Đời Thứ Mười Sau Lục Tổ

11/04/201112:00 SA(Xem: 3556)
Đời Thứ Mười Sau Lục Tổ


THIỀN SƯ TRUNG HOA TẬP HAI
H.T Thích Thanh Từ
Tu Viện Chơn Không 1971
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn Hành - PL. 2534 - 1990



ĐỜI THỨ MƯỜI SAU LỤC TỔ

52. Thiền sư Kỉnh Huyền ở núi Đại Dương.
53. Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương.
54. Thiền sư Qui Tỉnh ở viện Quảng Giáo Diệp Huyện.
55. Thiền sư Trí Tung ở Tam Giao viện Thừa Thiên.
56. Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu, Minh Châu.
57. Thiền sư Hiểu Thông ở Động Sơn.
58. Thiền sư Tự Bảo ở Động Sơn.
59. Quốc sư Đức Thiều ở núi Thiên Thai.
60. Thiền sư Huệ Minh ở chùa Báo Ân.
61. Thiền sư Pháp Đăng hiệu Thái Khâm ở viện Thanh Lương.
62. Thiền sư Thanh Tủng ở Linh Ẩn Hàn Châu.


52. THIỀN SƯ KỈNH HUYỀN
Ở núi Đại Dương -(943 - 1027)

Sư mười chín tuổi làm Đại tăng nghe kinh Viên Giác, trong hội này không ai bì kịp Sư. Sau đó, Sư đi du phương, trước đến Lương Sơn chỗ Thiền sư Duyên Quán.

Sư hỏi:- Thế nào là đạo tràng vô tướng?

Lương Sơn chỉ Bồ-tát Quan Âm, nói:- Cái này là do Ngô Xứ Sĩ vẽ.

suy nghĩ để tiến ngữ. Lương Sơn nhanh nhẩu nói:

- Cái này có tướng, cái kia không tướng.

Sư nhân đó tỉnh ngộ, liền lễ bái.

Lương Sơn hỏi:- Sao không nói lấy một câu?

Sư thưa:- Nói thì chẳng từ, sợ e trên giấy mực.

Lương Sơn cười, bảo:- Lời này vẫn còn ghi trên bia.

Sư dâng kệ rằng: 

 Ngã tích sơ cơ học đạo

 Vạn thủy thiên sơn mích kiến tri

 Minh kiêm biện cổ chung nan hội

 Trực thuyết vô tâm chuyển cánh nghi.

 Mong Sư điểm xuất Tần thời cảnh

 Chiếu kiến phụ mẫu vị sanh thì

 Như kim giác liễu hà sở đắc

 Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.

Dịch:

 Con xưa học đạo cứ sai lầm

 Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe

 Luận cổ bàn kim càng khó hội

 Nói thẳng vô tâm lại sanh nghi.

 Nhờ Thầy chỉ rõ thời Tần kính

 Soi thấy cha mẹ lúc chưa sanh

 Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc

 Đêm thả gà đen trong tuyết bay.

Lương Sơn bảo:- Có thể làm hưng thạnh tông Tào Động.

*

Sau, Sư đến trụ tại núi Đại Dương khai đường giáo hóa.

Có vị Tăng hỏi:

- Tòng tâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?

Sư đáp:- Y không có tin tức, đâu cho phù hợp

- Hôm nay tông thừa đã nhờ Thầy chỉ dạy, chưa biết pháp từ ai, nối pháp người nào?

- Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, trước ngọn Trường Khánh một ngôi ngời.

- Thế nào là cảnh Đại Dương? 

- Hạc côi vượn lão kêu hang dội, tùng gầy trúc lạnh tỏa khói xanh.

- Thế nào là người trong cảnh?

- Làm gì? làm gì?

- Thế nào là gia phong Đại Dương?

- Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.

*

thượng đường dạy chúng: 

- Chư Thiền đức! phải rõ câu bình thường vô sanh, câu diệu huyền vô tư, câu thể minh vô tận. Câu thứ nhất thông một đường. Câu thứ hai không chủ khách. Câu thứ ba gồm kèm. Câu thứ nhất nói được là sư tử phùng mang. Câu thứ hai nói được là sư tử nhảy lồng. Câu thứ ba nói được là sư tử ngồi xổm. Buông ra thì khắp giáp mười phương, nắm lại thì một lúc ngồi dứt. Chính khi ấy làm sao thông được tin tức? Nếu chẳng thông được tin tức thì, đến triều dâng Sở vương xem.

Tăng hỏi:- Thế nào là câu bình thường vô sanh?

Sư đáp:- Mây trắng che núi xanh, núi xanh đảnh chẳng bày.

- Thế nào là câu diệu huyền vô tư?

