Phần Thứ Nhất- Những Quán Tưởng Về Tân Thiên Niên Kỷ - 1b- Những Vấn Đề Nêu Ra Và Những Câu Trả Lời

05/03/201112:00 SA(Xem: 9194)
Phần Thứ Nhất- Những Quán Tưởng Về Tân Thiên Niên Kỷ - 1b- Những Vấn Đề Nêu Ra Và Những Câu Trả Lời

VƯỢT KHỎI GIÁO ĐIỀU (BEYOND DOGMA)

Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14
Việt Dịch: Tâm Hà Lê Công Đa


Những Vấn Đề Nêu Ra và Những Câu Trả Lời

Những phát biểu của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã làm chúng ta ý thức được tầm quan trọng trong lãnh vực tư duy của một nhà khoa học nhân văn cần nên có. Là một bác sĩ y khoa, tôi đang chuẩn bị một số câu hỏi có thể làm đề tài cho các cuộc thảo luận khác liên quan đến sinh học và đời sống tâm linh của nhân loại trong tương lai. Hiển nhiên là tôi đã phác thảo những câu hỏi này trong khung cảnh của nền tôn giáo độc thần đang chế ngự phương Tây -Do thái giáo, Cơ đốc giáoHồi giáo.

Những tiến bộ gần đây trên các lãnh vực y khoa, sinh học, di truyền học đã cho con người khả năng sao chụp lại một cách không hạn định cùng một sinh thể, nghĩa là khả năng tái tạo, nhân giống mọi sinh vật để có thể cùng mang những đặc tính chung về thể chất lẫn tinh thần, tức là người ta có thể ấn định trước được cung cách, thái độ sống cuả chúng. Trong tương lai, qua sự can thiệp trực tiếp vào việc truyền sản, chúng ta có khả năng tạo ảnh hưởng lên các thế hệ mai sau, ấn định số lượng cũng như bản sắc của mọi cá nhân. Trong rất nhiều năm, phôi bào của súc vật và có thể cả bào thai của con người sẽ là đối tượng để nghiên cứu thí nghiệm về lãnh vực này.


Căn cứ vào những thí nghiệm như thế -thường được các cơ quan truyền thông tường trình đầy đủ- thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài tin rằng vào thời điểm nào trong quá trình thụ thai của sinh vật bắt đầu hàm chứa những hạt mầm tinh thần hay dấu hiệu thiêng liêng của sự sống?

Phật giáo quan niệm rằng ý thức xâm nhập vào sinh vật ngay từ phút giây đầu tiên của sự thụ thai, bởi lẽ đó mà phôi bào vẫn được coi như là một sinh vật. Cho nên chúng tôi xem hành động phá thai cũng giống như việc cướp đi sự sống của một con ngườidĩ nhiên đây không phải là một việc làm chánh đáng. Đó là lý do giải thích tại sao chúng tôi đã nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc sử dụng phương thức bất bạo động trong việc kiểm soát sinh sản. Tuy nhiên không phải là không có những trường hợp miễn trừ. Ví dụ như trường hợp người ta biết chắc rằng đó là một quái thai hay sinh mạng của người mẹ bị hăm dọa chẳng hạn. Dĩ nhiên tôi phát biểu trên quan điểm của một người Phật tử. Bất cứ hành động nào ta cũng phải nên cân nhắc giữa tốt và xấu, giữa lợi và bất lợi. Tựu trung điều quan trọng vẫn là ý hướngđộng cơ thúc đẩy đằng sau hành động đó.

Còn vấn đề vận dụng ngành di truyền học thì sao, thưa Ngài, -đây là một viễn tượng đã trở thành cụ thể- phải chăng khi người ta có thể thay đổi được những quy luật liên quan đến thân phận con người, nhân loại đã cướp quyền tạo hóa?

Người ta có thể đi sâu vào việc vận dụng ngành di truyền học để cải thiện thể chất con người, não bộ, v.v...

Phật giáo không quan niệm về một đấng Tạo hóa cho nên vấn nạn này được nhìn dưới một lãnh vực khác, đó là nghiệp, tức là những tác hành xảy ra từ những kiếp trước cùng với những hậu quả gây ra bởi những tác hành này. Cho nên nếu một người là đối tượng của sự vận dụng của ngành di truyền học thì đó chỉ là kết quả gây ra do những việc làm của họ trong quá khứ mà thôi. Một khi chúng ta nhận thức được cái chuổi nguyên nhânhậu quả, chúng ta cần phải quan tâm đến cái kết quả thiện hay ác gây ra do sự vận dụng nói trên. Ví dụ, nó có mang lại cho ta những kết quả khích lệ nào không trên phương diện trị liệu?

Nhưng rồi việc này lại đẻ ra một vấn nạn khác: để tìm hiểu xem nó mang lại xấu hay tốt cho nhân loại ta lại cần phải thí nghiệm. Và như thế, con người một lần nữa trở thành những con vật thí nghiệm. Vấn đề này làm cho vấn nạn càng trở nên phức tạp, nan giải. Người Phật tử quan niệm rằng thí nghiệm trên súc vật cũng không khác gì trên con người và khó mà chấp nhận những chuyện như vậy.

Mục tiêu của việc nghiên cứu ngành di truyền học là nhằm giảm thiểu những bệnh tật và khổ đau của nhân sinh. Nếu Ngài cho rằng khổ đau là một phần tất nhiên của thân phận con người, tại sao ta lại không nghĩ rằng bằng vào những nỗ lực thí nghiệm trên một số ít người, ta hy vọng sẽ giải phóng nhân loại ra khỏi khổ đau?

Thật khó mà trả lời. Nhưng tôi xin phép được hỏi qúy vị: Qúy vị có tin tưởng rằng với sự vận dụng ngành di truyền học, mai đây con người sẽ trở nên bất tử? Tôi nghĩ việc đó khó khăn lắm.

Trước tiên tôi không chắc đó là điều người ta cố gắng muốn vươn tới.

Có hay không, tôi thật tình không biết. Giả dụ như điều đó có thể xảy ra thì rồi đến một lúc nào đó người ta cũng phải tìm biện pháp ngăn ngừa sự sinh sản nếu không muốn gánh lấy hậu qủa trầm trọng của sự gia tăng dân số. Mặt khác nếu giả dụ như ta có khả năng chấm dứt sự sinh sản và cái chết của con người cùng một lúc, thì ta cũng phải thiết định và giữ gìn một trạng thái quân bình nào đó bởi vì nếu thất bại thì quả là một đại họa.

Hãy để cho tôi trở lại câu hỏi. Trong triết thuyết của các tôn giáo độc thần, sự khổ đau thường được quan niệm như là một phương tiện dẫn đến sự cứu rỗi. Còn Phật giáo thì sao thưa Ngài?

Tôi nghĩ rằng Phật giáo cũng quan niệm tương tự. Bằng quan sátquán chiếu về nỗi khổ đau của con người, ta mong muốn được giải phóng khỏi những nỗi khổ đau ấy.

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, tôi xin phép được hỏi Ngài về những liên hệ giữa Tây TạngTrung Quốc. Có vẻ như Ngài rất tin tưởng rằng Tây phương sẽ tạo áp lực lên Trung quốc về vấn đề này. Ngài có thể tin được chuyện là Tây phương chịu hy sinh một thị trường lớn với hàng tỉ khách hàng để bảo vệ cho nền độc lập tự trị của vài triệu người dân Tây Tạng? Có phải là điều quan trọng hơn, hiệu qủa hơn, về lâu về dài, là nên tạo một ảnh hưởng tinh thần lên Trung quốc thay vì cứ mãi chống đối họ? Ngài có nghĩ rằng diễn tiến phát triển kinh tế tại Trung quốc có thể đi song hành với sự tồn tại của hệ thống chính trị? Ngài có nghĩ rằng những giá trị tinh thần của Tây Tạng sẽ cưỡng chống lại những tiến bộ kinh tế do Trung quốc mang lại? Có phải là sự phát triển của nền kinh tế Trung quốc mang lại mối hiểm họa lớn nhất cho Tây Tạng?

