4. VỀ SỰ TỒN TẠI MỘT NGUYÊN BẢN TIẾNG VIỆT

01/01/20163:24 CH(Xem: 566)
4. VỀ SỰ TỒN TẠI MỘT NGUYÊN BẢN TIẾNG VIỆT
Lê Mạnh Thát
TỔNG TẬP 
VĂN HỌC PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẬP 1 
Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh 2000

PHẦN II
KHƯƠNG TĂNG HỘI

4. VỀ SỰ TỒN TẠI MỘT NGUYÊN BẢN TIẾNG VIỆT 

Trước khi trả lời câu hỏi này, ta cần nói thêm một chút ở đây về hiện tượng “bút thọ” xảy ra trong quá trình phiên dịch kinh điển Phật giáo ở Viễn Đông, tức gồm cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Vào thời kỳ đầu, khi Phật giáo truyền đến Trung QuốcViệt Nam, tức khoảng từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ IV và V, những nhà truyền giáo Ấn Độ khi đến Việt Nam hay Trung Quốc, thường không am hiểu tiếng địa phương một cách rành mạch, trong lúc đó nhu cầu tìm hiểu đọc tụng kinh điển Phật giáo của Phật tử địa phương lại mạnh. Cho nên đã xuất hiện thủ pháp "bút thọ". Bút thọ, tức là nhà truyền giáo Ấn Độ, với vốn kiến thức ngôn ngữ địa phương hạn chế của mình, cố gắng dịch nguyên bản tiếng Phạn ra tiếng địa phương cho một Phật tử địa phương, mà thường là các nhà sư, chép lại và điều chỉnh những câu dịch có tính hạn chế ấy thành một bản dịch có thể đọc được. Ở Việt Nam ta, khi Cương Lương Lâu Tiếp sống gần đồng thời với Khương Tăng Hội, dịch kinh Pháp hoa tam muội, thì Đạo Thanh đã "bút thọ". Vì "bút thọ" là người địa phương, nên chắc chắn văn chương và ngữ pháp của các bản dịch nầy chịu ảnh hưởng nặng nề của ngôn ngữ người bút thọ. Đáng tiếc là bản kinh Pháp hoa tam muội ngày nay đã mất, vì thế ta không thể tìm hiểu được những vết tích tiếng Việt của Đạo Thanh. 

Thế thì, sự kiện bản Lục độ tập kinh hiện nay chịu ảnh hưởng tiếng Việt một cách có hệ thốngtoàn diện như vậy, phải chăng đã xuất phát từ hiện tượng bút thọ? Các kinh lục từ Xuất Tam tạng ký tập của Tăng Hựu cho đến Đại đường nội điển lục của Đạo TuyênKhai nguyên thích giáo lục của Trí Thăng không có cuốn nào ghi Lục độ tập kinh được bút thọ cả. Và điều này cũng dễ hiểu thôi, bởi vì, như đã nói, Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên và được đào tạo thành tài ở nước ta, thì không có lý do gì để ông ngỡ ngàng với tiếng Trung Quốc mà cần tới bút thọ. Thêm vào đó, Lục độ tập kinh, như đã nêu, chứa đựng những yếu tố từ ngữ vựng, cú pháp đến các nhận xét và hư cấu hoàn toàn xa lạ với văn học tư tưởng và tập quán Ấn ĐộPhật giáo Ấn Độ, nên đã dẫn Thang Dụng Đồng đến gợi ý là Lục độ tập kinh không phải là một dịch bản từ tiếng Ấn Độ, mà là một tác phẩm do Khương Tăng Hội viết ra. Gợi ý này phải nói một nửa là khá sáng tạo, bởi vì lần đầu tiên một văn bản như Lục độ tập kinh xưa nay được xem là dịch bản từ tiếng Phạn, thì bây giờ phát hiện nó không phải được dịch từ chữ Phạn nữa. Nhưng nửa kia khẳng định nó do Khương Tăng Hội viết ra, thì phải xét lại, vì như đã nói, sự ảnh hưởng quá nặng nề và có hệ thống của tiếng Việt về cả ba mặt ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp trong Lục độ tập kinh không thể giải thích nổi một cách thỏa mãn, nếu chỉ đơn thuần coi ảnh hưởng đó như một rơi rớt vô ý thức của thói quen ngôn ngữ tiếng Việt nơi Khương Tăng Hội

