Công Lí Là Công Bằng, Tâm Đại Bi, Và Nỗi Kinh Hoàng Mang Tên ‘Thủy Điện’

14/10/201312:00 SA(Xem: 6386)
Công Lí Là Công Bằng, Tâm Đại Bi, Và Nỗi Kinh Hoàng Mang Tên ‘Thủy Điện’

CÔNG LÍ LÀ CÔNG BẰNG, TÂM ĐẠI BI, VÀ
NỖI KINH HOÀNG MANG TÊN ‘THỦY ĐIỆN’
Đặng Hữu Phúc
(trích:gocnhinalan.com)

noi-kinh-hoang-mang-ten-thuy-dien_02medĐể bình luận về “Nỗi kinh hoàng mang tên ‘Thủy điện’ , xin gửi tới các bạn một lá thư bạn Hoa Xanh viết cho các bạn học trung học Chu Văn An 1959-1966. Nhóm này vào học đệ thất ban Anh Văn năm 1959. Bạn Hoa Xanh là Y sĩ Biệt Động Quân, bị bắt tại mặt trận tháng 3/1975. Tại sao lại đem thư bạn Hoa Xanh vào bài “Nỗi kinh hoàng mang tên ‘Thủy điện’? Lí do là bạn Hoa Xanh có một cái nhìn sâu sắc về cuộc sống dưới chế độ mới , và đã diển tả chính xác , ngắn gọn, đầy đủ trong có hai câu: “Chỉ có một cuộc sống dữ dội của những người đang lo bóp cổ lẫn nhau, trói buộc lẫn nhau, dối trá và vờ vịt. Đó là cuộc “cách mạng quan hệ sản xuất” đang tạo ra kiểu mẫu “quan hệ người với người”.

____________________________

Subject: RE: 60 năm vào Nam
Date: Wed, 19 Dec 2012 02:05:01 +0000

Khoảng cuối năm 80s tôi về thăm quê ở Hà Đông trước khi đi Mỹ. Có chút chuyện xích lô miền Bắc kể chơi.

Từ sân bay Nội Bài tôi về Hà Nội bằng một chiếc xe khá sang hiệu gì thì không rõ nhưng của Liên Xô chế tạo, có cả máy lạnh đàng hoàng. Ngồi lên xe tôi mới biết đây là xe của một đồng chí cao cấp. Đồng chí ấy giao cho anh lái xe đi đón khách, kiếm thêm. Anh tài xế khá bẻm mép, kể chuyện lung tung. Có lúc anh ta hỏi tôi:” Anh từ trong Lam ra thăm Hà Lội à?”. Tôi tỉnh khô đáp:” Ấy mình mới vào trong Nam coi vài việc lại phải vội vàng ra họp cấp ủy khẩn.” Tôi lúc ấynhan sắc xã hội chủ nghĩa, nghĩa là gầy ốm hom hem và đen, nói tiếng Bắc tôi sửa lại cho có âm sắc cao, Đồng chí lái xe tái mặt và im luôn cho đến khi về tới khách sạn Métropole.

Tôi chạy một chiếc mô tô về thăm quê, dọc đường hỏi thăm một thằng bé khoảng 12 tuổi đang đạp xe đạp:” Này cháu, từ đây về thị xã Hà Đông còn xa không?” Thằng bé lạnh lùng:” Còn xơi”. Tôi hơi ngẩn ra một chút để thấm cái nghĩa “còn xơi” là gì. Và mới đây nghe chuyện kể của các bạn tôi nhớ lại là mình còn may, chưa gặp cháu ngoan bác Hồ “biết nhưng đéo chỉ”.

Có hôm tôi ra trước cửa khách sạn đứng chờ người quen đến đón, chờ khá lâu vì người Hà Nội không có việc gì phải vội vàng cả. Có một tay xích lô chờ khứa ở bên kia đường cũng từ lâu, đẩy xe qua tôi mời đi và bắt chuyện:” Em nghe nói mấy anh em xích lô ở trong Nam cứ đến buổi trưa là đi nhậu phải không?” Tôi:” Việc gì phải chờ đến buổi trưa. Sáng sớm là đã làm vài cốc cà phê trắng. Sao cậu không vào trong ấy đạp xe?” Anh ta than:” Ngoài này khó khăn lắm anh ạ. Ai cũng đi bộ, ấy anh xem cái con đang đi đến kìa, diện quần bò đưa cả cái nồn ra nhưng em dám nói là nó không có một đồng trong túi.”

Chiếc xích lô Hà Nội trông kềnh càng như cái xe ba bánh trong Nam, không có đệm, trải một manh chiếu rách cho khách ngồi. Đang chở khách, xích lô tụ đen lại ở một góc phố để ngển cổ vào xem một đám hát rong từ Sài Gòn ra, đang diễn. Gánh hát này sử dụng “hi-tech”, gồm cả microphone và guitar điện, chưa từng thấy. Cả xích lô lẫn khách đi đều hăm hở xem màn trình diễn, đi đâu mà phải vội vàng?

