VÀ CHỦ ĐỀ TƯ TƯỞNG CỦA NÓ: TÁNH KHÔNG
Nguyễn Thế Đăng
Không phải là tình cờ mà mọi thời khóa nhật tụng đều có bài Bát Nhã Tâm kinh. Sự nhắc nhở thường xuyên về Tánh Không đó, là sự nhắc nhở giải thoát. Bởi vì Tánh Không chính là giải thoát.
Hệ
thống Bát Nhã và đối tượng nghiên cứu của nó là Tánh
Không rất là quan trọng đối với tư tưởng nền tảng của
đạo Phật. Quan trọng không phải vì kinh điển về Bát Nhã
chiếm khối lượng lớn nhất trong Đại Tạng (chỉ riêng
bộ Đại Bát Nhã đã gồm 600 quyển 125.000 bài tụng), mà
vì Tánh Không được nói đến trong hầu hết kinh điển chính
yếu và hầu hết tông phái. Kinh Hoa Nghiêm (làm căn bản cho
Hoa Nghiêm Tông) nói trong chương thứ nhất (phẩm Thế Chủ
Diệu Nghiêm) : " Phật nói pháp tánh đều vô tánh.
Rộng lớn rất sâu chẳng nghĩ bàn" . Kinh Pháp Hoa nói trong
phẩm Pháp Sư: " Pháp Không làm tòa " . Trong kinh
Lăng Nghiêm 25 vị từ A La Hán đến Bồ Tát chứng viên thông
đều nhờ thấu đạt Tánh Không mà thành quả vị. Kinh Duy
Ma Cật trong bài kệ tán thán đức Phật : " Đảnh
lể Như Không vô sở y " . Tông Duy Thức - mà nhiều học
giả cho là bất đồng ý kiến với Không luận tông - cũng
nói trong Duy Thức tam thập tụng : " Dựa trên ba tánh này.
Lập ra ba vô tánh.Nên Phật mật ý thuyết. Tất cả pháp vô
tánh " Căn bản của Mật tông cũng là Tánh Không,
kinh Đại Tỳ Lô Giá Na thành Phật - bộ kinh chánh của Mật
tông - nói: " Chữ A là chữ căn bản của mật chú, A có
nghĩa là tất cả pháp chẳng sanh vậy. Bồ Đề là tất cả
pháp vô tướng vậy " . Tịnh Độ tông, mục đích
là sanh về Tây Phương cực lạc, ở cõi ấy vẫn lấy Tánh
Không làm cứu cánh chứng đắc. Cõi Tây phương được diễn
tả trong Quán Vô Lượng Thọ kinh như sau : " Tám
thứ gió mát từ quang minh xuất, khua động nhạc khí, diễn
nói : khổ, Không, vô thường, vô ngã" ." Sanh qua
cõi ấy rồi, thấy sắc thân Phật và chư Bồ Tát đầy đủ
các tướng tốt đẹp, rừng báu quang minh, diễn thuyết diệu
pháp. Nghe rồi liền ngộ Vô sanh pháp nhẫn" (Vô sanh
pháp nhẫn là chứng đắc Tánh Không)...
Chính
vì thế mà kinh Đại Bát Nhã nói:" Y theo Bát Nhã này,
người nào muốn thành Tu Đà Hoàn sẽ đắc quả Tu Đà Hoàn,
muốn thành A La Hán sẽ đắc quả A La Hán, muốn thành Bích
Chi Phật sẽ đắc quả Bích Chi Phật, muốn thành Bồ Tát
sẽ đắc quả Bồ Tát, muốn thành Phật sẽ đắc quả Phật,
cũng xuất sanh 12 bộ kinh từ tu đa la đến ba đề xá vậy" .
Tánh
Không là sự vinh quang của đáo Phật. Đó là sự chiến thắng
vinh quang của những con người đã " Soi thấy năm uẩn đều
Không, vượt khỏi mọi khổ ách" để đến Bờ Bên Kia
( Ba la mật). Lời ca chiến thắng ấy đã được Đức Phật
thốt ra trong buổi sáng giác ngộ:
Xuyên
qua nhiều kiếp luân hồi, Ta miên man đi mãi
Ta
đi tìm mãi mà không gặp, Ta đi tìm người thợ xây cất căn nhà này
Lập
đi lập lại sự xây cất trong sinh tử muộn p hiền
Nay
hởi người thợ làm nhà, Ta đã tìm được ngươi
Từ
đây, ngươi không còn cất nhà nhốt Ta được nữa
Tất
cả sường vách đều gãy, cây đòn dông ngươi dựng cũng
bị phá tan
Như
Lai đã chứng quả Vô Sanh Bất Diệt bằng tận diệt bằng
mọi ái dục vô minh.
"
Người
thợ làm nhà" đây là năm ấm (hay năm uẩn) xây cất
nên căn nhà " thân tâm" lập đi lập lại trong sanh tử muộn
phiền. Bằng Trí Huệ, Đức Phật đã " soi thấy năm uẩn
dệt nên toàn bộ thân tâm này đều Không " , khiến mọi
ràng buợc đều tan biến, tất cả mọi cơ cấu xây cất đều
bị phá tan, chứng đắc Vô Sanh Bãt Diệt (mà các nhà Đại
thừa gọi là chứng đắc Tánh Không).
Tánh
Không là sự vinh quang của đạo Phật, là sự tự do tối
thượng cho những ai thấu đạt nó. Nhưng cũng vì cái chữ
Không (viết hoa)ấy (như cửa Thiền được gọi là cửa Không),
mà đạo Phật cũng chịu nhiều hiểu lầm, chê bai, bài bác:
nào là chán đời, bỏ đời, bi quan, nào là tiêu cực, hư
vô, viễn tưởng v.v...Chỉ nói riêng hai chữ sanh tử và giải
thoát, có thể nêu lên vấn đề sanh tử là bi quan chăng? Dầu
nói đến sanh tử hay không , thì làm người ai cũng có ít
nhất một lần sinh ra và một lần chết đi. Trái lại, không
phải bằng thái độ lẩn tránh như con đà điểu rút đầu dưới cát, mà bằng cách đối diện thẳng với vấn đề
sanh tử, nhìn thẳng vào cơ cấu sanh tử, để thấy toàn bộ
tánh cách duyên sanh của nó, mà tất cả nút thắt sanh tử
đều mở phá. Đó là thái độ can đảm và thực tiển của
đạo Phật. Thái độ đó, sự chiến thắng đó không phải
chỉ diển ra một lần ở ĐứcPhật, mà còn xảy ra ở các
vị A La Hán và Bồ Tát tiếp diễn về sau suốt cả chiều
dài lịch sử của đạo Phật cho đến ngày nay.
Thiết
nghĩ, sự tìm hiểu về Tánh Không là sự quan trọng trong những
ai muốn tìm hiểu đạo Phật, muốn có một khái niệm đúng
về bản thể họa của đạo Phật, tự giải thoát mình khỏi
những điều mơ hồ cho đạo Phật là hư vô chủ nghĩa, là
đạo chán đời...Không phải là không có ý nghĩa, khi bằng
ngôn ngữ Tây phương, nhà học giả nổi tiếng về Trung Quán
luận là T.R.V.Murti đã dịch Tánh Không bằng danh từ Thê Absolute
(Tuyệt Đối thể) trong cuốn The central philosophy of Buddhism.
Sau
đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những ý nghĩa của Tánh Không
để có một cái nhìn rõ hơn về Phật pháp. Nhưng sự tìm
hiểu ấy chỉ là một phần rất nhỏ của cái mà hệ thống
Bát Nhã gọi là văn tự Bát Nhã. Chỉ bằng Văn tự Bát Nhã,
chỉ bằng sự mô tả, hình dung về Tánh Không, dầu có thuộc
lòng cả bộ Đại Bát Nhã, chúng ta cũng không thể thực sự
hiểu Tánh Không. Tánh Không không thể hiểu được nếu chỉ
có phần tìm hiểu về mặt văn tự (Văn tự Bát Nhã), Tánh
Không chỉ có thể bắt đầu hiểu được khi chúng ta đi vào
sự tu tập (Quán chiếu Bát Nhã) để thực chứng Thật Tướng
Bát Nhã. Củng như quá trình Văn, Tư, Tu của kinh Lăng nghiêm,
ban đầu là Nghe (Văn), nhưng chỉ có nghe thì chưa đủ, phải
Suy nghĩ (Tư) và Tu hành (Tu) thì mới hiểu được đáo Phật.
