Chương Sáu: Thiền Phái Trúc Lâm

29/05/20214:44 SA(Xem: 95)
Chương Sáu: Thiền Phái Trúc Lâm
Như Hùng
TƯ TƯỞNG THIỀN TÔNG VIỆT NAM
Văn Học Phật Việt 2020 | Thư Viện Hoa Sen 2021

Chương Sáu

 THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

 

1. Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258 – 1308)

 

Trần Nhân Tông truyền ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái Thượng Hoàng. Năm 1299 ngài lên núi Yên Tử đi xuất gia, với pháp danh Hương Vân Đại Đầu Đà, có đạo hiệu Trúc Lâm Đại Đầu Đà, Trúc Lâm Đại Sĩ, được người dân tôn xưng Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông. Ngài tên thật là Trần Khâm vị hoàng đế thứ ba của Hoàng triều Trần, là con trưởng của vua Trần Thánh Tông, ngài lên ngôi Hoàng Đế lúc chưa đầy 20 tuổi. Ngài được kể như vị vua anh minh nhân từ và dũng lược, hai lần đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi bờ cõi, mang lại ấm no thịnh vượng cho dân tộc. Về phương diện ngoại giao, Ngài kết tình lâng bang bền chặt với Chiêm Thành để dân chúng hai nước không phải lo sợ chiến tranh, yên ổn làm ăn xây dựng quốc gia xã hội thịnh trị phú cường.

 

Ngài Trần Nhân Tông còn là nhà văn hóa nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ thứ 13, ngài nhường ngôi cho con vào năm 1293 để chuyên tâm nghiên cứu Phật học, nhưng mãi đến năm 1298 ngài mới thật sự xuất gia làm Tăng Sĩ. Cuộc đời xuất gia tu hành của Ngài là cả một đời hành đạo tích cực, vân du khắp nơi khuyến hóa dân chúng tu tập theo giáo lý Thập Thiện. Đây là một giáo lý thực tiễn rất có giá trị trong việc hoàn thiện con ngườixã hội, đem lại lợi lạc cho mọi người mọi giới. Ngài còn cải tổ xây dựng xã hội tốt đẹp lành mạnh trong tinh thần từ bi trí tuệ giải thoát của Đạo Phật. Ngài viên tịch vào năm 1308 thế thọ 51 năm, 10 năm xuất gia.

 

Trong Thánh Đăng Ngữ Lục, ghi lại cuộc đối thoại sau cùng giữa Điều Ngự với thị giả Bảo Sát như sau:

“Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ,

- Điều Ngự hỏi: “Hiện giờ là giờ gì?”

- Bảo Sát thưa: “Giờ Tý”.

- Điều Ngự đưa tay mở cửa sổ nhìn ra bảo: Chính là giờ ta đi!

- Bảo Sát hỏi: Tôn Đức đi đâu?

- Điều Ngự đáp:

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền

Nào có đến đi gì”?

- Bảo Sát thưa: Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?

- Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát và bảo:

Chớ nói mớ”!

Nói xong, Ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch. Qua đêm thứ hai, Bảo Sát vâng theo lời di chúc, làm lễ hỏa táng ngay nơi am Ngài ở, có mùi hương lạ xông lên thoảng ra xa, nhạc trời trên không, mây năm sắc che trên giàn hỏa.

Ngày thứ tư Tôn giả Pháp Loa từ núi Yên Tử vội vã đến, dùng nước thơm rưới lên giàn hỏa làm lễ. Xong Pháp Loa thu lấy ngọc cốt, được xá lợi năm màu hơn năm trăm hạt lớn, còn hạt nhỏ cỡ như hạt lúa, hạt cải thì nhiều vô số kể. Vua Anh Tông, Quốc Phụ Thượng Tể cùng đình thần đêm thuyền rồng đến lễ bái dưới chân núi, gào khóc vang trời, sau đó đón ngọc cốt và xá lợi xuống thuyền rồng đưa về kinh. Từ triều đình cho đến thôn quê đều rất mực thương tiếc”.

 

Cuộc đời xuất gia hành đạo của Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông, đã góp phần  trong việc hợp nhất những thiền phái có mặt từ trước, cũng như chuyển hóa  con người xã hội trong tinh thần Phật Giáo. Ngài được kể như một vị Sơ Tổ có đầy đạo phongtrí tuệ siêu thoát, thiết lập nên Thiền phái Trúc Lâm mang đậm bản sắc Phật Giáo Việt, một Giáo Hội nhập thế tích cực lấy giáo lý Thập Thiện làm nền tảng chủ đạo. Đi vào đời để chuyển mê khai ngộ, dựng xây xã hội nhân bản tự do, theo tinh thần từ bi trí tuệ giải thoát của Phật Giáo. Ngài còn sai Trần Khắc Dụng và Phạm Thảo sang nhà Nguyên thỉnh Đại Tạng Kinh đem về truyền bá trong nước. Dòng thiền Trúc Lâm nổi tiếng và phát triển lớn mạnh trong mọi tầng lớp từ trí thức vua quan cho đến quần chúng. Núi Yên Tử trở thành thủ đô tâm linh, nhân dân trong nước thảy đều quy ngưỡng tin phục.

 

Bên cạnh đó Trúc Lâm Đại Sĩ còn tạo nền hòa bình dài lâu, gắn bó bền vững giữa hai nước Chiêm Việt, qua việc hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Việc làm này của Trúc Lâm không phải để bành trướng thêm đất đai, hay từng bước thôn tính nước bạn. Bởi lẽ nếu muốn xâm lăng tiêu diệt Chiêm Thành lúc này, có lẽ quá dễ dàng với quân dân Việt. Quân nhà Nguyên hùng dũng còn phải đại bại, huống gì nước Chiêm nhỏ bé. Vậy thì, lý do nào thúc đẩy Trúc Lâm Đại Sĩ thực hiện công việc hòa bình giao hảo như vậy? Nếu không phải tấm lòng mong ước có được nền hòa bình thật sự cho hai dân tộc, nhưng trên hết vẫn là tinh thần từ bi trí tuệ cao cả nhìn xa trông rộng. Ngài không muốn hai nước phải gây hấn giành giựt chiến tranh, tạo nên cảnh tang tóc lầm than đau khổ cho cả hai dân tộc, tấm lòng nhân hậu của ngài đơn thuần và chỉ có vậy.

 

Đóng góp vĩ đại và tích cực nhất của tổ Trúc Lâm, xây dựng nền Phật Giáo thống nhất nhập thế, với phương châm Cư Trần Lạc Đạo “Ở đời vui đạoảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa, chính trị, xã hội, giáo dục. Con người của Trúc Lâm rất thích hợp với vai trò này, là một quân vương khi còn tại vị đã có nhiều cống hiến cho dân cho nước, khi xuất gia trở thành Tăng sĩ có đầy đủ phong cách uy tín cao để lãnh đạo giáo hội, một bậc thầy giác ngộ đủ đầy năng lực hướng dẫn tâm linh cho quần chúng. Tổ Trúc Lâm đã tổng hợp lấy tinh thần siêu thoát của thiền làm yếu tố chỉ đạo trong mọi lĩnh vực tư duy và hành động, tích cực trong sự nghiệp giải thoát, an lạc trong việc nhập thế xuyên qua tư tưởngỞ đời vui đạo”. Con người đó nhân cách tư tưởng đó, vươn cao tỏa sáng lồng lộng trên bầu trời dân tộc hằng bao thế kỷ nay, công hạnh sâu dày cao cả của Ngài bất diệt qua dòng thời gian ngự mãi trong không cùng vô tận.

 

Tác phẩm của Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông

 

1. Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục (Ngữ lục về trùng độc thiết chủy trong rừng Thiền)

2. Đại Hương Hải Ấn Thi Tập (Tập thơ ấn chứng của biển lớn nước thơm)

3. Tăng Già Toái Sự (Chuyện lặt vặt của chư Tăng)

4. Thạch Thất Mỹ Ngữ, (Lời nói mê trong nhà đá) do Pháp Loa soạn lại lời của ngài.

5. Trần Nhân Tông Thi Tập (Tập thơ Trần Nhân Tông)

6. Trung Hưng Thực Lục 2 tập (Chép việc bình quân Nguyên xâm lược)

Những tác phẩm trên hầu hết đều thất lạc, chỉ còn lại 32 bài thơ thi kệ ghi chép trong Thánh Đăng Ngữ Lục, Thiền Tông Bản Hạnh.

 

Tư tưởng thiền học của tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông đạt đến chỗ thâm cao vi diệu, dòng tuệ giác ưu việt vẫn miên man tuôn đổ xoa dịu vỗ về cõi nhân sinh, thường hằng tỏa chiếu thơm ngát từng không soi đường dẫn lối chúng sinh muôn vạn nẻo. Tâm giác ngộ tròn đầy không cùng vô tận, từng bước an lạc thảnh thơi nơi suối nguồn vi diệu, thường trụ trong pháp thân thanh tịnh. Công ơn hóa độ dựng xây nền Phật Việt thấm nhuần trong mọi tầng lớp nhân dân, lồng lộng tỏa bóng phủ hương soi đường mở lối cho dân tộc đạo pháp hằng bao thế kỷ nay.

 

Bài thơ Xuân Vãn dưới đây, còn cho chúng ta cái nhìn minh bạch rõ ràng chặng đường giác ngộ của Tổ.

(Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm sự bách hoa trung.

Như kim khám phá đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng).

Dịch:

Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không

Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng

Chúa xuân nay đã thành quen mặt

Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng”.

(Ngô Tất Tố dịch)

 

Dòng thời gian lặng lẽ trôi bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cứ thế tuần tự đến đi, ai vui mừng khi xuân đến, ai đợi mong khi xuân về, ai rầu rĩ khi xuân bước qua ai khổ đau khi xuân mất dạng? Nhưng với năng lực tuệ giác thì sự vận hành biến chuyển của tâm cảnh vẫn cứ như thế, vẫn linh hiện sinh động một cách an nhiên tự tại, ngày nào cũng vậy bốn mùa đến đi cũng thế là dịp để cho giác ngộ về vô thường chuyển động vận hành. Khi còn trẻ ý thức về vô thường còn thờ ơ, suy nghĩ chưa chín chắn trải nghiệm chưa nhiều, nhưng khi lớp bụi thời gian phủ bóng càng nhiều càng dày, đến khi cao độ đến lúc giật mình tỉnh giác, thì sẽ vỡ òa ra vững vàng mạnh mẽ như núi cao sông rộng không gì lay chuyển được. Tâm tư bình yên thanh thản vắng lặng lạ thường đong đầy tuệ giác, cứ thế tung ra những vần thi kệ, cứ vậy phơi bày bản thể chân không diệu hữu càn khôn chấn động. Lời thơ bay bổng trên từng hiện hữunệm cỏ ngồi yên ngó rụng hồng” thắm ý trọn lời đạt nên chân tánh.