Thói quen ngôn ngữ là một thực tế khoa học khách quan. Bất cứ ai khi sinh ra, đều tiếp thụ những tiếng nói đầu tiên từ cha mẹ mình. Tiếng nói được tiếp thụ nầy, sau đó sẽ trở thành cái khung, cái nền cho việc tiếp thụ những ngôn ngữ mới, và những ngôn ngữ mới nầy, trong giai đoạn đầu, đều được học và lý giải qua cái khung và trên nền tảng là tiếng mẹ đẻ, cho tới một lúc nào đó nó bị những ngôn ngữ mới ấy tác động trở lại. Quan niệm tác động biện chứng qua lại nầy tạo nên thói quen ngôn ngữ. Mà đã là thói quen thì nó thường xuất hiện một cách vô thức và do thế, không có hệ thốngtoàn diện một cách minh nhiên được. Cho nên, để trở thànhhệ thốngtoàn diện một cách minh nhiên, nó phải có một số nhân tố khác tạo điều kiện cho tính hệ thốngtoàn diện được bộc phát. Nói cách khác, sự có mặt một cách có hệ thốngtoàn diện những tàn dư ngữ vựng, ngữ pháp và cú pháp tiếng Việt trong Lục độ tập kinh không những chỉ ra sự kiện Khương Tăng Hội nói tiếng Việt lưu loát và rành rẽ, mà còn cho phép giả thiết sự tồn tại của một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt, mà dựa vào đó Khương Tăng Hội đã dịch ra Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc, và từ đó thói quen ngôn ngữ tiếng Việt của Khương Tăng Hội mới có dịp bộc phát một cách có hệ thốngtoàn diện, như đã nêu trên. Chúng tôi dùng chữ “có hệ thống”, vì nó xuất hiện một cách liên tụcnhất quán từ trước tới sau như trường hợp chữ "cố", và "toàn diện", và vì nó xảy ra trên một diện rộng chiếm gần hết tác phẩm từ đầu đến cuối, tức từ truyện 13 đến truyện 85 trên tổng số 91 truyện của Lục độ tập kinh, như trường hợp chữ "trung tâm". Tính hệ thốngtoàn diện này khá vững chắc, đến nỗi ngay một người sử dụng tiếng Trung Quốc nhuần nhuyễn như Khương Tăng Hội, mà người Trung Quốc cỡ giáo sư Thang Dụng Đồng phải khen là “văn từ điển nhã”, cũng không thể khống chế và đánh lùi được. 

Lục độ tập kinh hiện nay gồm 8 quyển 6 chương và 91 truyện. Ba quyển đầu dành cho chương Bố thí gồm 26 truyện. Năm quyển còn lại dành cho các chương Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền địnhTrí tuệ theo thứ tự. Chương Trì giới có 15 truyện, chương Nhẫn nhục 13 truyện, chương Tinh tấn 19 truyện, chương Thiền định ghi có 9 truyện, nhưng trên thực tế chỉ có 3 truyện thôi, tức từ số 80 đến 82, còn 6 truyện kia thì 3 truyện đầu, tức từ số 74 đến 76, không phải là truyện, mà là những trình bày của Khương Tăng Hội về thiền định và 3 truyện sau, tức từ số 77 đến 79, kể lại cuộc đời đức Phậttừ lúc đi dạo 4 cửa thành cho đến khi xuất gia thành đạo. Chương cuối cùng là về trí tuệ gồm 9 truyện. Như thế, tuy ghi có 91 truyện, nhưng thực tế thì chỉ có 85 truyện. 

