân tại thanh thiên thủy tại bình).

 

Tác phong và ngôn ngữ đó, giải minh hiển lộ rất rõ ràng phong cách và truyền thống siêu việt của Thiền, sự lớn mạnh của nội lực giác ngộ trong Ngài xuyên thấu qua từng hiển hiện. Hơn bốn mươi năm ăn ngủ sống cùng với thiền, tỉnh thức giác ngộ huân tập dụng công miên mật. Con người đó tâm giác ngộ đó, luôn rạng ngời tỏa sáng tự tại thong dong trên mọi nẻo đi về “Cửa khổ muôn trùng, vượt nhẹ tênhChừng nào đến bao giờ ta mới được phần nào như ngài “Bốn ngả dọc ngang mặc sức mình”. Lời thơ tuyệt diệu tung bay, an nhiên nhẹ nhàng vượt thoát về nơi có không vô tận. Thuật ngữ “ngũ huyền” là năm điều vi diệu trong giáo lý Đạo Phật, còn gọi là năm kho báu của chân lý gồm có: Như Lai, Chánh pháp, Pháp thân, Xuất thế gian, Tự tánh thanh tịnh.

 

Những bài thơ Tự Thuật dưới đây, đậm đà sâu sắc hương vị giải thoát.

Thơ: Tự Thuật

Từ phen để chổm, nhập làng Thiền

Đập ngói dùi rùa dốc chí bền

Nhận được khuôn trăng như nó có

Đến đâu mà chẳng thấy hồn nhiên.

 

Gảy đàn không điệu trọn ngày nhàn

Cửa lặng, không còn việc phải toan

Khúc nhạc trong lòng, không kể hiểu

Hòa âm họa có gió thông ngàn.

 

Tung hoành không để rớt cơ mầu

Muôn pháp bời bời, thảy biết đâu

Ngủ đầy, chén no, tuỳ ý thích

Ngoài ra còn có việc gì đâu.

 

Búng tay phá đổ núi muôn trùng

Dường ấy công phu cũng nhẹ không

Lạnh đến, nóng qua không nhận biết

Mảy may chẳng bận đến thân ông.

 

Không thiếu không dư ở cõi lòng

Phật không, người cũng vẫn là không

Cảnh thu xa lắc, trời xa lắc

Mây khóa non xanh, mặc ruổi rong”.

Huệ Chi, Phạm Tú Châu dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 quyển Thượng

(Tự tòng quán giốc nhập thiền lưu

Đả ngõa toàn quy một ngoại cầu

Nhận đắc bản lai chân diện mục

Đáo đầu hà xứ bất hưu hưu.

 

Chung nhật nhàn đàn bất điệu cầm

Nhàn môn vô sự khả quan tâm

Cá trung khúc phá vô nhân hội

Duy hữu tùng phong họa thử âm.

 

Tung hoành bất đọa hữu vô

Vạn pháp phân phân tổng bất tri

Khiết phạn đả miên tuỳ xứ dụng

Cánh vô tha sự khả ưng vi.

 

Nhất đàn chỉ phá vạn tùng sơn

Giá cá công phu dã thị nhàn

Hàn thử đáo lai vô sở thức

Vị tằng phân thượng lão nhân can.

Cá trung vô khiếm diệc vô dư

Phật dã vô hề nhân dã vô

Thu cảnh viễn lai thiên ngoại viễn

Thanh sơn vân tỏa chủy Đô lô).

 

Những bài thơ Tự Thuật, ghi lại quá trình chiêm nghiệm tu tập thiền định và đó cũng chính là sự giác ngộ rộng lớn của ngài. Trần Thánh Tông còn dẫn ta đi vào thế giới tư tưởng thâm sâu qua một nội tâm thực chứng. Để có được những vần thơ thi kệ thông tuệ thanh thoát như thế, thì tâm giác ngộ trong Ngài ắt hẳn phải ẩn chứa năng lực sâu dày trải nghiệm tinh chuyên, đạt được cảnh giới không cùng. Quả thật như thế, một con người có được tuệ giác như vậy, là phải thường xuyên sống trọn vẹn trong sự tỉnh thức, phải được dưỡng nuôi hít thở từ nơi suối nguồn vi diệu của giải thoát, thì mới đến được chỗ tuệ lực sâu dày nhiệm mầu như thế, chứng tỏ trong ngài có đủ đầy năng lực vô biênBúng tay phá đổ núi muôn trùng”. Bình tâm tiến bước hát khúc hoan ca thõng tay vào chợ, đi đâu đến đâu mà chẳng tự tại, “Đến đâu mà chẳng thấy hồn nhiên”.

 