 

Tổ Trúc Lâm chịu ảnh hưởng sâu đậm nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ, nếu thử làm một cuộc so sánh, tổ Trúc Lâm chú trọng về văn chươnghình ảnh, còn ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đơn giảnhiện thực. Bài kệ truy tán Thượng Sĩ ở dưới cũng đủ cho ta thấy vị trí của Tuệ Trung trong lòng của Trúc Lâm Đại Sĩ. Lời thơ của tổ còn cho ta thấy con người siêu việt của Tuệ Trung, cũng như nói lên nội tâm giác ngộ của Tuệ Trung cao sâu diệu vợi sắc bén vững chãi, không ngôn từ bút mực nào có thể xưng tụng diễn tả đủ đầy công hạnh siêu phàm đó.

 

Qủa thật, ngôn ngữ đành phải cúi đầu bất lực, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa và không cần thiết trước tuệ giác siêu việt của Tuệ Trung Thượng Sĩ. Chỉ có sự trực nhận tinh tế thâm nhập tuyệt cùng, mới thấu rõ gia phong cốt cách đạo Thiền của Tuệ Trung. Chỉ có sự quật khởi nội tâm linh hiện đúng thời đúng khắc đúng nghĩa, mới thấy được diệu dụng vô cùng mà siêu ngôn ngữ thiền phô bày mở lối. Một khi nhận chân ra được bản nguyên thì lập tức xuất hiện ở ngay trước mắt, nếu không muôn trùng xa cách thật gần mà cũng thật xa vạn dặm sơn khê.

 

Tán Tuệ Trung Thượng Sĩ

(Vọng chí di cao,

Toàn chi di kiên.

Hốt nhiên tại hậu,

Chiêm chi tại tiền.

Phu thị chi vị,

Thượng Sĩ chi Thiền).

Dịch nghĩa:

“Nhìn lên càng thấy cao,

Khoan vào càng thấy cứng.

Bỗng nhiên ở phía sau,

Nhìn lại thấy ở phía trước.

Cái đó gọi là:

Đạo thiền của Thượng sĩ”.

Dịch thơ:

Càng nhìn càng cao

Càng khoan càng bền

Chợt phía sau đó

Ngắm, phía trước liền

Cái này tên gọi

Thượng Sĩ Thiền”.

Đỗ Văn Hỷ dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 quyển Thượng

 

Từng lời thiền thi là những thinh âm bất tận đêm ngày tuôn đổ, những hằng sa không cùng lồng lộng phủ vây, những pháp âm diệu ngữ sáng soi muôn lối. Không ép buộc không tuyên truyền, không đầu độc không nhồi sọ không tẩy não. Chỉ có lời khuyên bảo nhắc nhở chân tình mở ra muôn hướng, chỉ có lòng từ bi trên lối về thăng hoa tư tưởng, chỉ có dòng suối ngọt ngào của trí tuệ đêm ngày tỏ rạng “ai trói buộc mà phải tìm phương giải thoát”. Nếu không phải chính mình trói buộc làm cho thân khổ tâm đau rã rời khô héo, ngoài chính mình thì còn có ai ra sức tàn phá hủy diệt thân tâm, đêm ngày đổ vào đó những thói hư tật xấu ô nhiễm khó tẩy xóa thanh lọc. Tăng trưởng bồi đắp lòng tham sân si, vô minh tăm tối lại càng thêm tối tăm, còn ai ngoài chính ta mới đủ thẩm quyền sai khiến đọa đày, ai chạy hụt hơi ngang dọc nhưng chẳng biết lo biết sợ. Chừng nào và bao giờ ta mới thật sự quay đầu trở về với chân như tự tánh?

 

Khi ta chuyển hóa nâng cao thành con người hiểu biết cao cả, con người tỉnh thức giác ngộ, khi ta hằng sống với lòng từ bao la tâm lành thường xuyên ban trãi, khi ta hành xử nghĩ suy tác tạo sao luôn phù hợp với chánh pháp. Cũng là lúc ta có được sự an nhiên tự tại ở ngay trong cuộc đời này, giải thoát ngay từ phút giây này, hạnh phúc thật sự bây giờ ở tại đây. Có được phút giây an lành sống thở mới là điều đáng trân trọng và đáng quý trọng, vậy thì, lúc đó ta đâu cần phải tìm nơi nào khác để mong cầu làm thần tiên cho nhọc lòng mệt óc? Giả như làm được thần tiên nhưng lại lo hưởng thụ mọi tiện nghi sung sướng, chẳng may đến khi hết phước rơi vào cảnh giới khổ đau, thì lúc đó khổ đau lại càng đau khổ hơn và chắc gì còn có duyên lành gặp được Phật Pháp để mà tu tập. Vậy nên, bỏ buông hướng vọng tìm cầu nỗ lực quyết chí hết lòng tu tập lo việc giải thoát ngay từ bây giờ, mới mong an tâm vững lòng nhẹ gánh “Như trước, am mây chốn tọa thiền”.

 

Sơn Phòng Mạn Hứng

1

(Thùy phọc cánh tương cầu giải thoát,

Bất phàm, hà tất mịch thần tiên.

Viên nhàn mã quyện nhân ưng lão,

Y cựu vân trang nhất tháp thiền).

Dịch nghĩa:

“Ai trói buộc mà phải tìm phương giải thoát,

Phẩm cách chẳng phàm tục cần gì tìm thần tiên.

Vượn nhàn, ngựa mỏi, người cũng đã già,

Vẫn một chiếc giường thiền ở am mây cũ”.

Dịch thơ:

Ai trói buộc chi, tìm giải thoát?

Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên

Vượn nhàn, ngựa mỏi, ta già lão

Như trước, am mây chốn tọa thiền”.

2

(Thị phi niệm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tùy dạ vũ hàn.

Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn).

Dịch nghĩa:

“Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm,

Lòng danh lợi lạnh theo trận mưa đêm.

Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch,

Một tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn”.

Dịch thơ:

Phải trái rụng theo hoa buổi sáng

Lợi danh lạnh với trận mưa đêm

Hoa tàn, mưa tạnh, non im lắng

Xuân cỗi còn dư một tiếng chim”.

Đỗ Văn Hỷ dịch, Thơ Văn Lý Trần, tập 2 trang 469

 

Bài thơ Sơn Phòng Mạn Hứng (Mạn Hứng Ở Sơn Phòng) còn cho chúng ta một khái niệm sâu lắng rõ ràng, ở đó còn là khúc thinh âm giác ngộ vang vọng trong vô cùng, thể nhập trọn vẹn vào uyên nguyên tâm cảnh. Đâu đó, cảnh và người từng nỗi lo toan đếm bước bỗng mất dấu bặt tăm, thị phi danh lợi thoáng chốc hóa không trở về không. Sau trận mưa pháp quét sạch nhiễm ô cát bụi trần lao, mặt trời tuệ giác lộng lẫy tỏa chiếu muôn phương, vén mây càn khôn hiển hiện, được mất hơn thua có không một cõi nhẹ tênh. Tiếng chim hót vang vang trên bến bờ cô tịch, chúa Xuân cất bước ngàn hoa rơi nâng nhẹ gót vô thường.

 

Bài thơ bốn chữ Hữu Cú Vô Cú, câu có câu không chẳng có chẳng không, tung bay trên tầng không bến giác, điệp khúc muôn trùng vọng đưa về miền thinh âm tịch lặng.

 

Bài Hữu Cú Vô Cú

“Hữu cú vô cú,

Đằng khô thụ đảo

Kỷ cá nạp tăng,

Chàng đầu hạp não.

 

Hữu cú vô cú,

Thể lộ kim phong.

Căn già sa số.

Phạm nhẫn thương phong.

 

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ.

Đả ngõa toàn quy,

Đăng sơn thiệp thuỷ.

 

Hữu cú vô cú,

Phi hữu phi vô.

Khắc chu cầu kiếm,

Sách ký án đồ.

 

Hữu cú vô cú,

Hỗ bất hồi hỗ.

Lạp tuyết hài hoa,

Thủ chu đãi thố.

 

Hữu cú vô cú,

Tự cổ tự kim.

Chấp chỉ vọng nguyệt,

Bình địa lục trầm.

 

Hữu cú vô cú,

Như thị như thị.

Bát tự đả khai,

Toàn vô ba tị.

 

Hữu cú vô cú,

Cố tả cố hữu.

A thích thích địa,

Náo quát quát địa.

Hữu cú vô cú,

Điêu điêu đát đát.

Tiệt đoạn cát đằng,

Bỉ thử khoái hoạt”.

 

Dịch nghĩa:

Câu hữu câu vô,

Dây khô cây đổ

Mấy gã thầy tăng,

Đập đầu trán vỡ.

 

Câu hữu câu vô,

Gió vàng thể lộ

Vô số cát sông

Kiếm đâm dao bổ.

Câu hữu câu vô,

Lập chỉ lập tông.

Dùi rùa đập ngói,

Trèo núi lội sông.

 

Câu hữu câu vô,

Chẳng vô chẳng hữu,

Khắc thuyền tìm gươm,

So tranh tìm ngựa.

 

Câu hữu câu vô,

Tác động lại qua

Ôm cây đợi thỏ,

Nón tuyết hái hoa.

 

Câu hữu câu vô,

Dù xưa dù nay,

Quên trăng ngắm ngón

Chết đuối trên bờ.

 

Câu hữu câu vô,

Là thế là thế!

Tám chữ mở ra

Không còn khó nghĩ.

 

Câu hữu câu vô,

Ngó phải ngó trái.

Thuyết lý ồn ào

Liến láu tranh cãi.

 

Câu hữu câu vô,

Rầu rầu rĩ rĩ

Cắt đứt sắn bìm

Đó đây vui vẻ”.

Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2 trang 489 – 490

 

Triết lý về có không hữu vô, tất cả đều tùy vào quan điểm nhìn nhận vấn đề của mỗi chúng ta, bên “chấp hữu” thì cho rằng vạn pháp vô thường luôn chuyển động biến đổi nhưng vẫn “Có” trong ý nghĩa tương đối, chứ không hẳn nói là “Không' được. Bên “chấp không” thì cho rằng vạn pháp tuy “Có” đó nhưng thật ra thì “Không”, vì vạn pháp không có thực tướng, ngay cả cái gọi là Không thì cũng Không nốt. Vậy, đâu là bản chất đích thực của hai phạm trù có và không, phải chăng chỉ là sự vay mượn chừng mực và mang tính tương đối trong tư duy và suy luận? “Có thì có tự mảy may, mà không thì cả thế gian này cũng không”. Suy cho cùng chỉ có chân không diệu hữu mới nhiệm mầu tròn đầy, mới là sự vượt thoát hữu vô nhất như viên mãn.

 

Trong một lần tổ Trúc Lâm lên pháp tòa nghe tổ Pháp Loa thuyết pháp, cung cách niệm hương khai đạo dưới đây của Tổ cũng rất đặc biệt, tâm hương bay cao lan tỏa, tuệ hương soi sáng nẻo về chân như, cầu cho “mưa pháp tưới an, cháu con thấm nhuần”.

- Ngày mồng chín tháng giêng nhuận năm Bính Ngọ (1306) Trúc Lâm Đại Tôn Giả tới viện Kỳ Lân, mở cửa chỉ vào pháp tòa nói rằng: “Tòa này là giường mây khúc lục, là tòa Kim nghê bảo toạ đấy. Ngồi đây mà phán đoán lẽ đạo đức Phật tổ thì quản ngại lắm vậy.

- Ngài bèn thắp hương khấn:

“Một nén hương này khói lành thơm phức, hơi lành bay khắp, ngưng tụ được cả pháp thân ngũ phận, phổ biến được phép cúng dường mầu nhiệm tận mười phương, đốt ở trong bình, khiến cho mười phương gia hộ, chín miếu ứng linh, ngọc lịch miên trường, hoàng đồ củng cố. Một nén hương này, nóng cũng không nóng, đốt cũng không tàn, đập cũng không nát, nặn cũng không thành: Nhìn vào thì con người khô héo, ngửi phải thì não cân liệt, đốt ở trong bình, dâng lên bậc vô nhị thượng nhân là Tuệ Trung, xin cho mưa pháp tưới an, cháu con thấm nhuần”.

 

Hình ảnh và nhân cách vĩ đại của tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông đã từng phủ trùm che mát thân phận con dân trong những tháng năm còn ở ngai vàng và trong những bước du phương hóa độ khi làm Tăng sĩ. Sự lan tỏa và sức ảnh hưởng đầy thuyết phục, bất diệt qua dòng thời gian làm hưng thịnh quá trình lịch sử vươn lên đi tới của dân tộc và đạo pháp. Tổ Trúc Lâm trở thành biểu tượng cao cả, một con người siêu việt, nhân cách sáng ngời nội tâm siêu thoát, xứng đáng để tán dương xưng tụng chiêm ngưỡng quy phục.

 

Tổ viên tịch ở am Ngọa Vân sau khi tìm được người kế thừa mạng mạch, duy trì sự nghiệp và phát triển giáo hội, đó là Thiền sư Pháp Loacuộc đời hành đạo cũng huy hoàng rực rỡ.

 

2. Bảng Liệt Kê Những Thiền Sư Thuộc Phái Thiền Trúc Lâm

 

- Sơ Tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông

- Nhị Tổ Pháp Loa, Hương Sơn, Cổ Pháp

- Tam Tổ Huyền Quang, Cảnh Huy, Quế Đường

- Thiền Sư Chân Nguyên, Hương Hải

3. Tổ thứ hai Thiền Sư Pháp Loa (1284 – 1330)

 

Thiền sư Pháp Loa thế danh Đồng Kim Cương, xuất gia năm 20 tuổi, là vị tổ thứ 2 của thiền phái Trúc Lâm. Cuộc đời tu họcsự nghiệp hành đạo của tổ Pháp Loa cũng rất vĩ đại đáng được hậu thế kính phục. Trong khoảng thời gian Tổ hành đạo số lượng tự viện của giáo hội tăng lên rất nhiều, số người xuất gia quy y đông đảo, tạo thành phong trào học Phật lớn mạnh lúc bấy giờ. Đóng góp to lớn nhất của Pháp Loaấn hành bộ Đại Tạng Kinh, tổ ủy thác công việc này cho sư huynh Bảo Sátđệ tử đầu tay của tổ Trúc Lâm chủ trương việc khắc bản để in. Bản kinh đã được Sơ tổ sai người thỉnh từ Trung Hoa vào năm 1295.

 

Năm Quý Sửu 1313 tổ Pháp Loa phụng chiếu đến cư trú tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, tại đây ngài cho đặt văn phòng trung ương giáo hội. Về việc hành chánh, tổ quy định chức vụ trong giáo hội, kiểm tra tự viện lập sổ tăng tịch. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam hình thành một hệ thống tổ chức từ trung ương. Công ơn hóa độ công đức cao dày của tổ đáng được hậu thế xưng tụngtán dương.

 

Những tác phẩm của nhị Tổ Pháp Loa gồm có:

 

1. Thạch Thất Mỵ Ngữ Niêm Tụng: Gồm những lời nhận xét và những bài kệ tụng viết về sách Thạch Thất Mỹ Ngữ của tổ Trúc Lâm.

2. Tham Thiền Yếu Chỉ: Soạn vào năm 1322

3. Kim Cương Trường Đà La Ni Kinh Khoa: Chú giải kinh này.

4. Pháp Hoa Kinh Khoa Sớ: Luận giải và phân tích kinh Pháp Hoa.

5. Lăng Già Kinh Khoa Sớ: Luận giải về kinh này.

6. Bát Nhã Tâm Kinh Khoa Sớ: Luận giải về kinh này.

7. Pháp Sự Khoa Văn: Nghi lễ dùng trong Phật Giáo

8. Độ Môn Trợ Thành Tập: Nghi thức đăng đàn chẩn tế

9. Nhân Vương Hộ Quốc Nghi Quỹ: Soạn riêng cho vua Minh Tông.

10.- Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục: Biên tập những thiền ngữ của Tuệ Trung.

Tổ Pháp Loa ít sáng tác về thơ hiện chỉ còn có 3 bài, những tác phẩm của tổ ngày nay không còn, duy chỉ còn một phần sách Thiền Đạo Yếu Học được in trong sách Tam Tổ Thực Lục. Dưới đây vài đoạn trong sách chứa đựng nội tâm giác ngộ vô biên của Tổ hiển thị trên từng đoạn văn dòng chữ.

 

* Phổ thuyết khuyên chúng thượng thừa tam học:

 

“Là người học Phật trước phải thấy tánh. Thấy tánh, không phải có tánh bị thấy. Nói thấy, là thấy chỗ không thể thấy mà thấy vậy. Cho nên nói thấy, thấy không phải thấy, thì chân tánh hiện. Tánh thấyvô sanh, sanh thấy thì chẳng phải có, chẳng có cái tánh thật, mà thấy thật không dời đổi. Thế nên gọi là chân thật thấy tánh.

Sau khi thấy tánh, phải gìn giữ giới cho thanh tịnh. Thế nào là giới thanh tịnh? Nghĩa là trong mười hai giờ, ngoài dứt các duyên, trong tâm không loạn. Vì tâm không loạn động nên cảnh đến vẫn an nhàn. Mắt không vì cái sở duyên của thức mà chạy ra, thức không vì cái sở duyên của cảnh mà chun vào. Ra, vào không giao thiệp nên gọi là ngăn chận. Tuy nói ngăn chận mà không phải ngăn chận. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như thế. Đó gọi là giới Đại thừa, là giới vô thượng cũng gọi là giới vô đẳng đẳng.

Tịnh giới này, dù Tiểu tăng cho đến bậc Đại tăng đều phải gìn giữ. Nhân giữ giới vững chắc không động, kế đó mới tập thiền. Cái yếu chỉ của thiền địnhthân tâm đều xả. Trước tập định tâm, thường tự suy xét: thân này từ đâu mà đến? tâm này từ đâu mà có? Tâm không thật có thì từ đâu có thân? Thân tâm đều không thì pháp từ đâu mà có? Pháp không thật có, vì không có cái có, cái có có đó từ đâu mà có? Cái có có đó đã không thì không có pháp có. Mỗi pháp chẳng phải pháp, thì mỗi pháp nương vào đâu? Không có chỗ dựa nương thì pháp không phải mỗi pháp. Pháp này không thật cũng chẳng phải không thật. Chứng được thật pháp, mới hay chứng nhập thiền.

Người tu tập thiền định không được chấp dụng công, dụng mà không có chỗ dụng, gọi là Thiền thượng thừa. Ngoài tham thoại đầu không cho gián đoạn, miên mật liên tục không có kẽ hở, cũng không điên đảo, không trạo cử cũng không hôn trầm. Phải trong sáng như viên ngọc lăn trên mâm, phải sáng suốt như gương trên đài. Đến chỗ đất này, đi cũng được, đứng cũng được, ngồi cũng được, nằm cũng được, nói hay nín đều cũng được, có chỗ nào lại không được?

Đã được thế rồi, về sau mới nêu lên những câu ngộ: Tam quan, tam huyền, tam yếu, ngũ vị, tứ liệu giản, tứ tân chủ, tứ chiếu dụng v.v… các cơ quan của Thiền Tổ. Bảy phen soi tám phen dùi, nhồi đi ép lại, thấu triệt chân nguyên. Chừng đó, mới hay mượn pháp tòa của Phật Đăng Vương, nắm sừng thỏ, nhổ lông rùa, tay hoa một phen chuyển, bốn chúng thảy mịt mờ. Phát sanh vô thượng diệu tuệ, chiếu soi không cùng. Đối với tứ vô lượng tâm, tứ niệm xứ, tứ vô úy, bát chánh đạo, thập lực của Phật, mười tám pháp bất cộng, cho đến tám muôn bốn ngàn môn đà-la-ni, trần trần sát sát, tất cả môn tam-muội đều từ nơi mình lưu xuất mỗi mỗi đều đầy đủ.