Suốt mười bốn năm qua chúng tôi đã cố gắng thảo luận một cách nghiêm chỉnh với Trung Quốc về vấn đề Tây Tạng, thế nhưng cho dù nhiều lúc đã phải xuống nước đối với họ, những nỗ lực của chúng tôi cũng chưa đi đến đâu cả. Thế cho nên một điều rất rõ ràng là, những áp lực của cộng đồng quốc tế quả là điều vô cùng cần thiết. Từ những kinh nghiệm riêng của chúng tôi cho thấy những nỗ lực của chúng tôi không mang lại kết quả cụ thể chúng tôi càng thấy sự quan trọng của áp lực quốc tế. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là chúng tôi hoàn toàn trông cậy mọi chuyện vào người khác.

Lý dochúng tôi chọn lựa đường lối bất bạo động, cho dù bị chỉ trích, là vì chúng tôi tin rằng cuối cùng vẫn phải có một giải pháp giữa Trung QuốcTây Tạng. Một giải pháp như thế chỉ có thể thành tựu một cách trực tiếp giữa hai quốc gia mà thôi. Sự hỗ trợ của nhân dân Trung Quốc, đặc biệt thành phần trí thức, sẽ là một yếu tố vô cùng cần thiết. Đó là lý do giải thích tại sao chúng tôi theo đuổi phương thức bất bạo động ngay từ lúc khởi đầu cho dù phải chấp nhận những khó khăn. Bằng cách này tôi nghĩ là càng ngày càng có nhiều người Trung quốc, trong cũng như ngoài nước, bắt đầu quan tâm và có cảm tình với cuộc tranh đấu của chúng tôi. Có nhiều người Trung quốc đã lên tiếng cảm ơn chúng tôi khi chọn lựa phương thức này. Dù gì đi nữa, tôi nghĩ rằng chọn lựa phương thức thương thảo để giải quyết vấn đề là một hành động mang giá trị tinh thần.

Trong mười bốn năm qua, tôi cũng đã chứng kiến những phái triển kinh tế đáng kể tại Trung quốc, ta phải mang ơn cho sự giải phóng hệ thống kinh tế đó. Tuy nhiên trên bình diện chính trị, đã không có một chút nhỏ thay đổi nào, không có một chút nhỏ cải thiện nào. Tôi nghĩ rằng về lâu về dài, sự giải phóng kinh tế sẽ mang lại sự giải phóng chính trị.

Bây giờ nhìn vào xã hội Trung Quốc ta sẽ thấy rằng nó được hình thành bởi ba giai tầng khác nhau. Trước hết là thành phần lãnh đạo và những người trung thành với đảng Cộng sản . Kế đến là thành phần trí thức, sinh viên học sinh và sau rốt là đám đông quần chúng. Nếu chúng ta chịu khó phân tích mối quan tâm chính của từng giai tầng, ta thấy rằng thành phần thứ nhất chỉ nghĩ đến quyền lực và cách thế để cai trị đất nước. Những người lãnh đạo đảng Cộng Sản luôn luôn muốn bám vào quyền lực bằng mọi giá và sẵn sàng sử dụng mọi phương tiện cho mục tiêu này. Đều đó đã được chứng tỏ rõ ràng qua vụ Thiên An Môn.

Thành phần thứ hai là một nhóm thiểu sốảnh hưởngmục tiêu cuối cùng của họ là xây dựng một thể chế dân chủ tại Trung Quốc. Còn thành phần thứ ba, quần chúng, họ chỉ quan tâm đến đời sống thiết thực hàng ngày, mức sinh hoạt, cái ăn cái mặc, chỗ ở, chiếc xe đạp hoặc cao hơn, chiếc xe gắn máy, cái tủ lạnh, cái máy giặt... Tôi nghĩ là họ chẳng thèm quan tâm đến việc đất nước có dân chủ hay không. Việc phát triển kinh tế do đó tạo thêm niềm tin cho nhóm thứ nhất và thứ ba, đặc biệt nhóm thứ ba sẽ cảm thấy thỏa mãn về chuyện này. Nhóm thứ hai vì thế bị cô lập, ở vị thế bất lợi và do đó có thể họ sẽ bị xuống tinh thần. Nếu đúng như vậy thì qủa thật là một tai họa không phải chỉ riêng cho một tỷ dân Trung Quốc mà cho cả hành tinh của chúng ta.

Nhìn kỹ vào đất nước Trung Quốc chúng ta thấy gì? Đó là một quốc gia có dân số đông đảo nhất thế giới. Dân chúng đang sống dưới cái ách của một chế độ chuyên chế độc tàiý thức hệ luôn cổ võ cho một bộ máy chiến tranh. Hơn thế nữa, Trung Quốc hiện đang có vũ khí nguyên tử trong tay. Thế nên nếu kinh tế của họ phát triển theo với một nhịp độ như hiện nay, tôi nghĩ là chúng ta sẽ trông thấy một số hậu qủa nghiêm trọng xảy ra không phải chỉ đối với những quốc gia lân bang với họ như Tây Tạng mà ngay cả những nước lớn như Ấn Độ cũng như cả toàn thế giới.

Bây giờ xin được trả lời phần thứ hai câu hỏi của qúy vị, tôi nghĩ rằng vấn đề phát triển kinh tế tự nó không phải là một mối hăm dọa đối với nền văn hóa hay đời sống tinh thần của nhân dân Tây Tạng, nếu trong khi thực hiện, người ta quan tâm đến những điều kiện sẵn có của đất nước này. Phát triển kinh tế có thể đi đôi với phát triển văn hóa. Trong Phật giáo, khi nói đến hạnh phúc nó cũng bao hàm cả những phúc lợi về mặt vật chất.

Điều mà chúng tôi quan tâm là, sự phát triển kinh tế của Trung quốc đã tạo nên một vấn đề nghiêm trọng trong việc thuộc địa hóa Tây Tạng khi Trung Quốc mang một số lượng lớn dân của họ vào đất nước chúng tôi. Mối hăm dọa lớn đối với Tây Tạngvấn đề di dân, đặc biệt là sự di dân hàng loạt người Trung Quốc vào Tây Tạng. Chính cơn lũ những người Trung Quốc thực dân này đã tạo nên một bầu khí cực kỳ căng thẳng trên khắp đất nước chúng tôi, tiếp tục gia tăng tình trạng vi phạm nhân quyền sẫn có. Thêm vào đó, nó cũng đã gây nên những thiệt hại đáng kể trên lãnh vực môi sinh. Không biết có được tính toán trước hay không, một sự huỷ diệt văn hoá đã xảy ra tại Tây Tạng và tôi nghĩ đó là mối nguy cơ lớn nhất cho tương lai của đất nước chúng tôi.

Thưa Ngài, trong một lần phát thanh gần đây, Ngài tuyên bố rằng Ngài có cảm giác mình như là một người Mác xít. Ý nghĩa đích thực của lời tuyên bố này là gì? Bằng cách này hay cách khác, Ngài đã nhiều lần biểu tỏ một niềm tin tưởng sâu xa vào thể chế dân chủ, kể cả ý hướng từ bỏ quyền lực chính trị nếu Tây Tạng được tự trị. Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, theo ý Ngài thể chế dân chủ hiện nay có gần gũi với những giá trị của Phật giáo hay không? Có mâu thuẫn nào không giữa những giá trị này và những qui luật của dân chủ ?

Đứng trên quan điểm đạo đức mà nói, tôi thấy một số phạm trù của chủ nghĩa Mác rất có giá trị chẳng hạn như chế độ bình sản, bảo vệ kẻ nghèo chống lại sự bóc lột của thiểu số. Những khái niệm này ta có thể chấp nhận được. Tôi tin là người ta có thể cho rằng hệ thống kinh tế gần gũi nhất với Phật giáo, đặc biệtPhật giáo Đại thừa, là hệ thống kinh tế xã hội. Chủ nghĩa Mác đặt căn bản trên những tư tưởng tốt đẹp, thí dụ như bảo vệ quyền sống cho những người bị thiệt thòi nhất trong xã hội.

Tuy nhiên khi đem áp dụng những nguyên lý này vào thực tế, người ta đã xây dựng trên căn bản hận thù bạo động đối với giai cấp chủ nhân và rồi sự thù hận này được chuyển thành giai cấp đấu tranh và sự tiêu diệt giai cấp bóc lột. Một khi giai cấp chủ nhân bị loại trừ thì rồi cuối cùng cũng chẳng còn gì lại cho dân chúng và tất cả đều trở thành vô sản nghèo đói. Bởi vì ngay từ đầu đã hoàn toàn vắng bóng tinh thần từ bi.

