Phần Thứ Ba - Bất Bạo Động: Một Tấm Gương Để Noi Theo - 3a- Tây Tạng Giữa Hai Giòng Nước: Kháng Chiến Và Bất Bạo Động Đang Và Sẽ Mãi Mãi Là Người Tây Tạng

05/03/201112:00 SA(Xem: 10195)
Phần Thứ Ba - Bất Bạo Động: Một Tấm Gương Để Noi Theo - 3a- Tây Tạng Giữa Hai Giòng Nước: Kháng Chiến Và Bất Bạo Động Đang Và Sẽ Mãi Mãi Là Người Tây Tạng

VƯỢT KHỎI GIÁO ĐIỀU (BEYOND DOGMA)

Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14
Việt Dịch: Tâm Hà Lê Công Đa


PHẦN THỨ BA
TÂY TẠNG GIỮA HAI GIÒNG NƯỚC: KHÁNG CHIẾN VÀ BẤT BẠO ĐỘNG

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, đa phần người Tây phương thường hiểu về Phật giáo qua nguyên lý của sự tái sanh, tuy nhiên chúng tôi không phải lúc nào là cũng rành rẽ về vấn đề này. Xin Ngài vui lòng giải thích thêm cho chúng tôi biết tái sanh gồm những yếu tố gì?

Có rất nhiều tôn giáotruyền thống tâm linh trên thế giới này mà tạm thời ta có thể phân chia thành hai nhóm chính: một số thì tin vào chuyện tái sanh, tức là tin có những đời sống được kế tiếp nhau; số còn lại thì không. Đối với nhóm thứ nhất, người ta tin chắc rằng sắc uẩn -tức là toàn thể xác thân con người- chỉ hạn định trong một kiếp sống và là chủ nhân của kiếp sống đó. Còn cái cá thể, cái ngã hay là giòng sinh thức thì được luân lưu từ đời sống này qua đời sống khác.

Khi chúng ta nói đến giòng sinh thức, một câu hỏi đặt ra, như vậy thức là cái gì? Thức không phải là một thực thể đơn giản và thống nhất. Thức có nhiều mức độ khác nhau: thô thiển, vi tế và cực kỳ vi tế. Dạng thô thiển của thức liên hệ với những sinh hoạt của thể xác, sắc uẩn, của đời sống hàng ngày; cũng giống như sự phân nhiệm trong não bộ đảm bảo rằng mọi bộ phận đều hoạt động theo đúng chức năng của mình. Có thể nói đây là dạng dễ thấy và dễ hiểu nhất, nó đồng thời cũng tan biến cùng với xác thân khi ta chết.

Tuy nhiên còn có một dạng thức vi tế hơn không cần đến sự trợ lực của vật chất hay bất kỳ mối liên hệ vật chất nào với thể xác con người. Đây là dạng thức mà chúng tôi tin rằng vẫn còn tiếp tục hiện hữu sau khi thể xác ngưng hoạt động, nghĩa là sau khi ta chết. Nếu chúng ta cố gắng tìm hiểu nguồn gốc của dạng thức vi tế này, bởi vì dĩ nhiên nó không thể tự dưng xuất hiện, mà phải có nguyên nhân mang cùng bản chất như chính nó- tức là cái khoảnh khắc trước khi dạng thức này xuất hiện.

Nếu chúng ta muốn đi trở ngược lại để tìm tận cỗi nguồn nguyên uỷ của cái khoảnh khắc của dạng thức này, tôi e rằng chúng ta không thể làm được, vì như vậy chúng ta đã dựa trên tiền đề rằng cái thức này đã được sinh ra ở một thời điểm nhất định hoặc là sản phẩm cuả một cái gì đó thuộc loại vô tình. Thế cho nên khi nói về thức, chúng ta cho rằng nó không có điểm khởi đầu. Một khoảnh khắc của ý thức được sinh ra không bởi một nguyên nhân nào khác hơn giống như chính nó: tức là một khoảnh khắc ý thức khác, mà không thể là từ loài vô tình nào. Điều này cắt nghĩa cho chúng ta hiểu về nguyên lý tái sanh trong Phật giáo.

