Luận Đại Thừa Chưởng Trân 大乘掌珍論

09/07/20212:13 CH(Xem: 2954)
Luận Đại Thừa Chưởng Trân 大乘掌珍論
LUẬN ĐẠI THỪA CHƯỞNG TRÂN
大乘掌珍論
Mahāyāna Karatalaratna Śāstra
Mahāyāna Jewel in the Hand Treatise
Bồ-tát Thanh Biện tạo
Pháp sư Huyền Trang dịch
Quảng Minh dịch chú

LuanChuongTran
DẪN NHẬP

Chưởng Trân Luận 掌珍論, gồm 2 quyển: thượng và hạ, nói đủ là Đại Thừa Chưởng Trân Luận 大乘掌珍論, do ngài Thanh Biện trứ tác, ngài Huyền Trang đời Đường chuyển dịch1 , thu vào Đại Chánh Tạng tập 30, No. 1578. Nội dung bàn về nghĩa Không, dùng phương pháp lý luận Nhân Minh, bài bác sự thấy biết sai lầm của Ngoại đạo, Tiểu thừaĐại thừa Hữu tông để chứng thực nghĩa của Đại thừa Không tông - hết sức đề xướng dùng trí Không, xa lìa sự phân biệt có không, mà hoàn thành tám chánh đạo, sáu ba-la-mật.

Thanh Biện 清辨 (490-570), tiếng Phạm là Bhāvaviveka, Bhāviveka, Bhavya. Hán âm là Bà-tỳ-phệ-già (婆毘吠伽), Bà-tỳ-bệ-ca (婆毘薛迦), cũng gọi Minh Biện (明辯), Phân Biệt Minh (分別明), cao tăng Ấn độ sống vào thế kỷ thứ 6, luận sư của học phái Trung quán thuộc Phật giáo Đại thừa tại Nam Ấn độ. Có thuyết cho rằng sư thuộc Vương tộc nước Mạt-lợi-da-na (末利耶那, Malyara) ở Nam Ấn độ. Lại có thuyết nói sư thuộc chủng tánh Sát đế lợi (Kshatriya) ở nước Ma-già-đà (摩伽陀, Magadha) ở Bắc Ấn độ.

Sư từng đến Trung Ấn độ thờ ngài Tăng Hộ (僧護, Saṃgharakṣita)2 làm Axà-lê (Ācārya), chuyên cần tu học kinh điển Đại thừa và giáo thuyết của Bồ-tát Long Thọ (Nāgārjuna). Sau đó, sư trở về Nam Ấn Độ tuyên dương nghĩa Không, mở màn cho cuộc tranh luận về Không, Hữu với ngài Hộ Pháp (護法, Dharmapāla) thuộc tông Du-già ở nước Ma-yết-đà (磨羯陀). Ngài Hộ Pháp thừa kế học thuyết của các Bồ-tát Vô Trước, Thế Thân, chủ trương ‘Hữu là tận cùng của Không’, ngài Thanh Biện thì noi theo học thuyết của bồ-tát Long thọ, chủ trương ‘Không là tận cùng của Hữu’, hai bên bác bỏ nhau và thành tựu cho nhau. Trên văn tự thấy như hai ngài phá nhau, vì bên nói Hữu bên nói Không. Song, các ngài chỉ có một bản ý là hiển bày lý Chơn không - Diệu hữu, nên nói thành tựu cho nhau.

Là người sáng lập hệ phái Trung quán Y tự khởi (中觀依自起派, Mādhyamika-svātantrika), cũng được gọi là Độc lập luận chứng phái (獨立論證派), một trong hai trường phái của Trung quán, Sư cũng đả kích Phật Hộ (佛護, Buddhapālita), người sáng lập hệ phái Trung quán Cụ duyên (中 觀具緣派, Prāsaṅgika-mādhyamika), bằng một phương pháp suy luận biện chứng trên cơ sở Nhân minh học (Hetuvidyā), Nhận thức học (Pramāṇavāda). Vào thế kỷ thứ 8, trường phái của Sư được Tịch Hộ (Śāntarakṣita) biến thành phái Trung quán Duy thức (中觀唯識, Mādhyamika-yogācāra).

Tổ của phái Trung quán là ngài Long thọ; ngài dựa theo kinh Bát-nhã mà viết ra luận Trung quán, tuyên thuyết nghĩa ‘Duyên sinh tức Không’. Bài tụng Quy kính trong phần Bản tụng của luận Trung quán nêu ra Bát bất: chẳng sinh (Anutpàda), chẳng diệt (Anirodha), chẳng thường (Azàzvata), chẳng đoạn (Anuccheda), chẳng một (Anekàrtha), chẳng khác (Anànàrtha), chẳng đến (Anàgama), chẳng đi (Anirgama), để bác bỏ kiến giải cho các pháp là ‘hữu sở đắc’, mà thuyết minh duyên khởi tức là pháp tương đối. Cho nên có thể nói, phái Trung quántông phái thông đạt nghĩa các pháp duyên sinh, khiến cái thấy có - không đều dứt bặt, nhường chỗ cho chánh quán Chân không Trung đạo hiện tiền. Trong lịch sử Phật giáo Ấn độ, phái Trung quán và phái Du-già là hai giáo phái lớn đối lập nhau trong Phật giáo Đại thừa. Bắt đầu từ ngài Long thọ ở thế kỷ thứ 2, qua các 10 ngài Đề-bà, La-hầu-la, Bạt-đà-la, Thanh Mục v.v., đến các luận sư Hộ Pháp, Phật Hộ, Thanh Biện v.v. ở đầu thế kỷ thứ 6, nối nhau hoằng truyền ý chỉ Không quán Trung đạo. Trong đó, hai ngài Phật HộThanh Biện cùng theo học luận sư Chúng Hộ (眾護, Sajgharaksita), nghiên cứu học tập giáo thuyết của ngài Long thọ, nhưng sự thấy biết của hai vị lại khác nhau, mỗi vị tự viết luận phê bình luận thuyết của đối phương, do đó, phái Trung quán bị chia làm hai: phái Y tự khởi (依自起派) 3 theo học thuyết của ngài Thanh Biện và phái Cụ duyên (具緣派)  theo học thuyết của ngài Phật Hộ.

 

Xem tiếp:
pdf_download_2
LUẬN ĐẠI THỪA CHƯỞNG TRÂN



.

Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 184964)
01/04/2012(Xem: 30933)
08/11/2018(Xem: 10222)
08/02/2015(Xem: 44056)
Khi chứng kiến thế giới gặp khó khăn và khủng hoảng, chúng ta thường cảm thấy rất bất lực và choáng ngợp khi thấy mình không thể làm gì để làm lợi ích mọi người. Tăng đoàn IMI gần đây đã thỉnh cầu Lama Zopa Rinpoche lời khuyên dạy những lời cầu nguyện và hành trì vào giai đoạn này. Ngài đã khuyên các hành giả trì tụng một số lời cầu nguyện như sau:
Sau đây là một lựa chọn những lời phản ứng từ các nhân vật lãnh đạo tâm linh và cộng đồng trên khắp thế giới. Một số tuyên bố công khai về sự mất tinh thần và kêu gọi sự bình tĩnh, trong khi theo sau là những người khác lại biểu hiện nỗi đau buồn thấu tâm can không thể tránh khỏi.