Trong không gian của Hà Nội năm ấy, có nắng mùa thu nhạt, có mùi ổi chín, có một cái gì hết sức quyến rũ…

Nếu bạn không nhìn thấy người ta đứng tắm tỉnh bơ trên hè phố, nếu không thấy một bãi cứt nổi bập bềnh ven hồ Gươm, nếu bạn không nghe thấy tiếng đàn bà văng tục như máy, nếu bạn không thấy các “dược sĩ” mù vốn là thương binh nay đi bán thuốc tây lẻ ngoài phố Hàng Đào cạnh một cái cống lộ thiên đen ngòm chạy suốt phố. Khung cảnh Hà Nội là tàn tạ, chỉ có những cái cũ đang cũ thêm. Chỉ có một cuộc sống dữ dội của những người đang lo bóp cổ lẫn nhau, trói buộc lẫn nhau, dối trá và vờ vịt. Đó là cuộc “cách mạng quan hệ sản xuất” đang tạo ra kiểu mẫu “quan hệ người với người”.

Tôi nhớ lại, Hà Nội là khung cảnh của buổi chiều ngày tận thế giống như trong cuốn truyện I Am Legend của Richard Matheson, sau trở thành kịch bản của cuốn phim nổi tiếng The Omega Man. Tâm trạng của tôi lúc về Hà Nội giống như tâm trạng “doomsday” trên chuyến xe lửa vận tốc 15 km/giờ từ Nha Trang về Sài Gòn sau khi ra khỏi trại tù binh quân khu 5 ở Cung Sơn, Phú Yên.
___________________________

Tôi cũng thân gửi các bạn GNA lá thư thứ nhì của bạn Hoa Xanh, sau khi HX viết lá thư trên, để các bạn thấy chiều sâu tâm tư của những đứa bé di cư 1954 và trưởng thành trong xã hội tự do VNCH.

(Thư của Hoa Xanh)

Trong bản Kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra) dịch thẳng từ Phạn ngữ, mở đầu Kinh có đoạn Đức Thế Tôn từ lâu đài Lanka trên đỉnh núi Malaya giảng kinh cho Ravana là chúa công của Rhakshasas (Dạ Xoa Vương). Đoạn này không có trong các bản Hán ngữ, có lẽ vì tinh thần thực tiễn của các thiền sư Trung quốc. Tuy nhiên các bạn có khuynh hướng Phật giáo có lẽ không cần làm học giả mà nên là hành giả Phật giáo thì hơn. Không có thực hành thì không thành Phật giáo, đọc nhiều cũng vô ích. Kinh điển liễu nghĩa chỉ một câu cũng đủ. Bản Hán ngữ mở đầu bằng bài kệ của bồ tát Đại Huệ tán thán Đức Phật, tôi ghi lại bằng âm Hán Việt, nguyên văn như sau:

Thế gian li sanh diệt
Do như hư không hoa
Tri bất đắc hữu vô
Nhi hưng đại bi tâm
Nhất thiết pháp như huyễn
Viễn li ư tâm thức
Tri bất đắc hữu vô
Nhi hưng đại bi tâm
Viễn li ư đoạn thường
Thế gian hằng như mộng
Tri bất đắc hữu vô
Nhi hưng đại bi tâm
Tri nhân pháp vô ngã
Phiền não cập nhĩ diệm
Thường thanh tịnh vô tướng
Nhi hưng đại bi tâm
Nhất thiếtniết bàn
Vô hữu niết bàn Phật
Vô hữu Phật niết bàn
Viễn li giác sở giác
Nhược hữu nhược vô hữu
Thị nhất thiết câu li
Mâu Ni tĩnh tịch quan
Thị tắc viễn li sanh
Thị danh vi bất thủ
Kim thế hậu thế tịnh

Tôi thường tụng Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinhbài kệ này trong công phu hàng ngày bằng âm Hán Việt vì chữ Hán rất cô đọng và chuẩn xác. Bài kệ trên thâu tóm toàn bộ tinh hoa của Kinh Lăng Già.

HX
_____________________

Bản dịch Việt (Thích Duy Lực) (ĐHP ghi):

“Thế gian lìa sanh diệt
Như hoa đốm trên không
Trí chẳng trụ hữu vô
khởi tâm đại bi

Tất cả pháp như huyễn
Xa lìa nơi tâm thức
Trí chẳng trụ hữu vô
khởi tâm đại bi

Xa lìa chấp đoạn thường
Pháp thế gian như mộng
Trí chẳng trụ hữu vô
khởi tâm đại bi

Biết nhơn pháp vô ngã
Phiền nãonhĩ diệm
Thường trong sạch vô tướng
khởi tâm đại bi

Niết Bàn chẳng thể lập
Chẳng có Niết Bàn Phật
Chẳng có Phật Niết Bàn
Lìa năng giác sở giác
Hoặc có hoặc không có
Cả hai thảy đều lìa
Pháp thiền quán tịch tịnh
Vốn lìa sự sanh khởi
Chẳng đời này đời sau
Gọi là chẳng thủ xả.”