Một vị Đạt Lai Lạt Ma theo truyền thống được coi như là sự tái sanh của vị tiền nhiệm đã mất. Nếu theo đúng nguyên tắc này, có thể nào trong tương lai chúng ta có một vị Đạt Lai Lạt Ma thay vì nam giới mà là một phụ nữ hoặc không phải là người Tây Tạng?

Vâng, đây là điều mà ta có thể hình dung được; cả hai đều có thể xảy ra. Vị Đạt Lai Lạt Ma thứ tư, Yonten Gyatso, là một người Mông Cổ. Lần đầu tiên trong lịch sử Tây Tạng, đã có một nghi thức, nếu không nói là nghi lễ công quyền, công nhận sự tái sanh của một vị lạt ma quá cố là ngài Đệ Nhất Karmapa Rinpoche, một vị lạt ma vĩ đại của Tây Tạng. Cũng cùng một thời gian đó, một giòng tái sanh truyền thừa của một bậc thánh lưu vĩ đại cũng được bắt đầu, mà một người phụ nữ có tên là Samding Dorje Pamo, đã được liên tục tái sanh suốt qua lịch sử Tây Tạng. Bà được công nhận là người đã đạt đến một trình độ tu chứng tâm linh vượt bực, và đồng thời cũng là người chiếm một ngôi vị quan trọng trong hệ thống đẳng cấp tinh thần của Phật giáo Tây Tạng.

Thế nên, nếu phong trào nữ quyền tiếp tục được phát triển, một ngày nào đó ta sẽ có một vị Đạt Lai Lạt Ma phụ nữ! Không có trở ngại nào trên mặt lý thuyết.
Ngài đã từng công khai tuyên bố là sẽ từ bỏ phương thức chỉ định người thừa kế. Tại sao, và ngài sẽ thay thế nó bằng cái gì ?

Kể từ lúc bắt đầu cuộc đấu tranh giải phóng Tây Tạng, đã có một vài nguồn tin cố gắng tung ra để xuyên tạc việc làm của chúng tôi. Những nguồn tin này đã nỗ lực phổ biến cho mọi người tin rằng cuộc tranh đấu của chúng tôi không có mục đích nào khác hơn là phục hồi lại một hệ thống quyền lực lỗi thời. Đây là điều không đúng sự thực. Dù chỉ mới bỏ xứ đi tỵ nạn từ năm 1959, nhưng đến năm 1962 chúng tôi đã bắt đầu cho tiến hành thủ tục dân chủ hóa xã hội Tây Tạng. Một uỷ ban soạn thảo hiến pháp cho Tây Tạng tương lai đã được thành lập và tôi đã cho thêm vào bản Hiến pháp này một điều khoản nói rõ rằng, với sự chấp thuận của đa số hai phần ba, quốc hội có quyền dẹp bỏ văn phòng Đạt Lai Lạt Ma.

Năm 1969 tôi đã ra một tuyên bố chính thức nêu rõ văn phòng Đạt Lai Lạt Ma và sự tồn tại của nó hoàn toàn tùy thuộc vào ý nguyện của nhân dân Tây Tạng. Trong một bản dự thảo liên quan đến tương lai của Tây Tạng, tôi cũng đã bày tỏ một cách rõ rằng tôi sẽ không đảm nhiệm một vai trò chính trị nào trong quốc gia Tây Tạng tương lai mà nó sẽ là một chính phủ dân chủ do dân chúng bầu lên. Nếu thể chế Đạt Lai Lạt Ma không còn phù hợp trong tương lai, nó sẽ không có lý do để hiện hữu.

Ngài thường hay tuyên bố rằng Phật giáo, giống như Cơ Đốc, Do thái giáo, Hồi giáo là một trong những tôn giáo lớn của thế giới. Nhưng có lúc Ngài lại cho rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo. Xin Ngài vui lòng làm sáng tỏ điều mâu thuẫn này.

