IV. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā)

03/07/20173:18 SA(Xem: 181)
IV. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā)
NGHIÊN CỨU PHÊ PHÁN VỀ 
NHẤT THIẾT HỮU LUẬN TRONG BỘ “LUẬN SỰ”
– THE CRITICAL STUDY ON 
SABBAMATTHĪTIKATHĀ IN KATHĀVATTHU –
Tác giảNghiên cứu sinh PHRAMAHA ANON PADAO (ĀNANDO/ THÍCH A-NAN)
Thầy giáo chỉ đạobác sĩ Lữ Khải Văn.

Chương thứ năm.
“KATHĀVATTHU” PHÊ PHÁN NHẤT THIẾT HỮU LUẬN THỜI PHẬT GIÁO BỘ PHÁI [2]

 

IV. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā)

        “Cú Tịnh Luận” (Padasodhanakathā), pada (câu, đoạn văn) + sodhana (tẩy sạch, tịnh hoá) + kathā (lời, nói, luận). Trong sự phê phán “Cú Tịnh Luận”, dùng kết cấu Bát Phạt luận (Aṭṭhakaniggaha) nhìn ra, luận điểm này so với kiểu logic đã bàn qua phía trước khá hoàn chỉnh hơn, chẳng qua vẫn là ngừng lại ở Phạt luận thứ nhất, luận thứ hai đến thứ tám còn lại không chỗ nào thấy. Trong phần biện luận “Cú Tịnh Luận”, Thượng Toạ bộ dùng chủ trương của Hữu bộ: “quá khứ hữu”, “vị lai hữu”, “hiện tại hữu”, “Niết-bàn hữu” để làm đối tượng phê phán luận đề. Chính khái niệm hữu này Hữu bộ đã xuất phát từ lập trường “Tam thời thật hữu”, cho rằng hữu một phần bao gồm “là quá khứ” và “phi quá khứ”, cách nhìn này bị Thượng Toạ bộ phê phán, vì nếu chủ trương như thế thì “quá khứ biến thành phi quá khứ”, “phi quá khứ thì biến thành quá khứ”, rồi cả “Niết-bàn biến thành phi Niết-bàn”, “phi Niết-bàn thì biến thành Niết-bàn”. Nếu lưu tâm đến phần “Đối chiếu thời gian” đã dùng qua biện luận “Kathāvatthu” ở trước, chủ trương của Hữu bộ đối với thời gian là “quá khứ hữu, vị lai hữu, hiện tại hữu”, chỉ đơn độchữu, nhưng biện luận về phía sau mà nhất là trong “Cú Tịnh Luận” tiết này, lấy hữu thêm vào “phải và không phải” hòng thấy được diễn biến tư tưởng của Hữu bộ.  

 

        1. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā) [1]

   I. (Tự): Cái quá khứ là có ư?

   (Tha): Đúng.

   (Tự): Cái có là quá khứ ư?

   (Tha): Cái có là quá khứ và phi quá khứ.

   (Tự): Ngài phải thừa nhận thất bại (đoạ phụ). Nếu “quá khứ là sự có, sự có là quá khứ và phi quá khứ”, theo đó phải nói: “Cái quá khứ chẳng phải là quá khứ, cái phi quá khứ mà là quá khứ”. Ở đây, nếu như lời ngài nói, thì thật nên nói: “Quá khứ là sự có, sự có là quá khứ và phi quá khứ”. Bởi vậy, phải nói: “Cái quá khứ là phi quá khứ, cái phi quá khứ là phi quá khứ”. Đó là lẽ tà.

   Còn nếu bảo “cái quá khứ là phi quá khứ, phi quá khứ mà là quá khứ”, thật thưa ngài! Cũng không nên nói: “Quá khứ là có, sự có là quá khứ và phi quá khứ”. Ở đây, nếu như lời ngài nói thì nên bảo: “Quá khứ là sự có, sự có là quá khứ và phi quá khứ”. Bởi vậy nói: “Quá khứ là phi quá khứ, phi quá khứ là quá khứ”. Đó là lẽ tà.[1]

   (C.S.) Atītaṁ atthīti? Āmantā. Atthi atītanti? Atthi siyā atītaṁ, siyā nvātītanti.