Tương lai của Tây Tạng đã được quyết định, nó sẽ phải là một quốc gia dân chủ. Tôi không biết có sự mâu thuẫn nào giữa dân chủPhật giáo hay không, nhưng tôi có thể nói rằng Phật giáo Đại thừa chính là tôn giáo của dân chủ. Sau đây là một thí dụ. Một cộng đồng tăng lữ (tức Tăng già, Shangha) thành hình khi nó quy tụ được ít nhất bốn vị tăng sĩ . Khi có một vấn đề quan trọng cần phải lấy quyết định, tất cả tăng sĩ trong nhóm như là một khối thống nhất sẽ giải quyết vấn đề chứ không phải chỉ một mình người lãnh đạo của nhóm. Tương lai của Tây Tạng, theo tôi, lý tưởng nhất là sự pha trộn của các hệ thống kinh tế. Nếu qúy vị hỏi thêm gì khác, hoặc chất vấn tôi loại hình kinh tế đó như thế nào, câu trả lời của tôi chắc là rất ngắn!

Thưa Ngài, xin được hỏi Ngài một câu hỏi liên quan đến vấn đề Nam và Bắc mà Ngài đã từng đề cập đến khi trả lời câu hỏi của chúng tôi trước đây. Thực tế cho thấy là có đến 80% tiền viện trợ của Pháp cũng như các quốc gia Tây phương cho các quốc gia đang phát triển, đều lọt vào túi của tham nhũng. Như vậy Ngài quan niệm như thế nào về kiểu cách liên hệ giữa các quốc gia kỹ nghệ và Thế Giới Thứ Ba?

Vâng, tôi đã từng đề cập đến vấn đề này khi phát biểu rằng, điều cần thiết là phải làm giảm bớt hố sâu ngăn cách giữa các quốc gia phía Nam và phía Bắc. Việc trước tiên là phải làm giảm khoảng cách ngay trong tự thân của các quốc gia phát triển, giữa thiểu số được ưu đãiđại đa số quần chúng. Như tôi đã phát biểu trước đây, trước tiên mỗi quốc gia phải tự mình vận dụng những nỗ lực để đạt đến tiến bộ. Điều này quá hiển nhiên. Người ta không thể đứng yên một chỗ suốt đời duỗi cánh tay ra mà có thể giải quyết mọi vấn đề.

Người Tây Tạng chúng tôi trong thời gian lưu vong đã nhận được một số lượng viện trợ đáng kể. Trong thời gian đầu, chúng tôi hoàn toàn trông cậy vào sự trợ giúp này. Nhưng chúng tôi cũng biết rằng điều trước tiên là mình phải thể hiện những nỗ lực lớn lao để bảo đảm cho sự tồn tại của chính mình. Bây giờ thì không những chúng tôi có khả năng đáp ứng những nhu cầu của chính mình mà còn có thể làm việc trên nhiều dự án khác nhau nhằm mục đích bảo tồn bản sắc và nền văn hóa của Tây Tạng.

Thế nên, những nỗ lực trước tiên phải là của các quốc gia Thế Giới Thứ Ba. Hiện nay các quốc gia này được lãnh đạo bởi một giai tầng ưu đãi, thường là tốt nghiệp tại các nước phương Tây và bởi thế đã có một khoảng cách đáng kể giữa họ và dân chúng. Thế nên, bước cần thiết đầu tiên để xóa bỏ sự chia cách này là giáo dục quần chúng, tạo điều kiện cho những thành phần không được ưu đãi trong xã hội có cơ hội được nâng cao trình độ kiến thức.

Trong chuyến viếng thăm Gabon vừa rồi, tôi đã phát biểu với những người bạn Phi châu rằng, qúy vị đang sống trên một lục địa bao la, có quá trình lịch sử, nhiều tiềm năng lớn lao và tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhưng cái mà qúy vị thiếu là sự tự tin ở chính mình. Phải phát triển niềm tự hào, phải nuôi dưỡng sự quyết tâm, và dồn tất cả mọi nỗ lực để thực hiện sự biến đổi tình huống hiện tại. Hãy nhìn tấm gương của Mahatma Gandhi: mặc dù ông ta được hấp thụ một nền học vấn cao của Tây phương nhưng ông ta không bao giờ quên hay xa rời chiếc nôi văn hóa của chính mình.

DUYÊN KHỞI VÀ Ý THỨC GIÁC NGỘ

Xin Ngài vui lòng cho biết một cách vắn tắt Phật giáo là gì? Chúng tôi thường thắc mắc không biết đó là một triết lý hay là một tôn giáo; đối với Tây phương, nhiều khi Phật giáo được hiểu một cách giản đơn đó là ý niệm về sự tái sanh, tuy nhiên chúng tôi biết chắc không phải như thế.

 Để trả lời câu hỏi này, tôi có thể nói một cách tổng quát rằng bản chất của Phật giáobất bạo động, nếu nhìn trên quan điểm hành xử cá nhân, nhưng nếu đứng trên quan điểm triết học thì đó là yếu tính duyên khởi của mọi hiện tượng. Để có thể hình dung ra khái niệm về bất bạo động, tôi có thể khẳng định rằng cách hành xử lý tưởng nhất là hãy làm tất cả điều thiện cho kẻ khác. Nếu người ta cảm thấy rằng chuyện này là khó khăn thì ít nhất chúng ta nên tránh đừng gây tổn hại cho người.

 Về mặt nhân duyên của hiện tượng, một sự thực mà chúng ta thấy là tất cả mọi hiện tượng đều tùy thuộc vào những nguyên nhân khác nhau và điều kiện sinh ra chúng, hay nói một cách khác, mọi hiện tượng hiện hữu trong mối tương quan với nhauphụ thuộc vào nhau. Ý niệm về nhân duyên giúp cho chúng ta hiểu rõ được niềm hạnh phúc, nỗi khổ đau của chúng ta chỉ được hình thành với sự tham dự của những nguyên nhânđiều kiện và sự hiện hữu của chúng phụ thuộc vào một số yếu tố nhất định. Hiểu như vậy sẽ dẫn ta đến một thái độ bất bạo động.

 Như vậy, nhìn trên quan điểm hành xử -bất bạo động- chúng ta có thể xem Phật giáo như là một tôn giáo, còn nếu ta quan tâm đến khái niệm về yếu tính duyên khởi của hiện tượng, Phật giáo được coi như là một triết học. Tuy nhiên nếu hiểu theo đúng nghĩa của từ “tôn giáo“ bao hàm sự tin tưởng vào một Đấng Thượng Đế Sáng Tạo thì Phật giáo không đáp ứng với định nghĩa tôn giáo. Một số học giả phương Tây cho rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo mà đúng hơn là một khoa học về tâm linh. Sự thực là một bộ phận lớn của Phật giáo chuyên tâm vào lãnh vực tham thiền, tuy nhiên chúng tôi được hướng dẫn làm cách nào để thông qua thiền định, con người có thể tiến triển trên đường tu tậpđạt đến những đẳng cấp tinh thần cao hơn. Nhìn trên khía cạnh này, Phật giáo được xem như là một tôn giáo.

Trên thế giới như quý vị thấy ở một bên chúng ta có các tôn giáo được xây dựng chủ yếu trên đức tin nhưng đồng thờithái cực kia lại cũng có những người tin theo chủ nghĩa duy vật một cách triệt để. Cả hai lối tiếp cận hoàn toàn đối nghịch nhau, chỉ có Phật giáo là đi thep con đường trung đạo. Đối với những tín ngưỡng được xây dựng trên căn bản đức tin, Phật giáo không được xem như là một tôn giáo. Tuy nhiên ta cũng không thể xếp loại Phật giáo vào hàng ngũ của chủ nghĩa duy vật. Phật giáo vì thế có thể là chiếc cầu nối liền hai lối tiếp cận.

Sự tái sanh là một phần trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo. Thông qua thiền quán về những chân lý cơ bản này, con đường tâm linh của ta ngày càng phát triển và cuối cùng ta đạt đến sự chứng nghiệm. Ngược lại ta sẽ không đạt được sự chứng nghiệm tâm linh nếu thiền quán trên những ý tưởng vốn dĩ đã sai lầm từ căn bản hoặc không hề hiện hữu. Thí dụ,ï do thấy được sự hiện hữu của tánh không, cũng như tính chất vô thường của các hiện tượng, về sự khổ đau... mà ta có thể tập trung thiền quán trên những đề mục này. Như vậy nhờ biết rằng chúng hiện hữu nên ta có thể quán tưởng về chúng và đạt đến sự chứng ngộ, nếu không ta chỉ hoài công vô ích. Nguyên lý về tiền kiếp và hậu kiếp, sự tái sanh là một trong những giáo lý cơ bản của Phật giáo.