Trước tiên, nếu chúng ta y cứ vào những định nghĩa trong một số từ điển nói rằng tôn giáo chủ yếu bao hàm niềm tin vào một đấng Thượng Đế Sáng Tạo, và như vậy ta có thể kết luận rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo. Đây là lý do tại sao mà một số các học giả, nhà khoa học đồng thời cũng coi Phật giáo như là một khoa học về tâm trí.

Tuy nhiên nếu chúng ta định nghĩa tôn giáo như là một phương thức tu tập tâm linh thông qua cầu nguyệnthiền định tìm kiếm một hệ quả cho đời sau, cái mà chúng tôi gọi là niết bàn chẳng hạn, thì trong trường hợp này ta có thể xem Phật giáo là một tôn giáo. Hơn thế nữa, nó đồng thời vừa là một tôn giáo, một triết học, và là một khoa học.

Tôi cũng xin được thêm rằng mối liên hệ giữa những tôn giáo này đặt căn bản hầu như hoàn toàn vào đức tin, dành ít chỗ đứng cho lý trí; trong khi đó những người theo chủ nghĩa duy vật thực tiễn nhất thì lại rất giáo điều khó khăn. Phật giáo, tôi nghĩ rằng, đứng đâu đó giữa hai thái cực này. Từ quan điểm của những người duy vật bảo thủ, Phật giáo là một tôn giáo thế nên không có chỗ đứng trong hệ thống tư tưởng của họ. Từ quan điểm của những tôn giáo đặt nền tảng căn bản thuần vào đức tin, Phật giáo không được coi là một tôn giáo mà là một loại chủ nghĩa phiếm thần, hay là một khoa học tâm trí. Vì những lý do này mà Phật giáo có cơ hội đứng ra một bên, đâu đó ở quảng giữa và có thể nhờ đó mà trở thành một chiếc cầu nối liền giữa hai khuynh hướng cực đoan.

Mặc dù có sự cách biệt văn hoá lớn lao, càng ngày càng có nhiều người Tây phương khao khát đời sống tâm linh đã quay tìm về với Phật giáo thay vì Cơ Đốc giáo. Ngài có thể giải thích hiện tượng này không?

Tôi không nghĩ là chúng ta không nên đi đến một kết luận quá nhanh chóng như thế bởi vì các quốc gia Tây phương chủ yếu vẫn ở trong vòng ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo và sẽ tiếp tục như thế. Hãy nhìn vào Tây Tạng, tuy là một quốc gia Phật giáo, tuy nhiên hàng thế kỷ qua các tôn giáo ngoài Phật giáo cũng đồng thời có mặt, Hồi giáo chẳng hạn, và kể từ đầu thế kỷ này cũng bắt đầu có một số Cơ Đốc giáo. Thế nên tôi nghĩ là trong số hàng triệu người Tây phương, nếu có một số ít người bị thu hút bởi tư tưởng Phật giáo thì cũng là chuyện rất bình thường.

Ngược lại, người Tây Tạng có thể có được những lợi lạc nào mang lại từ phía Cơ Đốc?

Dĩ nhiên! Qua những điều mà tôi hiểu biết về Cơ Đốc, thì đã có một số lượng rất phong phú của những truyền thống tuyệt vời trong tôn giáo này. Tôi cũng đã có dịp gặp gỡ rất nhiều vị tu sĩ, nữ tu Cơ Đốc giáo, những người đã gây một ấn tượng sâu xa đối với tôi qua việc họ đã gánh vác những trách nhiệm lớn lao trên các lãnh vực giáo dục và y tế -trong ý hướng phụng sự nhân loại trên khắp toàn thế giới. Một khía cạnh tích cực khác của truyền thống Cơ Đốc giáo đó là việc đào tạo chủng sinh được kéo dài trong một thời gian khá lâu và rất nghiêm nhặt, như vậy người chủng sinh đã có đủ thời gian để cần nhắc kỹ lưỡng trước khi được thụ phong linh mục. Trong khi đó về phía Phật giáo, nhiều khi có rất nhiều tăng sĩ được thụ giới đàn trước khi họ có những suy nghĩ về vấn đề này.

