6. Con khỉ lại thức trong mỗi giấc thiền

21/04/20185:04 SA(Xem: 217)
6. Con khỉ lại thức trong mỗi giấc thiền
VẾT CHÂN TỰ NGà
TRÊN ĐƯỜNG VỀ KHÔNG
NHỤY NGUYÊN
Nhà xuất bản Ananda Viet Foundation 

 

Con khỉ lại thức
trong mỗi giấc thiền

 

Con khỉ trong thuyết Tiến hóa, đến nay các nhà khoa học vẫn chưa giấu được cái đuôi vào đâu. (Cũng như Ngộ Không chạy trốn Nhị Lang thần, lúc biến thành túp lều vẫn để lộ... cột cờ). Loài người không là quá trình tiến hóa từ loài khỉ, nhưng nếu ai khởi niệm tu giải thoát, thì con khỉ đã sẵn trong tâm rồi.  Trong Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu có ghi lại lời Sơ tổ Đạt Ma: “Hết thảy chúng sinh vốn là Phật, không cần nhờ tu mà nên. Nay chỉ cần nhận biết bổn tâm mình, thấy bổn tính mình, đừng cầu tìm chi khác nữa. Làm sao nhận biết tâm mình? Chính cái ‘đang nói năng đây’ là tâm”. Nhị tổ Huệ Khả xưa từng chặt đứt cánh tay thể hiện ý hướng cầu đạo; khi Sơ tổ bảo “đưa tâm ta an cho thì lắc đầu: “Con kiếm mãi mà chẳng thấy tâm đâu”. Yếu chỉ của Đạt Ma khi sang du hóa ở Trung Hoa nước Ngụy vào năm 520 sau TL hẳn là “Trực chỉ nhân tâm”.

Trực chỉ nhân tâm, tức đã biết có chân tâm? “Làm sao nhận biết tâm mình?” Nhiều người cứ quen miệng Phật tại tâm, thực chất họ chưa biết tâm. Con người được sinh ra vốn có thântâm. (Dĩ nhiên là thân huyễn và tâm vọng; chân tâm tự tánh như Tổ chỉ thì chúng ta chưa nhận được). Hầu như ai cũng biết đến thân, chăm sóc chiều chuộng. Họ dùng mỹ phẩm, thời trang, dùng tiền vuốt ve thái quá. Nên tâm bị bỏ quên. Một không gian lãng mạn với những lời hoa mỹ, những nốt nhạc ru tình; họ đến chốn thơ mộng thưởng thức nhiều món ngon với cả thị giác lẫn vị giác... tất cả những thứ ấy khiến con người nhầm tưởng đã có một cuộc sống tràn đầy nội tâm, tưởng nắm được tâm.

Cũng một miếng ăn, nhưng ta biết ta đang ăn, đang cảm thấy ngon hay dở, lòng rộn sướng vui hay bực tức, mới chính là khoảnh khắc bắt đầu nhận diện được tâm (tham). Cũng một lời nói tưởng rất tình cảm là nhắc đến X ra giữa mọi người, nhưng biết sự nhắc đó chỉ để người khác nói hùa sai sót của X; nếu lấy làm xấu hổ, lúc đó ta thực đang biết đến tâm. Cũng một hành động móc tiền cho người ăn xin, nhưng biết chỉ để nở mặt với người ngồi bàn bên, biết ngay bao phần trăm tính cơ hội trong việc thiện đó, chính là tâm đang lên tiếng. Tâm chính là viên ngọc, thân chỉ là cái hộp đựng. Chăm sóc thân, tâm dễ lu mờ tì vết. Biết tâm và chăm sóc, tâm sẽ phát sáng.

Nhận biết tâm trong cuộc sống đã khó, giữ được tâm bình lặng lúc Thiền càng nan giải khôn cùng. “Không có hiện tượng nào lướt đi nhanh chóng như cái tâm. Khó mà tìm được một sự so sánh nào để diễn tả được sự lướt đi nhanh chóng của tâm” (Kinh Anguttara Nikàya). Đức Phật dạy rằng: “Giống như một con khỉ chuyền từ cây nầy qua cây khác, nó nắm lấy một cành cây rồi chỉ buông tay ra khi nó nắm được một cành cây khác, con người cũng như thế, tư tưởng, tâm hoặc ý thức của họ phát sinh và biến mất liên tục, không ngừng suốt ngày đêm”. Ngài Tịnh Danh cũng từng ví “tâm như khỉ vượn”, rất khó chế ngự, rất khó điều phục. Kinh Samyutta Nikàya, II: “Giống như một con khỉ bay nhảy trong rừng sâu khi thì chụp cành này, rồi buông bỏ lại chụp cành khác, rồi chạy chụp cành khác nữa. Trong “Con đường dẫn đến Phật quả” - Những Giáo lý về Pháp Bảo của sự Giải thoát, ngài Gampopa cũng tự vấn: “Có bao giờ bạn nhìn thấy bức tranh tuyệt đẹp minh họa các giai đoạn của thiền định? Bạn thấy một con voi, một con thỏ, một con khỉ, và một người đàn ông. Con voi là tâm ta, con thỏ là sự hôn trầm, con khỉ là sự xao lãng và người đàn ông là sự chú tâm. Ở cuối trang giấy, con khỉ đang dùng một sợi giây để kéo con voi đến nơi nào nó muốn”. Hòa thượng Quảng Khâm suy nghiệm: “Xuất gia là để trị cái tâm lăng xăng như khỉ”; Hư Vân thiền sư tự thuyết, lúc trẻ ông cũng “tâm nhiều tham cầu, như khỉ vượn nhảy nhót hái trái cây”.