   Ājānāhi niggahaṁ. Hañci atītaṁ atthi, atthi siyā atītaṁ, siyā nvātītaṁ, tenātītaṁ nvātītaṁ, nvātītaṁ atītanti. Yaṁ  tattha  vadesi  “vattabbe kho– ‘atītaṁ atthi atthi siyā atītaṁ, siyā nvātītaṁ, tenātītaṁ nvātītaṁ, nvātītaṁ atītan’ ”ti micchā.

   No ce pana atītaṁ nvātītaṁ nvātītaṁ atītanti, no ca vata re vattabbe– “atītaṁ atthi atthi siyā atītaṁ, siyā nvātītan”ti.   Yaṁ tattha vadesi– “vattabbe kho – ‘atītaṁ atthi atthi siyā atītaṁ, siyā nvātītaṁ, tenātītaṁ nvātītaṁ, nvātītaṁ atītan’ ”ti micchā.

    Luận I.

I.  (Tự): Quá khứ là hữu ư? (Atītaṁ atthi) (A ͻ B)

II. (Tha): Phải!

  1. (Tự): hữu là quá khứ ư? (Atthi atītaṁ) (B ͻ A)
  2. (Tha): hữu là quá khứ và phi quá khứ (Atthi siyā atītaṁ, siyā nvātītaṁ)

(B ͻ A) & (B ͻ ~ A)

  1. (Thuận luận) (Tự): Vì vậy ngài phải thừa nhận phạt tức:

n    Nếu “quá khứ là hữu” (A ͻ B), hữu là quá khứ và phi quá khứ (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), thế thì “quá khứ tức là phi quá khứ[2]” (B ͻ ~ B) (Atītaṁ nvātītaṁ), “phi quá khứ tức là quá khứ[3]” (~ B ͻ B) (Nvātītaṁ atītaṁ), lời nói này sai (tự mâu thuẫn nhau).

  1. (Phản luận) (Tự): Ngoài ra,

 Nếu ngài không tiếp nhận “quá khứ là hữu” ( A ͻ B), “phi quá khứ là quá khứ” (~ B ͻ B), ngài cũng không nên tiếp nhận “quá khứ là hữu” (A ͻ B), hữu là quá khứ và phi quá khứ (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), nhưng lời ngài nói có mâu thuẫn: tôi tiếp nhận “quá khứ là hữu”, hữu là quá khứ và phi quá khứ, vì vậy “quá khứ tức là phi quá khứ”, “phi quá khứ tức là quá khứ”, vì thế, lời ngài nói đây đều sai (tự mâu thuẫn nhau).

 

      2. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā) [2]

   I. (Tự): Vị lai là sự có ư?

   (Tha): Đúng.

   (Tự): Sự có là vị lai ư?

   (Tha): Sự có là vị lai và phi vị lai.

   (Tự): Ngài nên thừa nhận thất bại (đoạ phụ). Nếu “vị lai là sự có, sự có là vị lai và phi vị lai”, theo đấy nên nói: “Vị lai là phi vị lai, phi vị lai là vị lai”. Ở đây, nếu như lời ngài nói, thật nên nói: “vị lai là sự có, sự có là vị lai và phi vị lai”. Đó là lẽ tà.

   Còn nếu bảo “vị lai là phi vị lai, phi vị lai là vị lai”, thật thưa ngài, cũng không nên nói: “vị lai là sự có, sự có là vị lai và phi vị lai”. Ở đây nếu như lời ngài nói thì phải nói: “vị lai là sự có, sự có là vị lai và phi vị lai”. Bởi vậy nói: “vị lai là phi vị lai, phi vị lai là vị lai”. Đó là lẽ tà.[4]

   (C.S.) Anāgataṁ atthīti? Āmantā. Atthi anāgatanti? Atthi siyā anāgataṁ, siyā nvānāgatanti.