Và đầu mỗi chương, trừ chương cuối cùng về trí tuệ, có một bài giới thiệu ngắn gọn về ý nghĩa của tên chương, như bố thí là gì, trì giới là gì v.v... Bài giới thiệu về chương Thiền định tương đối dài, nên bản in Đại tạng kinh thời Đại Chính của Nhật Bản xếp nó thành 3 truyện từ số 74 đến 76, trình bày quan điểm của Lục độ tập kinh về thiền định và cách thức để đạt được thiền định. Chính lý thuyết thiền định này, về sau, đã trở thành tiền đề cho sự xuất hiện cuộc tranh cãi giữa Đạo Cao, Pháp Minh và Lý Miễu về vấn đề tại sao không thấy Phật [1]Bài giới thiệu về trí tuệ của chương 8 có lẽ đã thất lạc từ lâu, nhưng truyện 81 có nói ít nhiều về "minh độ vô cực" và truyện 83 có một định nghĩa ngắn ngủi về trí tuệ là gì. 

Trong số 85 truyện trên, ta hiện biết chắc chắn một truyện đã lưu hành trước thời Khương Tăng Hội ra đời và đã trở thành chủ đề bàn cãi của những người Phật giáo và ngoài Phật giáo. Đó là truyện thái tử Tu Đại Noa, tức truyện 14 của Lục độ tập kinh quyển 2 chương Bố thí. Mâu Tử Bác trong Lý hoặc luận ĐTK 2102 tờ 3c28 - 4a4 đã ghi lại vấn nạn của một người ngoài Phật giáo thắc mắc vì sao Phật lại dạy việc bố thí không biên giới, đến nỗi cho cả voi báu của nước, vợ con của chính mình, như thái tử Tu Đại Noa đã làm. Sự kiện đem truyện thái tử Tu Đại Noa ra tranh luận như thế này vào những năm 195 chứng tỏ truyện tích thái tử Tu Đại Noa lưu hành rộng rãi, không chỉ trong giới Phật giáo mà còn trong những người ngoài Phật giáo sống tại đất nước ta thời bấy giờ, và có một sức cuốn hút mạnh mẽ. 

Tu Đại Noa quả thực là một truyện đầy cảm động, vừa bi thương vừa hùng tráng, thể hiện vai trò người cha như một nghiêm phụ gạt nước mắt mà thực hành lý tưởng, và người mẹ như một từ mẫu quá thương con, nhưng vì chồng mà đành phải hy sinh tình cảm mẹ con, tình yêu vợ chồng, chịu đựng gian khổ khó khăn. Cho nên, không chỉ trong thời Mâu Tử Bác và Khương Tăng Hội, mà còn về sau này nữa, nó tiếp tục lưu hành và thu hút sự ái mộ của người đọc và người nghe, đến nỗi cuối thế kỷ thứ XVII, Chân Nguyên đã viết lên thành thơ tiếng quốc âm dưới tên Đạt Na thái tử hạnh [2]

Trong lịch sử văn học dân tộc ta, thì đây là truyện Phật giáo duy nhất được viết thành thơ tiếng quốc âm, tìm thấy cho đến bây giờ. Và Chân Nguyên là một tác gia lớn, có ảnh hưởng sâu rộng, mà sau này khi viết Việt sử tiêu án[3]Ngô Thì Sỹ đã kính cẩn nhắc tới như “Chân Nguyên Thượng nhân”. 

Thế thì, trước khi Lục độ tập kinh ra đời trên cả nửa thế kỷ, đã phổ biến rộng rãi truyện thái tử Tu Đại Noa. Truyện này lưu hành dưới hạng văn bản nào và trong ngôn ngữ gì? Chắc chắn nó phải lưu hành dưới dạng một dịch bản, dù sau đó có được kể đi kể lại chăng nữa, vì với dạng một dịch bản như vậy, nó mới đủ quyền uy để làm phương tiện diễn tả giáo lý nghiêm túc, và từ đó mới được đem ra tranh luận, như ta đã nói. Kiểm tra lại toàn bộ quá trình phiên dịch tại Trung Quốc, thì không có một dấu hiệu nào cho thấy nó được dịch ra tiếng Trung Quốc, tuy vào thời điểm ấy các nhà phiên dịch nước ngoài như An Thế Cao, Chi Lâu Ca Sấm v.v... cùng với các Phật tử Trung Quốc đã tiến hành công tác dịch thuật một cách rầm rộ và có qui mô. 