Trong rất nhiều từ ngữ dùng chỉ mức độ nghiêm trọng của tâm: điều tâm, nhiếp phục tâm, khai phá tâm,… thì thuần hóa tâm thiết nghĩ chuẩn xác và đắc địa. Ngày xưa những loài vật hoang ở rừng rú, hung tợn và độc ác, con người bắt về nhốt lại rồi lên kế hoạch thuần hóa, đến lúc chúng sống bên người mà không làm hại đến (tính mạng) ta, lúc đó mới tạm ổn. Tâm người không tu tập tập từ nhỏ, lớn rồi chẳng khác ngựa hoang, hay như bò tót mà đấu sĩ cưỡi trong các lễ hội ở Tây Ban Nha. Nó lồng lộn, vừa nhảy vừa xoay sao hất bằng được người cưỡi rơi xuống, rồi thừa thắng hung hãn lao tới húc. Mức độ quấy nhiễu còn tệ hơn, ấy là lúc ta đối mặt với con khỉ. Lúc thiền, tâm chúng ta như khỉ chuyền cành không ngừng nghỉ. Tính dữ của (tâm) bò tót đã lặng, nhưng tâm-con-khỉ lại có vũ khí rất lợi hại. Một clip về động vật hoang dã quay cảnh con khỉ cứ bám nhành cây mà bớp tai đấm vào đầu con hổ đang cố ngủ dưới bóng cây. Mỗi lần bị bợp, hổ vùng dậy tức tối xem chừng có thể xé tan khỉ nhưng chịu không làm gì được; nhoáng cái khỉ đã ở trên cao.

Nhắc lại câu chuyện Thiền: một người nài nỉ xin bằng được vị sư câu thần chú. Sư bằng lòng cho, chỉ dặn: Lúc niệm thần chú này đừng nghĩ đến con khỉ. Người kia mừng rỡ đầy tự tin đáp: Tưởng gì chứ không nghĩ đến con khỉ thì dễ. Thế nhưng mỗi lần người này niệm câu thần chú, con khỉ cứ xuất hiện quấy nhiễu. Anh càng xua đuổi, khỉ càng bay nhảy trước câu thần chú. Đã biết “tâm như khỉ vượn” thì nên tìm cách thân thiện với những biến thái của tâm chứ ngăn chận có chăng là ảo tưởng. Carolyn Rose Gimian từng viết: “Trong truyền thống Phật giáo, người ta thường dùng sự so sánh tương đồng giữa kinh nghiệm tự ngã với một con khỉ bị kẹt trong một căn nhà trống. Con khỉ ích kỷ và tự mãn nhảy bổ vào tường rồi dội ra, cảm thấy bị nhốt và cố gắng để thoát ra. Nó nghĩ nó bị giam trong ngôi nhà và không hề biết rằng chính nó đã tạo ra nhà giam này. Nó cũng không hề ý thức được rằng nó như vậy là thực sự ổn rồi. Bạn và tôi có thể không khác gì mấy anh chàng khỉ đó”.

Hãy tưởng tượng đến một vùng tối, cánh cửa nhà ai đột nhiên mở và ánh sáng chiếu ra; ngồi thiền, lúc ấy tâm quan sát những ai ngang qua vùng sáng, như một camera hồn nhiên, không dùng lý trí phân tích can dự. Tổ Hoàng Bá truyền tâm pháp cho một học trò: “Vừa kiến chấp thấy Phật, liền bị Phật ngăn ngại; vừa kiến chấp thấy chúng sinh, liền bị chúng sinh ngăn lại. Hễ có kiến chấp phân biệt phàm thánh, sạch dơ, liền bị các kiến chấp ấy ngăn ngại. Vì những thứ ấy ngăn ngại tâm ông, nên ông cứ luân chuyển mãi, loay hoay như con khỉ, buông cái này chụp cái kia không lúc nào ngưng”. Những tiếng guốc, những giọng nói, những tiếng động, những sự việc quá khứ vị lai sẽ thầm lặng lướt qua tâm, hãy để chúng trôi đi và không kiểm soát dẫu rằng tâm đang canh gác nghiêm mật. Rất nhiều kiểu quán trong thời Thiền. Tứ Niệm Xứ gồm quán Thân (bất tịnh), Thọ (khổ), Tâm (vô thường), Pháp (vô ngã). Thêm 16 phép quán trong Quán Vô Lượng Thọ kinh. Người tu lúc thiền cũng có thể niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Dòng niệm nối nhau không ngừng nghỉ trong sự ngưỡng vọng ơn cao dày Đức Phật, trong nỗi khao khát tột đỉnh được trở về Cực Lạc. Ấy tạm gọi Thiền-Tịnh song tu. Pháp ngữ của Thiền sư Hư Vân: “Nếu như niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, thì có khác gì với tham thiền! Tham thiền đến độ cả hai năng và sở đều mất thì có khác gì với thật tướng niệm Phật! Thiền tức là Thiền trong Tịnh độ. Tịnh độ tức là Tịnh độ trong Thiền. Thiền và Tịnh độ vốn tương trợ lẫn nhau”. Thiền không chỉ ngồi thiền. Thiền phải có ở hầu như mọi hành động suốt ngày đêm của ta. Người tu trước lúc ngủ nhất tâm niệm “A Di Đà Phật” đến ngủ quên; thực hiện thành nếp, hễ cứ nằm xuống ngủ là tự động câu Phật hiệu bật lên trong tâm; nửa đêm lỡ tỉnh dậy lại niệm, tuồng như tánh giác vẫn niệm lúc ý thức tạm ngưng hoạt động; âu cũng là cách dụi cái bóng con khỉ chìm xuống đáy vọng tâm.