- Bảo điện không người chẳng đứng hầu. Không trồng ngô đồng khỏi phụng đậu.

- Thế nào là câu thể minh vô tận?

- Khi tay chỉ không trời đất chuyển, xoay đường ngựa đá khỏi lồng tơ.

- Thế nào là sư tử phùng mang?

- Trọn không ý ngó lại, đâu chịu rơi bình thường.

- Thế nào là sư tử nhảy lồng?

- Xoay đi quanh lại thảy về cha, đại dụng dấy lên thể chẳng thiếu.

- Thế nào là sư tử ngồi xổm?

- Vượt bẳn máy lại qua, xưa nay không đổi khác.

*

Tăng hỏi:- Thế nào là câu Đại Dương thấu pháp thân?

Sư đáp:

- Đáy biển đại dương bụi hồng dấy, trên đảnh Tu-di nước chảy ngang.

*

tinh thần kỳ lạ, từ bé đến lớn chỉ ngày ăn một bữa; ở tại núi Đại Dương năm mươi (50) năm mà chân không ra khỏi ranh giới, hông không dính chiếu.

Nhà Tống niên hiệu Thiên Thành năm thứ năm (1027), ngày mười sáu tháng bảy, Sư từ chúng. Ba ngày sau, Sư viết bài kệ gởi Thị lang Vương Thự, lược rằng:

 Ngô niên bát thập ngũ

 Tu nhân chí ư thử

 Vấn ngã qui hà xứ

 Đảnh tướng chung nan đổ.

 Ta tuổi tám mươi lăm

 Tu nhân đến thế ấy

 Hỏi ta đi về đâu

 Tướng đảnh trọn khó thấy.

 Sư dừng bút liền tịch.

*


53. THIỀN SƯ THIỆN CHIÊU
Ở Phần Dương - (947 - 1024)

Sư họ Du quê ở Thái Nguyên. Thuở bé, Sư bẩm tánh thâm trầm, ít chịu trang sức, có trí tuệ lớn, tất cả văn tự không do thầy dạy mà tự thông hiểu. Năm mười bốn tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời, sống trong cảnh cô quả, Sư phát tâm xuất gia. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư quảy gói du phương. Đến nơi nào, Sư dừng lại thời gian ngắn, không thích ngắm sơn ngoạn cảnh, chỉ vì mở sáng mắt đạo mà thôi. Sư đã tham vấn qua bảy mươi mốt vị tôn đức, rốt sau mới đến Thủ Sơn Thiền sư Niệm. 

Thủ Sơn lên tòa. Sư ra hỏi:- Bá Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?

Thủ Sơn đáp:- Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.

Sư hỏi:- Ý Thầy thế nào?

Thủ Sơn đáp:- Chỗ tượng vương đi bặt dấu chồn.

Qua câu nói này, Sư đại ngộ liền đảnh lễ, rồi thưa:

- Muôn xưa đầm biếc nguyệt trong không, ba phen gạn lọc mới được biết (vạn cổ bích đàm không giới nguyệt, tái tam lao lộc thủy ưng tri). Sư dừng lại đây hầu hạ thời gian rất lâu.

*

Sau, Sư từ tạ Thủ Sơn ra đi, đến khoảng Hành Tương Thái thú Trường Sa là Trương Mậu Tông dùng đủ cách cố thỉnh được Sư ở lại. Song, Sư vẫn một bề từ chối, ban đêm lén trốn đi. Đến Tương Miện, Thái thú Lưu Công Xướng tám phen thỉnh trụ trì Động Sơn, Sư lặng lẽ chẳng đáp.

Niên hiệu Thuần Hóa năm thứ tư (993) Thủ Sơn đã viên tịch, Tăng và cư sĩ ở Tây Hà họp lại hơn ngàn người đồng tâm cử Sa-môn Khế Thông đến thỉnh Sư trụ trì viện Thái Tử chùa Thái Bình ở Phần Dương. Sư đóng cửa nằm yên không tiếp, Khế Thông xô cửa vào thưa:

- Phật pháp là việc lớn, lui ở yên một chỗ là giữ tiết nhỏ. Hòa thượng Phong Huyệt sợ ứng với lời sấm ký lo tông chỉ diệt mất, may còn có Tiên sư nối nắm. Nay Tiên sư đã tịch, Thầy là người có khả năng gánh vác đại pháp của Như Lai, mà cam nằm ngủ yên sao? Sư hoảng sợ, đứng dậy nắm tay Khế Thông bảo:

- Nếu không phải Thầy, tôi làm gì được nghe lời này. Chỉnh trang hành lý, tôi cùng đi vậy. 