Giáo hội Thiên chúa giáo La Mã, thông qua Đức Giáo hoàng, đã phát biểu một quan điểm khá bảo thủ về một số vấn đề xã hội, đặc biệtlãnh vực tính dục. Thí dụ như Giáo hội lên án phá thai hoặc sử dụng “áo mưa“ để ngăn ngừa bệnh AIDS. Quan điểm của Ngài như thế nào về những vấn đề này ?

Về vấn đề phá thai, Phật giáo quan niệm rằng sinh mạng của tất cả mọi con người đều rất qúy giá. Trên quan điểm này, Phật giáo không tán thành việc hạn chế sinh sản. Tuy nhiên với đà gia tăng dân số hiện nay và các nguồn tài nguyên thiên nhiên rất có giới hạn, vấn đề đặt ra hiện nay là: năm tỷ người đang sống trên trái đất này có hoàn toàn được hạnh phúc hay không? Hố sâu ngăn cách về mức sống giữa các quốc gia miền Bắc và miền Nam không những mang tính cách bất công trên mặt đạo đứcđồng thời cả trên mặt thực tiễn. Đây chính là nguồn gốc của các vấn nạn và những khổ đau triền miên mà ta không thể không nghĩ tới một cách nghiêm chỉnh.

Thế nhưng, theo các chuyên gia, nếu mức sống của các quốc gia phía Nam được nâng lên ngang tầm với các quốc gia phía Bắc, những tài nguyên của thế giới sẽ bị cạn nguồn. Sự khảo sát này đã được dựa trên những dữ kiện khoa học. Thế nên ta đi đến một kết luận khá hiển nhiên là phải giới hạn bớt những người sắp sinh ra đời.

Trở lại vấn đề phá thai: Một cách tổng quát, phá thai có nghĩa là giết người, cho nên đây là một hành động tiêu cực. Tuy nhiên không phải là không có những trường hợp ngoại lệ, thí dụ như đó là một quái thai hay sinh mạng của người mẹ ở trong tình trạng hiểm nguy -nhưng xin nhớ cho rằng đây chỉ là những biệt lệ. Thế nên quan điểm chung của Phật giáo và ngay cả chính bản thân tôi cũng luôn cổ võ cho những biện pháp bất bạo động trong việc kiểm soát sinh sản. Tôi cũng từng khuyến khích rằng, những phương cách tốt nhất của lối kiểm soát sinh sản bất bạo động là nên có thêm nhiều tu sĩ và nữ tu!

Một trong những vấn đề tranh luận chính đang chia rẽ Giáo hội Thiên chúa giáovấn đề đời sống độc thân của tu sĩ, nhưng các tăng sĩ của truyền thống Phật giáo Tây Tạng cũng sống độc thân. Theo ý kiến của Ngài, phải chăng độc thân là điều cần yếu cho cuộc sống tu sĩ?

rong rất nhiều tôn giáotruyền thống tâm linh, độc thân được coi như là một yếu tố khá quan trọng. Nhưng dĩ nhiên đây hoàn toàn chỉ là vấn đề chọn lựa của cá nhânmọi người đều có quyền tự do tuân theo hay không.

Phật giáo nhận thức rằng nguyên nhân chính gây nên khổ đau là lòng tham ái, mê đắm, những yếu tố tinh thần luôn quấy nhiễu và làm rối rắm tâm ta. Trong số những yếu tố tinh thần tiêu cực này, những cái được coi như năng độngđộc hại nhất là thù ghét và chấp trước. Hậu quả độc hại của lòng oán ghét và hận thù là điều quá hiển nhiên đối với mọi người. Thế nhưng chấp trướctham ái thường được phát triển cùng với sự phản ứng của lòng thù ghét.