Chính vì không thấy có dấu hiệu nào của quá trình phiên dịch tại Trung Quốc, nên một số người nghiên cứu Mâu Tử Lý hoặc luận đã đi đến kết luận là không thể có chuyện Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận vào khoảng những năm 195 được, như Pelliot [4]Hồ Thích [5]đã đề xuất, mà thực sự là một Ngụy thư viết vào khoảng thế kỷ thứ IV, sau khi Khương Tăng Hội đã dịch Lục độ tập kinh với truyện thái tử Tu Đại Noa [6]. Chúng tôi đã bàn cãi chi tiết và tỉ miû vấn đề này trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam nên ở đây chỉ nêu ra một số kết luậnsự kiện cần thiết cho việc nghiên cứu Lục độ tập kinh thôi. 

Thứ nhất, việc Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận trong khoảng những năm 195, như Pelliot và Hồ Thích chứng minh, là hoàn toàn xác đáng. Thứ hai, Khương Tăng Hội không phải là người đầu tiên dịch truyện thái tử Tu Đại Noa, bởi vì chính bản thân bản dịch truyện thái tử Tu Đại Noa trong Lục độ tập kinh của Khương Tăng Hội đã có những dấu hiệu cho phép giả thiết, nếu không muốn nói là khẳng định, sự tồn tại của một bản dịch tiếng Việt truyện đó, mà Khương Tăng Hội đã sử dụng như nguyên bản để dịch ra truyện Tu Đại Noa tiếng Trung Quốc. Những dấu hiệu đó là gì? 

Đó là những câu văn viết theo cấu trúc ngữ pháp Việt Nam

1. “Nhĩ vương giả chi tử, sinh ư vinh lạc, trưởng ư trung cung, y tắc tế nhuyễn, ẩm thực cam mỹ...” (Em là con vương giả, sinh ở sung sướng, lớn lên ở trong cung, áo mặc mềm mại, ăn uống ngọt ngon...) 

2. “Lưỡng nhi đổ chi, trung tâm đảm cụ”. (Hai trẻ thấy nó, trong lòng khiếp sợ). 

3. “Mẫu cố quật ấm, kỳ hãm dung nhân, nhị nhi nhập trung, dĩ sài phú thượng” (Mẹ có đào hố, hầm nó chứa người, hai trẻ vào trong, lấy củi phủ lên). 

Như thế, trong số 21 trường hợp nêu trên, thì 3 trường hợp đã xảy ra trong truyện thái tử Tu Đại Noa này, chiếm tỷ lệ 1/7. Tỷ lệ này xem ra tương đối nhỏ, nếu kể về trường hợp, nhưng nếu kể về số truyện thì lớn hơn một cách có ý nghĩa, tức 3 trường hợp trong số 15 truyện, nghĩa là gần 20%. Và nếu tính số chữ và câu của chuyện thái tử Tu Đại Noa trong Lục độ tập kinh, thì sự xuất hiện 3 trường hợp này phải nói là dày đặc. Truyện Tu Đại Noa có độ dài khoảng 4350 chữ, tính trung bình một câu khoảng 10 chữ, ta có khoảng 435 câu. Với từng ấy câu, mà có đến ba câu viết theo ngữ pháp tiếng Việt thì phải kết luận là quá dày đặc, để xem chúng như một rơi rớt ngẫu nhiên và rời rạc của thói quen ngôn ngữ vô thức