Đến nơi, Sư ở yên đến ba mươi năm không ra khỏi cổng ngoài. Thời nhân kính mộ không dám gọi tên, đồng kêu là Phần Dương.

*

thượng đường:

- Dưới cửa Phần Dương có con sư tử Tây Hà ngồi xổm tại cửa. Có người đến nó liền cắn chết. Vậy có phương tiện gì vào được cửa Phần Dương, thấy được người Phần Dương. Nếu thấy được người Phần Dương kham cùng Phật, Tổ làm thầy, chẳng thấy được người Phần Dương trọn là kẻ chết đứng. Hiện nay có người vào được chăng? Cần vui vẻ vào, khỏi phải cô phụ bình sanh. Nếu không phải là khách Long Môn, tối kỵ sẽ bị điểm trán. Cái gì là khách Long Môn một loạt chỉ ra.

Sư đưa gậy lên, nói: lui mau! lui mau! trân trọng.

*

Tăng hỏi:- Thế nào là câu tiếp sơ cơ?

Sư đáp:- Ngươi là Tăng đi hành khước.

- Thế nào là câu biện nạp tăng (Thiền sinh)?

- Phương Tây mặt trời mọc giờ mẹo.

- Thế nào là câu chánh lệnh hành?

- Ngàn dặm đem đến trình mặt xưa.

- Thế nào là câu lập càn khôn?

- Bắc câu-lô châu hạt gạo dài, người ăn không sân không hỉ.

Sư lại nói:

- Chỉ đem bốn chuyển ngữ này nghiệm nạp tăng (Thiền sinh) trong thiên hạ, vừa thấy ngươi đi đến liền nghiệm được rồi.

*

thượng đường:

- Phàm một câu nói phải đủ ba huyền môn, một huyền môn phải đủ ba yếu. Cái gì là câu ba huyền ba yếu? Khéo hội là tốt, mỗi người tự suy nghĩ, lại được ổn đáng hay chưa? Cổ đức xưa đi hành khước nghe một nhân duyên mà chưa liễu ngộ, thì ăn uống không biết ngon, nằm ngủ chẳng yên, gấp rút giải quyết chớ cho là việc nhỏ. Vì vậyĐại Giác lão nhân vì một đại sự nhân duyên xuất hiện ra đời. Xét ra các ngài từ trước đến nay đi hành khước, chẳng phải vì du sơn ngoạn thủy, xem những vẻ đẹp của châu phủ, thọ dụng manh áo chén cơm, đều vì tâm thánh chưa thông. Do đó, mà ruổi rong hành khước, quyết trạch chỗ sâu kín truyền bá phô trương, rộng hỏi các bậc tiên tri (đã liễu ngộ) gần gũi những vị cao đức. Bởi vì muốn tiếp nối ngọn đèn Phật tâm, kế thừa chư Tổ làm rạng rỡ hạt giống thánh để tiếp dẫn kẻ hậu la, tự lợilợi tha vậy.

Hiện nay có người thương lượng chăng? Có thì bước ra cùng toàn thể thương lượng.

Có vị Tăng ra hỏi:- Thế nào là chỗ gắng sức của con?

Sư đáp:- Gia Châu đánh voi lớn.

- Thế nào là chỗ chuyển thân của con?

- Thiểm phủ tấm trâu sắt.

- Thế nào là chỗ thân thiết của con?

- Tây Hà đùa sư tử.

Sư lại nói:

- Nếu người hội được ba câu này là đã biện được ba huyền, lại còn ba yếu ngữ cần phải tiến lấy, không thể rảnh rang, cùng đại chúng tụng ra:

 Tam huyền tam yếu sự nan phân

 Đắc ý vong ngôn đạo dị thân

 Nhất cú minh minh cai vạn tượng

 Trùng dương cửu nhật cúc hoa tân.

Dịch:

 Ba huyền ba yếu việc khó phân

 Được ý quên lời đạo dễ gần

 Một câu rành rõ gồm vạn tượng

 Trùng dương ngày chín cúc hoa tươi.

*

Vì ở Tịnh Phần quá lạnh nên Sư cho bãi giờ tham vấn ban đêm. Có vị Tăng lạ chống gậy đi đến bảo Sư rằng: ?Trong hội có sáu vị Đại sĩ, tại sao không nói pháp?? Nói xong Tăng ấy đi mất, Sư mật ký một bài tụng:

 Hồ tăng kim tích quang

 Vị pháp đáo Phần Dương

 Lục nhân thành đại khí

 Khuyến thỉnh vị phu dương.

Dịch:

 Tăng hồ cầm gậy vàng

 Vì pháp đến Phần Dương

 Sáu người thành pháp khí

 Nhắc thỉnh vì tuyên dương.