   Ājānāhi niggahaṁ. Hañci anāgataṁ atthi atthi siyā anāgataṁ siyā nvānāgataṁ, tenānāgataṁ nvānāgataṁ, nvānāgataṁ anāgatanti. Yaṁ tattha vadesi– “vattabbe kho ‘anāgataṁ atthi atthi siyā anāgataṁ, siyā nvānāgataṁ, tenānāgataṁ nvānāgataṁ, nvānāgataṁ anāgatan’ ”ti   micchā.

   No ce panānāgataṁ nvānāgataṁ nvānāgataṁ anāgatanti, no ca vata re vattabbe– “anāgataṁ atthi atthi siyā anāgataṁ, siyā nvānāgatan”ti. Yaṁ tattha vadesi– “vattabbe kho – ‘anāgataṁ atthi atthi siyā anāgataṁ, siyā nvānāgataṁ, tenānāgataṁ nvānāgataṁ, nvānāgataṁ anāgatan’ ”ti micchā.

                                    Luận I.

  1. (Tự): Vị lai là hữu ư? (Anāgataṁ atthi) (A ͻ B)
  2. (Tha): Phải!
  3. (Tự): Hữu là vị lai ư? (Atthi anāgataṁ) (B ͻ A)
  4. (Tha): Hữu là vị lai và phi vị lai (Atthi siyā anāgataṁ, siyā nvānāgataṁ)

(B ͻ A) & (B ͻ ~ A)

  1. (Thuận luận) (Tự): Cho nên ngài phải thừa nhận phạt, tức:

n   Nếu vị lai là hữu (A ͻ B), hữu là vị lai và phi vị lai (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), thế thì vị lai tức là phi vị lai[5] (B ͻ ~ B) (Anāgataṁ nvānāgataṁ), phi vị lai tức là vị lai[6] (~ B ͻ B)  (Nvānāgataṁ anāgataṁ), lời nói này sai (tự mâu thuẫn nhau).

  1. (Phản luận) (Tự): Ngoài ra,

 Nếu ngài không tiếp nhận “vị lai là hữu” (A ͻ B), “phi vị lai là vị lai” (~ B ͻ B), ngài cũng không được tiếp nhận “vị lai là hữu” (A ͻ B), hữu là vị lai và phi vị lai (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), nhưng lời ngài nói có mâu thuẫn: Tôi tiếp nhận vị lai là hữu, hữu là vị lai và phi vị lai, vì vậy “vị lai tức là phi vị lai”, “phi vị lai tức là vị lai”, vì thế, lời ngài nói đây đều sai (tự mâu thuẫn nhau).

 

      3. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā) [3]

   I. (Tự): Hiện tại là sự có ư?

   (Tha): Đúng.

   (Tự): Sự có là hiện tại ư?

   (Tha): Sự có là hiện tại và phi hiện tại.

   II. (Tự): Ngài nên thừa nhận thất bại (đoạ phụ). Nếu “hiện tại là sự có, sự có là hiện tại và phi hiện tại”, theo đấy nên nói: “hiện tại là phi hiện tại, phi hiện tại là hiện tại”. Ở đây, nếu như lời ngài nói, thật nên nói: “hiện tại là sự có, sự có là hiện tại và phi hiện tại”. Bởi vậy nói: “hiện tại là phi hiện tại, phi hiện tại là hiện tại”. Đó là lẽ tà.