Một trong những mục tiêu chính của việc tu dưỡng tâm linhtìm ra những phương thuốc nhằm chế ngự những yếu tố quấy nhiễu tâm hồn, tức là thù ghét và chấp trước. Có rất nhiều hình thức chấp trước, trong đó những loại liên hệ với những kinh nghiệm của ngũ quan thường là nguyên nhân gây nên những khổ đau lớn lao nhất cho con ngườihiển nhiên nhất là chấp trước vào khoái lạc tình dục. Đó là lý do tại sao Phật giáo ca ngợi những đức hạnh của trinh tiết và sự tiết dục, cũng như không chấp nhận bất cứ hình thức liên hệ tình dục không đúng đắn nào.
 
 

ĐANG VÀ SẼ MÃI MÃI
LÀ NGƯỜI TÂY TẠNG

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài đã từng lên án Trung Cộng tìm đủ mọi cách để huỷ diệt nền văn hoá Tây Tạng. Họ đã thực hiện điều đó như thế nào và theo ý kiến của Ngài liệu họ có đạt được mục tiêu đó hay không?

Kể từ khi xâm chiếm Tây Tạng, bốn mươi năm trước đây, cho đến nay Trung Cộng đã sử dụng đủ mọi phương thức ở trong nhiều thời điểm khác nhau. Trong những năm giữa thập niên năm mươi, họ đã cho hủy diệt hầu hết các tu viện chùa chiền, loại trừ các thành phần trí thức, cư sĩ trung kiên, cũng như tăng sĩ bằng cách bỏ tù, tập trung lao động cải tạo kể cả hành quyết họ trước công chúng. Rồi đến thời Cách Mạng Văn Hóa; mà tôi nghĩ là mọi người đều biết rõ những việc mà họ đã làm. Cuối cùng là cả một chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ cho rằng văn hóa của Tây Tạnglạc hậu, đen tối, ác độcvô giá trị, tất cả những gì thuộc về Tây Tạng đều là thứ vô dụng, chẳng có gì để phải quan tâm. Tôi nghĩ là bây giờ họ không còn sử dụng các phương sách này nữa.

Kể từ giữa thập niên tám mươi, Trung Cộng đã bắt đầu đổi giọngchính thức tuyên bố rằng văn hóa Tây Tạng là một nền văn hoá cổ truyền, có giá trị lớn, cần phải được bảo tồn, đó là phương thức mà họ đang sử dụng hiện nay. Họ cũng đã cho dựng lên những bảng khẩu hiệu bằng tiếng Tây Tạng dọc theo đường phố và ngay cả ra lệnh cho người Trung quốc sinh sống tại đây học tập ngôn ngữ Tây TạngTuy nhiên đây chỉ là bề mặt, trong thực tế họ ra sức tăng cường ảnh hưởng của Trung quốc cụ thể qua học vấn và thi cử, những kiến thức liên quan đến Trung quốc mới là trọng tâm.

Cũng xin được lưu ý rằng giảng khoá liên quan đến truyền thống Tây Tạng rất là nghiêm túc và đòi hỏi thời gian học tập, có khi kéo dài cả hai, ba chục năm để hoàn tất. Bây giờ ở Tây Tạng hầu như không còn nơi nào người ta có thể theo đuổi những lớp học như thế từ lúc khởi đầu cho đến khi hoàn tất. May ra chỉ còn ở những vùng thật xa xôi hẻo lánh, nơi mà nhà cầm quyền Trung Cộng chưa với tay đến được. Kết quả là, trình độ học vấn truyền thống tại Tây Tạng đang xuống đến mức thấp nhất, đó là lý do khiến hàng ngàn người trẻ Tây Tạng đã không còn một chọn lựa nào khác hơn là tìm đến Ấn Độ để theo đuổi việc học tập nghiên cứu tại các tu viện lưu vong.