Muốn đạt đến Thực Tướng Bát Nhã, có một hố sâu phải
nhảy qua, hố sâu đó là sự thực hành Quán chiếu Bát Nhã.
Cái
hố sâu của sự thực hành tiền quán đó, cũng là hố sâu
ngăn cách khoa học với đạo Phật. Khoa học xét một cách
nghiêm túc trong cái nhìn đạo Phật, chỉ nằm trong Văn tự Bát Nhã, chỉ nằm trong phạm vi ý thức (tức là thức thứ
6, trong khi sự nghiên cứu của đạo Phật soi tận đến Tạng
thức, tức là thức thứ 8). Bởi thế khoa học chưa có thể
thay đổi một cách toàn triệt toàn bộ tâm thức, của con
người để giải phóng nó ra khỏi 8 thức sanh diệt. Bởi
thế mà nhà vật lý lý thuyết của trung tâm nghiên cứu khoa
học quốc gia Pháp Basarab Nicolescu trong bài Khoa học và Truyền
thống (Unesco 11-86) đã nêu lên một thắc mắc của hầu hết
các nhà khoa học : " Cách nhìn này (của truyền thống tôn
giáo) về thế giới chẳng phải gần Người thợ làm nhà"
đây l2 năm ấm (hay năm uẩn) xây cất nên căn nhà " thân tâm"
lập đi lập lại gũi với cách nhìn hiện đại của chúng
ta đến mức đáng kinh ngạc đấy sao? Nhưng tại sao có sự
chênh lệch giữa cuộc đời bình thường của con người hiện
đại với sự hiểu biết hiện đại của y đến như thế
" . Bằng khoa học hiện đại, con người đã hiểu rằng thếgiới là liên tập, là một toàn thể tương giao, một thế
giới sanh diệt trong từng phần triệu giây, thế mà con người
ấy vẩn chẳng có gì thay đổi, vẫn cô lập, ích kỷ, vẫn
ham chiếm đoạt cho riêng mình, vẫn sợ chết, vẫn tự trói
buộc lấy mình y như thân phận của con người hồi Đức
Phật còn tại thế,dầu sự tự trói buộc ấy thực hiện
bằng những hình thức khác. Sự chênh lệch (chữ dùng của
ông) giữa một bên là kiến thức khoa học và một bên là
thói quen ù lì của tâm thức con người là một điều khoa
học chưa thể giải quyết nổi, kể cả tâm lý học chiều
sâu tức là phân tâm học.
Nếu
cần trích thêm ở đây, chúng ta có thể nhắc đến nhà vật
lý cơ học lượng tử R. Feynman, giả Nobel vật lý 1965, trong
một cuốn sách về những vấn đề của vật lý hiện đại,
ông đã kết luận rằng:" Trong tương lai gần, các
định luật vật lý sẽ được khám phá hết, khoa học
vật lý sẽ chấm dứt nhiệm vụ, nhưng vẫn còn hai lãnh vực
đối với nhân loại, đó là lãnh vực khoa học xã hội và
ở trên nó là lãnh vực triết học và tôn giáo " ( Chỉ
xin nói thêm, chữ " tôn giáo" đây, đối với đạo Phật
là sự thực hành, vì ngoài sự thực hành, không có đạo
Phật)
Sự
chênh lệch hay cái hố sâu ngăn cách giữa khoa học và đạo
Phật chỉ có thể giải quyết bằng Thiền quán, nghĩa là
bằng cách đem cái nhìn của khoa học về một thế giới biến
chuyển trong từng khoảng khắc thời gian (nói theo danh từ
PH là vô thường) vào trong chính mình để tạo thành cái nhìn của chính con người mình (mà không phải cái nhìn
của máy móc). Đưa một cái nhìn của khoa học về một vũ
trụ sanh diệt trong từng sát na, để phát huy nơi chính mình
một cái nhìn đúng về con người và thế giới,lúc ấy con
người mới có thể có một thế giới quan mới, một thế
giới quan thoát khỏi tham sân si. Sự chênh lệch đó sẽ vượt
qua bằng Quán chiếu Bát nhã để đạt đến thực Tướng
Bát Nhã.
Qua
nhận xét nhỏ nầy, chúng ta cũng thấy được giới hạn của
sự tìm hiểu của chúng ta, sự tìm hiểu nằm trong Văn tự
Bát Nhã, và nếu không có sự thực hành Quán chiếu Bát Nhã
của chính mỗi người chúng ta thì những điều tìm hiểu
sau vẫn mãi mãi chỉ là văn tự, là một loại kiến thức,
như kiến thức khoa học,, chẳng thay đổi chút nào con người
bên trong của chúng ta. Chúng ta có thể nói về một thế giới
sanh diệt trong từng niệm niệm (hay nói theo Bát Nhã thì các
pháp đều vô tự tánh), nhưng một hạt cát cũng làm cho chúng
ta khởi ra một trời giận dữ; chúng ta có thể nói về một
thế giới liên lập, tương dung tương nhiếp, trùng trùng duyên
khởi, nhưng chúng ta chẳng bao giờ thoát khỏi bản ngã hư
dối nhỏ hẹp và u mê thu góp của mình.
Có
lần , nhà bác học mở đầu cho vật lý hiên đại, Albert
Eindtein nói một câu tưởng như đùa: ỀNgười ta phá vở
một nguyên tử dễ dàng hơn phá vở một thành kiếnỂ. Phải
chăng điều đó cũng đồngmột tư tưởng của đạo Phật
mà Đức Phật đã nói ra: Chiến thắng một sự vật bên
ngoài không bằng chiến thắng chính mình. Sự chiến thắng
chính mình mới giải quyết tất cả. Với Quán chiếu Bát
Nhã, chẳng những cái thành kiến thô thiển thế gian ai cũng
thấy được, mà các kiến chấp vi tế, những kiến chấp
trói buộc không cho con người hưởng được sự tự do tối
thượng, cái tự do vô thuỷ vô chung vốn là định mệnh của
mỗi chúng sanh, tri giả, kiến giả, mạng giả, tác giả, khởi
giả v.v...(phẩm Tam Giả) đều bị Trí Huệ Kim Cang Bát Nhã
phá tan để đưa tất cả trở về Tánh Không bổn lai thanh
tịnh, trong đó tất cả sanh tử, Niết Bàn, phàm thánh, giải
thoát hay chẳng giải thoát v.v...đều chẳng thể được (phẩm
Như Hoá ).
Tãt
cả đều nhờ vào Bát Nhã Ba la mật.
Nguyễn
Thế Đăng
(Giác
Ngộ)
TÌM HIỂU VỀ
BÁT NHÃ KHÔNG TUỆ HỌC
Nguyễn
Thế Đăng
I.-Tánh không
là tính cách duyên sanh
của tất
cả các pháp.(327)
Tính
cách duyên sanh của tất cả các pháp được nói rõ trong đoạn
đối thoại sau đây của kinh Na Tiên Tỳ Kheo, một đoạn
kinh mà hầu như tất cả chúng ta đều đã từng đọc qua.
Xin trích ra đây vì đặc điểm dễ hiểu và dễ nhớ của
nó:
Vua
Di Lan Đà hỏi đại đức Na Tiên:
- Đại đức nói không hề có cái ta và cái của ta như tà kiến và ngã chấp vẫn thường nhận lầm. Nếu không có cái ta thì ai thâu nhận các món cúng dường, ai tham thiền nhập định, ai đắc quả và nhập Niết Bàn, ai giữ giới, ai phạm giới, ai tạo nghiệp... Như thế có kẻ giết đại đức cũng không phạm tội sát sanh chăng? Ngay cả các đạo hữu của đại đức gọi đại đức là Na Tiên cũng không có nốt? Na Tiên đó là ai, đại đức nghe rõ chứ?
- Tâu
đại vương, bần tăng đã nghe rõ.
-
Người nghe đó có phải là Na Tiên không?
-
Tâu đại vương, không phải đâu.
-
Thế thì ai là Na Tiên? Cái gì là Na Tiên? Tóc trên đầu là
Na Tiên chăng?
-
Tâu đại vương, không phải.
-
Lông, móng, răng, da, thịt, xương, gân... là Na Tiên chăng ?
-
Tâu đại vương, không phải.
-
Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là Na Tiên chăng?
-
Tâu đại vương, không phải.
-
Hay năm uẩn sắc thọ tưởng hành thức họp lại là Na Tiên
chăng ?
-
Tâu đại vương, không phải.