____________________________

Thân gửi các bạn một đoạn văn trong lá thư tôi viết tháng 3/2013

“Ba ngày nữa là ngày phụ nữ .
Mỗi người nam , nữ đều vào đời là một đứa bé sinh ra từ lòng mẹ .
Đạo nào cũng dạy mọi người sống theo những điều tốt đẹp .
Đức Phật nói khi mẹ sinh con ra , nhìn con không biết chán , nghe tiếng con như nghe tiếng nhạc , nơi ngực mẹ là nơi an ẩn vỗ về cho con , nơi đầu gối mẹ là nơi vui đùa của con . Và mẹ dạy cho con biết thương người như thể thương thân .
Những người biết thương người như thể thương thân là đều thuộc về giòng họ cao quý .
Giòng họ cao quý không phải do chủng tộc , gia thế , tài sản .

Các lí thuyết về luật , lí thuyết về công lí — tỉ dụ của Giáo Sư Rawls — trong sách Theory of Justice , mà các trường Luật đều giảng dạy là — Justice is Fairness.
Thế nên , nhớ về ngày phụ nữchúng ta tâm niệm Justice is Fairness .
Chúng ta có thể tạm dịch Công lí là công bằng.
Dĩ nhiên công bằng bên tiếng Việt nghĩa không sâu sắc như Fairness bên tiếng Anh .

Nói tóm tắt — Chỉ có công lí khi có tự do .

Hiện nay phụ nữ Việt Nam không có độc lập , không có tự do , không có hạnh phúc .

Tuy rằng chúng ta xấp ngửa theo đời — nhưng chắc không quên hiện trạng của người phụ nữ VN miền Bắc, trước đây đem thân đi bỏ chiến trường như không , trong rừng núi trong chiến tranh và đến ngày về , như kí sự báo mạng trong nước có ghi — không chồng , không con , không nhà cửa , không chính sách .
Chắc một số bạn đã đọc Kinh Dược sư, trong đó Phật nói — đừng để giặc oán cướp đi tuệ mệnh của mình .
Tuệ mệnh chính là sinh mệnh trí tuệ , chính là tính giác chủ thể ( tính giác quang chiếu) và tính giác khách thể ( tính giác cảnh chiếu) , do đó chúng ta nhìn thấy cảnh khổ của mọi người , thấy lòng thương người như thể thương thân .

Nếu trên cõi đời này chúng ta chỉ nhìn thấy vòng số 1 , số 2 , số 3 khi “rót tràn những cốc bia to sủi bọt , long lanh trong tia nắng muộn của chiều” ( Thơ Rimbaud) — là chúng ta bị vô minh (= ngu si = vô trí = phi hiện quán = hôn muội = hắc ám ) che lấp rồi đó.
Chúng ta hãy nhìn thấy phụ nữ trong vẻ đẹp của họ .

“Hãy đến với dòng suối thơ luôn luôn tươi mát, chắt lọc và tuôn chảy từ những mạch nước ngầm của nhân sinh và cuộc sống chan hòa lý tưởng, tình thương, khát khao, hoài bão, cuồng nộ, đam mê, thất chí, tuyệt vọng…(Nguyễn Đăng Thường).”

Mong các bạn hiểu , những gì tôi viết , hoặc tôi copy , forward tới diễn đàn — không phải là do tôi oán , giận nhóm người này , nhóm người kia .

Tôi thấy mọi người từ khi mới được sinh ra , đã được cha mẹ , họ hàng , hàng xóm , và người bình thường đều vui vẻ đón nhận , vui mừng , hân hoan , chúc mừng — nhưng rồi sau đó nhóm người này , nhóm người kia nhào dô sử dụng mọi người như là sử dụng đồ vật họ có quyền sở hữu , — thế nên tôi viết đôi điều , gửi vài lá thư forward , copy — mục đích là để diễn tả điều này.

Cuối thư thân chúc tất cả các bạn vui với ngày phụ nữ.

 

Thưa các bạn

Câu hỏi của Kinh Lăng già : Ai bị trói? Ai mở?.

Chúng ta bị trói. Chúng ta mở. Chúng ta hãy nhận thức rằng:”Mọi người đều có quyền sống, tự do, và an toàn thân thể “ (Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Điều 3) Điều này hoà hợp với tính Phật , tính Bản Phật Phổ Hiền, tính hiếu sinh , tính ban vui cưú khổ, tính hoà hợp ta với người không phải là hai , ta với môi trường sinh sống không phải là hai , tất cả hoà hợp trong nhất chân pháp giới. Nay xin giới thiệu các bạn lời nhập đề bài viết của Tiến sĩ Hoàng Xuân Hào, cựu Thượng Nghị Sĩ VNCH, năm 2010 , khi tác giả trên 70 tuổi: : Ảnh hưởng Phật giáo trên Nhân Quyền Toàn Vẹn Con Người dưới thời Lí Trần:

Trước đây nhiều học giả Tây phương nghĩ rằng nhân quyền được quy định trong Hiến Pháp của các quốc gia và luật quốc tế của Liên Hiệp Quốc từ sau Thế Chiến II đều bắt nguồn từ truyền thống Âu Mỹ với luật Dân Quyền Anh Quốc năm 1689, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp Quốc và luật Dân Quyền Hoa Kỳ năm 1791. Nhưng năm 1980 hai học giả Nguyễn Ngọc Huy và Tạ Văn Tài tại Đại Hội Luật Khoa Harvard đã chứng minh trong bộ sách ba tập The Le Code Law in Traditional Vietnam (Bộ luật Hồng Đức luật tại nước Việt Nam cổ truyền, Ohio: Ohio University Press, 1987) là nước Việt Nam cổ đã có truyền thống nhân quyền.