*

thượng đường:

- Phàm một câu nói phải đủ ba huyền môn, mỗi huyền môn phải đủ ba yếu. Có chiếu có dụng, hoặc trước chiếu sau dụng, hoặc trước dụng sau chiếu, hoặc chiếu dụng đồng thời hoặc chiếu dụng chẳng đồng thời. Trước chiếu sau dụng, vẫn cần cùng ngươi thương lượng. Trước dụng sau chiếu, ngươi phải là cá nhân mới được. Chiếu dụng đồng thời ngươi làm sao ngang nhau? Chiếu dụng chẳng đồng thời, ngươi làm sao dồn lại?

*

Tăng hỏi:- Thế nào là nguồn đại đạo?

Sư đáp:- Đào đất tìm trời.

- Sao được như vậy?

- Chẳng biết u huyền.

- Thế nào là khách trong khách?

- Chấp tay trước am hỏi Thế Tôn

- Thế nào là khách trong chủ?

- Đối diện không bạn bè.

- Thế nào chủ trong khách?

- Hàng mây ngang trên biển, tuốt kiếm quậy Long Môn.

- Thế nào là chủ trong chủ?

- Ba đầu sáu tay giở trời đất, nổi giận Na Tra đập chuông vua.

*

thượng đường:

 - Phần Dương có ba quyết,

 Nạp tăng khó biện biệt.

 Lại nghĩ hỏi thế nào?

 Cây gậy trên đầu bổ.

Khi ấy có vị Tăng ra hỏi:- Thế nào là ba quyết?

Sư liền đập. Tăng ấy lễ bái.

Sư bảo:- Cùng ngươi một lúc tụng ra: 

 Đệ nhất quyết:

 Tiếp dẫnthời tiết,

 Xảo ngôn bất năng thuyên

 Vân đính thanh thiên nguyệt.

 Đệ nhị quyết:

 Thơ quang biện hiền triết

 Vấn đáp lợi sanh tâm

 Bạt khước nhãn trung tiết.

 Đệ tam quyết:

 Tây quốc Hồ nhân thuyết

 Tế thủy quá Tân La

 Bắc địa dụng tấn thiết.

Dịch 

 Thứ nhất quyết

 Tiếp dẫn không thời tiết,

 Lời khéo không thể bày

 Mây che trời trong nguyệt.

 Thứ hai quyết:

 Phóng quang biện hiền triết

 Hỏi đáp tâm lợi sanh

 Nhổ ra đinh trong mắt.

 Thứ ba quyết:

 Cõi tây người Hồ thuyết

 Sông Tế sang Triều Tiên

 Đất Bắc dùng sắt thép.

Sư lại hỏi:

- Lại có người hội chăng? Hội được hãy ra báo tin tức, cần biết xa gần. Chớ ghi ngôn ghi ngữ thế ấy, thì hiện đời có gì lợi ích. Đứng lâu, trân trọng.

*

Tăng hỏi:

- Người chân chánh tu hành chẳng thấy lỗi thế gian, chưa biết chẳng thấy lỗi gì? 

Sư đáp:

- Tuyết chôn đêm trăng sâu ba thước, trên đất thuyền đi muôn dặm trình.

- Hòa thượng là tâm hạnh gì?

- Lại là tâm hạnh của ngươi.

- Thế nào là gia phong của Hòa thượng?

- Ba huyền mở đạo chánh, một câu phá tà tông.

- Thế nào là kế sống của Hòa thượng?

- Bình thường tay chẳng nắm, cúng dường Tăng ngũ hồ.

- Chưa biết ăn cái gì?

- Cơm thiên hòa đà chưa thịnh soạn. Một vị canh ngon no liền thôi.

thượng đường:

- Người thuyết pháp phải đủ mười trí Đồng chân. Nếu chẳng đủ mười trí đồng chân thì tà chánh chẳng rành, Tăng tục khó phân, không thể vì trời người làm mắt sáng để quyết đoán phải quấy. Như chim bay trong hư không mà gãy cánh, như bắn tên mà dây cung đứt. Vì dây cung đứt nên bắn không trúng đích. Vì cánh gãy nên chim không thể bay trong không. Dây cung chắc, đôi cánh cứng thì đích và hư không đều đạt được. Thế nào là mười trí đồng chân, sẽ cùng các Thượng tọa nêu ra: một đồng nhất chất, hai đồng đại sự, ba tổng đồng tham, bốn đồng chân trí, năm đồng biến phổ, sáu đồng cụ túc, bảy đồng đắc thất, tám đồng sanh sát, chín đồng âm hẩu, mười đồng đắc nhập.