   III. Còn nếu bảo “hiện tại là phi hiện tại, phi hiện tại chẳng phải là hiện tại”, thật thưa ngài, cũng không nên nói: “hiện tại là sự có, sự có là hiện tại và phi hiện tại”. Ở đây nếu như lời ngài nói thì phải nói: “hiện tại là sự có, sự có là hiện tại và phi hiện tại”. Bởi vậy nói: “hiện tại là phi hiện tại, phi hiện tại là hiện tại”. Đó là lẽ tà.[7]

   (C.S.) Paccuppannaṁ atthīti, āmantā. Atthi paccuppannanti? Atthi siyā paccuppannaṁ, siyā no paccuppannanti.

   Ājānāhi niggahaṁ. Hañci paccuppannaṁ atthi atthi siyā paccuppannaṁ, siyā no paccuppannaṁ, tena paccuppannaṁ, no paccuppannaṁ, no paccuppannaṁ paccuppannanti. Yaṁ tattha vadesi– “vattabbe kho –   ‘paccuppannaṁ atthi atthi siyā paccuppannaṁ, siyā no paccuppannaṁ, tena paccuppannaṁ no paccuppannaṁ, no paccuppannaṁ paccuppannan’ ”ti   micchā.

   No ce pana paccuppannaṁ no paccuppannaṁ, no paccuppannaṁ paccuppannanti, no ca vata re vattabbe– “paccuppannaṁ atthi atthi siyā paccuppannaṁ, siyā no paccuppannan”ti. Yaṁ tattha vadesi–  “vattabbe kho – ‘paccuppannaṁ atthi atthi siyā paccuppannaṁ, siyā no paccuppannaṁ, tena paccuppannaṁ no paccuppannaṁ, no paccuppannaṁ paccuppannan’ ”ti micchā.

                                    Luận I.

  1. (Tự): Hiện tại là hữu ư? (Paccuppannaṁ atthi) (A ͻ B)
  2. (Tha): Phải!
  3. (Tự): Hữu là hiện tại ư? (Atthi paccuppannaṁ) (B ͻ A)
  4. (Tha): Hữu là hiện tại và phi hiện tại (Atthi siyā paccuppannaṁ, siyā paccuppannaṁ)

(B ͻ A) & (B ͻ ~ A)

  1. (Thuận luận) (Tự): Cho nên ngài phải thừa nhận phạt, tức:

n   Nếu hiện tại là hữu (A ͻ B), hữu là hiện tại và phi hiện tại (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), thế thì hiện tại tức là phi hiện tại[8] (B ͻ ~ B) (Paccuppannaṁ no paccuppannaṁ), phi hiện tại tức là hiện tại[9] (~ Bͻ B)  (No paccuppannaṁ paccuppannaṁ), lời nói này sai (tự mâu thuẫn nhau).

  1. (Phản luận) (Tự): Ngoài ra,

 Nếu ngài không tiếp nhận “hiện tại là hữu” (A ͻ B), “phi hiện tại là hiện tại” (~ B ͻ B), ngài cũng không được tiếp nhận “hiện tại là hữu” (A ͻ B), hữu là hiện tại và phi hiện tại (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), nhưng lời ngài nói có mâu thuẫn: Tôi tiếp nhận hiện tại là hữu, hữu là hiện tại và phi hiện tại, vì vậy “hiện tại tức là phi hiện tại”, “phi hiện tại tức là hiện tại”, vì thế, lời ngài nói đây đều sai (tự mâu thuẫn nhau).

 

      4. Cú Tịnh Luận (Padasodhanakathā) [4]

   I. (Tự): Niết-bàn là sự có ư?

   (Tha): Đúng.

   (Tự): Có là Niết-bàn ư?

   (Tha): Sự có là Niết-bàn và phi Niết-bàn.

   II. (Tự): Ngài phải thừa nhận thất bại (đoạ phụ). Nếu “Niết-bàn là sự có, sự có là Niết-bàn và phi Niết-bàn”, theo đó nên nói: “Niết-bàn là phi Niết-bàn, phi Niết-bàn là Niết-bàn”. Ở đây, nếu như lời ngài nói, thật nên nói: “Niết-bàn là sự có, sự có là Niết-bàn và phi Niết-bàn”. Bởi vậy nói: “Niết-bàn là phi Niết-bàn, phi Niết-bàn là Niết-bàn”. Đó là lẽ tà.