Bài kệ thị tịchSinh như mặc áo, chết tợ cởi trần” của ngài Trần Thánh Tông, còn mở ra phương trời thênh thang cao rộng. Ở đó Ngài trông thấy trọn vẹn được bản thể như thật đến đi của các pháp, nắm được chổ tinh yếu đầu nguồn, thường sống với bản giác thường hằng, nên tất cả đều bình thườngbình đẳng như nhau. Khi đối diện với phút giây sinh tử, khi phải rũ bỏ tất cả để ra đi, dù có bằng lòng chấp nhận hay lắc đầu trốn chạy thì đàng nào cũng phải ra đi, nhưng để được ra đi trong sự an ổn tự tại thì đó mới là nổ lực của sự tu tập vượt thắng. Cho dù vương quyền cao tột, gác tía lầu son, cung tần mỹ nữ, vợ đẹp con ngoan, giàu sang quyền thế, tiền của dư thừa hay một kẻ nghèo khó cơm không đủ ăn áo không đủ mặc, hoặc một sơn tăng giữa chốn núi rừng cô tịch, không có gì còn gì về không hoàn không. Chiếc cầu lữ thứ trong ta ai rồi cũng phải lần lượt bước qua, có gì để phải run sợ, còn gì nữa để cưu mang mất mát? Chặng đường sanh, lão, bệnh, tử có ai tránh khỏi, khi tấm thân tứ đại đến lúc phải trả về cho tứ đại có chừa một ai có ai thoát khỏi. Khi đối diện Ngài có được sự bình tâm thanh thản để nhận biết sự biến đổi của vô thường, tìm về trú ngụ nơi chân thường, đó là bước nhảy tâm linh cao tột, sự an lành đúng nghĩa giữa chốn biến động lao xao. Cuộc đời vốn đến đi thay đổi không ngừng, vô thường bất chợt ghé thăm không cần hẹn trước. Cũng giống như khi ta thay đổi chiếc áo, cởi ra mặc vào, sớm còn tối mất, sinh tử ly biệt, nó có mặt trong từng phút giây hít thở quanh quẩn thường xuyên bên ta, chỉ chờ dịp tác yêu tác quái, ta cần phải chuẩn bị thật tốt ngay từ bây giờ để có được sự tỉnh thức minh mẫn là điều cần thiết vậy.

 

Chỉ có những bậc giác ngộ, những hành giả tỉnh thức, mới nhận biết rõ ràng sống chết là điều tự nhiên, tất nhiên vốn dĩ như thế, chẳng có gì để phải bận tâm lo lắng. Không một ai và chưa một ai, đấng toàn năng tối cao nào, có thể thay đổi và làm khác đi được, chậm hay mau bao giờ và lúc nào nó xảy ra mà thôi. Hiểu rõ ràng như thế biết rốt ráo như vậy, không có cách nào phương nào tránh được, điều quan trọng ở chỗ ta sống ra sao như thế nào để khi nó đến không còn run rẩy lo sợ tiếc nuối? Ta phải làm sao để được an nhiên trong cõi vô thường biến động, không bị khổ đau luân phiên hành hạ tước đoạt, ta phải tu tập như thế nào để có đủ bình tâm dũng khían lạc để vượt qua hiên ngang đi tới? Chúng ta có mặt để rồi ra đi, nơi đây hay chốn nọ cũng chỉ là sự dừng chân thăm hỏi nghiệp lực dẫn đưa, hóa thân hay ứng thân cũng chỉ là chỗ tạm nương để hoàn thành sứ mạng giải thoát cao cả. Ta phải thường xuyên tâm niệm cuộc đời này là vô thường, mọi thứ rồi sẽ biến đổi hư hoại, thân ta là nơi tích tụ những tội lỗi, tâm ta chất chứa mầm mống khổ đau não phiền bất an. Vì thế muốn ra khỏi ngôi nhà lửa ngày đêm nung nấu ta phải tu tập tìm phương vượt thoát về cõi vô sanh bất diệt.

 

Một khi ta nhận chân ra được đâu là nguồn cội vấn đề, ý thức minh mẫn rõ ràng lẽ vô thường biến dịch, thì ta mới không tham đắm sợ hãi, ta mới đủ bình tâm dũng khí hoàn thành lý tưởng giải thoát. Điều cần nhất ta phải chuyển đổi những thói hư tật xấu, từ bỏ những bất thiện nhiễm ô, giữ gìn tích chứa những thiện lành cao đẹp. Tạo cơ hội để cho ánh sáng giác ngộ có dịp thức dậy, ngay từ bây giờ tại nơi đây chốn này, phải nỗ lực dụng công cố gắng tu tập khi ta còn năng lực còn nhận thức còn hiểu biết. Đừng đợi đừng chờ ngày mai, đừng để tuổi già sức yếu mới bắt đầu lúc đó sẽ trở nên muộn màng hối tiếc. Giác ngộ là một tiến trình ta phải thường xuyên dụng công nỗ lực tinh cần, không phải chuyện một sớm một chiều ta mong cầu là có được. Cần phải tốn nhiều thời gian công sức đánh đổi, đòi hỏi sự kiên định không ngừng nghĩ. Tự mình quán chiếu chiêm nghiệm, buông bỏ xả ly mọi dính mắc, gạt bỏ tham sân si rũ sạch não phiền, đẩy lùi vô minh tăm tối, dọn dẹp đào bới trong tâm ý cho sạch cho tốt, tạo mọi thắng duyên để cho tự tánh giác ngộ bừng lên tỏ rạng. Ý thứcgiác ngộ về vô thường là điều cấp báchcần thiết, còn đó những lời nhắn gởi trong bài thi kệ lúc nào và bao giờ cũng rực sáng trong lòng mỗi chúng ta.

 

c, Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258 – 1308)

 

Vị vua thứ ba Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, ngài xuất gia tại chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, thuộc đời thứ sáu của dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sau đó ngài lập nên dòng thiền Trúc Lâm, còn gọi Giáo Hội Trúc Lâmhệ thống tổ chức và quy củ rõ ràng. Vì là Sơ Tổ của thiền phái Trúc Lâm, trong tác phẩm này người viết xin được để qua chương Thiền phái Trúc Lâm.

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 6890)
14/04/2020(Xem: 4460)
24/02/2020(Xem: 1515)
02/11/2019(Xem: 2021)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”