Tuệ đã đầy đủ, ban cho chúng sanh, nguyện lực không cùng tận, tự giác giác tha, tứ sanh và cửu loại, tất cả đều được thấm nhuần. Nếu tuệ mà không định gọi là càn tuệ (tuệ khô), định mà không tuệ gọi là si thiền.

Thiền có chia làm năm: 1. Phàm phu thiền, 2. Ngoại đạo thiền, 3. Tiểu thừa thiền, 4. Đại thừa thiền, 5. Thượng thừa thiền. Đây nói thiền, chính là Thượng thừa thiền vậy. Thiền này, từ đức Phật Tỳ-lô-giá-na trải qua số kiếp bất khả thuyết bất khả thuyết đến đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Thích-ca truyền xuống cho hai mươi tám vị Tổ ở Ấn Độsáu vị Tổ ở Trung Hoa, rồi Tổ Tổ trao tay cho nhau truyền bá khắp nơi, tính không thể hết được. Các vị đều do giới này, định này, tuệ này mà được chứng ngộ, thật không có pháp nào khác.

Các chú! Các chú đã vào trong chùa làm ông đạo, làm học trò, chỉ cầu danh dự mà chẳng chịu tham đến chỗ, cái gì là chỗ hạ thủ của Phật, Tổ? Cái gì là chỗ dụng tâm của ngoại đạo, Tiểu thừa? Luống để cho ngày lại tháng qua, lăng xăng tìm cầu bên ngoài. Một phen cái chết đến rồi phải làm sao? Đâu là nơi an thân lập mạng? Vả lại, ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, chính mình không có một mảy may. Một hôm nào đó, vua Diêm-la đến ắt không thể tha cho ngươi. Ngươi sao chẳng chịu xét lại, chớ lấy các việc trong mộng, rồi bác không nhân quả “mênh mang bát ngát chiêu ương họa”. Như thế chẳng những làm đồi bại tông môn, mà cũng khiến suy tàn chánh pháp.

Ôi! Tôi còn biết nói gì hơn!”

Thiền sư Thích Thanh Từ dịch

 

Tư tưởng thiền học của tổ Pháp Loa đạt đến mức thâm cao vi diệu, những lời pháp ngữ của Ngài có sức cuốn hút lan tỏa, đánh động vào lòng người, mở ra muôn lối nhập vào từng không tịch lặng. Đề cập đến việc thấy tánh tổ dạy “thấy được cái thấy không thấy tức thì chân tính hiện rahết sức trong sángrõ ràng, phương diện gìn giữ tâm ý thì “ngoại cảnh không dấy động, nội tâm không lung lay” chỉ cần như vậy và được như thế là đủ rồi, về phương diện tham cứu thoại đầu (công án) tổ dạy “Phải nên tham cứu liên tục không xen kẽ một ý niệm nào khác” rất đơn giản ý nghĩagiá trị. Tổ đề cập đến   giới, định, tuệ (tam vô lậu học) là ba môn học không rơi rớt, để có được thiền định cần phải giữ gìn giới cho được thanh tịnh, nổ lực tinh cần tu tập kết hợp trọn vẹn định tuệ.

 

Tổ Pháp Loa chịu ảnh hưởng phần nào nơi Tuệ Trung Thượng Sĩ, bài thi kệ Tổ ca tụng Tuệ Trung Thượng Sĩ rất súc tích ngắn gọn và thâm thúy. Bắt đầu và kết thúc bằng một ngữ âm (A), tiếng giác ngô vượt thời gian, tiếng kêu thảng thốt tiếng la vui mừng, biểu lộ một sự ngạc nhiên đến mức lạ thường, khám phá nhận biết điều gì đó đến mức phi thường, không thể nghĩ bàn luận giải, A! thì ra là vậy, bài thi kệ được tìm thấy ở sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, nội dung như sau:

 

Ca Ngợi Tuệ Trung Thượng Sĩ

A!

Gang ròng nhồi lại,

Sắt ống đúc thành

Thước trời đất

Gió mát trăng thanh

A!

 

Bài thơ: Vào Cõi Tục Tiếc Non Xanh

Dòng thu in bóng núi

Chót vót dưới chiều tà

Ngước mắt nhìn vời vợi

Đường vào trập trùng xa”.

Băng Thanh dịch, Thơ Văn Lý Trần tập 2, trang 647

(Sơ cấu cùng thu thủy

Sâm nham lạc chiếu trung

Ngang đầu khang bất tận

Lai lộ hựu trùng trùng).

 

Trong sách Thiền Đạo Yếu Học còn ghi lại 4 bài luận thuyết và một đoạn ngữ lục, về nội dung có thể là những chương còn sót lại của tác phẩm Tham Thiền Yếu Chỉ. Dưới đây là bài văn và đoạn ngữ lục.

* Lời Khuyên Xuất Gia Tiến Đạo (Khuyến xuất gia tiến đạo ngôn)

 

“Kính khuyên chúng xuất gia học đạo, hãy xét kỹ những lời này: Chúng ta nghiệp dày phước mỏng, ra đời chẳng gặp thời chánh pháp, đức Thích-ca đã nhập diệt, đức Di-lặc chưa sanh, Thánh Hiền ẩn bóng, tà pháp thạnh hành, than ôi buồn thay !

Những vị xuất gia, vốn vì đền đáp bốn trọng ân, nghĩ cứu giúp ba đường khổ. Nếu muốn đạt được tâm Phật ý Tổ, biết sanh hiểu tử, trước phải học hai pháp.

Thế nào là hai ? Một, phải học ba thứ pháp. Hai, phải học pháp cầu thầy.

Ba thứ pháp là: 1. Rõ tông sư 2. Biện pháp chân ngụy 3. Biết thiện ác.

1. Rõ tông sư - Kinh Bổn Hạnh nói : Từ trước Tổ Sư thuyết pháp những gì? Có bao nhiêu người đắc đạo nối pháp truyền tông, đến nay thầy nào, chúng nào đáng học?

2. Biện pháp chân ngụy - Nếu pháp chân là thường giữ giới luật, y pháp tiến tu. Nếu pháp ngụy, như trong lời lục của Đại Huệ nói: Bàn luận ngoại đạo, phỏng đoán nghĩa lý, lập làm tông chỉ, rồi trao truyền cho nhau.

3. Biết thiện ác - Nếu gần gũi bạn lành là thường khuyên mình sám hối để diệt những tội lỗi trước, siêng năng tìm thiện tri thức, tu hành tinh tấn... Nếu gần gũi bạn ác thì miệng nói xuất gia mà tâm làm theo nghiệp thế tục, tự làm và dạy người làm, tâm không biết hổ thẹn.

Trên là ba pháp nên gần gũi và không nên gần gũi.

Hai, phải học pháp cầu thầy. Như trong Lễ Tán nói: Thường ở trong tùng lâm của thiện tri thức, hằng nằm trong khuôn vức của Tổ sư. Đó là phương pháp chọn bạn tìm thầy vậy.

Nếu người đầy đủ cả hai pháp trên, tức là đạt được tâm Phật ý Tổ và biết sanh hiểu tử.

Này các người! Bên trong đã bỏ cha mẹ, bên ngoài thì không thông Phật pháp, tự xưng là tu hành, vậy tu hành là cái đạo gì ? Các người nên xét kỷ lời nói này. Trong kinh Đại Báo Phụ Mẫu Ân nói: “Mười tháng mang thai, ba năm bú sú, ân nào sánh bằng” mà các ngươi còn bỏ được, huống là những kẻ bên ngoài? Thế lại bo bo chấp tình thầy trò, không thể cởi bỏ, không phược trở lại tìm phược, không trói lại cầu trói. Chỉ vì tham cầu lợi dưỡng, chẳng sợ trầm luân. Hoặc đắm mê danh vọng ở đời, hoặc tự mình không hiểu không biết, ấy đều là bọn vô minh vậy.

Từ trước, các Tổ sư hành đạo tu thiền, tâm đồng với hư không, mặc đến mặc đi, hoặc Nam hoặc Bắc, tham thiền hỏi đạo, nhân duyên hội ngộ thì tự lợi lợi tha, ấy mới thật là Phật pháp”.

Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch, sách Thiền Đạo Yếu Học

 

* Trúc Lâm Đại Tôn Giả Lên Pháp Tòa Nghe Sư Thuyết Pháp

- Đến tòa. Ngài bước lên nhà, gật đầu khấn lạy, vân vân....

Sư lên tòa nói:

- “Đại chúng ! Nếu nhắm thẳng vào đệ nhất nghĩa đế mà nói, thì động niệm liền sai, mở miệng là lầm, làm sao mà xét ? Làm sao mà quán ? Hôm nay căn cứ vào đầu thứ hai mà nói, cũng không được thế ấy.

Sư bèn nhìn hai bên nói:

- Trong đây có người nào đầy đủ con mắt lớn chăng? Nếu có, hai cặp chân mày chẳng cần vén lên. Bằng không, bần đạo chẳng khỏi miệng nói ba hoa, đề ra những điều hủ mục, đáp những lời tạp nhạp. Chỉ vì các ông nhồi lại thành một khối hỗn độn. Lắng nghe ! Lắng nghe !

Đại đạo rộng suốt nào có ràng buộc, bản tánh lặng lẽ không thiện không ác. Bởi do chọn lựa chợt sanh nhiều lỗi, vừa khởi mảy may đã cách xa trời đất. Phàm thánh vốn đồng một mối, phải quấy đâu có hai đường. Cho nên biết, tội phước vốn không, cứu cánh nhân quả chẳng thật. Người người sẵn đủ, kẻ kẻ trọn thành. Phật tánh Pháp thân như hình như bóng, tùy ẩn tùy hiện, chẳng tức chẳng ly. Lỗ mũi duỗi thẳng xuống, chân mày nằm ngang mặt, ở trên mắt mà không dễ gì nhìn thấy. Cần phải tìm xét, đâu chẳng nghe nói “Ba ngàn pháp môn đồng về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm” nên nói: Cửa giới cửa định cửa tuệ, ông không thiếu sót, cần phải phản quán nơi mình. Phàm những tiếng ho tiếng tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm, chân đi, ấy là tánh gì? Biết được tánh này, ấy là tâm gì? Tâm tánh rỗng sáng, cái nào phải, cái nào chẳng phải? Pháp tức là tánh, Phật tức là tâm. Tánh nào chẳng phải là pháp? Tâm nào chẳng phải là Phật? Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp. Pháp vốn chẳng phải pháp, pháp tức là tâm. Tâm vốn chẳng phải tâm, tâm tức là Phật.