Cùng người nào đồng đắc nhập? Cùng ai đồng âm hẩu? Thế nào là đồng sanh sát? Những vật gì đồng đắc thất? Cái gì đồng cụ túc? Là cái gì đồng biến phổ? Người nào đồng chân trí? Ai hay tổng đồng tham? Cái gì đồng đại sự? Vật gì đồng nhất chất? Có người nào điểm ra được chăng? Điểm ra được thì chẳng tiếc lòng từ bi. Điểm ra chẳng được thì chưa có con mắt của kẻ tham học. Cần phải biện lấy. Cốt biết thị phi, mặt mày thấy còn chẳng được. Đứng lâu, trân trọng.

*

Phủ Long-Đức Y Lý Hầu cùng Sư có tình quen xưa, thỉnh Sư trụ trì chùa Thừa Thiên, sai sứ đi ba lần mà Sư vẫn không đến. Sứ giả bị phạt. Y Lý Hầu lại sai sứ đi một phen nữa. Sứ giả đến thưa: ?Quyết thỉnh Thầy đồng đi, nếu Thầy không đi tôi liều chết mà thôi.? Sư cười bảo: ?Bởi nghiệp già bệnh không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao quyết đồng?? Sứ thưa: ?Thầy chịu thì trước sau, tùy lựa chọn.?

Sư bảo chúng sửa soạn hành lý xong, Sư gọi chúng lại bảo: ?Lão tăng đi có người nào theo được?? Có vị Tăng ra thưa: ?Con theo được.? Sư hỏi: ?Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?? Tăng thưa: ?Năm mươi dặm.? Sư bảo: ?Ngươi theo ta chẳng được.? Lại có vị ra thưa: ?Con theo được.? Sư hỏi: ?Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?? Tăng thưa: ?Bảy mươi dặm.? Sư bảo: ?Ngươi theo ta cũng chẳng được.? Thị giả ra thưa: ?Con theo được, chỉ Hòa thượng đến đâu thì con đến đó.? Sư bảo: ?Ngươi theo Lão tăng được.? 

Nói xong, Sư bảo sứ giả: ?Ta đi trước nghe!? Sư dừng lại rồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo, Sư thọ bảy mươi tám tuổi.

*


54. THIỀN SƯ QUI TỈNH
Ở viện Quảng Giáo Diệp Huyện

Sư họ Cổ quê ở Ký Châu. Khi sắp thành niên, Sư đến viện Bảo Thọ ở Dịch Châu xuất giathọ giới cụ túc. Đi du phương, Sư đến tham vấn Thủ Sơn.

Một hôm, Thủ Sơn đưa cái lược tre lên hỏi:

- Gọi là lược tre thì xúc chạm, chẳng gọi lược tre thì trái mất, gọi là cái gì?

Sư chụp cái lược, ném xuống đất, nói:- Là cái gì?

Thủ Sơn bảo:- Mù.

Sư nhân lời này hoát nhiên đốn ngộ.

*

khai đường, có vị Tăng hỏi:

- Tổ Tổ tương truyền truyền Tổ ấn, nay Thầy được pháp nối người nào?

Sư đáp:- Cõi trong thiên tử, bờ ngoài tướng quân.

- Như biển một giọt nhờ Thầy chỉ, hướng thượng tông thừa việc thế nào?

- Trước điện Cao Tổ dằn cơn giận, nên biết muôn dặm bặt khói mù.

*

thượng đường:

- Tông sư huyết mạch hoặc phàm hoặc thánh, Long Thọ Mã Minh, thiên đường địa ngục, vạc dầu sôi lò than đỏ, ngưu đầu ngục tốt, sum la vạn tượng, nhật nguyệt tinh thần, phương khác cõi này, hữu tình vô tình.

Sư lấy tay vẽ một lằn, nói: Đều vào tông này. Trong tông này cũng hay giết người, cũng hay tha người. Giết người phải được đao giết người; tha người phải được câu tha người. Cái gì là đao giết người, câu tha người? Ai nói được bước ra đối chúng nói xem? Nếu nói không được là cô phụ bình sanh. Trân trọng.

*

Sư cùng một vị Tăng đi đường, nhân thấy thây người chết, Tăng hỏi: ?Xe ở đây mà trâu ở đâu?? Sư đáp: ?Ngươi đã bước chân đi.? Tăng thưa: ?Trâu cũng không mà đi cái gì?? Sư bảo: ?Ngươi đã không trâu, tại sao đạp nát gót chân?? Tăng thưa: ?Thế ấy là chính từ Diệp Huyện đến.? Sư bảo: ?Chớ chạy loạn.?