Thưa Ngài, cách thức vận y phục của Ngài có mang một ý nghĩa tôn giáo nào không? Cụ thể là việc để trần một cánh tay chẳng hạn?

Chỉ là để cho bắp thịt cánh tay phát triển thôi mà! (*) Xin qúy vị lưu ý rằng chiếc y mà giới tăng sĩ chúng tôi đang bận đây có nguồn gốc từ Ấn Độ. Bởi vì Ấn Độ là một xứ nóng, người tu sĩ không những để cánh tay trần mà còn để ngực trần nữa, ngoại trừ khi họ quấn khăn. Còn bên Cam Bốt chẳng hạn, tăng sĩ bận áo dài tay bên trong chiếc y màu vàng của họ vì trời lạnh. Tại Tây Tạng, mặc dù thời tiết rất lạnh, chúng tôi không bận áo tay dài mà thường quấn vào người một tấm khăn dày. Tôi thấy cũng cần lưu ý qúy vị rằng chiếc y của người tu sĩ Phật giáo được may bởi những mảnh vải khác nhau kết hợp lại. Sự nối kết những mảnh vải này nhằm tránh cho tâm ta không bị vướng mắc vào chuyện ăn mặc áo quần. Tuy nhiên, một đôi khi khâu vào cho nhiều lại càng bị vướng mắc thêm nhiều! (*)

(*) Ghi Chúcủa người dịch: Đức Đạt Lai Lạt Ma đang nói đùa (joking). Ngài luôn luôn tạo không khí cởi mở thoải mái với người đối thoại qua lối nói đùa dí dỏm của Ngài.

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài đã từng nói rằng triết học của Phật giáo đặt căn bản trên nhân duyên giữa các hiện tượng với con người. Như vậy phải chăng Phật giáo ở vào một trạng huống tốt đẹp hơn để có thể hiểu được những yêu cầu của ngành sinh thái học hiện nay?

Khi ta nhìn sự hiện hữu mang tính phụ thuộc và các hiện tượng tương thuộc lẫn nhau, hai chuyện này sẽ giúp ta nhìn rõ vấn đề. Về khía cạnh nhân duyên, ta nên nghĩ rằng nếu ta muốn đảm bảo hạnh phúc cho tương lai thì điều cần thiết là ta phải tạo ra những nguyên nhân đưa đến hạnh phúc ngay từ bây giờ. Cũng thế,thế hệ của chúng ta hôm nay không thể sử dụng môi trường cho tiện ích của riêng cá nhân mình mà phải nghĩ đến tiện ích của những thế hệ tương lai.

Nếu ta nhìn vào tính phụ thuộc của sự hiện hữu, ta sẽ thấy rằng tình trạng của môi trường sống đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ của chính chúng ta. Nếu không khí mà chúng ta thở không trong lành, dĩ nhiên ta phải nhận chịu những hậu qủa rủi ro. Thế nên một điều rất quan trọng là ta nên nhìn vấn đề trên sự tương quan cuả nguyên nhânhậu quả cũng như về yếu tính duyên khởi giữa các hiện tượng. Quan điểm về lý duyên khởi đặc biệt góp phần giúp ta nhìn thế giới một cách thánh thiện cũng như mang tính toàn cầu.

Nhân loại từ lúc ban sơ đã tranh luận về vấn đề một xã hội lý tưởng. Thưa Ngài, phải chăng xã hội Tây Tạng trước khi bị Trung quốc xâm lăng năm 1959 được coi như là một xã hội lý tưởng?

Xã hội Tây Tạng cổ không phải là một xã hội hoàn hảo. Đó là một xã hội nông nghiệp và chăn nuôi dựa trên căn bản của chế độ nông nô. Tuy nhiên nếu ta so sánh với các quốc gia đương thời như Trung Quốc, Ấn Độ, nó không đến nổi quá khắc nghiệt mà ngược lại có phần nhân ái hơn. Tôi tin rằng một số các nền văn minh tối cổ, như người da đỏ bản xứ tại Mỹ chẳng hạn, thường bày tỏ lòng tôn kính đối với đất đai, thiên nhiên, cây cối.

Trong văn hóa Tây Tạng, mối liênhệ giữa chúng tôi với thiên nhiên, kể cả loài vật rất là an lạc. Chúng tôi sống hòa điệu với thiên nhiên. Từ khi mới lập quốc cho đến sau này, khi chúng tôi tiếp xúc với Phật giáo, xã hội Tây Tạng nói chung rất là nhân ái và cởi mở. Đó là một xã hội mà trong đó mọi người cảm thấy sống một cách thoải mái. Từ những lý do này, tôi tin rằng đây có thể là một xã hội kiểu mẫu.

Ngài có nghĩ rằng nói nhiều để diễn đạt tư tưởngthể không phải là nét đặc biệt của nhân loại bằng sự im lặng?

Đối với những ai lựa chọn con đường tâm linh, tu hành hoặc đang thực tập thiền định, im lặng là một phần tối cần thiết. Những ai không theo con đường tâm linh, những người không có đức tin, im lặng là một cách thế nghỉ ngơi, thư giãn.

Thưa Ngài, Ngài có nghĩ rằng có nhiều người trông có vẽ như là người lớn -chẳng qua là do tuổi tác của họ, nhưng thật ra họ giống như trẻ con bởi vì họ không thực hành thiền định?

Tôi nghĩ rằng có rất nhiều cách để xác định sự trưởng thành. Tuổi tác là một và rồi cách thức mà người ta suy nghĩ, sự phát triển phẩm chất của một con ngườicuối cùngkinh nghiệm và sự chứng nghiệm tâm linh. Nếu nhìn như vậy thì có nhiều người rất già mà tâm hồn họ còn trẻ cũng như nhiều người rất trẻ mà qua cung cách suy nghĩ họ đã tỏ ra rất chín chắn.

Thưa Ngài, Ngài có thể giải thích hiện tượng hiện có một số đông những người trẻ Tây phương đang quay về với trí tuệ và những giá trị tinh thần của Đông phương trong khi truyền thống của Tây phương không phải là không phong phú?

Đa phần các quốc gia Tây phương đều chia xẻ chung một nền văn minh Cơ Đốc lâu đời. Tôi không nghĩ rằng điều này sẽ thay đổi và cũng không có lợi gì để thay đổi. Tuy nhiên, trong số hàng triệu con người sống trên thế gian này chắc chắn là họ có những sở thích, những bản chất, những khuynh hướng tinh thần cá biệt, không ai giống ai cả. Trong số đó, sẽ có những người cảm thấy mình gắn bó với Phật giáo cũng giống như tại Tây Tạng, một xứ có truyền thống Phật giáo lâu đời, vẫn có những người theo Hồi Giáo, Cơ Đốc giáo... Cho nên qủa là điều bình thường khi có những người Tây phương thích Phật giáo, bây giờ cũng như trong tương lai. Trong số này, có người thì bị lôi cuốn bởi lối suy luậnphương pháp hoặc lối hành thiền của Phật giáo. Có người thì bị thu hút bởi khả năng là nếu theo đuổi cuộc lột xác này họ sẽ tỉnh thức với con mắt thứ ba thay vì với hai con mắt trần như trước đây!

Thưa Ngài, Ngài có nghĩ rằng nền giáo dục cao cấp chỉ làm cái công việc đơn giản là sửa soạn tâm hồn cho bộ môn khoa học rèn luyện trí óc và người thầy không làm việc gì khác hơn ngoài sự phân phối kiến thức. Theo Ngài, họ có một nhiệm vụ cao cả nào không?

Đây là một câu hỏi rất có ý nghĩa! Nét độc đáo căn bản của nhân loại, làm cho con người vượt lên trên tất cả mọi loài vật khác, là trí thông minh vượt bực. Do ở trí thông minh này mà xã hội của chúng ta tràn ngập đủ màu sắc khuynh hướng dị biệt, người này khác với người kia, và dẫn ta đến những cung cách hành xử rất khác biệt. Điều này có thể mang lại những tình huống rất khó xử và cả những vấn nạn khó khăn nữa.