Các nhân giả ! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi, sao cam ăn cháo ăn cơm mà chẳng rõ việc bát việc muỗng?

Bây giờ có một vị tăng bước ra nói:

- Mặc áo ăn cơm là việc tầm thường, đâu cần phải sanh nghi ngờ?

Ông lễ bái xong, đứng dậy hỏi:

- Cõi thiền không dục là khỏi hỏi, cõi dục không thiền xin nói cho một câu.

- Sư lấy tay điểm trong hư không.

Vị tăng nói:

- Dùng đàm dãi cổ nhân làm gì ?

Sư đáp:

- Mỗi lần nhắc lại mỗi lần mới.

Vị tăng thưa:

- Cổ nhân đều hỏi: “Thế nào là Phật, thế nào là Pháp, thế nào là Tăng.” Chỉ đây thế nào ? Việc ấy thế nào ?

Sư đáp:

- Thế nào ? Việc ấy thế nào ?

Vị tăng thưa:

Trên đàn không dây tri âm ít.

Cao vút tiếng đàn cha con hòa”...

(Một huyền cầm thượng tri âm thiểu

Phụ tử đàn lai cách điệu cao).

Vân vân...

Thiền sư Thích Thanh Từ dịch

 

Đệ nhất nghĩa đế, chân lý tối hậu chân đế vô thượng, tuệ giác không cùng vô tận bất khả tư nghì không thể diễn tả luận bàn. Từng lời pháp của Tổ còn là một tuyên cáo mãnh liệt phá vỡ giai tầng quan niệm, không khởi sự phân biệt tâm pháp, không ràng buộc vào ý tưởng, không thủ đắc một điều gì. Tổ vén mở mọi nguồn cơn vựt dậy thể tính giác ngộ đang tiềm ẩn trong mỗi chúng ta. Đó là con đường rộng mở thênh thang để đi đến chân trời cao rộng, ly khai vượt thoát ra ngoài mọi phạm trù toan tính sai biệt của ý thức, tự mình nỗ lực đạt được sự tự do siêu thoát, uống ngụm nước nguyên sơ đầu nguồn. Trên kia và ở đó, từng áng mây không lối phủ vây trên đỉnh đồi tâm ý, một sự dừng nghĩ thong thả an yên, cõi lòng chẳng hề vướng bận nhốt kín bởi trăng sao bởi đó hay đây. Cứ thế tung bay nhẹ gót trên vạn nẻo đăng trình, đôi mắt bờ mi diện mục thức dậy tự bao giờ, đường về trăng tỏ soi bước tử sinh. Cuộc đối thoại dưới đây còn cho chúng ta nhận rõ ý nghĩa “Phật Tâm” qua cái nhìn siêu thoát của thiền.

 

“Một hôm Sư nghe đồ chúng tụng kinh, bèn hỏi:

- Chúng làm gì ?

- Có vị tăng ra thưa: Chúng niệm Phật tâm.

- Sư bảo:

- Nếu nói là tâm, tâm tức không Phật. Nếu bảo là Phật, Phật tức không tâm. Thế gọi cái gì là tâm ?

Vị tăng ấy đáp không được.

Sư lại hỏi vị tăng khác:

- Chúng làm gì ?

- Tăng thưa: Niệm Phật.

- Sư bảo: Phật vốn không tâm thì niệm cái gì ?

- Tăng thưa: Chẳng biết.

- Sư bảo: Ngươi đã chẳng biết, vậy nói đó là ai” ?

Tăng không đáp được.

Thiền Sư Thích Thanh Từ, trong phần Thiền Sư Pháp Loa, tổ thứ 2 phái Trúc Lâm.

 

Những trao đổi giữa Tổ Pháp Loa với Tổ Huyền Quang khi ngài bệnh duyên, còn cho ta thấy được nội lực giác ngộ và sự chứng đắc của nhị tổ rõ ràng như thế nào. Thoạt đầu tổ Huyền Quang đưa ra câu hỏi lững lơ để thử “Thức và ngủ đã là một chưa”? và “Bệnh với không bệnh đã là một chưa”? Cả hai câu trên đều chung một mục đích, dò tìm đo lường nội lực giác ngộ của tổ Pháp Loa. Thức với ngủ là một, đó chính là trạng thái xác quyết của giác ngộ, bệnh với không bệnh là một, sự trực nhận thẳng thừng vào bản chất của hiện tượng. Ở vào cái phút giây cận kề của lão bệnh sanh ly tử biệt sợi chỉ treo ngàn cân, cũng là lúc bao nhiêu công năng tu tập nghiệp lực tác tạo giành giật quyết định, thì việc có được sự an tịnh tinh tường minh mẫn cũng không phải là điều dễ dàng. Nếu không có bản lĩnh tu tập đủ đầy nội lực giác ngộ sâu dày, thì làm sao quật khởi phát hiện những ẩn ngữ dấu chôn trong đó, làm sao giữ vững thể tánh giác ngộ hợp nhất hòa cùng nhất như?

 

Có điều chúng ta cần ghi nhận, lúc này ngài Pháp Loa đã được 47 tuổi và trải qua 26 năm tu tậphành đạo. Còn ngài Huyền Quang đã là 77 tuổi và trải qua 25 năm tu học, và với vốn liếng tri thức dồi dào trước khi xuất gia, cùng với vị thế của một Thiền sư Hòa Thượng đạo cao đức trọng, tuổi đời tuổi đạo đều cao. Hơn nữa tổ Huyền Quang đã từng theo hầu cận Sơ Tổ Trúc Lâm, được Tổ tin tưởng ủy thác một số việc như: giảng pháp, trước tác, hiệu đính. Tổ Gia Thực Lục chép rằng: Trúc Lâm rất hài lòng với công việc sáng tác của Huyền Quang; khi đọc xong bản thảo sách Thích Khoa Giáo, vua ngự bút phê như sau: “Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn hiệu khảo rồi thì không thể thêm hay bớt một chữ nào nữa”.

 

Thế nên, cuộc đối đáp ở trên đúng ra là kiểm tra thẩm định, tìm hiểu sự giác ngộ đích thật giữa tổ Huyền QuangPháp Loa. Một cuộc gặp gỡ thẩm định tuyệt vời mở bày hiển lộ quyết định tử sinh huyễn mộng có cản trở lối về bến giác, và đó cũng là dịp tiếp cận thâm truyền nội lực giác ngộ lẫn nhau. Ở phần cuối cuộc đối đáp, ta còn thấy ngài Huyền Quang nhẹ nhàng nói: “muốn ở lại thì ở muốn đi thì đi” và tổ Pháp Loa trả lờiđi hay ở cũng đều không can hệ”. “Tùy xứ Tát-Bà-Ha”. Quả thật tổ Pháp Loa đã đạt đến chổ thâm sâu cùng tuyệt rồi vậy, bởi có như thế Sơ Tổ Trúc Lâm mới chọn làm vị kế thừa mạng mạch thiền đạo.

Sách Tam Tổ Thực Lục ghi lại cuộc đối đáp giữa Huyền QuangPháp Loa diễn ra như sau:

“Ngày mồng ba tháng hai năm Canh Ngọ (1330), Pháp Loa trở lại An Lạc Tàng Viện, thỉnh Bích Phong trưởng lão thay mình giảng kinh Hoa Nghiêm. Ngày mồng năm sư lâm bệnh, hai ngày kế tiếp bệnh nặng. Nữa đêm ngày 11 Huyền Quang đến thăm bệnh, Pháp Loa đang trong giấc ngủ, rên hừ hừ một tiếng.

- Huyền Quang hỏi:

Thức với ngủ đã là một chưa?

- Pháp Loa đáp:

Thức với ngủ là một, cũng như khi không có bệnh.

- Huyền Quang hỏi:

Vậy thì bệnh với không bệnh đã là một chưa?

- Pháp Loa nói:

Bệnh cũng chẳng can gì đến kẻ khác, không bệnh cũng không can gì đến kẻ khác.

- Huyền Quang hỏi:

Vậy thì tiếng nói nhắm vào cái gì?

- Pháp Loa nói:

Thì gió thổi trong cây cứ mặc nó chứ.

- Huyền Quang nói:

Tiếng gió thổi trong cây không làm cho người ta mê hoặc, nhưng lời nói mê trong giấc ngủ lại có thể làm mê hoặc lòng người.

- Pháp Loa nói:

Kẻ si mê cũng có thể bị tiếng gió trong cây làm mê hoặc lắm chứ.

- Huyền Quang nói:

Chỉ một cái tật đó mà đến chết cũng không chừa.

- Pháp Loa liền lấy chân đạp Huyền Quang một cái.

Huyền Quang bỏ ra. Từ đó bệnh thuyên giảm dần. Đến ngày 13, người ta dời Pháp Loa về Quỳnh Lâm Viện để nằm trong phương trượng.

Ngày mồng ba tháng ba, lúc nữa đêm Huyền Quang vào thăm bệnh thì bệnh đã nguy kịch.

- Huyền Quang nói:

Xưa nay các bậc đạt ngộ khi giờ phút đến, muốn ở lại thì ở, muốn đi thì đi.

- Pháp Loa nói:

Đi hay ở cũng đều không can hệ chi tới ai.

- Huyền Quang hỏi:

Vậy thì tại sao?

- Pháp Loa trả lời:

Tùy xứ tát-bà-ha.

Tiếp đến môn đệ xin bài kệ thị tịch, Pháp Loa viết xong bài kệ bốn câu, buông bút rồi tịch”.

 

Bài kệ Thị Tịch

Vạn giây cắt đứt tấm thân nhàn

Hơn bốn mươi năm mộng đã tàn

Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa

Bên kia trăng gió rộng thênh thang”.

(Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn

Tứ thập niên dư mộng huyễn gian

Trân trọng! chư nhân hưu tá vấn

Ná biên phong nguyệt cánh man khoan).

Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

 

Bài kệ thị tịch, ở đó vầng trăng của trí tuệ giác ngộ bao giờ và lúc nào cũng thênh thang lộng gió, cao cao lồng lộng tỏa hương. Cuộc đời hành đạo của tổ Pháp Loa đã có những cống hiến và đóng góp to lớn cho Giáo Hội Trúc Lâm như sau:

 

“Về việc học Phật, tình hình cũng rất nhộn nhịp. Sợ giới tăng sĩ đông đảo mà không thể hiểu và thụ trì giới pháp, năm 1322 Pháp Loa cho khắc bản cuốn Tứ Phần Luật (giới luật Tỳ Khưu) để in và phổ biến cho giới tăng sĩ học tập. Ông thỉnh cầu hai vị sư huynh là Tông Cảnh và Bảo Phát về chùa Siêu Loại mở những lớp dạy về Tứ Phần Luật cho tăng sĩ và in 5.000 bản Tứ Phần Luật phát cho các học viên. Tông Cảnh và Bảo Phác lúc này đã được tôn xưng làm quốc sư: Tông Cảnh trú trìTiên Du, còn Bảo Phác ở núi Vũ Ninh. Ngoài sự giảng dạy các kinh phổ thông như Kim Cương, Lăng Nghiêm, Viên Giác và các bộ lục như Tuyết Đậu Ngữ Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, Đại Tuệ Ngữ Lục, Pháp Loa còn phải giảng các kinh Niết bàn, Lăng Già, Pháp Hoa và nhất là Hoa Nghiêm. Thiền học vào thời đại này đã mang nặng tính chất học hỏi và đàm thuyết. Việc học kinh Hoa Nghiêm đã trở nên một phong trào trong thiền giới. Pháp Loa đã giảng Hoa Nghiêm nhiều lần tại chùa Siêu Loại, Quỳnh Lâm, Dưỡng Phước, Xí Thịnh Quang, An Lạc Tàng Viện, thấy sức yếu, ông liền nhờ Bích Phong Trưởng Lão giảng tiếp. Những buổi giảng như thế rất đông người nghe. Khóa giảng năm 1322 ở chùa Báo Ân chẳng hạn, có trên 1.000 người đi nghe. Những buổi giảng mà ít người đi nghe nhất cũng có năm sáu trăm người. Nhờ có bản gỗ tàng trữ tại chùa Báo Ân nên kinh sách được ấn hành rộng rãi, cung cấp đầy đủ cho nhu yếu học Phật khắp xứ”.

 

Sau khi tổ Pháp Loa mất vua Trần Minh Tông ban cho thụy hiệu Tịnh Trí Tôn Giả và làm bài thơ dưới đây để tán dương công đức của Tổ, chừng đó cũng đủ nói lên công hạnh viên mãn của Tổ rồi vậy.

Tay duỗi trần hoàn rũ sạch duyên

Giác Hoàng sự nghiệp đã nên truyền

Chân mộ núi xanh mờ cỏ dại

Xác về cây biếc tảo xương mềm

Giảng đường dọi bóng trăng kim cổ

Thiền thất mờ sương khói nhị biên

Tiếc duyên kim cải ngày xưa đó

Chút một bài thơ khóc bạn thiền”.

Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

(Thuỷ thủ trần hoàn dĩ liễu duyên

Giác hoàn kim lũ đắc nhân truyền

Thanh sơn mạn thảo quan tán lý

Bích thọ thâm xương xác thuế thiền

Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt

Hiểu mê trượng thất hữu vô yên

Tương đầu châm giỏi ta phi tích

Trác tựu ải chương thế lệ huyền).

 

Trước khi thị tịch Tổ bàn giao việc lãnh đạo giáo hội Trúc Lâm lại cho Thiền sư Huyền Quang, một vị thiền sư lỗi lạc nhà thi sĩ tài hoa, với những lời pháp ngữ thiền ngữ thi ca, để lại cho hậu thế vẫn còn vang vọng đến tận hôm nay.

 

3. Tổ thứ ba Thiền Sư Huyền Quang (1254 -1334)

 

Thiền sư Huyền Quang thế danh Lý Đạo Tái, xuất gia năm 30 tuổi, là một nhà trí thức khoa bảng đương thời, một nhà văn nhà thơ nổi trội, một thiền sư trác việt đã có những đóng góp to lớn giá trị, cho nền văn họcthi ca của Việt NamPhật Giáo. Ngài là vị Tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm và là một Giáo Thọ Sư rất nổi tiếng được Tăng Niquần chúng lúc bấy giờ kính trọng. Ngài đổ Đệ nhất giáp tiến sĩ (Trạng Nguyên) làm quan trong Viện Nội Hàn, nhờ tài thao lược ứng đối nhanh, được vua giao cho việc đón tiếp sứ thần Trung Hoa.

 

Năm 1317 ngài được nhị tổ Pháp Loa truyền y của tổ Trúc Lâm và tâm kệ, sau khi nhị tổ viên tịch Ngài kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm, nhưng vì tuổi đã cao 77 tuổi, nên tổ giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm. Tổ về trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hóa, năm 1334 tổ viên tịch thọ 81 tuổi. Thượng hoàng Trần Minh Tông sắc phong thụy hiệu Trúc Lâm Thiền Sư Đệ Tam Đại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.

 

Những tác phẩm của Tổ Huyền Quang:

 

1. Ngọc Tiên Tập

2. Chư Phẩm Kinh

3. Công Văn Tập

4. Phổ Tuệ Ngữ Lục.

Những tác phẩm trên đều thất lạc, hiện chỉ còn có 24 bài thơ, và một bài phú Nôm.

 

Tư tưởng thiền học cao thâm, nội lực giác ngộ sâu dày của Thiền Sư Thi Sĩ Huyền Quang đều chứa đựng trong những bài thiền thi và những cuộc đối thoại. Bởi hẳn nhiên, dù qua cách nhìn Huyền Quang như một nhà thi sĩ đi nữa, thì những ẩn mang cốt cách trong lòng của ngài được hiểu như sự tác động linh hiện chìm khuất trong mỹ học vi diệu của thiền. Nó phảng phất mênh mông dâng cao tràn ngập trên từng lời thơ con chữ, một sự sâu lắng linh hiện phủ vây cùng tuyệt. Dù cho những cảm xúc tột cùng của con người thi sĩ đơn phương nơi ngài trỗi dậy cũng không thể tách rời ra được. Bởi, nội tâm giác ngộ đó đã được thấm sâu vào trong tận cùng huyết quản, hương thiền bao phủ trong mọi tư duy và hành động, con người đó thường xuyên sống trong sự an lạc giải thoát. Ở vào ý nghĩa linh hiện và vượt thoát thì những thiền sư thi sĩ đều là những nhà nghệ sỹ, ở đây được hiểu theo nghĩa không vướng lòng, và nếu có vướng thì cái vướng ấy để rồi tuôn trào thi ca, phổ nên giai điệu. Đâu có bỗng chốc đi vào lãng quên biến mất, chìm khuất trong tịch mịch, như cảm xúc tuôn trào để rồi ngừng hẳn còn lại cuộc thơ lên đường. Con người thi sĩ và con người thiền sư hòa nhập làm một nhất như, tuệ lực giác ngộ đêm ngày thường hằng tỏa chiếu.

 

Điều khác nữa nếu không có những rung cảm tuyệt vời gấp trăm ngàn lần những rung động thường tình, thì sẽ không bao giờ mở được cánh cửa giác ngộ. Nếu không khơi dậy quả tim nhạy bén, tánh giác phủ tràn, thì ta sẽ chết ngộp trong những thường nghiệm thông tục trong cuộc đời. Bởi lẽ, sự rung động tuyệt diệu, sự bùng vỡ đích thật của tâm thức, chỉ được tìm thấy trong tận cùng của những vén mở đập phá nghiền ngẫm tư duy bằng những năng lực khác. Đó là rung động trong tận cùng rung động và chết trong sự rung động, chỉ có lúc chết đó ta mới tái sinh ra một thứ khác, đó là sự rung động đã được gạn lọc toàn triệt, còn lại cốt tủy phủ trùm qua thời không về với vô cùng. Từ đó, ta xác quyết lại cung cách và sự huân trưởng trong những thiền sư thi sĩ với năng lực tuệ giác thường nghiệm để dệt vần tạo thơ, không lúc nào là không sống trọn vẹn, tỉnh thức trong từng hơi thở của giác ngộ. Một sự hòa nhập nguyên thể nhất như, sống bằng sự sống từ nơi tâm cảnh biến thành ngôn ngữ thi ca, trãi bày hương sắc ươm mật tuyệt diệu trong vườn hoa thiền.

 

* Bài thơ: Sơn Vũ (chùa Núi)

Gió thu đêm vắng thổi hiên ngoài

Chùa núi im lìm gối cỏ may

Đã được thiền tâm thành một khối

Rè rè tiếng dế gọi kêu ai”?

(Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha

Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la

Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến

Cung thanh tức tức vị thùy đa).

 

Giữa đêm trường mờ mịt vắng lặng hoang liêu, từng cơn gió thu trổi dậy miên man phớt qua, là một hình ảnh đẹp và thơ mộng. Âm thanh của tiếng dế thúc dục rộn rã như nỉ non mời gọi nhắn nhủ cùng ai, và kia hàng hiên im lìm chôn bóng giữa đất trời tâm cảnh bao la. Như thân phận của kiếp người luống trôi, một trời mang mang tâm sự không biết tỏ bày cùng ai, cảnh và người quyện với nhau cột dính vào nhau. Động và tịnh, tiếng dế vụt kêu trong đêm trời cô tịch để rồi sau đó im vắng lạnh lùng. Tâm cảnh lay động, cảm xúc thường tình thì là như vậy, suy nghĩ bình thường thì là như thế.

 

Nhưng với thiền sư thi sĩ ở đó thức giác bật dậy đánh động toàn triệt vào tận cùng, hình ảnh độc đáo nhất là ngôi chùa, im lìm soi bóng lên cỏ mây giữa trăng khuya lồng lộng, xác quyết được giây phút hiện thực vẫn như thế. Ngày qua đêm đến tâm thức biền biệt cuốn trôi mịt mùng lối về cố quận. Âm thanh của tiếng dế trong đêm trường hoang vắng, tiếng vọng thời gian trỗi dậy nhịp có không, nhắn nhủ giải bày cơn lốc vô thường đến đi bất chợt. Dòng tâm thức thiền tánh chủ đạo, một sự bất khả phân ly, qua đó ta thấy được mức độ chứng nghiệm nơi ngài, mặc cho phiến động ba đào lăng xăng chạy nhảy, thì con người ấy tâm ngộ chất thiền ấy vẫn bặt yên không dao động vấn vương, “Đã được thiền tâm thành một khối”. Tâm cùng cảnh vô cùng tuyệt diệu, tất cả hợp nhất thành một khối hòa nhập nhất như.