*

thượng đường giây lâu nói:

- Thiền sinh hành khước cần phải để tâm, tham học phải đủ con mắt tham học, kiến địa phải được câu kiến địa, mới có phần tương thân, không bị các cảnh làm lầm, cũng chẳng rơi vào đường ác. Cứu kính xong xuôi thế nào? Có khi câu đến mà ý chẳng đến, quên duyên cảnh trước phân biệt việc bóng dáng. Có khi ý đến mà câu chẳng đến, như mù rờ voi mỗi người có lối nói khác. Có ý câu đều đến, đập nát cõi hư không ánh sáng soi mười phương. Có khi ý câu đều chẳng đến người mù chạy ngang bỗng nhiên rơi xuống hầm.

*

Có vị Tăng thưa hỏi về cây bá của Triệu Châu. Sư bảo: ?Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?? Tăng thưa: ?Lời nói của Hòa thượng quí trọng, con đâu dám chẳng tin.? Sư bảo: ?Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?? Vị Tăng ấy hoát nhiên, bất giác thốt ra tiếng: ?Chao!? Sư hỏi: ?Ngươi thấy đạo lý gì?? Vị Tăng làm bài tụng đáp:

 Thiềm đầu thủy đích

 Phân minh lịch lịch 

 Đả phá càn khôn

 Đương hạ tâm tức.
 
 

 Giọt mưa trước thềm

 Rành rẽ rõ ràng

 Đập nát càn khôn

 Liền đó tâm dứt.

 Sư vui vẻ.

*

Sư bệnh sắp tịch, vị Tăng khám bệnh đến, hỏi: ?Hòa thượng tứ đại vốn không, bệnh từ chỗ nào đến?? Sư đáp: ?Từ chỗ Xà-lê hỏi đến.? Tăng thưa: ?Khi con chẳng hỏi thì sao?? Sư đáp: ?Xuôi tay nằm dài trong hư không.? Tăng thốt: ?Chao!? Sư liền tịch.

*


55. THIỀN SƯ TRÍ TUNG
Ở Tam Giao viện Thừa Thiên cũng gọi Đường Minh

Sư quê ở Phạm Dương, đến tham vấn Thủ Sơn.

Sư hỏi:- Thế nào là đại ý Phật pháp?

Thủ Sơn đáp:- Bên thành Sở Vương sông Nhữ chảy về đông.

Sư nhân đây có tỉnh, khế hợp ý Phật, bèn làm bài kệ tam huyền:

 Tu dụng trực tu dụng

 Tâm ý mạc định động

 Tam tuế sư tử hẩu

 Thập phương một hồ chủng.
 
 

 Cần dùng thẳng cần dùng 

 Tâm ý chớ định động,

 Ba tuổi sư tử rống 

 Mười phương tuyệt giống chồn.

*

 Ngã hữu chân như tánh

 Như đồng mạc lý ẩn

 Đả phá lục môn quan

 Hiển xuất Tỳ-lô ấn.
 
 

 Ta có tánh chân như

 In tuồng ẩn trong màng,

 Đập bể cửa lục môn

 Ấn Tỳ-lô bày hiện.

*

 Chân cốt kim cang thể khả khoa

 Lục trần nhất phất vĩnh vô già

 Khoách lạc thế giới không vi thể

 Thể thượng vô vi chân đáo gia.
 
 

 Thân thể kim cang có thể bày

 Sáu trần một quét mãi không che,

 Rỗng rang thế giới không làm thể

 Trên thể vô vi thật đến nhà.

Thủ Sơn nghe xong, mời uống trà, hỏi:

- Ba bài tụng này phải ngươi làm ra chăng?

Sư thưa:- Phải.

- Hoặc khi có người bảo ngươi hiện ba mươi hai tướng thì sao?

- Con không phải là hồ tinh.

- Tiếc lấy lông mày. 

- Hòa thượng rụng nhiều ít?

Thủ Sơn cầm cây lược tre đập trên đầu bảo:

- Kẻ này về sau làm loạn đây này.

*

Sư từ tạ Thủ Sơn, Thủ Sơn lấy cây gậy trao cho Sư. Sư nhận lấy, làm bài kệ:

 Hòa thượng trú trượng

 Chiếu phá long tượng,

 Lâm Tế gia phong

 Lạc tại ngã chưởng.
 
 

 Cây gậy Hòa thượng

 Soi phá long tượng,

 Gia phong Lâm Tế

 Rơi trong tay con.

Thủ Sơn bảo:- Chớ làm liên lụy nhau.

Sư đánh Thủ Sơn một tọa cụ.

Thủ Sơn bảo:- Quả nhiên liên lụy.

Sư thưa:- Hôm nay lôi được ông già.

Thủ Sơn nói:- Lại in tuồng được tiện nghi, lại in tuồng mất tiện nghi.