Hãy nhìn vào trường hợp của một cá nhân chẳng hạn. Anh ta có thể thay đổi lề lối suy nghĩ của mình và rồi đưa đến những xung đột nội tâm. Tôi thường hay nói đùa rằng, con người sẽ không phải là con người nếu không luôn ở trong tình trạng mâu thuẫnxung đột nội tại. Tuy nhiên, do có đầu óc thông minh, chúng ta có thể vượt qua được những mâu thuẫn, những xung đột để đi đến một giải pháp vẹn toàn. Trí khôn của con ngườinguyên nhânđồng thời cũng là giải pháp cho tất cả những vấn nạn của chúng ta. Giáo dục, chìa khóa của kiến thức, sẽ giúp phát triển và kích thích sự thông minh này. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nó luôn luôn mang đến những chuyện tốt đẹp. Nó có thể tạo ra những vấn nạn khác khi nó mang lại những điều xấu.

Giáo dục tự nó không mang tính tiêu cực hay tích cực. Vấn đề là làm sao ta có thể nâng cao, vận dụng được trí thông minh của con người vào những điều thiện, bởi thế đối với nhà giáo dục điều quan trọng nhất là phải can đảm, thành thậtlương thiện. Cho dù ở trong cương vị một bậc phụ huynh trong gia đình hay người thầy giáo trong các cấp tiểu trung hay đại học, nhà giáo dục không phải là người chỉ làm nhiệm vụ rao truyền kiến thức mà phải là người giúp đỡ cho người học trò mình có một đời sống đúng nghĩa, không những chuẩn bị cho họ hài lòng thỏa mãn với cuộc sống riêng tư mà còn trở nên những con người hữu dụng cho xã hội. Để làm được điều này, người thầy phải quan tâm sâu xa đến tương lai của người học trò, và không ngừng khích lệ chúng. Thế nên một điều cần thiết là việc hấp thụ kiến thúc phải đi đôi với phát triển lòng vị tha.

Tôi tin chắc là Ngài cũng đã lưu ý đến tình trạng trong đất nước này có rất nhiều người trẻ bị lây nhiễm bệnh AIDS, nhiều người bị nghiện ngập cũng như số lượng những người tự tử ngày càng gia tăng trong giới trẻ. Thưa Ngài, Ngài có những đề nghị nào cho những nhà lãnh đạo đất nước này để giúp họ tìm ra những phương thức giải quyết những vấn nạn kinh khủng đó?

Tôi nghĩ rằng phương thức đầu tiên để vượt qua những căn bệnh xã hội là phát triển ý thức kỷ luật tự giác trong đời sống cá nhân qua đó con người tự mình có thể kiểm soát lấy mình. Thật khó mà đem bất kỳ loại kỹ luật nào từ bên ngoài áp đặt lên con người. Để có thể giải thích thêm về sự tự giác cá nhân, tôi xin nêu ra một thí dụ về những ngôi làng trên vùng thượng du Hy Mã Lạp Sơn. Một số giới chức hữu trách Ấn Độ, các cảnh sát viên cũng như rất nhiều người địa phương đã cho tôi hay rằng trong quá khứ tại đây ít khi xảy ra những tội ác, thỉnh thoảng mới có những vụ trộm cắp lặt vặt hoặc đánh lộn, và hầu như không hề có chuyện nói láo, nói gạt lẫn nhau.

Mặc dù ở đây thiếu vắng những tiện nghi về mặt vật chất, không có một nền giáo dục hiện đại nhưng con người sống với nhau rất lương thiện. Thế nhưng qua những năm gần đây, khi giáo dục và những tiến bộ của nền văn minh hiện đại được mang đến từ vùng đồng bằng, tội ác lại ngày càng gia tăng. Như vậy, tội ác sẽ không xảy ra khi mọi người biết áp dụng sự tự chế thông qua tính kỷ luật tự giác trong mỗi cá nhân, lúc đó họ không cần đến bất cứ loạïi cảnh sát nào đến từ thế giới bên ngoài. Thí dụ này cho ta thấy tầm quan trọng của ý thức kỷ luật tự giác.

Tuy nhiên xin qúy vị hiểu cho rằng tôi không bao giờ cổ võ cho việc kiềm chế một cách có hệ thống tất cả mọi dục vọng, ước mơ xuất hiện trong tâm hồn của mỗi con người. Ngược lại, như tôi đã trình bày, loại kỹ luật chân chính đáng tin cậy không thể bắt nguồn từ sự kiềm chế mà là từ sự hiểu biết sâu xa tất cả mọi nguyên uỷ hành động của chúng ta. Trong cơn bốc đồng, chúng tathể đạt đến những khoái cảm trong phút chốc, thế nhưng chúng ta phải ý thức được những hậu quả cuả chúng, tuy có thể không xảy ra ngay trước mắt nhưng chắc chắn là sẽ xuất hiện trong tương lai. Thế nên chúng ta phải dùng óc thông minhtrí tuệ của mình để ngăn chặn những ham muốn tức thời, đưa chúng lên bàn cân để cân nhắc những hệ quả tốt xấu và cuối cùng quyết định lựa chọn một con đường tốt nhất.

Hãy lấy thí dụ về trường hợp những người có những liên hệ tình dục không đúng đắn hoặc nghiện ngập ma túy. Cái gì đã đưa đẩy họ vào con đường này? Phải chăng là do khoái cảm nhất thời? Tuy nhiên nếu đem so sánh cái khoái cảm nhất thời đó với những hậu qủa trầm trọng của hành động này gây nên, một điều hiển nhiên rằng khoái cảm trong phút chốc không đủ để trả giá cho những hậu qủa tiêu cực về lâu về dài. Thế nên một điều cần thiết là ta phải ý thức về những hành động của chúng tahậu quả của chúng. Đức tin dĩ nhiên là điều cần thiết, nhưng giáo dục lại càng quan trọng hơn. Toàn thể cộng đồng chúng ta phải chia xẻ trách nhiệm chung, không phải chỉ riêng các giới hữu trách. Để xây dựng một xã hội lành mạnh, mọi thành viên trong xã hội phải cùng nhau chia xẻ trách nhiệm.

Thưa Ngài, Ngài có ý kiến như thế nào về việc sử dụng “áo mưa” để ngừa thai?

Rất tốt, một lựa chọn đúng đắnTuy nhiên tôi có một giải pháp tốt hơn cho việc kiểm soát sinh đẻ và phòng ngừa bệnh AIDS: Sống độc thân, giữ gìn trinh tiết! Như vậy chắc là chúng ta sẽ có nhiều tăng sĩ và nữ tu! Nhưng nếu điều này quá khó khăn, không thể thực hiện được thì giải pháp mà quý vị vừa nêu ra cũng tốt vậy.

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, vừa mới đây Ngài đã lên tiếng ca ngợi thiên nhiên, thế nhưng chúng tôi tin rằng còn có một lãnh vực môi sinh khác, cũng rất nhức nhối, đó là con người. Ngài có ý kiến gì về trách nhiệm của chính phủ đối với những người bị lùa ra khỏi mảnh đất của mình đang sống, những kẻ lưu vong, những kẻ vô gia cư, nói chung là những điều bất hạnh hiện đang xảy ra khắp nơi?

Khi chúng ta đề cập đến chính phủ, mà chính phủ ở đây là do dân bầu ra theo nguyên tắc dân chủ thì phân tích cho cùng người dân chính là những vị lãnh đạo thực sự của đất nước họ. Họ chọn lựa ra chính phủ có trách nhiệm hoàn tất những bổn phận mà họ giao phó. Dĩ nhiên khi đắc cử, chính phủ phải có trách nhiệm đối với những công dân của họ, đặc biệt là những thành phần yếu kém, không được ưu đãi trong xã hội, vì những lý do đạo đức cũng như tính cách thực tiển của vấn đề. Nếu xảy ra một sự đổ vỡ giữa các giai tầng trong xã hội, những vấn nạn tất sẽ xảy ra. Ý kiến cá nhân của riêng tôi, cũng như một số thân hữu Phật tử trong cả hai giới cư sĩ lẫn tu sĩ, đều đồng ý rằng một hệ thống kinh tế lý tưởng nên xây dựng theo đường lối xã hội.

Câu trả lời của Ngài vừa rồi chỉ mới ở trên bình diện quốc gia. Thưa Ngài, trên bình diện quốc tế, giả dụ như chúng ta sẽ có một bảng nguyên tắc phân định rõ nghĩa vụ và bổn phận mà chúng tôi tạm gọi là luật quốc tế, theo Ngài những gì được xem là một căn bản chung mà chúng ta có thể đồng ý với nhau để nói lên nỗi khát khao của toàn thể nhân loại?