Nói thẳng ra, trong khi dịch truyện thái tử Tu Đại Noa của Lục độ tập kinh ra tiếng Trung Quốc, có khả năng Khương Tăng Hội đã có một nguyên bản tiếng Việt truyện đó trước mặt mình, nên mới để cho những câu văn có ngữ pháp tiếng Việt xuất hiện một cách dày đặc như vậy, chứ không phải chỉ do thói quen ngôn ngữ vô thức tạo nên. Chính sự có mặt của một nguyên bản tiếng Việt mới làm cho thói quen ngôn ngữ vô thức bộc lộ một cách mạnh mẽ và minh nhiên, bởi vì nếu không có sự tác động hữu hình của văn bản trước mắt, thói quen ngôn ngữ thường hay bị chính ngữ pháp của tiếng nói mình đang viết khống chế và đẩy lùi, đặc biệt đối với một người am hiểusử dụng rành mạch tiếng Trung Quốc như Khương Tăng Hội

Vậy thì, chỉ xét qua 3 trường hợp mang dấu ấn ngữ pháp tiếng Việt không thể chối cãi trên, cũng đủ cho phép ta giả thiết, thậm chí là khẳng định, sự tồn tại một dịch bản truyện thái tử Tu Đại Noa tiếng Việt lưu hành chắc chắn vào thời Khương Tăng Hội để làm nguyên bản cho truyện Tu Đại Noa của Lục độ tập kinh. Chỉ 3 trường hợp này thôi, chứ khoan nói chi tới những yếu tố phụ gia khác, mà chỉ làm tăng thêm tính thuyết phục của một giả thiết hay khẳng định như thế. Trong những yếu tố phụ gia ấy, trước hết phải kể đến ngữ vựng, đặc biệt là chữ "thuộc". Có những từ Hán Việt bây giờ đã quen thuộc như giao chiến, mãnh lực, thế lực, vô đạo, nhân đạo, sinh ly, ủy lạo, nghẹn ngào (ngạch yết hay ngạch ế), cực khổ v.v... Có những từ có khả năng thuần túy tiếng Việt cổ, mà Khương Tăng Hội đã chép các tá âm của chúng qua bản dịch tiếng Trung Quốc của mình luôn chẳng hạn, khi tả sức học của một ông già phạm chí, Khương Tăng Hội viết: “Bỉ ông học đạo... chuyên ngu lung lệ”, tức “Ông kia học đạo... ngu si lỏng lẻo”. Rồi tả diện mạo ông ta thế này: “Nhan trạng xu hắc, tỉ chính biển hồ, thân thể liêu lệ, diện sô thần đả, ngôn ngữ khiểng ngật”, tức “mặt mày xấu đen, mũi chính vặn vẹo, thân thể rệu rạo, mặt xô, môi dày, nói năng ngọng nghịu”. 

Tất cả những chữ "vặn vẹo", "xô", "dầy", "ngọng nghịu", chúng tôi hầu như phiên âm lại những chữ viết của Khương Tăng Hội. Và chúng có thể là những chữ quốc âm đầu tiên hiện còn ghi lại. Chữ "xô" đây là xô xảm. Chữ "dày" đúng ra phải phiên âm là "đày". Và "đày" trên thực tế với nghĩa "dày" vẫn còn tồn tại tại trong một số phương ngôn của vùng Bình Trị Thiên chẳng hạn. Chữ "ngọng nghịu", "rệu rạo" và "vặn vẹo" thì quá rõ ràng, khỏi phải bàn cãi

Và nếu coi những chữ như "tỉ", "diện", "thần" là những tá âm tiếng Việt của chữ Trung Quốc tức đọc "mũi", "mặt" và "môi", thì bốn câu vừa phiên âm có thể là một bài thơ tiếng Việt cổ: 

Mũi chính vênh vẹo 

Thân thể rệu rẹo 

Mặt xô môi dày 

Ngôn ngữ ngọng nghịu 

Bài thơ này cùng với bài Việt ca đang bàn cãi có thể nói là những bài thơ xưa nhất hiện biết của lịch sử văn học Việt Nam

Và chữ "thuộc" nói ở trước. Chữ này xuất hiện hai lần liên tiếp nhau như sau: “Vương viết: Thuộc bất tựu bảo, kim lai hà tật hồ?”, Đôi viết: “Thuộc thị nô tỳ, kim vi vương tôn”. Chữ "thuộc" trong tiếng Hán, nếu thêm bộ "khẩu", thì đọc thành "chúc" như trong "di chúc" nên có khả năng là một tá âm "chốc" của tiếng Việt cổ với nghĩa hiện đại là "ban nãy", "chốc lát". 