-
Hay ngoài năm uẩn ra, còn có cái gì là Na Tiên chăng ?
-
Tâu đại vương, cũng không phải nốt.
Sau đó, đại đức Na Tiên hỏi nhà vua:
- Chẳng
hay đại vương đến đây bằng bộ hay bằng xe?
-
Bạch đại đức, trẫm đến bằng xe.
-
Đại vương bảo ngài đến bằng xe, đó là ngài nói thật
chứ?
-
Bạch đại đức, trẫm nói chắc thật.
-
Vậy xin đại vương cho bần tăng biết rõ về cái xe. Gọng
xe có phải là xe không?
-
Thưa không phải.
-
Trục, bánh, căm, thùng, mui, gác chân... có phải là xe không?
-
Thưa không phải.
-
Hay tất cả các món ấy hợp lại và buộc chung là xe?
-
Thưa không phải.
-
Hay ngoài các món ấy ra, có một món nào khác gọi là xe?
-
Thưa cũng không phải.
-
Vậy cái gì là xe?
Vua
không đáp được.
Sau
đó đại đức kết luận: Đúng như lời nữ Tôn giả Vajirà
đã bạch với Đức
Thế
Tôn khi ngài còn tại thế: " Danh xưng xe sở dĩ có
là do nhiều món đồ hợp lại mà giả thành. Nhiều thứ cơ
thể hợp lại thì giả thành một vật gọi tên là chúng sanh".
Đó là điều được Bồ tát Long Thọ nói trong bài kệ:
Các pháp nhân duyên sanh
Tôi nói: tức là Không
Cũng gọi là giả danh
Củng là nghĩa Trung đạo.
Bằng
thiền quán, một khi thấu đạt được tính cách duyên sanh
này, mọi sự vật đều được nhìn thấy như là giả danh,
giả hợp. Củng bằng cái nhìn trực quan ấy, các nhà Nam tông
nói : " Các pháp vô ngã", còn trong ngôn ngữ các nhà Đại
thừa, thì: Các pháp đều vô tự tánh.
Tánh cách duyên sanh, vô ngã, vô tự tánh ấy được nói rõ hơn trong bài kệ:
Cái này có thì cái kia có
Cái này không có thì cái kia không có
Cái này sanh thì cái kia sanh
Cái này diệt thì cái kia diệt.
Nhưng
chúng ta tự hỏi trong một thế giới mà tất cả đều duyên
sanh, đều không có tự tánh, đều vô thường sanh diệt sanh
diệt trong từng niệm niệm như thế, thì đâu là khổ giải
thoát, đâu là chỗ an thân lập mạng, đâu là chỗ quy về,
đâu là hòn đảo kiên cố giữa đại dương trùng trùng sanh
tử ? Trong " ba cõi đều chẳng an " , đâu là chỗ an toàn,
đâu là cái mà kinh Lăng Nghiêm nói là " không tùy thuộc nhân
duyên, chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tự nhiên "? Chỗ
giải thoát đó, cái " không phải nhân duyên" đó,
đạo Phật gọi là Niết Bàn. Kinh điển Nam tông (kinh Udàna)
nói về niết bàn như sau: " Hỡi các Tỳ kheo, có cái
không sanh, không khởi phát, không tăng mạo, không tùy thế.
Nếu không có cái không sanh, không khởi phát, không tăng tạo,
không tùy thế ấy ắt không có lối thoát nào cho cái có sanh,
cái có khởi phát, cái có tăng tạo, cái có tùy thế. Bởi
vì có cái không sanh, không khởi, không tạo, không tùy thuộc
điều kiện, nên mới có lối thoát cho cái có sanh, có khởi,
có tạo, có tùy thuộc "
Cái
Niết Bàn ấy được chứng nhập qua sự tu hành viên thông
về nhĩ căn của Bồ tát Quán Thế Âm như sau (kinh Lăng Nghiêm): Ban đầu ở trong cái nghe, vào dòng mất đi tướng sở chỗ
vào đã vắng lặng, hai tướng động tịnh rõ ràng chẳng
sanh ra. Như vậy dần tiến thêm, cái nghe và chỗ nghe đều
hết. Chẳng dừng lại nơi sự hết cái nghe và chỗ nghe, thì
năng giác sở giác đều không. Không giác cùng tột tròn vẹn
thì năng không và sở không đều diệt. Sanh diệt đã diệt,
tịch diệt hiện tiền. Tức thì vượt khỏi thế gian lẫn
xuất thế gian, tròn sáng khắp mười phương, được hai đều
tột bậc: Một là trên hợp với Bản Giác Diệu tâm của
mười phương chư Phật, cùng với chư Phật Như Lai đòng một
sức Từ; hai là, dưới hợp với mười phương chúng sanh trong
sáu nẻo, cùng với tất cả chúng sanh đồng một Bi ngưỡng
:. " Niết Bàn ấy chính là Tánh không của hệ thống Bát
Nhã:Chỗ thâm áo đây, nghĩa của nó là Không, là Vô tướng,
là Vô tác,Vô khởi, Vô sanh, Vô Nhiễm, là ly, là tịch diệt,
là Như, là pháp tánh thiệt tế, là Niết Bàn. Những pháp
trên đây cùng một nghĩa" (phẩm Thâm Áo).
Nếu
không có cái " không sanh, không khởi, không tạo tác, không
tùy thuộc" ấy nếu không có cái sanh diệt đã
diệt, tịch diệt hiện tiền ấy, thì đạo Phật không
thể xác nhận được chính mình như là đạo xuất thế, và
không có căn cứ cho sự tồn tại của chính mình. Bởi vì
với Khổ đế và Tập đế, đạo Phật chỉ mới nêu lên
vấn đề, và cách nêu lên vấn đề như vậy văn chương và
các khoa học thế gian cũng đề cặp đến. Không có thêm Diệt
đế và Đạo đế, nghĩa là không có sự giải quyết vấn
đề, thì đạo Phật cũng không có lý do để tồn tại.
Sức
mạnh của đạo Phật nằm ở sự xác lập Niết Bàn, cái Niết Bàn không tùy thuộc sanh tử nên dầu ở trong sanh tử
mà vẫn Niết Bàn, cái Niết Bàn siêu vượt khỏi cả xuất
thế gian nên hằng ở cùng chúng sanh
đòng một Bi ngưỡng ". Và chúng ta cũng thấy qua lịch sử
đạo Phật, những thời kỳ chánh Pháp hưng thịnh rực rỡ
nhất là những thời kỳ trong đó có nhiều người con của
Phật khẳng định được và xác lập được cái Niết Bàn
đó ngay tại giữa thế gian này. Đó là điều kinh thường
nói: Tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sanh, đó
cũng là Tâm Ấn chư Phật, như ngài Bồ tát Quán Thế Âm đã
diễn tả.
Il.-Không
là sự trống rỗng của tất cả các pháp.(328)
Không
(Sunya), Tánh Không (Sunyata) tiếng Anh là Void, Voidness), bao hàm
nghĩa trống rỗng, trống không. Kinh điển Nam Tông nói:
"
Này các Tỳ kheo, phàm có sắc gì (thọ tưởng hành thức
gì)quá khứ hiện tại vị lai, trong hay ngoài, thô hay tế,
vị Tỳ kheo như lý quán sát sắc, sắc ấy hiện ra trống
không, hiện ra rỗng không, không có lõi cứng.
Sắc ví như đống bọt
Thọ ví bong bóng nước
Tưởng ví ráng mặt trời
Hành ví như cây chuối
Thức ví với ảo thuật
Phật thuyết giảng như vậy
Như lý nhìn các pháp
Hiện rõ tánh trống không .
(Bọt nước-Phẩm Hoa-tướng Ưng Bộ Kinh tập I I I)
"
Mắt,
các sắc, nhãn thức, nhãn xúc là không tự ngã. Này Ananda,
vì rằng thế giới là không tự ngã, không thuộc tự ngã
nên thế giới là trống không, trống không là thế giới"
.
(Trống
không- Phẩm Channa- Tương Ưng Bộ Kinh tập I V- bản dịch của
HT. Thích Minh Châu)
Thanh
Tịnh đạo luận nói:" Người ấy thấy thế giới hiện tượng
như là trống rỗng, trống không, hư huyễn như làng xóm trống
vắng, như ảo tượng, như thành Càn thát bà..."