Dù trên lãnh vực cá nhân hay quốc gia, theo tôi nguyên tắc chính để hướng dẫn chúng ta phải là quyền làm người. Nếu chúng ta sống trong một đất nước mà quyền làm người hiện hữu và được tôn trọng, chúng tatrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ và bổn phận đó. Thật là dễ chịu biết chừng nào nếu chúng ta thoải mái thụ hưởng quyền làm người mà không bị buộc ràng bởi bất cứ một trách nhiệm nào cả! Thế nhưng, bất hạnh thay điều đó có vẻ như là không tưởng.

Dĩ nhiên, tôi nghĩ rằng điều quan trọng hơn cả vẫn là ý thức trách nhiệmtinh thần tham dự của mỗi chúng ta trong mối quan tâm đối với kẻ khác. Theo tôi đó là nguyên tắc căn bản, nhưng cũng xin hiểu cho rằng tôi không phải là một chuyên gia trên lãnh vực quan hệ quốc tế hay luật quốc tế. Tuy nhiên bản thân tôi hoàn toàn tin tưởng một cách sâu xa rằng trên bình diện cá nhân cũng như quốc gia, một điều tuyệt đối cần thiếtchúng ta nên có một ý thức về tinh thần trách nhiệm chung và lòng quan tâm đối với tha nhân.

Tôi xin được nói thêm đôi chút về tinh thần trách nhiệm chung. Khi chúng ta cảm thấy mình chia xẻ một gánh nặng trách nhiệm, mối quan tâm, tinh thần liên đới, chúng ta bắt đầu cảm thấy một mối tình cảm sâu sắc, một sự khích lệ lớn lao. Đây không phải là loại tình cảm có tính cách tự phát, không có nguyên nhân mà là sản phẩm của cả một sự quán chiếu lâu dài và sự phân tích gay gắt đầy luận lý. Đây là một thứ tình cảm lành mạnh.

Loại tình cảm có chiều sâu này khác với loại tình cảm hời hợt mà chúng ta kinh nghiệm trong đời sống hàng ngày, thường thoáng hiện qua tâm trí ta mà không do một lý do đặc biệt nào cũng như không để lại một dấu ấn sâu sắc nào, tức cũng là những loại tình cảm ngẫu nhiên thoáng hiện trong bất cứ giây phút nào trong ngày, thường tạo nên bất ổn cho tâm trí ta, chẳng những đã không củng cố thêm sức mạnh tinh thần cho ta mà nó còn huỷ diệt sự an bình cuả tâm hồn chúng ta nữa.

Dĩ nhiên mọi người chúng ta đều biết tình cảm là gì và vì thế chúng ta chỉ nên nuôi dưỡng những loại tình cảm thuần lý và không để cho mình bị phiền nhiễu bởi những loại tình cảm vô nghĩa. Hãy lấy một thí dụ, trong khung cảnh đời sống gia đình chúng ta thường xuyên chi phối bởi đủ thứ bực dọc gây nên bởi những chuyện lặt vặt trong cuộc sống đời thường. Tuy nhiên nếu chúng ta để cho tầm nhìn của mình mở rộng bao quát lên đời sống quốc gia, rồi rộng ra là nhân loại, chúng ta sẽ lần hồi phát triển một ý thức về tinh thần trách nhiệm chung. Bằng cách này tôi tin chắcchúng ta sẽ không còn bị dễ cáu giận trước những lo toan đời thường.

Trong Phật giáo, chúng tôiý niệm về Bồ đề tâm, tức là ý thức vươn đến sự giác ngộ. Khái niệm này bao hàm hạnh nguyện được thực chứng quả vị Phật để mang lại mọi điều tốt lành cho toàn thể chúng sanh, nó cũng tương đương với khái niệm về một ý thức trách nhiệm chung. Từ kinh nghiệm cá nhân cuả tôi, tôi thấy rằng những lúc chúng ta đang buồn bã hoặc tâm hồn bị xao động là lúc tốt nhất để chúng ta hướng tâm hồn mình đến ý thức giác ngộ. Nếu chúng ta nghĩ rằng mình đang đảm nhận một trách nhiệm lớn lao khi chúng ta đang hoang mang hay gặp khó khăn, tâm hồn chúng ta rộng mở, thư giản và trở nên mạnh mẻ hơn. Nói một cách khác, khai triển ý thức trách nhiệm chung đòi hỏi rất nhiều ở nỗ lực của chính mỗi cá nhân nhưng cuối cùng sẽ làm cho chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn.

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, công luận thế giới phương Tây hiện đang thảo luận rất nhiều về các vấn đề “tôn giáo”, “luân lý”, “đạo đức” chứng tỏ người ta đang có một nhu cầu cần một số tiêu chuẩn đạo lý áp dụng trong tất cả mọi ngành nghề. Người ta đang nói đến đạo đức chính trị, đạo đức kinh doanh, sinh học, y học, báo chí... Người ta đang quay về với những giá trị đạo lý. ThưaNgài, Ngài nghĩ như thế nào về khuynh hướng này? Làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Và tại sao nó lại xảy ra như thế?

Tôi nghĩ rằng đây là thành quả của kinh nghiệm. Sau khi đối đầu với những vấn nạn lớn lao, những khó khăn chồng chất, người ta nhận thức sự cần thiết phải có một tiêu chuẩn đạo đức.

Thưa Ngài, đúng như thế, tại Pháp, Đức cũng như Hoa Kỳ người ta đang nói về đạo đức trong kinh doanh. Ngài có nghĩ rằng hai khái niệm đạo đức và kinh doanh có thể hoà hợp được với nhau không? Phải chăng tiềân bạc và đạo đức là hai phạm trù riêng biệt? Nhiều người cho rằng đạo đức chỉ là một cách thế để quản lý kinh doanh, nếu nhìn thuần túy trên vấn đề lương bỗng thì đó là phương thức tốt nhất để điều hành nội bộ cũng như quan hệ với thế giới bên ngoài. Thưa Ngài, quan niệm này có làm hạ giá trị cái khái niệm cao cả của đạo đức hay không?

Theo tôi trước tiên quý vị phải hiểu thế nào là đạo đức. Chúng ta có thể phân biệt chúng ra làm hai loại. Loại thứ nhất liên quan đến tôn giáo tín ngưỡng; qua đó chúng ta phải theo một hành trình tâm linh, tuân thủ một số tín điều luân lý do tôn giáo đó vạch ra. Loại thứ hai dành cho những người không theo bất cứ tôn giáo nào nhưng tự động chấp nhận một số tiêu chuẩn đạo lý căn cứ trên kinh nghiệm bản thân trong việc kiếm tìm hạnh phúc cho chính họ. Tôi nghĩ rằng chính ước muốn chấp nhận một số tiêu chuẩn đạo đức không phụ thuộc vào một tín điều tôn giáo -lòng yêu thương dịu dàng trìu mến của con người- được coi như là một sắc tháiđộc đáo của bản chất nhân loại.

Tôi cũng thường giải thích mọi chuyện như thế này: Chúng ta có rất nhiều ngành nghề, nhiều lãnh vực hoạt động khác biệt. Thương mãi, chính trị, giáo dục, khoa học, kỹ thuật, y học, luật học...rất nhiều thứ. Nếu tất cả những ngành nghề này đều được xây dựng trên căn bản tình người, chẳng hạn như sự hiểu biếtyêu thương người láng giềng cuả mình, thì những hoạt động của nó sẽ mang đầy tính nhân bản, tích cực và hiệu qủa. Dĩ nhiên không phải là không có những vấn nạn, khó khăn, nhưng tôi nghĩ là rất ít. Ngược lại nếu tất cả những ngành nghề hoạt động này đều mang tính cách máy móc, trống vắng tình người, đây sẽ là mầm mống gây ra những tai họa.

Tôn giáo cũng thế, nếu được xây dựng trên căn bản tình người, trong đó mỗi cá thể đều quan tâm đến hạnh phúc của tha nhân, nó sẽ tạo nên một hệ qủa tích cực lên toàn tập thể. Ngược lại nếu tôn giáo không xây dựng trên nhân tính, không mang tình liên đới, không có lòng nhân ái, chắc chắn nó sẽ tạo nên những vấn nạn cho con người.