Sự xuất hiện hàng loạt các tá âm như trên, cọng với bài Việt ca trong Thuyết uyển [7]đã bắt buộc những người trí thức Việt Nam phải đề ra những nguyên lý tá âm và soạn thảo các sách văn phạm cũng như từ điển hướng dẫn cách viết và đọc những tá âm ấy. Thực tế, sau Khương Tăng Hội hơn một trăm năm, Đạo Cao đã viết hai tác phẩm Tá âm và Tá âm tự, mà chắc chắn phải tồn tại cho đến thể kỷ thứ VIII, khi những cao tăng "nhập Đường cầu pháp" của Nhật Bản đã mang về Nhật Bản và ghi lại trong Nhật Bản quốc kiến tại thư mục lục viết vào thế kỷ thứ IX. Tuy ngày nay hiện chưa tìm thấy Tá âm và Tá âm tự, ta vẫn có quyền giả thiết Tá âm là một quyển sách nói về các nguyên lý mượn tiếng Trung Quốc để viết tiếng Việt, và Tá âm tự là một tự điển về các chữ tá âm đó. Lịch sử ngữ học và từ điển của nước ta như thể có một chiều dài khá lớn và người khởi đầu hiện biết là Pháp sư Đạo Cao[8]. Sau cùng là các câu văn thuần túy tiếng Trung Quốc, nhưng khi đọc lên, ta có cảm tưởng như Khương Tăng Hội đã dịch từng chữ từ các câu văn Việt Nam. Chẳng hạn, câu “ngôn thệ thậm minh”, tức “lời thề rất rõ”. Hay bốn câu: 

Kim nhi bất lai

Hựu bất đổ xứ

Khanh dĩ huệ thùy 

Khả tảo tương ngữ

(Nay con không đến

Lại không thấy đâu

Chàng đem cho ai

Khá sớm nói nhau)

Như vậy, qua những phân tích trên, rõ ràng là phải giả thiết sự có mặt của một nguyên bản tiếng Việt của truyện Thái tử Tu Đại Noa, khi Khương Tăng Hội tiến hành dịch truyện này mới giải thích một cách thỏa đáng việc xuất hiệnhệ thốngtoàn diện của ngữ pháp tiếng Việt trong truyện đó hiện nay. Nếu không, ta không thể nào hiểu nổi tại sao lại có những hiện tượng bất bình thường về ngôn ngữ học kiểu ấy của Lục độ tập kinh, ngay cả khi nại đến thói quen ngôn ngữ. Thói quen này, như đã nói, chỉ bộc phát một cách lộ liễu, khi có tác động của những nhân tố khác, chứ tự bản thân nó không thể làm xuất hiện một cách có hệ thốngtoàn diện ngữ pháp tiếng gốc của người viết. Quá lắm thì nó chỉ hóa thân vào một số tàn dư, mà người đọc phải đọc kỹ lắm mới phát hiện ra