Năm 1988 riêng học giả Tạ Văn Tài trong sách The Vietnamese Tradition of Human Rights (Truyền thống nhân quyền Việt Nam) (Berkeley, California: Institute of East Asia Studies, University of California Berkeley, 1988) đã chứng minh rằng: “Tổ tiên người Việt chúng ta đã tiến gần những tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế ngày nay” (trg 44), và truyền thống ấy đã có từ thời Lý – Trần. Khám phá mới mẻ này đã thu hút sự chú ý và lòng khâm phục nước Việt Nam cổ của học giới Tây phươngHọc giả Oliver Oldman, Giáo sư Luật học kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên Cứu Luật Pháp Đông Á của Đại Học Luật Khoa Harvard, trong Lời Nói Đầu sách The Le Code nêu trên đã nhìn nhận Việt Nam cổ tiến trước Âu Châu bốn thế kỷ trong việc lập nhà nước hiện đại. Ông viết: “Trong khi tại Âu Châu vào cuối thế kỷ 15, Ferdinand và Isabelle của Tây Ban Nha, Henry VII và Charles VIII của Pháp chỉ mới sắp sửa hoàn thành việc cải cách nhà nước Trung Cổ của họ thành nhà nước hiện đại (Triều đại Hapsburgs của Đức vẫn chưa có thể thống nhất xong chánh trị và lãnh thổ), thì người Việt Nam đã đạt đến giai đoạn phát triển thành một nhà nước hiện đại dưới hai đời Lý (1010 – 1225) và Trần (1225 – 1400) và về sau này đã củng cố vững vàng hơn nữa nhà nước hiện đạihệ thống luật pháp khá hiện đại dưới đời Lê (1428 – 1788)” (trg VIII).

Hơn nữa, Oliver Oldman còn nhiệt liệt ca ngợi truyền thống nhân quyền Việt Nam khi viết trong Lời Nói Đầu sách The Vietnamese Tradition of Human Rights rằng sách này sẽ không những hấp dẫn giới luật gia, học giả và những nhà hoạt động nhân quyền, mà còn là biểu tượng tự hào của dân Việt, đặc biệt là trên một triệu người Việt sống ở hải ngoại (trg XI).

Tiếp nối những khám phá mới mẻ về truyền thống nhân quyền Việt Nam, bài này phân tích đại cương ảnh hưởng của Phật giáo trên Nhân Quyền Toàn Vẹn Con Người dưới thời Lý – Trần. Vì các sách hai đời Lý – Trần đã bị giặc Minh sang nước ta thế kỷ 15 vơ vét sạch đem về Trung Quốc nên ngày nay ta chỉ biết được rất sơ sài luật lệ nhân quyền thời đại vàng son này của dân tộc Việt Nam qua bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sách Đại Việt Thông Sử cùng những sách khác của Lê Quý Đôn và sách An Nam Chí Lược của Lê Tắc. Nhân quyền toàn vẹn con người (the right to the integrity of the person) được điều 3 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền quy định: “Mọi người đều có quyền sống, tự doan toàn thân thể”. Quyền này là một loại nhân quyền căn bản nhất và quan trọng nhất trong bốn loại nhân quyền theo tiêu chuẩn quốc tế của Liên Hiệp Quốc: quyền toàn vẹn con người, quyền bình đẳng trước pháp luật, các quyền dân sự và chánh trị và các quyền kinh tế, xã hộivăn hóaSở dĩ quyền này là căn bản nhất và quan trọng nhất bởi vì không được hưởng nhân quyền này thì ba loại nhân quyền kế tiếp sẽ trở nên hoàn toàn bấp bênh và lý thuyết suông. Nói cách khác, khi con người không được toàn vẹnthân thể đã không thể an toàn thì không có cách nào để hưởng các quyền khác được. Ta có đủ những lý do vững chắc để quả quyết rằng giáo lý hiếu sinh, từ bicứu khổ của Đạo Phật đã có ảnh hưởng quyết định trên việc hình thành và thực thi chính sách nhân quyền nói chung và nhân quyền toàn vẹn con người nói riêng dưới thời Lý – Trần (Đoạn I). Những lời nói đi đôi với việc làm giàu lòng từ bi và đức hiếu sinh của các vị vua thời Lý – Trần là bằng chứng hùng hồn của việc tôn trọng nhân quyền toàn vẹn con người (Đoạn II).”

Và cũng xin giới thiệu các bạn hai bài viết về nhân quyền trên thuvienhoasen.org

1. Ảnh hưởng Phật giáo trên Nhân Quyền Toàn Vẹn Con Người dưới thời Lí Trần.