(Tuệ
thấy các sắc là đáng sợ, bản tiếng Anh, trang 755)
Kinh
Đại Bát Nhã nói: " Này Xá Lợi Phât! Vì sắc rỗng không
nên không có tướng não hoại, Vì thọ rỗng không nên không
có tướng thọ nhận, vì tưởng rỗng không nên không có tướng
biết, vì hành rỗng không nên không có tướng tác giả, vì
thức rỗng không nên không có thức tri giác. Này Xá Lợi Phất
! Tướng rỗng không của các pháp vốn chẳng sanh chẳng diệt,
chẳng cấu chẳng tịnh, chẳng tăngchẳng giảm..."
Bồ
Tát tu tập đúng như vậy gọi là tương ứng với Bát Nhã
Ba la mật.
(Phẩm
Tu tập đúng- HT. Thích Trí Tịnh dịch)
Sự
nhìn thấy thực tướng của các pháp như vậy được đạo
Phật gọi là Tuệ. Ví dụ như trước khi được quả thánh
đầu tiên, quả Nhập Lưu, hành giả trải qua những phàm tuệ,
như: tuệ thấy danh sắc là vô thường, khổ, vô ngã; tuệ
thấy sự sanh diệt của các sắc; tuệ kinh sợ thấy tội
lỗi của các sắc v.v... Tuệ là một cái biết vượt trên
sự đối đãi của ý thức chủ thể và đối tượng khách
thể, chỉ đạt được thiền quán. còn ở mức độ lờ mờ,
dò dẫm của ý thức, chúng ta có thể hình dung sự trống
rỗng của các pháp bằng những diễn tả của khoa học vật
lý hiện đại, mặc dầu cái biết của ý thức thì rất giới
hạn vì không thể vượt ra ngoài sự phân chia giữa chủ thể
và đói tượng, và ý thức cũng không thể biết được chính
nó, sự sanh khởi và diệt mất của chính nó, đây là đìều
phải nhờ thiền quán.
Nhà
khoa học John W Garner viết trong cuốn nguyên tử hôm nay và
ngày mai: Các thí nghiệm, tính toán của Rutherford và Bohr
đã chứng minh một cách rõ ràng đến kinh ngạc rằng nguyên
tử chủ yếu là khoảng không trống rỗng. Nếu như đường
kính hạt nhân là 15cm thì với tỷ lệ đó, các electron gần
nhân nhất cũng cách hơn 1km5, còn khoảng giữa đó là chân
không.
Với
một cái nhìn ở mức độ nguyên tử như vậy, một bức tường
sẽ là trống rỗng, vì phần vật chất cứng đặc là quá nhỏ so với khoảng không, cũng như toàn bộ vũ trụ
gần như trống rỗng vì mật độ vật chất quá rãi rác.
Theo
Duy thức học, tùy theo nghiệp thức của mỗi loại chúng sanh
mà thế giới của mỗi loài hiện ra sai khác. Vì tâm thức
của chúng ta được cấu tạo như vậy, thì thế giới hiện
ra với chúng ta là cứng đặc, trong khi ở mức độ nguyên
tử, thì thế giới gần như là trống rỗng. Như con mối thì
thế giới của nó chỉ là một chiều, một bề mặt bằng
phẳng, dầu là đứng trước bức vách. Con chó thì chỉ thấy
có
hai màu đen trắng. Có những âm thanh và màu sắc siều tần
mà con người không thể nghe, thấy. Con người chỉ cảm nghiệm
được một hệ thống không - thời gian 4 chiều, còn có thể
có các hệ thống nhiều chiều hơn thì đành không thể biết.
Trong thiền định,con người kinh nghiệm những thế giới khác
lạ so với giác quan thường nhật, ví dụ khi đưa tâm thức
đến định Không vô biên xứ, thế giới chỉ còn là
một ư không vô biên ,đến định Thức vô biên xứ , và với
sự an trú lâu dài trong định đó, cái nghiệp ấy sẽ đưa
người ấy đến cõi Trời Thức vô biên xứtương ứng với
loại tâm thức thiền định như vậy.
Chúng
ta không đi xa hơn, nhưng qua vài nhận xét đó cũng cho chúng
ta thấy rằng, với một tâm thức được tinh luyện hơn, tinh
vi hơn, trong sạch hơn, sự việc thế giới hiện
ra là trống rỗng không phải là chuyện hoang đường. Và mặc
dầu thấy được sự trống rỗng của tất cả các pháp chỉ
là bước đầu của Trí Huệ bát Nhã, cũng đủ chữa lành
cho mọi căn bệnh khổ đau vì tham đắm, bám chấp, vì các
căn bệnh tham sân si vốn là tính tự nhiên " của
chúng sinh ở cõi Dục giới này.
Ill.-Không
là sự vô thường của tất cả các pháp.
Vô
thường là một trong ba pháp ấn của Nam tông, trong bất kỳ
đoạn kinh nào của Nam tông cũng thấy nói đến vô thường.
Ở đây, xin trích ra ít đoạn kinh Đại thừa nói về vô thường.
Kinh
Đại thừa vô lượng nghĩa nói:" Rồi lại quán kỷ
tất cả các pháp:niệm chẳng dừng, sát na sanh diệt. Lại
thấy sanh, trụ, dị, diệt xảy ra đòng thời " .
Kinh
Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhã Ba La Mật đã nói. " Vì
pháp tánh là Không vậy. Thế tức là sắc thọ tưởng hành
thức, 12xứ, 18 giới, phàm phu, 12 nhân duyên, 2 đế, 4 đế.
tất cả đều Không . NHững pháp ấy, sanh ngay diệt ngay, vừa
có vừa không, mỗi mỗi sát na liên tục như vậy. Trong một
niệm có 90 sát na, trong một sát na trải qua 900 lần sanh diệt,
cho nên tất cả các pháp hữu vi đều là không vậy :.
Luận
Đại Trí Độ nói:" Các pháp luôn luôn biến đổi, không
một thứ gì có thể tồn tại trong hai sát na liên tiếp" .
Cũng
bằng những diễn tả khoa học hiện đại, chúng ta có thể
mường tượng phần nào về cái gọi là Tuệ thấy sự sanh
diệt của danh sắc:
Electron,
hạt quyết định tính chất đặc tính của nguyên tử, quay
quanh hạt nhân với tốc độ hơn 160.000km/giờ.Thế giới nguyên
tử là thế giới chuyển động và sanh diệt với tốc độ
chóng mặt. Người ta đã biết hàng trăm hạt cơ bản đời
sống chỉ ngắn ngủi từ **10-17--10-19* giây và sau đó phân
rã thành hạt khác. Ddời sống của hạt Mezon-pi chỉ là 10-23*
giây. Proton, hạt thuộc loại " vững chắc" nhất, không bao
giờ biến mất mà chỉ biến đổi, thì theo sự diễn tả
của giáo sư la Smorodinsky: Proton là một xoáy nước dữ dội
trong đó các Mezon-pi liên tục sanh ra và biến mất. Ngoài Mezon-pi,
các phản nucleon xuất hiện và mất đi ở giữa cái mà chúng
ta gọi là Proton .
Thiết
tưởng, sự tìm hiểu về cơ cấu vật chất không trải ngược
mà còn bổ ích cho sự tìm hiểu về tánh Không, vì kinh Đại
Bát Nhã nói: " Phân biệt, tính lường, phá hoại tất cảpháp đến vi trần, trong đó chẳng được cứng chắc, do nghĩa
này mà gọi là Bát Nhã Ba La Mật " (phẩm Tam huệ).
Thế
giới nguyên tử là một thế giới vô cũng chuyển động và
sanh diệt trong từng sát na và thay vì nói rằng thế giới
là chuyển động và vô thường, thì bằng một cái nhìn học
Phật sâu sắc, chúng ta phải nói rằng: chính sự chuyển động
vô thường (của sắc thọ tưởng hình thức) đã tạo thành
thế giới.
Qua
đến thế giới hữu cơ sinh vật cũng thế. Trong một ngày
có bao nhiêu hồng huyết cầu chết và được thay thế, vì
trong một tuần hoàn hồng huyết cầu đều được đổi mới.