Nói tóm lại, chỉ với những chứng cớ nội tại hiện có của truyện Thái tử Tu Đại Noa, chúng ta cũng có thể giả thiết sự tồn tại một nguyên bản truyện Thái tử Tu Đại Noa tiếng Việt vào thời Khương Tăng Hội, để từ đó Hội dịch ra tiếng Trung Quốc trong Lục độ tập kinh ngày nay; nghĩa là truyện ấy đã tồn tại trước năm 251, nếu không nói là trước nữa. Và như chúng tôi đã chứng minh[9], Phật giáo, nếu không truyền vào Việt Nam trước những năm cuối của thiên niên kỷ thứ nhất tdl, thì cũng không thể chậm hơn năm xảy ra cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng (40 - 43) và chắc chắn là trước năm 100 sdl, khi người nước ta đã biết “trồng hoa uất kim hương để cúng Phật”. Khi đã truyền vào khoảng thời gian đó, đến thời Mâu Tử Bác và Khương Tăng Hội, hẳn đã phải có một số kinh sách lưu hành [10]lưu hành qua tiếng địa phương của người Việt. Cho nên, Mâu Tử Bác trong Lý hoặc luận có dẫn truyện Thái tử Tu Đại Noa và Khương Tăng Hội có dùng để dịch lại trong Lục độ tập kinh, thì đó cũng là chuyện bình thường, hoàn toàn có thể lý giải được. Huống nữa là với những chứng cớ ngôn ngữ học dẫn trên của Lục độ tập kinh

Vì vậy, có thể nói Matsumoto [11]hoàn toàn sai lầm, khi căn cứ vào việc trích dẫn truyện Thái tử Tu Đại Noa, để kết luận Mâu Tử Lý hoặc luận là ngụy thư. Sai lầm này xuất phát từ một thái độ làm việc không nghiêm túc, vừa ngây thơ ấu trĩ, vừa hấp tấp vội vàng. Ngây thơ ấu trĩ vì cả tin vào những gì thấy ở trước mắt, và hấp tấp vội vàng vì đã không chịu tìm hiểu mà đã đi đến một kết luận đao to búa lớn. Matsumoto thấy truyện Thái tử Tu Đại Noa do Khương Tăng Hội dịch, thì tin rằng nó do Hội truyền vào Việt NamTrung Quốc, mà không chịu khó đọc kỹ và phân tích xem nó có chứa đựng gì khả nghi đáng bàn cãi không. Do đó, qua những phân tích về Lục độ tập kinh trên từ nay trở đi ta có thể loại bỏ một cách dễ dàng những lối ăn nói hàm hồ vội vạ thiếu nghiêm chỉnh kiểu Matsumoto trên đối với Mâu Tử Lý hoặc luận. Không những thế, những phân tích trước còn củng cố ngược lại những kết luận đầy tính thuyết phụcsáng tạo của Pelliot và Hồ Thích, xác định Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận vào năm 195. Đây quả là một hệ luận thật bất ngờ. Càng nghiên cứu Khương Tăng HộiLục độ tập kinh, ta càng cảm thấy việc Mâu Tử Bác viết Lý hoặc luận vào năm 195 là hoàn toàn xác đáng và hợp lý

Nhưng không chỉ truyện Thái tử Tu Đại Noa của Lục độ tập kinhhiện tượng ngôn ngữ học bất bình thường vừa nêu, mà còn 11 truyện khác của bản kinh này cũng chứa đựng những hiện tượng bất bình thường tương tự, như đã thấy, và trải dài trên một diện rộng bao trùm toàn bộ bản dịch, từ truyện 13 đến truyện 85 trên tổng số 91 truyện. Sự xuất hiện có tính hệ thốngtoàn diện đây tất cũng chỉ dẫn đến một kết luận hiển nhiên là, phải tồn tại một nguyên bản tiếng Việt của Lục độ tập kinh, chứ không phải chỉ truyện Thái tử Tu Đại Noa, để cho Khương Tăng Hội sử dụng mà dịch ra bản Lục độ tập kinh tiếng Trung Quốc hiện còn. 