   III. Còn nếu bảo “Niết-bàn là phi Niết-bàn, phi Niết-bàn là phi Niết-bàn”, thật thưa ngài, cũng không nên nói: “Niết-bàn là sự có, sự có là Niết-bàn và phi Niết-bàn”. Ở đây, nếu như lời ngài nói thì phải nói: “Niết-bàn là sự có, sự có là Niết-bàn và phi Niết-bàn”, bởi vậy nói: “Niết-bàn là phi Niết-bàn, phi Niết-bàn là Niết-bàn”. Đó là lẽ tà.[10]

   (C.S.) Nibbānaṁ atthīti? Āmantā. Atthi nibbānanti? Atthi siyā nibbānaṁ siyā no nibbānanti.

   Ājānāhi niggahaṁ. Hañc i nibbānaṁ atthi atthi siyā nibbānaṁ, siyā no nibbānaṁ, tena nibbānaṁ no nibbānaṁ, no nibbānaṁ nibbānanti. Yaṁ tattha vadesi – “vattabbe kho ‘nibbānaṁ atthi atthi siyā nibbānaṁ, siyā no nibbānaṁ, tena nibbānaṁ no nibbānaṁ, no nibbānaṁ nibbānan’ ”ti micchā.

   No ce pana nibbānaṁ no nibbānaṁ, no nibbānaṁ nibbānanti, no ca vata re vattabbe– “nibbānaṁ atthi atthi siyā nibbānaṁ, siyā no nibbānan”ti. Yaṁ tattha vadesi– “vattabbe kho– ‘nibbānaṁ atthi atthi siyā nibbānaṁ, siyā no nibbānaṁ, tena nibbānaṁ no nibbānaṁ, no nibbānaṁ nibbanān’ ”ti micchā.

    Luận I.

  1. (Tự): Niết-bàn là hữu ư? (Nibbānaṁ atthi) (A ͻ B)
  2. (Tha): Phải!
  3. (Tự): Hữu là Niết-bàn ư? (Atthi nibbānaṁ) (B ͻ A)
  4. (Tha): Hữu là Niết-bàn và phi Niết-bàn (Atthi siyā nibbānaṁ siyā no    nibbānaṁ)

(B ͻ A) & (B ͻ ~ A)

  1. (Thuận luận) (Tự): Cho nên ngài phải thừa nhận phạt, tức:

n   Nếu Niết-bàn là hữu (A ͻ B), hữu là Niết-bàn và phi Niết-bàn (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), thế thì Niết-bàn tức là phi Niết-bàn[11] (B ͻ ~ B) (Nibbānaṁ no nibbānaṁ), phi Niết-bàn tức là Niết-bàn[12] (~ B ͻ B) (No nibbānaṁ nibbānaṁ), lời nói này sai (tự mâu thuẫn nhau).

  1. (Phản luận) (Tự): Ngoài ra,

n   Nếu ngài không tiếp nhận Niết-bàn là hữu (A ͻ B), phi Niết-bàn là Niết-bàn (~ B ͻ B), ngài cũng không được tiếp nhận Niết-bàn là hữu (A ͻ B), hữu là Niết-bàn và phi Niết-bàn (B ͻ A) & (B ͻ ~ A), nhưng ngài nói có mâu thuẫn: tôi tiếp nhận “Niết-bàn là hữu”, “hữu là Niết-bàn và phi Niết-bàn”, cho nên “Niết-bàn tức là phi Niết-bàn”, “phi Niết-bàn tức là Niết-bàn”, vì thế, lời ngài nói đây đều sai (tự mâu thuẫn nhau).