Bây giờ ta nói đến khía cạnh luân lý trong thương trường. Ai cũng biết là tất cả mọi công ty kinh doanh đều đặt căn bản trên cạnh tranhlợi nhuận, sự hoà điệu giữa kinh doanh và luân lývì thế thoạt trông có vẻ rất mong manh tuy nhiên không phải là không đạt được. Tinh thần cạnh tranh có thể được coi như mang tính tích cực nếu động cơ của nó là tốt. Cạnh tranh xấu là những hành vi lợi dụng người, làm tổn hại kẻ khác. Cạnh tranh tốt đưa đến phát minh và cải thiện những sinh hoạt của con người.

Tôi nghĩ rằng kỹ nghệ cũng là lãnh vực cần đặc biệt quan tâmchia xẻ trách nhiệm về vấn đề môi sinh, cho nên ta không thể không lưu tâm đến khía cạnh đạo đức của nó. Những doanh gia hoạt động trên thương trường cũng là những con người, họ cũng cần những tình cảm yêu thương, nồng hậu của con người như chúng ta. Cho nên tôi nghĩ đạo đức phải được coi như là sợi dây nối liền giữa nhu cầøu cá nhân và những yêu cầu của môi sinh.

Có một vài sự kiện có vẻ nghịch lý đập vào trí tưởng của chúng tôi, phần nào liên hệ đến câu hỏi trước đây là, chưa bao giờ mà sự phát triển của khoa học kỹ thuật và những gia tăng hiệu năng của nó đối với môi trường sống cuả cá nhân lại đồng thời cũng làm gia tăng sự rối loạn trật tự của xã hội như thế. Phải chăng cái mà chúng ta gọi là tính thuần lý đôi lúc chỉ là ảo tưởng của sự thuần lý. Xin được biết ý kiến của Ngài về vấn đề này?

Tôi không nghĩ rằng xã hội của chúng ta là một xã hội thuần lý. Lúc thì người ta đưa ra những lý lẽ này, lúc thì người ta đưa ra những lý lẽ khác. Có thể luôn luôn người ta có một luận lý tương ứng với từng hoàn cảnh, nhu cầu, cho lợi nhuận của mình chẳng hạn, mà không đếm xỉa đến những hậu quả về lâu về dài của những hành động do mình gây ra. Như vậy, khi cá nhân nâng tầm nhìn vấn đề của mình lên một cách rộng lớn hơn, về lãnh vực môi trường chẳng hạn, những cái mà mình từng nghĩ là có vẽ như hợp luận lý đó sẽ mất đi sự giá trị và tầm mức quan trọng của nó. Cho nên vấn đề chủ yếu là chúng ta áp dụng lý trí suy luận của mình như thế nào. Chúng ta có một tâm hồn rộng mở hay chật hẹp? Chúng ta chỉ nhìn vào khía cạnh đặc thù của vấn đề hay đặt nó trên bối cảnh toàn cầu? Chúng ta có một tầm nhìn dài hạn hay ngắn hạn? Đầu óc của chúng ta thiển cận hay sáng suốt?

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài có nghĩ rằng một vị Phật sẽ được tái sanh trong xác thân của một giống người khác hơn là Tây Tạng hay Châu Á, có thể là một người AÂu Châu hay Phi Châu chẳng hạn?

Vâng, dĩ nhiên. Phật giáo chúng tôi quan niệm rằng sự hóa hiện của chư Phật không phải chỉ ởù trong thế giới loài người mà ngay cả trong thế giới loài vật.

Từ lâu, súc vật đã bị đối xử như là một thứ dụng cụ, dùng làm thực phẩm cho con người, y phục, phương tiện chuyển vận, làm đồ giải trí và thậm chí là vật thí nghiệm tàn nhẫn của khoa học để phục vụ cho sự thỏa mãn của con người. Thưa Ngài, Ngài nghĩ như thế nào về quyền sống của súc vật?

Trên quan điểm Phật giáo, sinh mạng của mọi loài chúng sanh -con người cũng như súc vật- đều quí giá như nhau và tất cả đều có quyền được sống hạnh phúc. Cho nên thật quả là một điều hổ thẹn khi người ta sử dụng súc vật không chút xót thương, nhất là trong các thí nghiệm khoa học. Dù qúy vị không nhìn vấn đề này thuần túy trên quan điểm tôn giáo, hẵn qúy vị cũng thấy rằng các loài vật, chim chóc, thú hoang -nghĩa là tất cả những sinh vật sống trên trái đất này- đều là bạn đồng hành của con người.

Chúng là một thành phần của thế giới này, con người cùng chia xẻ thế giới này với chúng. Cứ nghĩ đến một ngày nào đó nếu tất cả loài vật đều biến mất trên thế giới này, lúc đó chúng ta sẽ ân hận biết bao. Tôi cũng nhận thấy một điều rằng kẻ nào không có lòng từ ái đối với súc vật, sẵn sàng tàn sát chúng không chút xót thương, thì sớm hay muộn họ cũng sẽ là những người không có lòng nhân ái đối với đồng loại. Ngược lại, nếu chúng ta biết thương yêu loài vật, trân trọng sinh mạng của chúng chừng nào, chúng ta lại sẽ càng biết tôn trọng đời sống con người hơn thế nữa.

Thưa Ngài, Phật tửbị bắt buộc phải ăn chay hay không?

Trên quan điểm của một Phật tử, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là nên ăn chay trường. Tôi luôn luôn phát biểu rằng, cho dù trên bình diện cá nhân một người không cần lúc nào cũng phải giử mình kiêng khem với các thức ăn chay lạt, nhưng nếu khi một số đông người tụ họp lại với nhau trong các tiệc tùng, hội nghị, tôi nghĩ người ta cần nên tránh bớt chuyện ăn thịt. Ngay bản thân tôi, tôi cũng đã cố gắng hết sức mình để quảng bá việc ăn chay vào xã hội Tây Tạng.

Trong thời gian tổ chức hội nghị này, một Phật tử Tây Tạng đã nhiều lần mời chúng tôi đi ăn trưa tại một nhà hàng mà thực đơn chính là thịt.

Có lẽ vị Phật tử này là dân du mục thuộc vùng cao nguyên Tây Tạng.

Thưa Ngài, để đạt đến thực chứng tâm linh, người ta có nhất thiết cần phải rút ra khỏi đời sống xã hội?

Tổng quát mà nói thì một người dấn thânvào đời sống tôn giáo không cần thiết phải thoát ra ngoài đời sống xã hội. Tuy nhiên -một thực tế đúng đắn cho tất cả mọi truyền thống tôn giáo- là khi một người cảm thấy sẵn sàng thực sự cống hiến đời mình cho thành quả của thiền định tu tập, điều tốt nhất cho họ là nên rút lui ẩn dật để tu tập trong một khoảng thời gian nào đó.

Phật giáo không tôn thờ Thượng Đế. Như vậy ai là những thần linh của họ và họ thờ phượng như thế nào ?

Phật giáo không công nhận bất cứ một vị Thượng Đế vĩnh hằng cũng như một vị Thượng Đế Sáng Tạo nào. Ngược lại Phật giáo quan niệm rằng bất cứ một con người bình thường nào nếu cố gắng theo đuổi một hành trình tâm linh, phải tự thanh lọc cái tâm của mình để từ đó phát triển được những phẩm chất nội tại và tiến đến giác ngộ, giải thoát. Những con người này được gọi là đạt đến Thánh qủa.

Chúng tôi cũng công nhận sự hiện hữu của những đấng siêu nhiên, những người mà thông qua hành trình tâm linh đã đạt đến sự chứng ngộ ở một mức độ nào đó, chúng tôi gọi họ là những bậc Thánh Tăng. Đối với Phật tử chúng tôi, những nhân vật siêu nhiên này - tức là chư Phật và chư Bồ Tát- hiện hữu, mà qua đó chúng tôi cúng bái và dâng lời cầu khẩnChúng tôi làm như thế với ý nguyện đạt đến qủa vị Phật. Đó cũng là lý do giải thích tại sao để đáp ứng lại những ý hướng, mong cầu khác nhau của mọi loài chúng sanh, chư Phật đã phải hoá hiện ra dưới những hình thức khác nhau. Những hình thức hoá hiện này tức là chư vị Phật, Bồ Tát trong thần thoại.