Có bao nhiêu tế bào óc trong khoảng 2 tỉ nơ-rôn chết đi
và không được thay thế? trong thế giới của thức cũng thế,
một giây có bao nhiêu niệm tưởngsanh ra và diệt mất? Ngay
cả thức thứ tám, thức căn bản của toàn bộ thân tâm sanh
tử mà ta không hề biết ( mà ngoại đạo thấy là đúng lặng
nên cho đó là Thần Ngã), thức ấy cũng chuyển trôi như dòng
nước chảy xiết. Đức Phật nói về cái thức căn bản ấy
như sau:
Thức Đà Na vi tế
Hằng chuyển như nước xiết
Sợ người chấp làm Ngã
Ta thường chẳng khai diễn
KẾT:
Đạo Phật thấy rằng tất cả cõi đều rỗng không, vô ngã,
sanh diệt trong từng niệm niệm. Cái thấy ấy phải gây ra
sợ hãi và phản ứng đối với chúng sanh cố chấp trong cái
ta và cái của ta, như kinh đã nói trước. Từ đó mà cho rằng
đạo Phật chán đời. Đạo Phật dạy phải thấy tất
cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh, như sương như
điển chóp " . Cái thấy ấy không bị giới hạn
trong năm huẫn của cõi này, không bị giới hạn trong khoảng
một đời người, mà đó là cái thấy ở tầm mức vũ trụ,
nên nó cũng không phải bị quan, không phải lạc quan. Khi đạo
Phật nói " chúng sanh ở trong vô thường mà cho là
thường, trong bất tịnh mà cho là tịnh, trong vô ngã mà cho
là ngã, trong vô sanh mà cho là sanh" , hay khi nói " các
chúng sanh do khả ái của mình, như con nai khát nước chạy
theo bóng nắng mà tưởng là dòng suối ", điều đó cũng
không phải là chán đời. Và trước một sự việc như con
nai khát nước chạy theo bóng nắng mà tưởng là dòng suối,
người đúng lại không phải là người bi quan, chán đời,
mà chỉ là người trí. Còn người tiếp tục chạy cuồng
bám đuổi theo cái vọng tưởng điên đảo rỗng không của
mình đâu có phải là người lạc quan, tích cực" gì đâu, mà chỉ là người si mê đáng thương vậy.(329)
Trong
những bài trước, chúng ta đã tìm hiểu Tánh Không chủ yếu
theo hệ thống Nguyên thuỷ và Đại thừa thủy giáo, chú trọng
đến việc quan sát các hiện tượng, khảo sát theo mặt hình
tướng để từ tướng đi vào Tánh. Từ đấy chúng ta tìm
hiểu Tánh Không theo cái nhìn của Đại thừa chung giáo, Đại
thừa rốt ráo, nghĩa là đi thẳng vào Tánh Không, không dựa
vào tướng khách thể cũng như ý thức thể, không qua một
quá trình phân tích các tướng để tìm ra Tánh.
Chắc
cũng vì vậy mà sự việc khó hiểu hơn, vì không còn nương
vào thức và tướng để tìm hiểu, như một Thiền sư Tào
Động hiện đại của Nhật đã nói:" Chỉ có trí
huệ mới tìm thấy Trí Huệ " (Shunryu Suzuki- Zen Mind, beginner's
mind). Âu cũng là nhờ một nỗ lực nghiêm túc phi thường
nào đó, một trực quan nào đó về cái Toàn Thể, mà chúng
ta có thể đi vào Đại thừa. Nếu không, chúng ta sẽ không
tương ứng được, mà đã không thông cảm được thì dĩ
nhiên là hiểu lầm. Ví dụ như Đại thừa nói: " Tất
cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bào ảnh..." thì
chúng ta nghĩ ngay PG Đại thừa là chán đời, là tiểu cực,
là hư vô, là một thứ học thuyết Lão Trang nào đó. Nhưng
với người hiểu biết, thì cái mộng huyễn bào ảnh đó
là sị tích cực, là hư vô, là một thứ học thuyết Lão
Trang nào đó. Nhưng với người hiểu biết, thì cái mộng
huyễn bào ảnh đó là sự tích cực nhất đối với tất
cả ba cõi, sự tích cực đó đã chứng tỏ trong cuộc đời
của các vị Thiền sư, các vị Bồ tát. Phải nhờ một cái
hiểu biết thực sự nào đó để đi vào Đại thừa. Ví dụ
trong kinh Viên Giác, khi muốn thâm nhập vào Viên Giác bằng
3 pháp Chỉ, Quán và Thiền, người ta phải biết Tánh Viên
Giác thanh tịnh là cái gì: Nếu các Bồ tát ngộ Viên
Giác thanh tịnh, thì y vào cái giác tâm thanh tịnh này mà biết
tâm thức cùng căn trần đều do huyễn hóa, bèn khởi các
huyễn để trừ các huyễn... Do quán thấy huyễn mà **bèn*
trong bèn phát ra đại bi khinh an. Thế nghĩa là ngộ
tánh Viên Giác rồi mới bắt đầu thực tu pháp Quán.
Phẩm
thứ 2 của Đại Bát Nhã cũng nói :Bồ tát tu tập đúng
như vậy (đúng theo Tánh Không), đây gọi là tương ứng với
Bát Nhã Ba La Măt . Phải biết tánh Không thực sự là gì thì
mới tu tập đúng như vậy được, để mà tương ứng
với Bát Nhã Ba la mật.
Củng
vì vậy, nên trong những đoạn sau, khi tìm hiểu về Tánh Không,
chúng ta không trích dẫn chứng minh bằng các thí dụ, lý luận
vọng lập của ý thức thế gian, mà chỉ trích ra những đoạn
kinh khác để tìm một sự tương đồng, hầu có thể tiếp
tục công việc tìm hiểu.
lV- Tánh
không là sự không thật có, không thể nắm bắt, vô sở hữu,
Bất khả đắc của tất cả các pháp.
Những
thành ngữ như vô sở hữu, bất khả đắc, tất cánh không,
tất cánh viễn ly, vô sở trụ, không thủ không xã... hầu
như trong bất kỳ trang nào của Đại Bát Nhã cũng có, để
chỉ tính cách không thật có, không thể nắm bắt, như huyễn,
như mộng của tất cả ba cõi. Đễ giải thích tính cách này
có lẽ thành ngữ dường như hoa đốm giữa hư không của
kinh Viên Giác là cụ thể, trực tiếp và dễ hiểu nhất:
Tãt
cả chúng sanh từ vô thủy đến nay đủ thứ điên đảo,
giống như người mê, lẫn lộn bốn phương, vọng nhận bốn
đại làm thân tướng của mình, bóng dáng duyên ảnh sáu trần
làm tâm tướng của mình, ví như con mắt bệnh thấy giữa
hư không có hoa đốm và thấy có mặt trăng thứ hai.
Hư
không vốn thật chẳng bao giờ có hoa đốm chỉ là người
bệnh vọng chấp. Do vọng chấp cho nên chẳng những không
biết được tự tánh của hư không mà còn lầm cho là hoa
đốm thật có sanh. Do cái " thấy - có " hư vọng đó
mới luân chuyển sanh tử. Thế nên gọi đó là vô minh.
Cái
vô minh ấy không có thật thể. Như người trông mộng đến
khi tỉnh dậy mới biết là không chỗ có. Như các hoa đốm
trong hư không diệt mất giữa hư không, chẳng thể nói là
có chỗ diệt mất. Vì sao thế? Vì không từng có chỗ sinh
ra. Hết thảy chúng sanh vẫn ở trong chính cái Vô sanh mà vọng
thấy có sanh diệt, thế nên gọi là sanh tử luân hồi.
(Chương 1- Phẩm Văn Thù).
Trong
chương 2, phẩm Phổ Hiền kết luận:
Biết
huyễn tức lìa, chẳng khởi phương tện. Lìa huyễn tức giác,
cũng không thứ lớp"
Kinh Lăng nghiêm nói về sự vô sở hữu, như không hoa này như sau:
Chân
tánh, hữu vi không
Duyên
sanh nên như huyễn
Vô
vi, không khởi diệt
Chẳng
thật như không hoa
Ở
giữa không thật tánh
Giống
như lau gác nhau
Buộc,
mở đồng một nhân
Thánh
phàm không hai lối
Hãy
xem tánh giao nhau
Có,
không đều chẳng phải
Mê
lầm là vô minh
Rõ
thông đều giải thoát.
Chúng
ta có thể kết luận cho mình rằng:Nếu biết tất cả pháp
là hoa đốm vọng có sanh diệt giữa hư không, tức thì biết
ngay được Tánh Không bổn lai thanh tịnh.
Bài
kệ mở đầu kinh Lăng Già gồm trọn ý nghĩa toàn bộ kinh
của Bồ tát Đại Huệ tán thán Đức Phật, bậc viễn ly
tối thượng, bậc chứn gđược Niết bàn sanh tử chỉ
là giấc mộng ngày hôm qua có thể kết luận cho
đọan này:
Thế
gian lìa sanh diệt
Như
hoa trong hư không
Trí
chẳng đắc có, không
Mà
hưng tâm đại bi.