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_4-18070_5-50_6-1_17-1_14-2_15-2_10-2103_12-1/anh-huong-phat-giao-tren-nhan-quyen-toan-ven-con-nguoi-duoi-thoi-ly-tran.html

2. Nhân quyền và các giá trị Á Đông

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-44_4-18074_5-50_6-1_17-3_14-2_15-2_10-1183_12-1/nhan-quyen-va-cac-gia-tri-a-dong.html

*****

Cuối thư thân chúc các bạn nỗ lực làm các pháp lành, và tự chiếu soi lòng mình :
“Phải chăng vó ngựa ghê đường quan san”
(Hoàng Công Khanh. Bến nước Ngũ Bồ. Kịch Thơ) .
Và các bạn lên đường với tính Phật của mình “vui về mãi mãi”.


___________________________

Nỗi kinh hoàng mang tên ‘thủy điện’
trích: gocnhinalan.com 
October 10, 2013
By Guest15 Comments 
Nỗi kinh hoàng mang tên ‘thủy điện’ 
(Theo Báo Lao Động 7/10/2013)

noi-kinh-hoang-mang-ten-thuy-dien_4

“Dân chúng tôi như sống dưới “bẫy nước” chứ chẳng ai vui sướng gì với thủy điện nữa”.

noi-kinh-hoang-mang-ten-thuy-dien_5

Kết quả: hàng ngàn hộ dân các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An
đã bị nhấn chìm trong dòng lũ do thủy điện xả lũ.

Nội dung nổi bật:

Bão không vào, mưa không lớn, song lũ lụt tại Quảng Nam đã dâng trên mức báo động 3 với ít nhất 2 người chết, hàng ngàn người chạy loạn, hàng trăm hộ dân khác phải sơ tán trong đêm… 

Nguyên nhân

- Không chấp hành quy chế xả đập thủy điện đảm bảo an toàn, tiến hành xả đồng thời nhiều hồ thủy điện gây ra lũ nhân tạo

- Thông báo trước khi xả lũ 20 phút, vô trách nhiệm và không kịp thời gian để địa phương và nhân dân chuẩn bị ứng phó.

____________________________

Đến hôm nay, (7.10), lũ vùng hạ du Thu Bồn, Vu Gia đã rút, nhưng nhà cửa, vườn tược, ruộng đồng vẫn xơ xác, tiêu điều.

 Người dân tại các xã Đại Đồng, Đại Lãnh… huyện Đại Lộc (Quảng Nam) vẫn nguyên sự hoảng loạn, thất thần khi nhắc đến… lũ thủy điện.

Dân hoảng loạn

Ông Trà Quang Bảy – tổ trưởng tổ 6, thôn Tân An – bức xúc: “Dân chúng tôi như sống dưới “bẫy nước” chứ chẳng ai vui sướng gì với thủy điện nữa”.

Từ năm 2008, khi các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn sông Vu Gia, Thu Bồn, Quảng Nam được xây dựng, đi vào hoạt động, cũng chính là thời điểm người dân vùng hạ du liên tiếp gánh những hậu quả nặng nề.

Năm 2009, hàng ngàn hộ dân các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An… đã bị nhấn chìm trong dòng lũ do thủy điện xả lũ. 

Liên tiếp các năm sau đấy, một bộ phận nông dân người Quảng Nam và gần 1 triệu dân Đà Nẵng lại tiếp tục “chịu trận” hậu họa khô hạn, thiếu nước sinh hoạt khi Nhà máy thủy điện Đắk Mi 4 xây dựng, cắt tiệt nước ở thượng nguồn sông Vu Gia để đổ nước về Thu Bồn, phát điện.

Bão số 10 được xác định là không đổ bộ trực tiếp vào Quảng Nam, Đà Nẵng, mưa cũng không thuộc diện lớn so mật độ trong năm. Thế nhưng lũ lụt đã dâng bất ngờ, xấp xỉ báo động 3 trong điều kiện nắng tạnh. Đập không vỡ, nhưng do thủy điện xả lũ với lưu lượng lớn, nước hạ du dâng nhanh đến 4 mét trong tích tắc.

Trong khi đó, chính quyền không thông báo kịp thời đến dân. Khi người dân tin lời đồn, hoảng loạn bỏ chạy, chính quyền mới dùng loa phóng thanh… đuổi theo, loan tin trấn an.

Đến chiều và tối 2.10, lũ đã đổ về gây ngập lụt thật sự ở hạ du sông Thu Bồn, Vu Gia, người dân huyện Đại Lộc đã phải sơ tán 416 hộ dân với 1.602 nhân khẩu trong đêm 2.10.

Những sai phạm ngược đời và vô trách nhiệm

Quy trình xả lũ liên hồ (trên hệ thống sông Vu Gia – Thu Bồn) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành từ năm 2010, nhưng đến nay, khi hữu sự thì việc vận hành lại lúng túng, lộ diện những bất cập, sai phạm.