Như vậy, mặc cho những tuyên truyền mà mọi người đều biết, thực tế là đang có một nỗ lực đầy tính toán nhằm thủ tiêu nền văn hoá của chúng tôi. Cho dù có chủ mưu hay không, sự xâm lăng của thực dân Trung Cộng là nguyên nhân chính gây nên nạn diệt chủng nền văn hoá Tây Tạng.

Tôi xin nêu ra một dẫn chứng cụ thể. Một người Tây Tạng đang sống tại Ấn Độ, gần đây đã có dịp trở về Tây Tạng để thăm viếng cha mẹ. Khi dạo quanh khu phố cổ của thủ đô Lhasa, khu vực chung quanh ngôi tự viện trung ương, nơi sinh sống của đa số người Tây Tạng, điều làm cho anh ta ngạc nhiên nhất là hầu như mọi người ở đây đều ăn mặc giống như người Trung Quốc và đều nói tiếng Trung quốc. Bất chợt anh ta cố ý la lớn lên bằng tiếng Tây Tạng và khi thấy mọi người có vẻ chú ý, anh ta tiến đến họ và hỏi lý do tại sao họ lại nói tiếng Trung quốc. Mọi người đều cho biết rằng nếu không sử dụng ngôn ngữ Trung quốc, họ sẽ bị trừng phạt,và hơn thế nữa việc nói tiếng Trung quốc làm cho họ cảm thấy được bình đẳng ngang với kẻ thống trị.

Thưa Đức Đạt Lai Lạt Ma, Ngài có cảm tưởng thế nào đối với những kẻ đang gây ra thống khổ cho nhân dân Tây Tạng?

Dĩ nhiên đôi lúc tôi cũng cảm thấy khó chịu, tuy nhiên là một người đang thực hành giáo lý nhà Phật, do quán chiếu, mình có thể có nhiều lý do để nhìn một cách sâu sắc hơn đối với những kẻ đang gây nên những vấn nạn, khổ đau cho kẻ khác. Chúng ta có nhiều lý do để quan tâm đến những kẻ đang xâm lăng gây hấn hơn là nạn nhân của họ. Tại sao như thế ? Bởi vì người đang gây ra những vấn nạn hiện nay tức là đang tạo tác ra một tiến trình nghiệp lực mà rồi chắc chắn họ sẽ thọ lãnh quả báo xấu ác trong tương lai; trong khi đó nạn nhân chỉ là người đang nhận chịu khổ đau do hậu quả của những hành động tiêu cực trong quá khứ. Thế cho nên đối với nạn nhân, qủa báo nay đã chấm dứt. Nếu suy nghĩ theo cách này, tôi có thể phát triển được lòng từ của mình đối với những người này.

Thưa Ngài, sự khác nhau trong lối sống của người Tây Tạng lưu vong và những người còn ở lại trong nước phải chăng là một nguy cơ khi đã tạo ra một khoảng cách văn hoá giữa hai nhóm người này?

Không, Tôi không nghĩ rằng đó là một vấn nạn. Ngay cả những người Tây Tạng tại Ấn Độ cũng đã có những đời sống khác nhau, những kiến thức khác nhau do việc tiếp thu những thông tin từ thế giới bên ngoài. Sự khác biệt là điều rất hiển nhiên. Mặc dù sống đời tỵ nạn, nói chung là chúng tôi hoàn toàn thụ hưởng một cuộc sống tự do. Tuy nhiên chúng tôi chỉ có 130,000 người, trong khi trong nước có đến 6 triệu người. Đó là lý do mà tôi luôn nói rằng họ mới là những người lãnh đạo, những người chủ của tôi. Họ là một tập thể đông đảo, trong khi chúng tôi chỉ là một bộ phận nhỏ của cái phương trình này. Một cách tóm tắt, tôi không thấy bất cứ vấn nạn nào trong tương lai. Dĩ nhiên có thể là một ngày nào đó được trở về Tây Tạng, một số người sẽ cảm thấy khó khăn trong việc thích nghi vời đời sống ở đây và thích sống ở ngoại quốc, tuy nhiên đó không phải là một vấn nạn.

