Mở Đầu

02/09/201012:00 SA(Xem: 26458)
Mở Đầu
Đây là bốn phạm trù tâm thức rộng lớn cao thượng không lường được phát sinh từ trong thiền định khi hành giả tu tập trong tự lợi và, lợi tha khi đem chúng ra ban vui cứu khổ cho chúng sanh cũng đạt được như mình của chư Phật và Bồ-tát. Bốn loại tâm thức cao thượng rộng lớn không lường này, có được nhờ vào sự đạt định của hành giả trong khi tu tập phát sinh khi các thứ phiền não vô minh vọng động được lắng trong. Bốn phạm trù tâm thức này chúng tùy thuộc vào thuộc tính của căn cơ của hành giả mà có những tên khác nhau như: Bốn Phạm trú (catur-brahmavihāra), khi hành giả thực hành Bốn phạm trú, thì hành giả sẽ tái sinh tại cõi Trời (deva) theo luật tắc nhân quả tương đối của nhị thừa bị giới hạn. Theo Tăng nhất A-hàm 21 thì, hành giả tu Bốn Phạm trú sẽ vượt qua được trời Dục giới mà trụ vào Phạm xứ, cho nên Bốn vô lượng còn gọi là Tứ Phạm đường, Tứ Phạm xứ, Tứ phạm hạnh. Vì thuyết Tứ Phạm đườngliên hệ đến chủ trương của các ngoại đạo Bà-la-môn như trong kinh Tạp A-hàm 27 ghi lại, các ngoại đạo cũng có thuyết về pháp này, nhưng đức Đạo sư chuyển dụng như là pháp của riêng mình trong việc thể hiện lòng từ bi hỷ xả theo quan điểm của Ngài trong chỉ ác hành thiện qua pháp tu thiền định cho các đệ tử của Ngài như Trung A-hàm 21, kinh Thuyết xứ đức Đạo sư dạy:

A-nan, trước kia Ta đã nói cho ông nghe về bốn vô lượng, Tỳ-kheo tâm đi đôi với từ biến mãn một phương, thành tựu an trụ. Cứ như thế, hai phương, ba phương, bốn phương, tứ duy, trên dưới biến khắp tất cả, tâm đi đôi với từ, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh, vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ. Bi và hỷ cũng vậy. Tâm đi đôi với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh, vô cùng rộng lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ. A-nan, bốn vô lượng này, ông hãy nói để dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu. Nếu ông nói và dạy cho các Tỳ-kheo niên thiếu về bốn vô lượng này, họ sẽ được an ổn, được sức lực, được an lạc, thân tâm không phiền nhiệt, trọn đời tu hành phạm hạnh.” 

Cũng theo Trung A-hàm 21, kinh Thuyết xứ và Đại Trí Độ luận 20 giải thích thuyết A-tỳ-đàm về Bốn vô lượng như sau: Một, duyên vào vô lượng chúng sanh, tư duy khiến cho họ được pháp vui mà nhập “Từ đẳng chí” gọi là Từ vô lượng. Hai, duyên vào vô lượng chúng sanh, tư duy khiến cho họ lìa pháp khổ, mà nhập “Bi đẳng chí” gọi là Bi vô lượng. Ba, tư duy vô lượng chúng sanh thường lìa khổ được vui; thâm cảm vui thích ở trong tâm, mà nhập vào “Hỷ đẳng chí”, gọi là Hỷ vô lượng. Bốn, tư duy vô lượng chúng sanh tất cả đều bình đẳng, không có bất cứ sai biệt giữa oán và thân, mà nhập vào “Xả vô lượng”, gọi là Xả vô lượng

Theo Câu Xá luận 29 thì, từ vô lương có ba nghĩa: Một, lấy chúng sanh vô lượng làm chỗ duyên cho bốn tâm này. Hai, bốn tâm này có khả năng dẫn đến phước vô lượng. Ba, bốn tâm này có khả năng chiêu cảm quả báo vô lượng và, cũng theo Câu Xá luận 29 thuyết minh thì bốn vô lượng này dùng để đối trị bốn chướng: Dùng từ vô lượng đối trị sân, dùng bi vô lượng đối trị với hại, dùng hỷ vô lượng đối trị không an vui, dùng xả vô lượng đối trị tham sân dục giới. Đại thừa thì gọi là Bốn tâm vô lượng (Skt: catur-apramāṇavihāra; Pāli: catur-appamañña-vihāra), có nơi còn gọi là Tứ đẳng tâm, Tứ đẳng, Tứ tâm.

Bốn Phạm trú, hay Bốn vô lượng là: 

Từ vô lượng (Skt: maitrī-apramāṇa, Pāli: metta appamaññā). 
Bi vô lượng (Skt: karuṇāpramāṇa. Pāli: karuṇā appamaññā). 
Hỳ vô lượng (Skt: muditāpramāṇa, Pāli: muditā appamaññā). 
Xả vô lượng (Skt: upeksāpramāṇa, Pāli: upekkhā appamaññā). 

Bốn phạm trù này dùng để đối trị bốn thứ phiền não đó là tham muốn, sân hận, đố kỵ, buồn lo trong lúc tu tập thiền định và, cũng từ thiền định này tạo điều kiện làm duyên cho bốn tâm thức cao thượng rộng lớn vô lượng phát sinh đối với vô lượng chúng sanh. Theo các nhà Đai thừa thì Bốn phạm trú của Tiểu thừa cũng được gọi là hạnh Ba-la-mật (pāramitā). Đó là tâm thức của chư Phật và Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh trong việc ban vui cứu khổ. Vì tính đặc thù vô lượng (Skt: apramāṇa;Pāli: appamaññā), nên bốn phạm trù này thường được sừ dụng trong việc thực hành Bồ-tát đạo ban vui cứu khổ là chính. 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 177423)
01/04/2012(Xem: 23218)
08/11/2018(Xem: 4465)
08/02/2015(Xem: 33476)
25/07/2011(Xem: 101256)
10/10/2010(Xem: 102007)
10/08/2010(Xem: 105655)
08/08/2010(Xem: 111054)
21/03/2015(Xem: 14364)
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thường và công bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cách ly an toàn với coronanvirus tại tư thất của ông ấy ở vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn, nhưng nhờ công nghệ thông tin đã giúp ông ấy kết nối với mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi đã nói chuyện với ông qua ứng dụng truyền thông liên kết video về lòng từ bi, sự phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và về Tổng thống Trump, trong số các vấn đề khác.