 

Bài thơ Thạch Thất dưới đây, còn mở rộng phương trời triết lý thơ mộng trong ngài, nói lên được con người của ngài thảnh thơi tự tại, thường trú ngụ trong sự an lạc. Một khi nội tâm đong đầy giác ngộ thì mới có thể an nhiên trụ vững giữa muôn ngàn biến động. Như gian nhà đá che chắn vững vàng trước phong ba bão táp nắng mưa cuộc đời. Không bị cảnh và người xoay chuyển khuấy động, khi lạnh thì mặc áo ấm, đói thì ăn khát thì uống, mọi việc thường nhật đến từ những nhu cầu căn bản cần thiết, không vì o bế cung phụng tấm thân tứ đại mong cầu lợi dưỡng, biết vừa biết đủ thực tập hạnh xả ly buông bỏ. Hình ảnh vị thiền sư đang ngồi thiền định an nhiên bất động trước mọi hiện tượng, đó là một hình ảnh giải thoát vô cùng tuyệt đẹp. Hoặc những hành giả đang tụng kinh niệm Phật, đang thực tập một pháp tu, đều cho ta thấy sự an lành thánh thiện bao phủ lan tỏa.

* Bài thơ Thạch Thất

Nửa gian nhà đá lẫn trong mây

Một mảnh áo lông trải tháng ngày

Tăng ở trên giường kinh tại án

Lò tàn hương lụn mặt trời lên”.

Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch

(Bán gian thạch thất hòa vân trụ

Nhất lĩnh thuế y kinh tuế hàn

Tăng tại Thiền sàng kinh tại án

Lô tàn cốt đột nhật tam can).

 

* Bài thơ: Đề Núi Non Bộ Của Thí Chủ Động Hiên

Quanh quất cây leo núi chất chồng

Hoa rơi lạnh giữa khói trăng lồng

Từ nay niềm tục thôi vương vấn

Chiếc gối an nhàn trước gió trong”.

Huệ Chi dịch, Thơ Văn Lý Trần, tập 2 trang 695

(Hoa mộc di duyên chủng tác sơn

Lung yên trạo nguyệt, lạc hoa hàn

Tông tư niệm lự đô vô tục

Doanh đắc thanh phong nhất chẩm an).

 

Để được sống trọn vẹn với câu “Từ nay niềm tục thôi vương vấnquả thật chẳng dễ chút nào. Nhưng nếu cứ để cho niềm tục lụy đêm ngày vương vấn níu kéo đày đọa khổ đau, thì đó chính là sự bế tắt thất bại, bởi cuộc đời vốn có muôn mặt tình huống và trạng huống, nhưng cảnh sống lối sống cách sống như thế nào mới là vấn đề. Từ ngôn hành suy nghĩ lề lối tư duy có thể dẫn đến những tâm cảnh phức tạp phiền nhiễu bất an, từ bên ngoài đưa đến hay bên trong trỗi dậy, môi trường chung đụng tương tác đều có thể khiến cho kẻ khác nhận định đánh giá, theo chiều hướng tiêu cực hay tích cực. Vượt trên dư luận để sống, sống vì người khác, sống cho số đông có còn là những lý tưởng cho một thời đuổi theo nắm giữ. Hay sống là sống cho chính mình  sống vì tha nhân nên hết lòng phụng sự? Tất cả đều nói lên một điều quan trọng, tiêu chuẩn và phẩm chất đạo đức, sự an ổn trong từng nội tâmChiếc gối an nhàn trước gió trong” cần được phát huy và duy trì một cách bền vững, tự mình nổ lực tìm thấy chân lý như thật thì sự sống mới có ý nghĩa.

 

Mấy bài thơ Hoa Cúc của Thiền Sư Thi Sĩ Huyền Quang ta không thể không nhắc đến, dù trong đó con người thi sĩ đôi lúc vượt lên con người thiền sư. Nhưng từng lời thơ con chữ đong đầy hương thiền ngấm sâu lan tỏa, ở đó thơ không còn là thơ mà là tiếng lòng nở rộ, tâm hoa bừng dậy sáng soi muôn lối. Từng câu từng nhịp từng điệp khúc lắng đọng mượt mà, còn là nỗi lòng tấc dạ gửi hết trong đó trao trọn trong ấy sống trọn trong đó. Sự sống đích thật đúng nghĩa là thắp sáng hiện hữu, mở ra phương trời hương sắc thênh thang lộng gió.

 

* Hoa Cúc

1

Đường nhà Tưởng Hủ tre reo gió

Vườn cảnh tây hồ đẹp nét mai

Nghĩa khí chẳng đồng tình chẳng hợp

Cúc hoa nở sáng khắp vươn ai.

2

Ngàn sông không đủ thấm lòng già

Bách vịnh mai hoa vẫn kém xa

Đầu bạc ngâm hoài vần chưa ổn

Thấy hoa cúc nở rộn lòng ta.

3

Quên thân quên thế thảy đều quên

Thiền toạ giờ lâu lạnh thấm giường

Trong núi năm tàn không có lịch

Thấy hoa cúc nở tiết trùng dương.

4

Năm năm nở đúng tiết thu qua

Gió dịu trăng thanh ý mặn mà

Cười kẻ không hay hoa huyền diệu

Khi về mái tóc đắt đầy hoa.

5

Người ở trên lầu hoa dưới sân

Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông

Hồn nhiên người với hoa vô biệt

Một đoá hoa vàng chợt nở tung.

6

Phương phi xuân sắc trắng hay vàng

Thời tiết tùy loài hợp sắc hương

Khi mọi loài hoa rơi chật đất

Dậu đông hoa cúc vẫn chưa tàn”.

Nguyễn Lang dịch, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận

1

(Tùng thanh Tưởng hủ tiên sinh kính

Mai cảnh Tây Hồ xử sĩ gia

Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp

Cố viên tùy xứ thổ hoàng hoa).

2

(Thiên giang vô mộng cán khô tràng

Bách vinh mai hoa nhượng hảo trang

Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn

Thi biều thực vị cúc hoa mang).

3

(Vương thân vương thế dĩ đô vương

Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương

Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật

Cúc hoa khai xứ tức trùng dương).

4

(Niên niên hòa lộ hướng dương khai

Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài

Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ

Mãn đầu tuỳ đáo tháp quy lai).

5

(Hoa tai trung đình nhân tại lâu

Phần hương độc tọa tự vong ưu

Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh

Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu).

6

(Xuân lai hoàng bạch các phương phi

Ái diễm liên hương diệc tự thì

Biến giới phồn hoa toàn trụy địa

Hậu diêu nhan sắc thuộc đồng ly).

 

Bài thi phú bằng chữ Nôm với ngôn ngữ thiền ca siêu thoát, đong đầy hương thơm gió lạ. Bản giao hưởng không cùng của giác ngộ, khúc hoan ca tuyệt vời của con người vượt thoát. Cuộc lên đường phá vỡ mọi ngăn ngại phân chia, hợp cùng suối nguồn bát nhã, đèn tuệ tâm đăng hoa khai kiến Phật. “Khuya sớm sáng choang đèn bát-nhã. Hôm mai rửa sạch nước ma-ha. Lòng thiền vặc vặc trăng soi rọi, Thế sự hiu hiu gió thổi qua”. Chỉ mấy câu trong bài kệ phú đó thôi đã là vi diệu tuyệt vời, từ một Thiền sư xứng danh thành Thiền tổ, thắp sáng cõi nhân sinh cho ngàn sau tiếp bước.

* Bài Phú Vịnh Chùa Vân Yên

Buông niềm trần tục;

Náu tới Vân Yên.

Chim thuỵ dõi tiếng ca chim thuỵ;

Gió tiên đua đòi bước thần tiên.

Bầu đủng đỉnh dang hòa thế giới;

Hài thong thả dạo khắp sơn xuyên.

Đất phúc địa nhận xem luống kể, kể bao nhiêu dư trăm phúc địa;

Trời Thiền thiên thập thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sáu Thiền thiên.

Thấy đây:

Đất tựa vàng liền;

Cảnh bằng ngọc đúc.

Mây năm thức che phủ đền Nghiêu;

Núi nghìn tầng quanh co đường Thục.

La đá tầng thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn;

Nước suối chảy làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc.

Cỏ chiều gió lướt, dợm vui vui;

Non tạnh mưa dầm, màu thúc thúc.

Ngàn cây phơi cánh phượng, vườn thượng uyển đóa tốt rờn rờn;

Hang nước tưới hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục.

Nhựa đông hổ phách, sáng khắp rừng thông;

Da điểm đồi mồi, gióng hòa vườn trúc.

Gác vẽ tiếng bồ lao thốc, gió vật đoành đoành;

Đền ngọc phiến bối diệp che, mưa tuôn túc túc.

Cảnh tốt hòa lành;

Đồ tựa vẽ tranh.

Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo;

Nhìn chi vua Bụt tu hành.

Hồ sen trương tán lục;

Suối trúc bấm đàn tranh.

Ngự sử mai hai hàng chầu rạp;

Trượng phu tùng mấy chạnh phò quanh.

Phỉ thuý sắp hai hàng loan phượng;

Tử vi bày liệt vị công khanh.

Chim óc bạn cắn hoa nâng cúng;

Vượn bồng con kề cửa nghe kinh.

Nương am vắng Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mây nhè nhẹ;

Kề song thưa thầy ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh.

Huống chi,

Vân thuỷ bằng lòng;

Yên hà phải thú.

Vui thay cảnh khác cảnh hoàng kim;

Trọng thay đường hơn đường cẩm tú.

Phân ân ái, am Não am Long;

Dứt nhân duyên, nàng Nường nàng Mụ.

Mặc cà sa nằm trướng giấy, màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương;

Quên ngọc thực bỏ hương giao, cắp nạnh cà một vò, tương một hũ.

Chốt tiết dương tiếng nhạc dõi truyền;

Voi la đá tính từ chẳng đố.

Xem phong cảnh hơn cảnh Bà Roi;

Phóng tay cầu chưng cầu Thằng Ngụ.

Bao nhiêu phong nguyệt, vào cõi vô tâm;

Chơi dấu nước non, dưỡng đời thánh thọ.

Ta nay:

Ngồi đỉnh Vân Tiêu;

Cưỡi chơi Cánh Diều.