Trên bình diện cá nhân, Ngài cảm thấy liên hệ chặt chẽ với những gì được mang lại từ thế giới Tây phương?

Ngay từ thuở thiếu thời tôi đã luôn bị quyến rũ bởi những tiến bộ vật chấtthành tựu của nền khoa học kỹ thuật phương Tây. Điều đập vào mắt tôi trước tiêntinh thần ham học hỏi của người Tây phương. Chẳng hạn như bất cứ lúc nào tôi nói chuyện về Phật giáo, tất cả quý vị đều đem giấy bút ra để ghi chép hoặc mở máy thu băng. Người Tây Tạng, Trung Hoa và Ấn Độ thì không như thế, tôi để ý rằng họ có thể lắng nghe tôi một cách thành kính, nhưng chẳng có ai bận tâm ghi chép. Họ ngồi đó một cách yên lặng, có vẻ như đã biết hết tất cả những điều tôi nói!

Tôi cũng luôn luôn thán phục thái độ làm việc khoa học trung thực trên lãnh vực nghiên cứu trong đó tinh thần vô tư, đầu óc rộng mở, kể cả hoài nghi đã đóng một vai trò rất quan trọng. Phật giáo cũng có một đường lối tiếp cận như thế, đặc biệt là trong truyền thống Đại Thừa, mà nguyên tắc căn bảnkhông chấp nhận bất cứ tín điều nào một cách mù quáng. Mọi việc phải được kinh qua kinh nghiệmthực chứng. Cho đến khi nào mọi việc sáng tỏ và có tính thuyết phục ta mới nên chấp nhận chúng. Đây là những gì mà tôi nghĩ là mặt tích cực của phương Tây.

Thế nhưng nếu qúy vị hỏi tôi thế còn mặt tiêu cực là gì... Điều tôi nói ra có thể là không hoàn toàn đúng hẵn đối với các người bạn Tây phương, nhưng thỉnh thoảng tôi để ý là qúy vị thiếu tinh thần kiên nhẫn. Tất cả quý vị đều quen với đời sống máy móc tự động và thường là hoàn tất mọi việc một các dễ dàng. Thế nên qúy vị dễ sinh ra tật hư là vậy. Tuy nhiên điều này cũng đã không hề ngăn cản được rằng kiên nhẫn vẫn là một cái gì đó rất hữu ích cho đời sống con người. Trong xã hội Tây phương người ta thường có thói quen khi phê phán một cái gì đó thường hay quên đi tính cách tương đối của sự việc.

Bạn không thể kết luận một vật là hoàn toàn một trăm phần trăm đen hay một trăm phần trăm trắng, một trăm phần trăm tốt hay một trăm phần trăm xấu. Mọi việc không bao giờ giản đơn như thế: chúng có mặt tích cực đồng thời cũng có mặt tiêu cực. Thế nên theo tôi một thái độ được coi là thực tếhợp lý khi nhìn sự việc là, nếu mặt tích cực trội hơn ta xem chúng là tốt và ngược lại.
Rút tỉa kinh nghiệm, từ chỗ đứng hôm nay, Ngài nhìn về Tây Tạng trước năm 1950 như thế nào?

Dĩ nhiên là có một số mặt hạn chếlạc hậu nhưng không phải là không có những khía cạnh tích cực. Một số người có thói quen mô tả xã hội cổ của Tây Tạng như là một thứ Shangri-la, tức là thiên đường hạ giới, dĩ nhiên đây là chuyện phóng đại. Một số khác thì xem đó chẳng khác gì địa ngục trần gian, cũng là chuyện phóng đại nốt.

Càng có dịp gặp gỡ những con người và những nền văn hoá khác biệt trên thế giới tôi lại càng nhận ra Tây Tạng có một nền văn minh tối cổ, phong phúgạn lọc biết chừng nào, nền văn hoá đó đã góp phần vào việc bảo tồn sự an bình tâm hồn của con người, và như thế đó là khía cạnh khá tích cực. Có thể là vì nền văn hoá Tây Tạng được xây dựng trên căn bản những giáo lý của Đức Phật, vốn trưởng dưỡng mối liên hệ hòa điệu và an bình giữa con người và môi trường sống. Mặc dù người Tây Tạng không hoàn toàn ăn chay trường, nhưng họ đã làm đủ mọi cách để bảo vệ muông thú , chim chóc, cá tôm.