Tất
cả pháp như huyễn
Xa
lìa khỏi tâm thức
Trí
chẳng đắc có không
Mà
hưng tâm đại bi
Xa
lìa hẳn đoạn, thường
Thế
gian hằng như mộng
Trí
chẳng đắc có không
Mà
hưng tâm đại bi
Rõ
nhân pháp vô ngã
Phiền
não và sở tri
Thường
thanh tịnh vô tướng
Mà
hưng tâm đại bi
Tất
cả không Niết Bàn
Xa
lìa giác, sở giác.
Hoặc
có hoặc không có
Tất
cả thảy đều lìa
Quán
Mâu Ni tịch tĩnh
Ấy
tức xa lìa sanh
Củng
gọi là chẳng thủ
Đời
này đời sau Tịnh
V- Tánh Không
nghĩa là tất cả pháp không sanh
Kinh
Đại Bát Nhã, phẫm Vô sanh: " Ngài Tu Bồ Đề nói:
Sắc chẳng khác vô sanh, vô sanh chẳng khác sắc. Sắc tức
là vô sanh, vô sanh tức là sắc. Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ Tát
thật hành Bát Nhã BLM quán các pháp như vậy thời thấy sắc
không có sanh, vì rốt ráo tịnh vậy. Thấy thọ tưởng hành
thức không có sanh, vì rốt ráo tịnh vậy. Nhẫn đến thấy
Phật và Phật Pháp không sanh,vì rốt ráo tịnh vậy.Ngài Xá
Lợi Phất nói: Cứ theo nghĩa của Tu Bồ Đề nói mà tôi được
nghe thì sắc là chẳng sanh, thọ tưởng hành thức là chẳng
sanh, nhẫn đến Phật và Phật pháp là chẳng sanh" .
"
Tất
cả các pháp rốt ráo không sanh" câu kinh được lập đi lập
lại trong suốt bộ Đại Bát Nhã. Đó là câu thần chú đưa
người tu học đến Vô sanh pháp nhẫn, đến Bờ bên kia của
bậc Bãt thối chuyển, là tâm ấn của chư Phật ba đời:
" Đức Phật dạy : Đại Huệ!" Tất cả pháp
chẳng sanh " đó là đều chư Phật ba đời đồng nói " (Lăng Già quyển 2)
Mở
rộng thêm, chúng ta đọc thấy trong kinh Bồ Tát kiến thiệt:
" Tự thể các pháp chẳng phải từng có, sẽ có, hiện
có. Như bóng trong gương chẳng phải có không, tự thể của
sắc cũng vậy, chẳng phải đã có, sẽ có hay hiện có. Này
Đại vương! Sắc không có sanh cũng không có diệt, thọ tưởng
hành thức không có sanh cũng không có diệt, như Niết bàn
giới không có sanh không có diệt vậy .
Biết
tất cả pháp đang sanh tức chẳng sanh, đó là: Quán Mâu Ni
tịch tĩnh, ấy tức xa lìa sanh, cũng gọi là chẳng thủ, đời
này đời sau tịnh " , như bài kệ Lăng Già nói ở trên.
Chứng
biết " tất cả pháp không sanh" tức là chứng đắc Vô
sanh pháp nhẫn : Đức Phật dạy:Thật không có người nào
ở trong pháp sanh mà được Vô sanh Sanh Pháp nhẫn. Vì không
đắc không thất, do đây mà được Vô sanh pháp nhẫn. Lại
nầy Văn Thù Sư Lợi! Vô sanh Pháp nhẫn đó, là : vì tất
cả pháp vô sanh nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp không
đi không đến nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô thủ
vô xã nên nhẫn như vậy,vì tất cả pháp vô sở hữu, không
có thật nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô nhiễn như
hư không nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp Không,
Vô tướng, Vô nguyện nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp
Như, như pháp tánh thiệt tế nên nhẫn như vậy, vì tất cả
pháp vô phân biệt, vô tươngưng, vô ức niệm, vô hý luận,
vô tư duy nên nhẫn như vậy, vì tất cả pháp vô tác vô lực
hư vọng như ảo như mộng như bóng như vang như ảnh tượng
như cây chuối rỗng như tụ mạt như bọt nước nên nhẫn
như vậy. Nói mà nhẫn mà không có ai nhẫn và cái gì để
nhẫn, danh từ ấy cũng bất khả đắc, bổn tánh tự ly. Nói
nhẫn như vậy, tin hiểu thích vào, không nghi hoặc, không kinh
sợ, không động mất, đầy khắp nơi thân rồi chánh thọ
mà hành, chẳng chẳng được thân mình cũng không chỗ trụ.
Đây gọi là Bồ tát ở trong các pháp được vô sanh
nhẫn cho đến chẳng hành tất cả tưởng vậy (Pháp hội
Thiện Trụ ý thiên tử, phẩm thứ 6).
Đó
là chỗ kinh Duy Ma nói: Các pháp rốt ráo chẳng sanh chẳng
diệt, đó là nghĩa vô thường. Năm thọ ấm trông rỗng, không,
không có chỗ khởi, đó là nghĩa khổ. Các pháp rốt ráo không
chỗ có, đó là nghĩa Không. Nơi ngã và vô ngã trọn chẳng
thấy hai; đó là nghĩa vô ngã. Pháp xưa chẳng khởi, nay cũng
chẳng diệt, đó là nghĩa Tịch Diệt Đó là chỗ kinh Vô Lượng
Nghĩa nói:Tất cả các pháp: tánh-tướng bổn lai không tịch,
chẳng đến chẳng đi, chẳng sinh ra, chẳng diệt mất
Đó
là chỗ kinh Pháp Hoa nói: Chư pháp tùng bổn lai, thường tự
tịch diệt tướng Trong kinh Potthapada thuộc Trường Bộ kinh,
khi có một Bà la môn ngoại đạo hỏi đức Phật về sự
sinh thành của thế giới, thế giới còn mãi mãi hay sẽ diệt
mất, diệt rồi có lại sanh ra nữa chăng v.v...Đức Phật
đã không trả lời.
Đức
Phật đã không trả lời vì những lý do ở trên.
Không
trả lời, vì tất cả pháp rốt ráo không sanh vậy.
Không
trả lời, vì tất cả pháp rốt ráo Tịch Diệt, rốt ráo
Niết Bàn vậy.
Không
trả lời, vì: bổn lai vô nhất vật vậy.
Vl- Tánh không
là tánh của tất cả các pháp(332)
Chân
Không chính là Chân Như, đó là kết luận của kinh Đại
Bát Nhã. Tánh Như, Chân Như, Như Như là để dịch chữ Tathata.
Củng từ chữ Như (Tatha) này mà có danh từ Như Lai (Tathagata),
Như Lai Tạng (Tathagatagarbha)...
Một
lần nữa, chúng ta phải nhắc lại rằng ý thức không thể
nào hiểu được Tánh Không, Tánh Như. Chỉ có Trí Huệ mới
hiểu được Chân Không là Chân Như. Ý thức không thể nào
hiểu được danh từ trông ra vẽ trái ngược nhau, đều chỉ
biểu thị một thực tại. Làm sao có thể vừa nói Tánh Không
là vô thường, nhân duyên sanh, vô tự tánh, rỗng không...
lại vừa nói Tánh Không là Chân Như. Nếu không có Trí Huệ,
thì đạo Phật dường như mâu thuẩn: tại sao cái Thực Tại
ấy chỗ thì nói là Tánh Không, chỗ thì nói là Phật Tánh
(kinh Niết Bàn), chỗ thì nói là trống rỗng, chỗ thì nói
là Thật Tướng, chỗ thì nói là Như Huyễn, chỗ thì
nói là Chân Như, chỗ thì nói tất cả pháp vô ngã,chỗ thì
tất cả chúng sanh đều có Phật tánh chỗ thì nói là Vô
tâm (kinh Kim Cang), chỗ thì nói là Nhật Tâm (kinh Hoa Nghiêm)...