Ân sư chỉ cho bạn tu của tôi dùng tánh nghe để đột phá tâm ý thức xuyên thẳng vào bổn tâm. Nhĩ căn nhạy bén nhất trong sáu căn, nên bạn tu dùng căn tánh này chuyên trì niệm một câu kinh thay vì thả lỏng nghe hết thảy các âm thanh “nổi” luôn hiển hiện quanh ta. Bất cứ ai nếu bịt tai vẫn có thể nghe được câu kinh niệm thầm trong tâm, đó là cách xoay cái nghe vào trong; lâu dần âm thanh câu kinh rõ như những sợi tơ trên màn hình siêu nét; đồng thời các vọng cũng dần lộ gốc rễ và ngay đó chúng nhạt dần uy lực. Ở những căn còn lại cũng nên dùng căn tánh, không dùng “căn thức” tiếp trần cảnh. Vạn pháp bình đẳng. Bình đẳng là “bản-tánh” của mỗi pháp, chúng ta lại dùng khuôn nghiệp của mình để nhìn thành ra méo. Bạn tu thường ngâm nga câu thơ: “Đời tròn như một viên bi/ Mắt ta thì méo nên chi mê lầm” (chữ “Đời” có thể thay bằng tên bất cứ ai). Nếu ta có định lực để nhận lý bình đẳng sẵn nơi tâm, cung kính với vạn pháp vốn bình đẳng như mình, thì đó chính là cái tánh nhìn bình đẳng để nhìn vạn pháp vốn bình đẳng. Cái bình đẳng trong ta nhìn cái bình đẳng nơi mỗi pháp, sẽ thông đến chân tâm dẫu chân tâm ấy còn bị vô minh che phủ. Chẳng chúng sanh nào bỏ được cái tự biết, bởi nó thường hằng soi chiếu; cũng như chúng ta bị quá khứ vị lai và cả hiện tại chi phối, muốn thoát ra, muốn bài trừ, song chẳng sát na nào ai có thể ra khỏi thực tại. Không ra khỏi nhưng luôn muốn ra khỏi, thế nên Đức Phật mới tìm pháp tu cho mỗi người, và rốt cùng cũng đồng về một hướng. Một vị thiện tri thức chân chánh là người luôn dẫn dắt bạn đi lên một bậc liền phá đi nấc thang đó, khiến bạn như đứng giữa hư không và phải bắt đầu từ nấc số không mà bước lên.

Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 168844)
01/04/2012(Xem: 16217)
08/11/2018(Xem: 979)
08/02/2015(Xem: 25124)
10/10/2010(Xem: 99501)
10/08/2010(Xem: 103231)
08/08/2010(Xem: 107495)
21/03/2015(Xem: 11368)
27/10/2012(Xem: 56246)
Cộng đồng những đạo hữu của Ngôi Chùa Phật giáo ở Quận Cam (Orange County Buddhist Church – OCBC) trở nên càng lúc càng đa dạng về chủng tộc, và một số cho rằng nguyên nhân là những tương đồng với Thiên Chúa giáo.
Hận Thù không thể chấm dứt bằng hận thù. Chỉ có tình thương yêu (lòng từ bi) mới xóa bỏ được hận thù. Đó là định luật ngàn thu (Photo: Ty Lohr, York Daily Record)
Trong những ngày bên cạnh Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Đà Nẵng và Huế cuối tháng 10 năm 2018 vừa qua tôi học được rất nhiều. Những bài pháp của Thầy làm cho tôi không ít lần giật mình tỉnh ngộ. Thầy không hề dùng âm thanh từ miệng của mình để giảng bất cứ bài pháp nào nhưng những cử chỉ, hành động của Thầy mới đích thực là những bài pháp quý. Sự im lặng của Thầy là những bài pháp tuyệt vời nhất.