        Theo cách nhìn người viết, cái gọi là khái niệm hữu biến thành “vừa phải vừa không phải”: “Sự có là quá khứ và phi quá khứ, sự có là vị lai và phi vị lai”, “sự có là hiện tại và phi hiện tại”, “sự có là Niết-bàn và phi Niết-bàn”, vì sao Hữu bộ chủ trương như thế? Là bởi vì không hồi đáp như vậy, “Tam thời thật hữu” liền không thông suốt. Ví như chỉ đáp rằng “sự có là quá khứ” thì chỉ cố định ở một giai đoạn thời gian nào đó thôi, không phải đoạn thời gian đó thì không được tính là có. Vì vậy họ thêm cả “phi quá khứ, phi vị lai, phi hiện tại, phi Niết-bàn” mới có thể khiến nó thông suốt một mạch, chủ trương “Tam thời thật hữu” mới trụ đứng được. Nhưng đề xuất quan điểm như vậy ngược lại tạo nên mâu thuẫn cho quan điểm chính bản thân mình, bởi vì tiếp nhận “vừa phải vừa không phải”, “phải” thì có thể thay thế “không phải”, “không phải” cũng có thể thay thế “phải”. Vì vậy bất luận là khảo sát từ khẳng định (Thuận luận) hay phủ định (Phản luận), Thượng Toạ bộ mới phản bác rằng: “Quá khứ là phi quá khứ, phi quá khứ lại là quá khứ”, “vị lai là phi vị lai, phi vị laivị lai”, “hiện tại là phi hiện tại, phi hiện tạihiện tại”, “Niết-bàn là phi Niết-bàn, phi Niết-bàn là Niết-bàn”, Hữu bộ chủ trương như trên càng không thể thành lập được.  



   [1] (P.T.S.) Kvu. p. 139; (NAN.) <<Luận Sự I>>: <Nhất Thiết Hữu luận>, sách 61, trang 151 (bản chữ Hán).

   [2] Quá khứ thì biến thành phi quá khứ, cũng có lẽ biến thành vị lai, hiện tại hoặc những thứ khác ngoại trừ quá khứ ra (phi quá khứ).

   [3] Phi quá khứ thì biến thành quá khứ, cũng có lẽ là vị lai, hiện tại hoặc phàm là phi quá khứ đều có thể.

   [4] (P.T.S.) Kvu. p. 139; (NAN.) <<Luận Sự I>>: <Nhất Thiết Hữu luận>, sách 61, trang 151 – 152 (bản chữ Hán).

[5] Vị lai thì biến thành phi vị lai, cũng có lẽ biến thành quá khứ, hiện tại hoặc những gì ngoại trừ vị lai ra (phi vị lai).

[6] Phi vị lai thì biến thành vị lai, cũng có lẽ là quá khứ, hiện tại hoặc giả phàm là phi vị lai đều có thể.

   [7] (P.T.S.) Kvu. p. 139 – 140; (NAN.) <<Luận Sự I>>: <Nhất Thiết Hữu luận>, sách 61, trang 152 (bản chữ Hán).

[8] Hiện tại thì biến thành phi hiện tại, cũng có lẽ biến thành quá khứ, vị lai hoặc những gì ngoại trừ hiện tại ra (phi hiện tại).

[9] Phi hiện tại thì biến thành hiện tại, cũng có lẽ là quá khứ, vị lai hoặc giả phàm là phi hiện tại đều có thể.

   [10] (P.T.S.) Kvu. p. 139 – 140; (NAN.) <<Luận Sự I>>: <Nhất Thiết Hữu luận>, sách 61, trang 152 (bản chữ Hán).

   [11] Niết-bàn thì biến thành phi Niết-bàn, cũng có lẽ biến thành những gì khác ngoại trừ phi Niết-bàn.

   [12] Phi Niết-bàn thì biến thành Niết-bàn, phàm là phi Niết-bàn đều có thể.

Tạo bài viết
01/06/2014(Xem: 10361)
03/09/2014(Xem: 9122)
24/11/2016(Xem: 3688)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!