Cụ thể ngày 2.10, trên cùng hệ thống sông Vu Gia, trong lúc thủy điện Đắk Mi 4 xả lũ với lưu lượng lớn 1.800m3/s- 2.744m3/s (sau đó giảm xuống còn dưới 1.000m3/s), thì thủy điện sông Bung 4A cũng xả tràn với lưu lượng 500 – 1.000m3/s, thủy điện A Vương cũng xả lưu lượng 50 – 150m3/s. Rõ ràng, nhiều hồ thủy điện xả cùng lúc, hạ du sẽ bị ngập lụt là điều không tránh khỏi.

Mặc dù quy chế vận hành liên hồ có quy định phải vận hành theo nguyên tắc và thứ tự ưu tiên, làđảm bảo an toàn tuyệt đối cho các công trình thủy điện trước tiên, sau đấy đến “góp phần giảm lũ cho hạ du đồng thời đảm bảo hiệu quả phát điện”. 

Tuy nhiên, thực tếthủy điện Đắk Mi 4 đã làm ngược, “ưu tiên phát điện” trước, gây lũ cho 3 thôn Phước Hòa, Phước Hiệp của huyện Phước Sơn, đồng thời “góp thêm lũ” trên sông Thu Bồn cùng với thủy điện Sông Tranh 2, khiến các xã thuộc huyện Nông Sơn, Quế Sơn bị ngập sâu vì lũ nhân tạo.

Theo BCH PCLB TP.Đà Nẵng, Đắk Mi 4 xả lũ lúc 9 giờ sáng 2.10, song đến 8 giờ 40 thì Đà Nẵng mới nhận được bản fax thông báo. Nghĩa là địa phương hạ du chỉ có được 20 phút. Thời gian này sẽ không triển khai được bất cứ hoạt động ứng phó kịp thời nào.

Ngoài ra, thông báo xả lũ này còn “chơi chữ” bởi ghi là “nhà máy dự kiến điều tiết nước về các cửa tràn với lưu lượng 500 – 1.000m3/s”. Đây là bản thông báo trách nhiệm, không trung thực, gây hậu quả nặng nề, làm tổn thương, bất an hàng triệu dân vùng hạ du.

* Phần tô mầu hàng chữ là do người phụ trách cuả BBT post bài lên mạng

Nguyên văn bài báo:

blank

Thủy điện Đắk Mi 4 xả lũ ngày 2.10. Ảnh: T.Hải - N.Băng

Nỗi kinh hoàng mang tên “thủy điện”

Bão không vào, mưa không lớn, song lũ lụt tại Quảng Nam đã dâng trên mức báo động 3 với ít nhất 2 người chết, hàng ngàn người chạy loạn, hàng trăm hộ dân khác phải sơ tán trong đêm... Đến hôm nay, (7.10), lũ vùng hạ du Thu Bồn, Vu Gia đã rút, nhưng nhà cửa, vườn tược, ruộng đồng vẫn xơ xác, tiêu điều.

Người dân tại các xã Đại Đồng, Đại Lãnh... huyện Đại Lộc (Quảng Nam) vẫn nguyên sự hoảng loạn, thất thần khi nhắc đến... lũ thủy điện.

Thoát chết trong gang tấc

Chúng tôi về huyện Đại Lộc, Quảng Nam sáng 6.10, tức 3 ngày sau khi những cột nước cao như tầng nhà ầm ầm đổ xuống từ thủy điện Đắk Mi 4 khiến hàng ngàn người dân vùng hạ du này bỏ hết tài sản, nhà cửa tháo chạy thoát thân. Xã Đại Lãnh được xem như địa phương “lãnh đủ” và bị ngập nặng nhất trong đợt thủy điện xả lũ vừa qua.

Ông Phạm Tươi (54 tuổi, thôn Tân Sơn, xã Đại Lãnh) - một trong những người đầu tiên chứng kiến cơn lũ - bần thần kể lại: “Lúc đó khoảng 11 giờ trưa 2.10, khi tôi đang đánh cá trên sông Vu Gia - đoạn chảy qua xã Cà Dy, huyện Nam Giang thì bất thình lình thấy ngọn nước như “sóng thần” đùng đùng đổ xuống. Hoảng quá, tôi chỉ kịp bỏ chạy lên núi thoát thân. Ngay sau đó, cả 8 chiếc ghe của anh em làm cá chúng tôi đều bị lũ nhấn chìm. Rất may, trên ghe không có người”. Lũ rút, ông Tươi cùng các gia đình dốc lực tìm kiếm số ghe trên nhưng đến sáng 6.10, chỉ tìm được 3 chiếc. Trong số 5 chiếc còn lại hoặc có thể đã ra đến... biển, hoặc bị sóng đánh tan tành, chìm dưới đáy sông sâu.

Tại thôn Tân An (xã Đại Lãnh) người dân vẫn nguyên vẻ thất thần, nhiều người bảo, nhờ trời nên chúng tôi mới thoát được cảnh “đại tang”. Trong lúc thủy điện Đắk Mi 4 xả lũ, 3 cặp vợ chồng của thôn này đều đang đánh cá trên các sông có lũ đổ về mà không hề hay biết. Đến giờ, có nằm mơ chị Nguyễn Thị Ái Phương (thôn Tân An, xã Đại Lãnh) cũng không nghĩ là mình còn sống.