Coi đông sơn tựa hòn kim lục;

Xem đông hải tựa miệng con ngao.

Nức đài lan nghỉ hương đan quế;

Nghe Hằng Nga thiết khúc tiêu thiều.

Quán thất bảo vẽ bao Bụt hiện;

Áo lục thù tiếng gió tiên phiêu.

Thầy tu trước đã nên Phật quả;

Tiểu tu sau còn vị tỳ-kheo.

Thấy đây:

Hồ thiên lẻ tẻ;

Xem lâu có nhẹ.

Tuy rằng học đạo hư vô;

Ngậm ngụt hỏi thiền ngôn nghĩ.

Mê một tấm lòng xét chẳng cùng;

Chác tấc bóng nghìn vàng còn rẻ.

Hẹn đến lâm tuyền làm bạn......

Bảo rằng …...ừ hễ.

Đua khoái lạc, chân bước lăm chăm;

Nhuốm phồn hoa, đầu đà bạc tỷ.

Chẳng những vượn hạc thốt thề;

Lại phải cỏ hoa cười thỉ.

Từ đến đây!

Non nước đã quen;

Người từng mấy phen.

Đầu khách dễ nên biến bạc;

Mặt non hãy một xanh đen.

Hồ nước giá lụa là lọc nước;

Cửa tráu cây phên trúc cài theo.

Đàn khúc nhạc tiếng không tiêu đính;

Vỗ tay ca cách lễ tạ liền.

Lạ những ôi!

Tây Trúc dường nào;

Nam châu có mấy.

Non Linh Thứu ai đem về đây;

Cảnh Phi Lai mặt đà thấy đấy;

Vào chưng cõi thánh thênh thênh;

Thoát rẽ lòng phàm phây phấy.

Bao nhiêu phong nguyệt, thề thốt chẳng cùng;

Hễ cảnh giang sơn, ai nhìn thấy đấy.

Từ trước nhẫn sau;

Thấy sao chép vậy”.

Kệ rằng:

Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,

Lấy chốn thiền lâm làm cửa nhà.

Khuya sớm sáng choang đèn bát-nhã,

Hôm mai rửa sạch nước ma-ha.

Lòng thiền vặc vặc trăng soi giọi,

Thế sự hiu hiu gió thổi qua.

Cốc được tính ta nên Bụt thực,

Ngại chi non nước cảnh đường xa”.

Huệ Chi phiên âm từ chữ Nôm, Thơ văn Lý Trần, tập 2, trang 710 – 712

 

5. Biểu đồ 23 vị tổ truyền thừa của truyền thống Yên Tử được ghi lại trong Đại Nam Thuyền Uyển Truyền Đăng Lục:

 

1) Hiện Quang Tổ Sư

2) Viên Chứng Quốc Sư

3) Đại Đăng Quốc Sư

4) Tiêu Dao Tổ Sư

5) Huệ Tuệ Tổ Sư

6) Nhân Tông Tổ

7) Pháp Loa Tổ Sư

8) Huyền Quang Tổ Sư

9) Ấn Tâm Quốc Sư

10) Phù Vân (hiệu Tỉnh Lự) Quốc Sư

11) Vô Trước Quốc Sư

12) Quốc Nhất Quốc Sư

13) Viên Minh Tổ Sư

14) Đạo Huệ Tổ Sư

15) Viên Ngộ Tổ Sư

16) Tông Trí Tổ Sư

17) Khuê Thâm Quốc Sư

18) Sơn Đăng Quốc Sư

19) Hương Sơn Đại Sư

20) Trí Dũng Quốc Sư

21) Tuệ Quang Tổ Sư

22) Chân Trụ Tổ Sư

23) Vô Phiền Đại Sư

 

Không những thiền học đời nhà Lý Trần chỉ có những vị tổ sư liệt kê ở trên, chúng ta còn tìm thấy rất nhiều những vị thiền sư nổi tiếng khác như: Thiền sư Trí Viên, Thuần Nhất Pháp Sư, Tăng Điều Đại Sư, Bảo Pháp Quốc Sư, Tống Cảnh Quốc Sư, Pháp Cơ Thiền Sư, Bảo Sát Thiền Sư, Viên Thiền Sư, Trí Tông Thái Sư, Vô Sơn Ông, Bích Sơn Trưởng Lão, Sa Môn Thu Tử, Lãm Sơn Quốc Sư v.v… được kể như những khuôn mặt vĩ đại mà sử sách từng đề cập đến.

 

Sau khi tổ Huyền Quang viên tịch, không thấy sử sách đề cập đến những vị thiền sư kế tiếp của thiền phái Trúc Lâm, cũng như tình hình Phật Giáo lúc bấy giờ. Vậy thì nguyên nhân nào lý do ra sao lại có sự thiếu vắng đó, và đó cũng là một dấu hỏi cần có lời giải đáp. Trước đó, chúng ta đã biết khi tổ Huyền Quang nhận lãnh trách nhiệm kế thừa giáo hội lúc tổ đã 77 tuổi, với tuổi cao thân thể hao mòn, tấm lòng thì có nhưng sức lực nhiều lúc lại không,  thêm chán ngán mọi việc công danh phú quý trong triều. Đó cũng là lý do Tổ ủy thác mọi việc giáo hội lại cho An Tâm Quốc Sư, lui về núi Thanh Sơn và Côn Sơn nghỉ dưỡng.

 

Theo sử gia Nguyễn Lang ghi trong cuốn Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, chương 14 Thiền Sư Huyền Quang có đoạn: “Một điều ta có thể ghi nhậnHuyền Quang nhận trách vụ lãnh đạo giáo hội lúc ông đã 77 tuổi. Ông đã chán việc ngoài đời, không ưa giao du liên lạc với vua quan trong triều nữa. Ông ở yên trong núi Côn Sơn. Có lẽ ông đã ủy thác mọi việc cho quốc sư An Tâm. An Tâm đã bất lực trong công việc lãnh đạo giáo hội chăng? Điều này ta không thể trả lời được. Dù An Tâm có tài có sức nhưng khó mà duy trì được sự hưng thịnh của Phật Giáo Trúc Lâm khi mà xã hội bắt đầu phân hóa chia rẽ vì lý do tranh chấp ý thức hệ, khi mà các nhà lãnh đạo quốc gia không có khả năng đoán đúng người, khi mà nho thần nghĩ rằng chỉ có Nho Giáo mới lãnh đạo Thánh, còn Phật Giáotín ngưỡng có hại cho quốc gia. Hơn nữa, một giáo hội dựa quá nhiều trên thế lực triều đình để phát triển mà không biết quay về tìm thế đứng trong dân gian, thì một khi sự ủng hộ triều đình không còn, giáo hội ấy hẳn nhiên sẽ thiếu lưng tựa và hiện tượng suy đồi là chuyện hiển nhiên phải tới”.

 

Suy cho cùng, mọi việc mọi thứ trên thế gian này cho dù có thành tựu tốt đẹp đến đâu, có hưng thịnh huy hoàng đến đâu, có quyền uy giàu sang tới đâu, thì cũng có lúc cũng phải suy tàn. Đó là điều tất nhiên hiển nhiên của định luật vô thường, thành trụ hoại diệt chi phối, không một ai có đủ năng lựcthẩm quyền thay thế hay làm khác đi được. Mặt khác sự hưng thịnh hay suy tàn phần nhiều đều bắt nguồn từ chính nội lực của tổ chức đó, chứ không phải vào sự dựa dẫm nương nhờ. Nếu không tự mình vựt dậy năng lực tự thân mà chỉ trông mong nương vào uy quyền thế lực của người khác thì con đường dẫn đến suy vi ắt không tránh khỏi. Đó là bài học của lịch sử và bài học đó lúc nào cũng có giá trị.

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 6890)
14/04/2020(Xem: 4460)
24/02/2020(Xem: 1515)
02/11/2019(Xem: 2021)
Biên cương thế giới ngày nay bị thu hẹp với nền viễn thông liên mạng tân tiến, trong khi nhận thức của các thế hệ trẻ lại được mở rộng và sớm sủa hơn, khiến niềm tin và lẽ sống chân thiện dễ bị lung lay, lạc hướng. Thông tin đa chiều với sự cố ý lạc dẫn từ những thế lực hoặc cá nhân vị kỷ, hám lợi, thúc đẩy giới trẻ vào lối sống hời hợt, hiểu nhanh sống vội, ham vui nhất thời, tạo nên hỗn loạn, bất an trên toàn cầu. Trước viễn ảnh đen tối như thế, con đường hoằng pháp của đạo Phật rất cần phải bắt nhịp với đà tiến của nền văn minh hiện đại, nhằm tiếp cận với từng cá nhân, quân bình đời sống xã hội, giới thiệu và hướng dẫn con đường mang lại an vui hạnh phúc cho mình, cho người.
Ni Sư Thích Nữ Diệu Hiếu, là vị Tiến Sĩ đầu tiên tốt nghiệp Thiền Vipassana tại Myanmar vào đầu năm 2016. Suốt 14 năm tu học tại Miến Điện. Tháng 07/2016 Ni Sư về lại Việt Nam, Ni Sư là giảng viên Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP. HCM đến nay. Hội đủ duyên lành, được quý Phật tử phát tâm cúng dường mảnh đất tại TP. HCM. Với tâm nguyện hoằng Pháp lợi sanh, Ni Sư xây dựng NI XÁ tại Tu Viện để có chỗ Ni Chúng Đệ Tử có nơi ở an tâm tu học.
Thế mới hay trên cõi đời này, bể khổ không do thần linh tạo ra mà do chính con người tạo ra. Xây dựng những công trình vĩ đại trên trái đất này là do con người và kiến tạo Địa Ngục cho chính mình cũng do con người. Do đó, ngay trong thế giới Ta Bà này đã có sẵn Địa Ngục và Thiên Đình, chẳng cần tìm kiếm Địa Ngục và Thiên Đình ở đâu xa. Có thể các giáo sĩ và thầy tu của một Cung Trời nào đó, khi nhìn xuống Trái Đất với đầy chiến tranh, hận thù, kỳ thị, ghét bỏ, chửi rủa, lên án, vu cáo nhau nhau từng giờ từng phút… sẽ nói với các tín đồ rằng “Ở đây có một địa ngục thật kinh khiếp. Những ai làm ác sẽ bị đày xuống Địa Ngục này!”