Nếu không có trí huệ tổng trì thì chúng ta thấy các ý niệm
ấy đều đối chọi nhau, thấy các tông phái đều trái nghịch
nhau. Đức Phật đã nói: Pháp Phật chỉ có một vị, một
nghĩa.Kinh điển cũng nói: Chư Phật ba đời đều đồng
một lời, đồng một miệng mà truyền thuyết Phật pháp.
thế nên nếu có sự trái nghịch nhau, đói chọi nhau giữa
các kinh điển, giữa các tông phái thì phải hiểu đó chính
là sự mâu thuẫn lưỡng biên của ý thức phân biệt giới
hạn của chúng ta, còn trong Trí Huệ tổng trì, thì tất cả
kinh điển đều cũng một vị (như nước đại dương đều
cùng một vị), tất cả các thừa đều ở trong Nhất Thừa,
do từ một miệng, một lời của chư Phật, chư Tổ nói ra.
Tánh Như là tính cách không biến đổi, không sanh không diệt, bình đẳng nhất như, thanh tịnh một vị,tịch diệt không hai, thường trụ bất động của tất cả các pháp. Băc chứng đắc rốt ráo Tánh Như được gọi là Phật: " Chư Đại Bồ tát học Như đó được Nhất thiết chủng trí, được gọi là Như Lai " (kinh Đại Bát Nhã, Phẩm Đạo Thọ). " Đức Phật rõ sắc tướng như là Như Tướng: chẳng hoại không phân biệt, không tướng không nhớ ghi, không hý luận,không đắc; sắc tướng cũng vậy, cũng chẳng hoại nhẫn đến cũng không đắc" (Phẩm Phật Mẫu).
Đức Phật biết rõ tất cả pháp Như Tướng, đó là cái biết rốt ráo của viên thành thật tánh, vượt khỏi vọng tưởng của Y tha khởi và Biến thế sở chấp, đó là cái biết Như Như trong 5 pháp danh, tướng, vọng tưởng, chánh trí, Như Như của kinh Lăng Già. Biết rõ tất cả pháp Như tướng, đó là cái chánh kiến Như Thị (Tatha), Như Thực (yathablutam) của Tri Kiến Phật.
Có Phật hay không có Phật, tánh tướng vẫn thường trụ. Vì đắc tánh tướng đúng như thật mà Đức Phật được gọi là Như Lai" (Phẩm Vãn tướng).Tất cả pháp Như Tướng là :" Sắc tướng Như, nhẫn đến Nhất thiết chủng trí tướng Như, một Như không hai không khác. Đức Như Lai tướng Như chẳng lai chẳng khứ, Tu Bồ Đề tướng Như chẳng lai chẳng khứ. Như Lai tướng Như tức là tất cả pháp tướng Như, tất cả pháp tướng Như tức Như Lai tướng Như. Laị đức Như Lai Như là tướng thường trụ, Tu Bồ Đề Như cũng là tướng thường trụ. Như Lai tuớng Như không có chỗ ngại, tất cả pháp tướngNhư cũng không có chỗ ngại, đây là Như Lai tướng Như cùng tất cả pháp tướng Như là một Như không hai không khác. Tướng Như này vô tác, vô niệm, vô biệt, chẳng quá khứ chẳng hiện tại chẳng vị lai, các pháp Như tướng cũng vô tác, vô niệm, vô biệt, chẳng quá khứ chẳng hiện tại, chẳng vị lai (Phẩm Đại Như).
Kinh
Kim Cang Nói:" Như Lai là :tất cả pháp nghĩa Như" .
Như
là nghĩa Tịch Diệt : " Bát Nhã ba la mật hiển thị Phật,
thế gian tịch diệt. Hiển thị ngũ ấm thế gian tịch diệt
nhẫn đến hiển thị nhất thiết chủng trí thế gian tịch
diệt " .(Phảm Vấn Tướng)." Này tu Bồ Đề! Vì tướng duy
nhất mà gọi là Nhất thiết chủng trí: đó là tất cả pháp
tịch diệt tướng " (Phẩm Tam Huệ).
Như
là các pháp vốn rốt ráo giải thoát vì bình đẳng như mộng
huyễn:" Sắc không phược (trói buộc) không thoát, thọ
tưởng hình thức không phược không thoát. Tất cả các pháp
đều không phược không thoát. vì là vô sở hữu, là ly, là
tịch diệt, là bất sanh nên không phược không thoát "(Phẫm
Trang Nghiêm).
Như
là tất cả pháp bổn lai thanh tịnh:" Tất cả pháp bổn
tánh thanh tịnh. Ở trong các pháp đó, nếu Đại Bồ tát tâm
thông đạt chẳng mê mờ, đó chính là Bát Nhã Ba la mật.
Vì tất cả Pháp Như, pháp tánh,thiệt tế, thường trụ vậy" . (Phẩm Đẳng Học). " Ngũ ấm, thập nhị nhập, thập bát
giới bất khả đắc vì rốt ráo thanh tịnh vậy" (Phẩm
Xuất Đáo).
Như
là các pháp chẳng sanh chẳng diệt, chẳng cấu chẳng tịnh:"Các
hành sanh khởi không từ đâu lại, chẳng đi về đâu. Đó
là biết hành sanh diệt. Các hành chẳng sanh chẳng diệt, chẳng
đến chẳng đi, chẳng tăng chẳng giảm, chẳng cấu chẳng
tịnh. Đó là biết hành Như" (Phẩm thiện Đạt).
Như
là các pháp bình đẳng:" Tướng các pháp bình đẳng
ấy, ta gọi là Tịnh. Những gì là các pháp bình đẳng? Đó
là Như, bất dị, bất cuống, pháp tướng, pháp tánh, pháp
vị, thật tế. Có Phật hay không có Phật, pháp tánh thường
trụ, gọi đó là Tịnh " (Phẩm Bình Đẳng).
Như
là các pháp tức là Pháp Tánh: " Sắc tức là Pháp Tánh,
thọ tưởng hành thức tức là Pháp Tánh" (Phẩm Thiện
Đạt).
Kinh
Đại Bát Nhã kết luận: " Tãt cả pháp Như Tướng, đây
gọi là Vô thượng Bồ đề " (Phẩm thâm Áo).
Để
hiểu rõ điều mà các vị thiền sư nói là " tất
cả các pháp, tánh tướng Như Như, đó là đại giải thoát"
,thiết nghĩ không gì bằng trích một đoạn ngữ lục, cho" tươi mát " , gần gũi sống động với chúng ta hơn:" Thiền sư Vân Cư Hựu " thượng đường: Tất cả âm
thanh là âm thanh Phật! Gõ thiền sàng, nói:Phạm âm thanh tịnh
suốt khắp khiến người thích nghé Lại nói: Tất cả sắc
là sắc Phật! Bèn đưa Phật tử lên, nói: Hiện đây Phật
phóng quang minh, soi rõ nghĩa Thiệt Tướng ! Người đã thấu
hiểu, đầu đội vâng làm. Người chưa thấu đáo, hợp như
thế rõ, hợp như thế tin! Rồi gõ thiền sàng, xuống tòa.
**
Kết Luận:
1-
Qua năm bài báo, chúng ta có một số kiến giải chủ yếu
về Tánh Không. Nói chủ yếu, vì không thể nói hết về Tánh
Không, vì Tánh Không là Vô Lượng Nghĩa (kinh Đại thừa Vô
Lượng Nghĩa). Những giới thiệu sơ lược về tánh Không
chỉ là một phần nhỏ của Văn Tự Bát Nhã, mục đích chính
của loạt bài là gợi ý, gây cảm ứng về Bát Nhã Không
Tuệ Học để độc giả trực tiếp đi vào kinh Đại Bát
Nhã, hầu có thể biết sự tu hành Bát Nhã, quán chiếu Bát
Nhã là như thế nào, làm thế nào tu hạnh Bồ Tát theo Trí
Huệ ba la mật... để có thể, không những đọc tụng mà
còn thọ trì Bát Nhã trong mọi hoàn cảnh sống hằng ngày,
đem lại lợi lạc cho mình và cho người. Có đi vào kinh Đại
Bát Nhã thì mới có thể lấy Trí Huệ Bát Nhã làm sinh mạng
của mình trong biển lớn sanh tử : đó là Huệ Mạng của
những ai tu hành chân chính, Bởi thế, giới thiệu Tánh Không
là giới thiệu cái cứu cánh của đạo Phật :" Các pháp
rốt ráo Không, chính đó là Niết Bàn" :(Thiện Đạt).
2- Tánh Không nếu hiểu theo ý niệm và bị sa vào trong biển
độc của thức thì rất dễ bị hiểu lầm thành một thực
tại tĩnh động trống rỗng mà người xưa gọi là ngoan không,
cái không vô ký. Kinh Viên Giác nói: Nếu lấy tâm luân hồi
mà nhìn xem tánh Viên Giác, thì Viên Giác cũng thành sanh tử
luân hồi.