Chị Phương cho biết, vào thời điểm trên chị cùng chồng đang mưu sinh như mọi ngày trên sông Vu Gia thì bỗng đâu nước lũ cuồn cuộn đổ về khiến hai người trở tay không kịp. Sau hơn 30 phút vật lộn với lũ dữ, chị Phương cùng chồng mới vào được bờ. Ngồi thần người trước căn nhà trống trơ vì bị nước lũ ùa vào “dọn dẹp” sạch sẽ, chị Phương mếu máo: “Tiền bạc, của cải mất hết, chỉ còn cái mạng của hai vợ chồng thôi”. Hôm chúng tôi đến, chị Trà Thị Diệu Hiền (SN 1984) cũng vừa làm xong lễ “tạ trời” vì may mắn thoát khỏi lưỡi hái thủy thần. Chồng chị Hiền - anh Phạm Hóa - kể lại: “Vợ chồng tôi bơi vào bờ chậm khoảng 30 giây nữa là coi như bỏ mạng trên sông Rô”.

Ông Trà Quang Bảy - tổ trưởng tổ 6, thôn Tân An - bức xúc: “Dân chúng tôi như sống dưới “bẫy nước” chứ chẳng ai vui sướng gì với thủy điện nữa. Mọi khi xả lũ nước xuống từ từ, có còi báo hiệu đàng hoàng, còn lần xả rồi mới nghe thông báo, nước đùng đùng ùa về với lưu lượng lớn khủng khiếp. Trong vòng chưa đầy một tiếng đồng hồ, hàng loạt ngôi nhà đã ngập lút đầu lút nóc”. Ông Nguyễn Thế Chất - Chủ tịch UBND xã Đại Lãnh - thì cho rằng, tại thời điểm đập Đắk Mi 4 xả lũ, một số thôn của xã bị cắt điện nên cán bộ các thôn phải dùng loa phóng thanh thông báo nhưng người dân biết tin vẫn kịp. Tuy nhiên, lời của ông Chất không hề ăn khớp với thông tin người dân cung cấp rằng có lũ về rồi mới nghe thông báo.
blank
Ông Nguyễn Hữu Sắc (75 tuổi) đứng thẫn thờ trong căn nhà trống hoang
vì lũ đã “dọn dẹp” đi tất cả. Ảnh: T.Hải - N.Băng

Thiệt hại cả mùa lũ lẫn mùa khô

Cái được của thủy điện là rất lớn, góp phần quan trọng cho sự phát triển điện năng của quốc gia. Tuy nhiên, với người dân vùng dự án, cho đến thời điểm này gần như chưa được hưởng lợi bất cứ điều gì từ thủy điện. Từ năm 2008, khi các nhà máy thủy điện ở thượng nguồn sông Vu Gia, Thu Bồn, Quảng Nam được xây dựng, đi vào hoạt động, cũng chính là thời điểm người dân vùng hạ du liên tiếp gánh những hậu quả nặng nề. Năm 2009, hàng ngàn hộ dân các huyện Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An... đã bị nhấn chìm trong dòng lũ do thủy điện xả lũ.

“Bài học” đánh đổi bằng tài sản, tính mạng và sự tổn thất tinh thần hàng triệu dân vùng hạ du chưa được học thuộc, thì liên tiếp các năm sau đấy, một bộ phận nông dân người Quảng Nam và gần 1 triệu dân Đà Nẵng lại tiếp tục “chịu trận” hậu họa khô hạn, thiếu nước sinh hoạt khi Nhà máy thủy điện Đắk Mi 4 xây dựng, cắt tiệt nước ở thượng nguồn sông Vu Gia để đổ nước về Thu Bồn, phát điện. Cuộc khiếu kiện để tranh giành nguồn nước đầu tiên ở Việt Nam này đã bùng phát, kéo dài và cho đến thời điểm này vẫn chưa có hồi kết.

Bão số 10 được xác định là không đổ bộ trực tiếp vào Quảng Nam, Đà Nẵng, mưa cũng không thuộc diện lớn so mật độ trong năm. Thế nhưng lũ lụt đã dâng bất ngờ, xấp xỉ báo động 3 trong điều kiện nắng tạnh. Ngày 2.10, hàng ngàn hộ dân ở huyện Đại Lộc đã phải hoảng loạn chạy tứ tán để tránh lũ vì tin đồn thất thiệt “vỡ đập thủy điện” ở thượng nguồn. Thực tế, đập không vỡ, nhưng do thủy điện xả lũ với lưu lượng lớn, nước hạ du dâng nhanh đến 4 mét trong tích tắc.