Thưa Ngài, Ngài có nghĩ rằng những thế hệ trẻ tương lai của Tây Tạng đều có chung ý nguyệnbảo tồn bản sắc Tây Tạng của họ trước những quyến rũ của xã hội tiêu thụ Tây phương?

Một cách tổng quát, tôi nhận thấy rằng tất cả những người Tây Tạng nay phân tán cùng khắp trên thế giới, kể cả những xã hội tiêu thụ Tây phương đều có ý muốn bảo tồn nền văn hóatruyền thống của họ. Dĩ nhiên không phải là không có những rủi ro.

Đối với những người đang gánh chịu đau khổ bởi những căn bệnh kinh niên; những người trẻ trong lứa tuổi mười tám đôi mươi đang mắc phải bệnh AIDS, thưa Ngài, chúng ta có thể làm được những gì để giúp họ chịu đựngxoa dịu những khổ đau đó?

Điều đó còn tùy vào vị trí của mỗi chúng ta trước nỗi khổ đau. Nếu qủa thực con người chúng ta không có một đời sống nội tâm nào khác thì khổ đau sẽ vẫn mãi là khổ đau, chúng ta rất khó mà trốn chạy chúng. Tuy nhiên, nếu chúng ta đã được trui rèn để suy nghĩ theo một hướng đi tinh thần nào đó thì khi đối diện với khổ đau ta sẽ rất dễ dàng có khả năng hiểu biếtchịu đựng chúng. Chúng ta sẽ biết cách làm thế nào điều hướng tư tưởng của chúng ta đến những nỗi khổ đau lớn lao hơn là của mình đang gánh chịu và nhờ vậy sẽ làm giảm được nỗi khổ đau của chính chúng ta.

Một Phật tử nếu đang mắc bệnh AIDS hoặc bất cứ một căn bệnh đau đớn nào khác có thể quán tưởng về luật nhân qủa. Họ có thể nhìn những đau đớn hiện tại của mình là kết quả của những hành động xấu gây ra trong quá khứ và nhờ đó có thể loại trừ được tất cả những cơn đau tiềm ẩn chất chứa trong họ. Họ cũng có thể suy nghĩ rằng qua nỗi khổ đau của mình, họ đang gánh chịu những nỗi khổ đau của tha nhântừ bỏ những hạnh phúc của cá nhân mình cho hạnh phúc chung của toàn thể chúng sanh.

Họ cũng có thể nhìn vào bệnh hoạn của chính mình như là một cách thế tốt nhất để hiểu rõ những khiếm khuyết trầm trọng của kiếp sống và đi đến kết luận rằng đó chính là bản chất của khổ đau, và từ đó họ thấy được những bất lợi của vòng sinh tử luân hồi. Như vậy, càng nhận thức sâu xa về tình huống hiện tại, những khổ đau của họ sẽ càng giảm bớt và rồi họ sẽ thấy nó không còn quan trọng nữa. Điều này có thể mang lại cho họ những nổi an ủi.

Nhân đây tôi cũng muốn xin được nêu lên một điều rằng, bằng mọi giá, xã hội của chúng ta cần phải loại bỏ khuynh hướng phủi tay trước những khổ đau của đồng loại, coi những người ốm đau bệnh tật, những kẻ bơ vơ không nơi nương tựa, như là gánh nặng của xã hội. Ngược lại trong tinh thần từ ái, chúng ta phải cố gắng hết sức để giúp đỡ những người thiếu may mắn này.

Thưa Ngài, Ngài có nghĩ rằng sự tách rời giữa thần quyền và thế quyền là một điều cần thiết trong thể chế dân chủ? Phật giáo phải chăng là một tôn giáo không chấp nhận mọi khuynh hướng cực đoan? Nếu đúng như vậy thì lý do tại sao ?

Vâng, điều quan trọng theo tôi là nhà thờ - được xem như một cơ sở tu học- cần phải tách biệt đối với nhà nước. Về điểm này, chúng tôi đã hoàn thành xong một bản hiến pháp sẽ có hiệu lực ngay sau khi Tây Tạng dành được độc lập, trong đó nói rõ rằng nhà nước tương lai là một nhà nước dân chủ do dân trực tiếp bầu ra.

Tôi nghĩ rằng tính chất nguy hiểm của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo rất hạn chế trong Phật giáo. Phật giáo như qúy vị biết, bao gồm nhiều trường phái triết học, cụ thể như bộ phái Đại Tỳ-bà-sa luận (Vaibashiska) được hình thành cho những người có khuynh hướng tiến bộ với tầm nhìn khoáng đạt và sâu sắc. Cũng trong Phật giáo, cùng chia xẻ chung một giáo lý, chúng tôiTiểu thừaĐại thừa hay còn được gọi là Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ tát đạo.

Những tông phái và các cách thức tiếp cận khác nhau sở dĩ ra đời là nhằm đáp ứng với trình độ tri thức cá biệt của mỗi cá nhân cũng như bản chất và khuynh hướng dị biệt cuả mỗi con người. Một khi mà những quan điểm triết học khác biệt cùng cộng tồn hoà điệu ngay từ trong cốt lõi của Phật giáo để đáp ứng với nhu cầu tu học của từng cá nhân, chúng tôi rất dễ dàng cảm thông với các tín ngưỡng khác, bởi vì chúng tôi hiểu rằng để mang lại những phúc lợi lớn lao đáp ứng với khát vọng của nhân loại, họ có thể đưa ra các quan điểm siêu hình, triết học khác biệt. Bởi lẽ đó, chủ nghĩa cực đoan không có chỗ đứng trong Phật giáo.

Tôi quan niệm rằng chúng ta cần phải chấp nhận nguyên tắc đa nguyên tôn giáo trong mối liên hệ giữa các tín ngưỡng và cách thức tốt nhất để ngăn ngừa tinh thần cực đoan là phải cải thiện mối liên hệ giữa các tôn giáo.

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, một câu hỏi cuối về một vấn đềchúng tôi cho là rất quan trọng: Thưa, đó là vai trò của người phụ nữ trong Phật giáo so sánh với các tôn giáo khác?

Nếu chúng ta nhìn vào Giới Luật của Phật giáo (giới tu sĩ cũng như hàng cư sĩ), chúng ta sẽ thấy rằng phụ nữ cũng như nam giới đều có thể xuất gia thọ giới để trở thành tỳ kheo hoặc tỳ kheo ni. Thế nhưng theo kinh sách Ấn Độ còn được lưu truyền lại, cũng trong Giới Luật này, vị Tỳ Kheo ni thường có một vị trí khiêm nhượng hơn so với nam tăng sĩ, cho dù họ có tuổi đạo cao hơn.

Tuy nhiên trong tông phái Tối Thượng Thừa của Phật giáo hay Mật tông Đại thừa, vai tròphụ nữ được quan tâm đặc biệt hơn, tức là chiếm một vị trí khá quan trọng. Một số điều luật trong Giới Luật Phật giáo không ít thì nhiều đã bị ảnh hưởng bởi khung cảnh xã hội của Ấn Độ lúc bấy giờ, vốn không coi trọng vai trò của người phụ nữ. Hiện nay người ta đang nêu lên ý kiến về việc bổ khuyết Giới Luật và rồi sẽ có một hội nghị để thảo luận về vấn đề này.
 

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 174217)
01/04/2012(Xem: 20624)
08/11/2018(Xem: 3098)
08/02/2015(Xem: 29994)
10/10/2010(Xem: 100823)
10/08/2010(Xem: 104499)
08/08/2010(Xem: 109475)
21/03/2015(Xem: 12928)
27/10/2012(Xem: 57870)
Chùa Việt Nam tại số 857-863 S. Berendo St., Los Angerles, CA 90005, do Hòa Thượng Thích Như Minh làm Viện Chủ đã tổ chức đêm tiệc chay gây quỹ đúc Đại Hồng Chung Hòa Bình Thế Giới và chuẩn bị cho Đại Hội Giáo Hội Phật Giáo Liên Hữu Việt Mỹ.
Tại Anaheim Convention Center 800 W Katella Avenue CA 92802 lúc 2:00 PM ngày 15 tháng 12 năm 2019 | 10: AM - Triển lãm | - 12:30 PM Pháp Hội Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa - Sinh Hoạt với giới trẻ | - 02:00 PM Đại lễ Đức Phật Thành Đạo và khai mạc Đại Hội GHPG Liên Hữu Mỹ-Việt | - 04:00 Đại Nhạc Hội Ánh Đạo Vàng |- 8:00 PM Bế Mạc
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.