Tánh
Không chính là Đại Bi. Nếu hành giả càng thâm nhập Tánh
Không thì Đại Bi càng tăng trưởng. Phẩm Xá Lợi nói : Trong
Bát Nhã ba la mật xuất sanh đại từ đại bi của chư Phật.
Đại Bi chính là dấu hiệu để hành giả tự nhận biết
mình thực sự đi vào Tánh Không. Và Đại Bi càng thật là
Đại Bi thì càng có tính hoạt động, không ngơi nghỉ,
không mệt mõi nhàm chán như Bồ Tát Qaún thế Âm chứng tỏ.
Chính Trí Huệ thấu đạt Tánh Không và Đại Bi sống động
nảy sinh ra Phương Tiện Thiện Xảo, là toàn bộ đời sống,
cách sống cứu độ của Bồ Tát ở trong cõi sanh tử.
Trí
Huệ và Đại Bi là hai cột trụ dựng nên Phật giáo Đại
Thừa. Tánh Không hay Bát Nhã là giải pháp duy nhất cho con
đường Bồ Tát Đại Thừa :Làm thế nào để có thể ở
nơi sanh tử mà vẫn giải thoát, làm thế nào trụ trong giải
thoát mà vẩn ở nơi sanh tử để cứu độ chúng sanh. Ởnơi sắc thọ tưởng hành thức, nghĩa là đồng sự đồng
nghiệp với chúng sanh mà vẫn giải thoát vì soi thấy năm
uẩn đều Không, và cũng từ Tánh Không mà xuất sanh Đại
Bi thương xót ở cùng và cứu độ tất cả. Cứu độ tất
cả, hy sinh mọi đời mọi kiếp cho chúng sanh mà chẳng hề
buồn giận mệt mỏi vì không thấy có người hy sinh cũng
không có một ai được cứu độ, đó là Đại Bi của Trí
Huệ giải thoát thay vì là cái bi chật hẹp của ái kiến
ràng buộc.
3-
Người tu theo Tánh Không mà hiểu lầm thì dễ bỏ quên nhân
quả, nghiệp báo. Trái lại, người càng thấu đạt Tánh Không
nghĩa là càng có trí huệ thì càng thấy rõ sự hiện hành
của nhân quả, càng đi đúng với Trì giới Ba la mật, càng
không xâm phạm giới, nghĩa là không xâm phạm tâm Đại Bi
đã mỡ khai nơi mình. Có thể lấy ví dụ của người xưa,
Tánh Không dụ cho tánh nước, nhân quả dụ cho sóng.Tánh Không
không ngăn cảng con người tạo ra nhân quả, nhưng dầu có
sóng nước vẫn nước, không vì có sóng mà nước mất đi
bản tánh của mình, còn cái người tạo ra sóng, người ấy
phải chịu sự nỗi chìm của nghiệp sóng do tự mình tạo
ra. Hoặc lấy ví dụ Hư không và hoa đốm, không tạo ra hoa
đốm, không bị nhiễm ô bởi hoa đóm, nhưng có ai tạo ra
hoa đốm thì người ấy tự chịu lấy sự quay cuồng.
4-
Chúng ta đang bưóc vào thập niên cuối cùng của thế kỷ
20, một thế kỷ đặc trưng bằng một nền văn minh kỹ thuật
xu hướng về việc hưởng thụ. Và hiện nay, chúng ta cũng
đang thấy rõ cái giá phải trả cho việc hưởng thụ vô độ
của mình: sự dễ dãi, thácloạn về văn hóa, sự buông thả
về đạo đức, sự ứng xử với nhau bàng mưu mẹo chước
thuật thay vì nhân cách chân thật, sự chìm ngập trong hình
ảnh và nhãn hiệu, sự phá hủy môi trường sống là trái
đất v.v...
Bi
hoan hay lạc quan, chúng ta không bàn đến ở đây. Nhưng thiết
nghĩ, nèn văn minh dầu, tiến theo lối nào và đến đâu, cũng
không thể ra ngoài giới hạn cộng nghiệp của dục giới,
không thể ra ngoài sắc thọ tưởng hình thức, nghĩa là luôn
luôn nằm trong sự giải quyết của Trí Huệ Bát Nhã. Chính
trong những thời điểm đặc biệt, trong những phiền não
đặc biệt mà ý nghĩa " độ tất cả khổ ách" của Trí Huệ Bát Nhã lại càng nỏi bật hơn bao giờ hết.
Ở vào bất kỳ thời đại nào, văn minh và lịch sử chỉ
được cứu độ khi chúng được đặt vào trong Thực Tướng
Nghĩa của Bát Nhã BLM. Chỉ có cái nhìn " tất cả pháp
Như tướng" mới dập tắt hết mọi vọng tưởng
điên đảo, không tạo thêm cho con người đủ thứ vọng tưởngnhư
chạy đua hưởng thụ, chạy đua danh quyền, chạy đua vũ trang,
chạy đua " hòa bình" : ..Chỉ có cái nhìn " tất cả pháp không sanh, tất cả pháp không diệt " mới
làm dừng lại sự chạy cuồng của con người, như Đức Phật
đã vĩnh diễn dừng lại so với kẻ sát nhân vì học đạo
là Angulimala. Chỉ có cái nhìn" nhất thiết pháp Không " mới giải được mọi thứ ma túy, dầu ma túy ấy là thuốc,
hay ma túy ấy là danh lợi, tài năng và sắc đẹp, hay
đó chỉ là một bản ngã mền như gió nhẹ như hương được
dung dưỡng nơi chốn thâm sơn cũng cốc của tứ đại con
người. Chỉ có lời tuyên bố của Đức Phật " 49 năm
ta chưa từng nói một chữ" hay lời nói của một
thiền sư " dầu còn một chữ Như, ta cũng mửa hết
nó ra" mới dẹp trừ mọi lăng xăng loạn tưởng,
mọi mưu toan tác, ý lập ra đủ thứ học thuyết-đều kẹt
trong vòng danh tướng, đều là lý luận vì không thể vượt
ngoài có không, thường đoạn...- để đưa tâm thức con người
đến chỗ " ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt
" , từ đó mới có ra thân khẩu ý để thực sự làm lợi
ích cho người.
5-
Bộ Đại Bát Nhã dành riêng nhiều chương để ca ngợi Bát
Nhã (Bát Nhã là mẹ của chư đại Bồ Tát, hay sanh thành
như chư đại Bồ Tát, một ngày tu hành Bát Nhã thì đầy
đủ cả Phật pháp-Phẩm Thâm Áo). Thật vậy, Bát Nhã gồm
nhiếp tất cả công cuộc độ mình và độ người, là chỗ
an trụ thanh tịnh cho mọi đại nguyện của một vị Bồ Tát.Không
phải là không có lý do khi chúng ta thấy hầu như tất cả
các bậc Long Tượng của đạo Phật đýu xuất sanh từ Bát
Nhã Không tuệ Học: Long Thọ, Milarepa, Huyền Trang, Huệ Năng,
Thái Hư, các Thiền sư TH và VN.. Và chỉ mới đây thôi, cụ
Lê Đình Thám, người có công nhất trong việc chấn hưng PG
vào thế kỷ này, người đã đào tạo ra một thế hệ tăng
tài làm rường cột của giáo hội cho đến ngày nay, đã thay
đõi hẳn cuộc đời mình-từ một ông bác sĩ Đông Dương
thành một Phật tử đem trọn đời mình hiến dâng cho sự
phục hưng của đạo Phật-chỉ vì đọc được 4 câu kệ
của ngài Huệ Năng nói về Tánh Không viết trên vách của
một ngôi chùa ở Ngũ Hành Sơn.
Tánh
Không là sức mạnh, là Quan Âm Lực (Phẩm Phổ Môn), là sự
vô bố úy, ánh sáng của con mắt Trí Huệ và ngọn lửa trong
trái tim Đại Bi của những người con Phật, đã từng và
mãi mãi đi đầu , giương cao ngọn cờ giải thoát trên những
làn sóng phế hưng của lịch sử, khiến cho ngọn đèn chánh
pháp luôn luôn khôngthể nào dập tắt, không thể nào hủy
hoại, không thể nào lu mờ vì bất cứ lý do gì, dục lạc
hay tham sân si vô nghĩa của thế gian, ở trong cũng như ở
ngoài.
Nguyễn
Thế Đăng
(Giác
Ngộ)
Người gửi bài: Tâm Minh
>dy