*

Sau, Sư trụ trì viện Thừa Thiên, khai đường dạy chúng:

- Văn-thù trượng kiếm, ngũ đài hoành hành. Đường Minh một lối, chặn đứt yêu ma. Chư Phật ba đời, chưa xuất giáo thừa. Đáy lưới cá lội, long môn khó qua. Thả câu bốn biển, chỉ câu rồng dữ. Cách ngoài nói huyền, vì cầu tri thức. Nếu là nêu cao tông chỉ, cần phải đập nát Tu-di. Nếu là nói Phật nói Tổ, nước biển liền phải khô kiệt. Khi xoay bảo kiếm hào quang muôn dặm, vạch cho các ngươi một con đường thông suốt nói thoại. Bóp nghẹt cổ họng, các ngươi chỗ nào ra hơi.

*

Tăng hỏi:

- Kẻ độn căn ưa pháp nhỏ, không tự tin làm Phật, sau khi làm Phật thế nào?

Sư đáp:- Trong nước bắt kỳ lân.

- Thế ấy ắt lên cao tòa?

- Cỡi trâu lên trời tam thập tam.

*

thượng đường:

- Ấm mát lạnh nóng, mặc áo ăn cơm tự chẳng kém thiếu, chạy lăng xăng tìm cái gì? Chỉ vì các ngươi chẳng chịu thừa đương (đảm nhận). Hiện nay lại có người thừa đương chăng? Có thì chẳng được cô phụ sơn hà đại địa. Trân trọng!

*

Tăng hỏi:- Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh?

Sư đáp:- Về nhà có đường không người đến.

- Thế nào là đọat cảnh chẳng đoạt nhân?

- Ngầm truyền lệnh thiên tử, bộ hành đi trăm trình.

- Thế nào nhân cảnh cả hai đều đoạt?

- Ễnh ương không đầu chân chỉ trời.

- Thế nào nhân cảnh cả hai đều chẳng đoạt?

- Cạnh nam Tấn từ (đền thờ nhà Tấn) bờ liễu dài.

*

Trịnh Công Bộ vào viện thấy pháp tòa liền hỏi: ?Đây là tòa của người nào?? Sư đáp: ?Của Lão tăng.? Công Bộ nói: ?Nhà mình đâu dám.? Sư bảo: ?Công Bộ chớ ép người lành làm giặc.? Công Bộ nói: ?Cái thật.? Sư bảo: ?Chả dám.? Sư bèn nắm tay dẫn vào phương trượng. Công Bộ nói: ?Thất này từng hiện tám pháp chưa từng có khó được, Trưởng lão lại có hay chưa?? Sư lấy tay áo phất qua mặt Công Bộ. Công Bộ nói: ?Thế ấy thì ngày nay được mát mẻ.? Sư bảo: ?Hãy cùng người sau làm mô phạm.?

Uống trà nói chuyện, Công Bộ nói: ?Thiền sư Thiện Chiêu ở Phần Dương thích xem bài kệ của tôi lắm.? Sư bảo: ?Xin cho xem.? Công Bộ đọc:

 Huỳnh chỉ hưu giá nhãn

 Thanh vân tự hữu âm?

 Mạc tương nhàn học giải

 Mai một Tổ sư tâm.
 
 

 Giấy vàng thôi che mắt

 Mây xanh tự mát rồi

 Chớ đem trò học hiểu

 Chôn mất tâm Tổ sư.

Sư bảo: ?Công Bộ xâu kết được phương tiện kia.? Công Bộ nói: ?Đây là giặc.? Sư bảo: ?Lại chẳng tái khám.?

*

thượng đường:- Nhắc lại bài kệ của Pháp Nhãn:

 Kiến sơn bất thị sơn

 Kiến thủy hà tằng biệt

 Sơn hà dữ đại địa

 Đô thị nhất nguyệt luân.
 
 

 Thấy núi chẳng phải núi

 Xem nước nào khác gì

 Núi sông cùng cõi đất

 Trọn là một vầng trăng.

Cả thảy Pháp Nhãn chưa thấy khỏi nhà Niết-bàn. Tam Giao (chỉ Sư) thì chẳng vậy, thấy núi sông cùng cõi đất, chùy đao mỗi tự dùng. Trân trọng.

*


56. THIỀN SƯ TRÙNG HIỂN
Tuyết Đậu Minh Châu - (985 - 1058)

Sư họ Lý ở phủ Toại Ninh theo Thượng nhân Nhơn Săn ở viện Phổ An xuất gia. Sau khi thọ giới cụ túc, Sư dạo qua các nơi giảng kinh luận, nghiên cứu giáo lý tột cùng. Sư thưa hỏi lanh lẹ, biện luận thông suốt, các nơi đều nhận là pháp khí (món đồ chứa đạo pháp). Bước sang tham vấn Thiền tông, ban đầu Sư đến Trí Môn chùa Thiền sư Quang Tộ trụ trì.