Thời xưa luật lệ của chính phủ còn cấm cả việc săn bắn, đánh cá, bẩy chim. Chỉ có một số người Gurkhas, gốc Népal là được miễn trừ không bị chi phối bởi luật lệ Tây Tạng, có nghĩa là họ có thể đánh cá và săn bắn, còn người Tây Tạng , đặc biệt là vùng trung du, đã bị cấm chỉ, và tôi cho rằng đó là một biện pháp rất tốt. Ở vào thời điểm mà chúng tôi chưa hề bao giờ biết đến những khái niệm về “môi sinh”, “sinh thái”, nhưng chúng tôi đã cho áp dụng những biện pháp này một cách tự động.

Ngay cả nhìn về mặt hệ thống xã hội, tuy lỗi thờiphong kiến, nhưng nếu ta so sánh với Ấn ĐộTrung Quốc cùng trong thời điểm này, nó không những ít khắc nghiệt mà lại có phần nhân ái hơn. Cụ thể như Trung Quốc trong thời gian này tục lệ bó chân phụ nữ hoặc thiến một số người thành hoạn quan rất khá phổ biến, trong khi đó những việc như thế không hề được diễn ra tại Tây Tạng.
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 174135)
01/04/2012(Xem: 20569)
08/11/2018(Xem: 3085)
08/02/2015(Xem: 29931)
10/10/2010(Xem: 100817)
10/08/2010(Xem: 104486)
08/08/2010(Xem: 109451)
21/03/2015(Xem: 12914)
27/10/2012(Xem: 57843)
Nhằm tạo một cơ hội sinh hoạt chung để chia sẻ, truyền lửa cho nhau, và thảo luận một số đề tài liên quan đến công việc Hoằng pháp, Giáo dục, Văn học Nghệ thuật, Phật Giáo, và Ra Mắt Sách chung, một buổi sinh hoạt CÓ MẶT CHO NHAU 2 sẽ được tổ chức tại Tully Community Branch Library, 880 Tully Rd. San Jose, CA 95111, vào lúc 2:30--5:45 chiều, Thứ Bảy, ngày 19 tháng 10, 2019.
Theo ước tính của Trung tâm nghiên cứu Pew, Phật tử chiếm khoảng 1% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ và khoảng hai phần ba Phật tử Hoa Kỳ là người Mỹ gốc Á. Trong số những người Mỹ gốc Á, 43% là người Mỹ gốc Việt và một phần tư người Mỹ gốc Nhật xác định là Phật tử, phần còn lại là Kitô hữu hoặc không có tôn giáo nào.
Chủ nghĩa bá quyền Đại Hán với âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung quốc là chuyện từ nghìn năm và đang tiếp diễn đến ngày nay. Hiện tại chúng đã bao vây trọn vẹn biển Đông và biên giới phía Bắc đang chuẩn bị đưa binh lực tràn qua biên giới để tấn công Việt Nam một lần nữa. Đó là nhận định của nhà phân tích chiến lược David Archibald trong bài viết nhan đề “Advice for Our Vietnamese Friends on China” (Lời Khuyên Gửi Các Bạn Việt Nam Của Tôi về TQ) đăng trên tạp chí American Thinker ngày 27/9/2019. Thực sự Tổ quốc Việt Nam đang lâm nguy, người Phật tử không được quyền rửng rưng, vô cảm, và thờ ơ. Ban biên tập Thư Viện Hoa Sen là những Phật tử đồng thời là con dân của nước Việt nên chúng tôi chưa biết làm gì hơn là truyền đạt thông tin này đến tất cả mọi người dân yêu nước.