Nói khác đi, Lục độ tập kinh mà ta hiện sử dụng để dịch ra tiếng Việt, thực sự là một dịch phẩm từ một nguyên bản Lục độ tập kinh tiếng Việt, chứ không phải từ một nguyên bản tiếng Phạn. Chính vì dịch từ một nguyên bản tiếng Việt, nên do tiếp thu những thành tựu văn học của nguyên bản tiếng Việt đó, mà nó có "văn từ điển nhã", làm cho những nhà nghiên cứu tầm cỡ như Thang Dụng Đồng đưa ra giả thiếtLục độ tập kinh hiện nay là một tác phẩm viết, chứ không phải là một dịch phẩm của Khương Tăng Hội. Sự kiện "văn từ điển nhã" như thế, có thể được lý giải một cách dễ dàng, mà không cần giả thiết Lục độ tập kinh là một tác phẩm viết của Khương Tăng Hội. Và cũng chính vì dịch từ một nguyên bản tiếng Việt nên mới có hiện tượng sử dụng những thuật ngữ thuần túy phương Đông như nhân nghĩa, nhân đạo, hiếu thuận, trung trinh v.v... cũng như những nhận xét phê phán Nho giáo, thậm chí đi đến chỗ cải biên một bộ phận của truyện hoặc hư cấu nên những truyện mới hoàn toàn, mà ta không thể tìm thấy trong kho tàng truyện cổ bản duyên Phật giáo Ấn Độ, dù Pali hay Phạn văn. Việc cải biên và hư cấu này có một ý đồ rõ rệt, thể hiện mục tiêu nhắm tới của Lục độ tập kinh không phải là những đối tượng truyền giáo chung chung ở bất cứ địa phương nào cũng được, mà là những đối tượng cụ thể với những hạn chế dân tộc và truyền thống văn hóavăn minh riêng. Nói thẳng ra, Lục độ tập kinh hiện nay mang những đặc thù riêng, vì nó được hình thành từ truyền thống Phật giáo dân tộc Việt, và đối tượng nó nhắc tới trước tiên là dân tộc Việt này. Một phân tích xuất xứ và nội dung sẽ làm rõ những kết luận vừa nêu.


[1]Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 488-495.

[2]] Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập II, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980.

[3]Ngô Thì Sỹ, Việt sử tiêu án, Ngô Mạnh Nghinh dịch, Sài gòn: Tự do 1958; Lê Mạnh Thát, Chân Nguyên thiền sư toàn tập I, Tp. Hồ Chí Minh: Tu thư Vạn Hạnh, 1980, tr. 2.

[4]] P. Pelliot, Meou tseu ou les doutes élevés, T'oung pao XVIII (1918 - 1919).

[5]Hồ Thích, Hồ Thích văn tồn, Đài Bắc: Thương vụ ấn quán, 1962.

[6]Fukui Kojun, Dòkyò no kiso teki kenkyu, Tokyo, 1952, tr. 327 – 435.

[7]Lê Mạnh Thát, Lịch sử âm nhạc Việt Nam, NXB Tp Hồ Chí Minh, 2001, tr. 90-135. Và Thử nghiên cứu bài Việt ca, (Cảo bản 1970).

[8]Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 196-205. Xt Nghiên cứu về Mâu Tử, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr. 37-54.

[9]Lê Mạnh Thát, Phật giáo truyền vào nước ta từ lúc nào? Tư tưởng 7 (1973) 75 - 92 và 8 - 9 (1973) 177-206. Xt Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam I, Huế: NXB Thuận Hóa, 1999, tr. 11-44.

[10]] Kết luận này thực sự không mới mẻ gì, vì Đàm Thiên vào thế kỷ thứ VI đã nói như thế với Tùy Cao Tổ, mà Thông Biện trích lại, khi trình bày lịch sử Phật giáo Việt Nam cho Thái hậu Linh Nhân Ỷ Lan nhà Lý. Xem Lê Mạnh Thát, Thiền uyển tập anh, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1999, tr. 203.

[11]Matsumoto Bunzaro, Boshirihoku no jusaka nendaiko, Toyogakuho XII (1942) 1-40. Xt, Fukui Kojun, Dokyo no kiso teki kenkya, Tokyo: 1958, 410 – 436.

Tạo bài viết
15/11/2016(Xem: 11951)
04/10/2017(Xem: 1240)
05/12/2010(Xem: 24318)
26/06/2014(Xem: 7150)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.