Trong khi đó, chính quyền không thông báo kịp thời đến dân. Khi người dân tin lời đồn, hoảng loạn bỏ chạy, chính quyền mới dùng loa phóng thanh... đuổi theo, loan tin trấn an. Tuy nhiên, đến chiều và tối 2.10, lũ đã đổ về gây ngập lụt thật sự ở hạ du sông Thu Bồn, Vu Gia, người dân huyện Đại Lộc đã phải sơ tán 416 hộ dân với 1.602 nhân khẩu trong đêm 2.10. Tại xã Đại Quang trong đêm 2.10, rạng 3.10 có 70 nhà dân tại thôn Trường An phải chạy lũ. Lũ thủy điện đã gây ngập cục bộ tại nhiều địa phương, nhiều tuyến giao thông quan trọng bị chia cắt trong tiết trời tạnh mưa.
blank
Chị Nguyễn Thị Ái Phương (thôn Tân An, xã Đại Lãnh) vẫn chưa hết bần
thần khi may mắn thoát chết trước dòng nước lũ cao như “tầng nhà” ầm
ầm đổ xuống từ thủy điện Đăk Mi 4 trong lúc đang cùng chồng đánh cá trên sông. Ảnh: T.Hải - N.Băng


Điều đáng nói là trong khi quy trình xả lũ liên hồ (trên hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, ban hành từ năm 2010, nhưng đến nay, khi hữu sự thì việc vận hành lại lúng túng, lộ diện những bất cập, sai phạm. Cụ thể ngày 2.10, trên cùng hệ thống sông Vu Gia, trong lúc thủy điện Đắk Mi 4 xả lũ với lưu lượng lớn 1.800m3/s- 2.744m3/s (sau đó giảm xuống còn dưới 1.000m3/s), thì thủy điện sông Bung 4A cũng xả tràn với lưu lượng 500 - 1.000m3/s, thủy điện A Vương cũng xả lưu lượng 50 - 150m3/s. Rõ ràng, nhiều hồ thủy điện xả cùng lúc, hạ du sẽ bị ngập lụt là điều không tránh khỏi.

Mặc dù quy chế vận hành liên hồ có quy định phải vận hành theo nguyên tắc và thứ tự ưu tiên, là đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các công trình thủy điện trước tiên, sau đấy đến “góp phần giảm lũ cho hạ du đồng thời đảm bảo hiệu quả phát điện”. Tuy nhiên, thực tế, thủy điện Đắk Mi 4 đã làm ngược, “ưu tiên phát điện” trước. Từ trước ngày 2.10, thủy điện này đã tích nước, gây ngập lụt trên diện lớn các xã miền núi thuộc huyện Phước Sơn. Khi mực nước gia cường đã ở mức tối đa, có nguy cơ đến an toàn đập khi lượng nước về tiếp tục lớn, thay vì xả lũ, nhà máy này đã phát điện hết công suất.

Việc phát điện này đã lập tức gây lũ cho 3 thôn Phước Hòa, Phước Hiệp của huyện Phước Sơn, đồng thời “góp thêm lũ” trên sông Thu Bồn cùng với thủy điện Sông Tranh 2, khiến các xã thuộc huyện Nông Sơn, Quế Sơn bị ngập sâu vì lũ nhân tạo. Trước thực trạng này, BCĐ Phòng, chống lụt bão trung ương đã làm việc với chính quyền, huyện Phước Sơn, Quảng Nam, Nhà máy thủy điện Đắk Mi 4... thì nhà máy này mới giảm công suất phát điện, chuyển nước về xả cả 5 cửa tràn trên dòng Đắk Mi - thượng nguồn sông Vu Gia, gây lũ đột ngột cho nhân dân vùng Đại Lộc.

Thêm nữa, quy chế vận hành liên hồ cũng quy định việc xả lũ chỉ được nhỏ hơn hoặc bằng lưu lượng nước về. Thế nhưng, thực tế ngày 2.10 lưu lượng nước về thủy điện Đắk Mi 4 xấp xỉ 2.000m3/s, nhưng nhà máy thủy điện này lại xả đến 2.744m3/s. Chưa hết, trong quy chế vận hành liên hồ đã ấn định thời gian thông báo xả lũ ít nhất phải trước 2 giờ đồng hồ. Nhưng, Đắk Mi 4 đã bất tuân.

Theo BCH PCLB TP.Đà Nẵng, Đắk Mi 4 xả lũ lúc 9 giờ sáng 2.10, song đến 8 giờ 40 thì Đà Nẵng mới nhận được bản fax thông báo. Nghĩa là địa phương hạ du chỉ có được 20 phút. Thời gian này sẽ không triển khai được bất cứ hoạt động ứng phó kịp thời nào. Ngoài ra, thông báo xả lũ này còn “chơi chữ” bởi ghi là “nhà máy dự kiến điều tiết nước về các cửa tràn với lưu lượng 500 - 1.000m3/s”. Đây là bản thông báotrách nhiệm, không trung thực, gây hậu quả nặng nề, làm tổn thương, bất an hàng triệu dân vùng hạ du.



Tạo bài viết
19/04/2014(Xem: 12493)
Ngày 9/12/2018 vừa qua Câu lạc bộ Nhân Sinh đã tổ chức Khóa tu “Tuổi trẻ có gì vui” tại Tu viện Khánh An 2, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai với sự tham gia của hơn 250 bạn trẻ. Khóa tu diễn ra dưới sự hướng dẫn của sư Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng các vị Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.