Sư hỏi Trí Môn: ?Chẳng khởi một niệm, tại sao có lỗi?? Trí Môn gọi Sư lại gần. Trí Môn cầm phất tử nhằm vào miệng Sư đánh. Sư toan mở miệng, Trí Môn lại đánh. Sư hoát nhiên khai ngộ. Sư ở lại đây năm năm, nhận tột chỗ u huyền, mới đi tham vấn khắp nơi.

*

Sư đến Thiền sư Thông ở Động Sơn, Thông hỏi: ?Con trâu của Qui Sơn là ý thế nào?? Sư đáp: ?Làm tiêu bảng cho người sau.? Thông toan nói, Sư lấy tọa cụ phủi một cái rồi đi. Thông gọi: ?Hãy đến đây Thượng tọa!? Sư nói: ?Chưa đến nhà tham thiền.?

*

Đến Đại Long, Sư làm tri khách. Một hôm, Sư hỏi: ?Nói đó nín đó chẳng phải, chẳng nói chẳng nín lại sai, thảy phải thảy chẳng phải, nắm lấy đại dụng hiện tiền thời nhân biết có, chưa biết Đại Long thế nào?? Đại Long đáp: ?Ngươi có kiến giải như thế.? Sư nói: ?Ông già này ngói bể băng tiêu.? Đại Long nói: ?Tha ngươi ba mươi gậy.? Sư lễ bái, trở lại chỗ chúng. Đại Long lại gọi: ?Tăng vừa hỏi thoại đến đây!? Sư bèn bước ra. Đại Long hỏi: ?Lão tăng tại sao lại ngói bể băng tiêu?? Sư thưa: ?Càng thấy bại khuyết.? Đại Long đổi sắc, nói: ?Không chịu được! không chịu được!?

*

lúc đầu trụ tại Thúy Phong, sau dời về Tuyết Đậu. Ngày khai đường, Sư đến trước pháp tòa nhìn xem đại chúng nói:

- Nếu luận bổn phận thấy nhau, chẳng cần lên pháp tòa cao.

Sư bèn lấy tay vẽ một lằn, nói:

- Quí vị nhìn theo ngón tay Sơn tăng, vô lượng cõi nước chư Phật đồng thời hiện tiền, mỗi vị nên nhìn xem cho kỹ nếu là bờ mé chưa biết, chẳng khỏi mắc lầy dính nước.

Sư bèn lên tòa. Thượng thủ bạch chùy xong. Có vị Tăng mới bước ra, Sư nắm đứng lại, bảo:

- Chánh pháp nhãn tạng của Như Lai ủy thác tại ngày hôm nay. Buông đi thì ngói gạch sanh quang, nắm đứng thì chân kim mất sắc. Quyền bính ở trong tay, giết tha tại lúc này. Ai có tạo tác thì cùng nhau chứng cứ?

Có vị Tăng bước ra hỏi:

- Xa lìa Tổ tịch Thúy Phong, đến đạo tràng Tuyết Đậu, chưa biết là một là hai?

Sư đáp:- Ngựa không ngàn dặm dối đuổi gió.

- Thế ấy mây tan nhà trắng?

- Đầu rồng đuôi rắn.

Vị Tăng khác hỏi:

- Đức Sơn, Lâm Tế gậy hét đã bày, Hòa thượng vì người thế nào?

Sư đáp:- Nhảy ra một nước (nước cờ). 

Tăng suy nghĩ. Sư liền hét. Tăng thưa: 

- Chưa biết chỉ thế ấy hay riêng còn có?

Sư đáp:- Bắn cọp giả, luống nhọc mỏi cánh.

- Thổi ốc pháp đánh trống pháp quan quân đến hội, thế nào là phải?

- Gió mát đến chưa thôi.

- Thế ấy ắt được ngộ nơi Thầy?

- Một lời đã nói bốn ngựa khó theo.

Tăng lễ bái. Sư bảo: ?Nhảy qua một nước (nước cờ).?

Sư xem khắp đại chúng bảo:

- Trời người khắp nhóm họp, phát minh cái việc gì? Đâu thể lầm lẫn phân chủ khách đuổi theo vấn đáp là đúng tông thừa. Môn phong quảng đại oai đức tự tại, sáng vượt xưa nay, nắm đứng càn khôn, ngàn thánh chỉ nơi ?tự biết?, năm thừa đâu thể kiến lập. Sở dĩ trước lời ngộ ý chỉ vẫn lầm mối ngoái xem, qua lời nói ngộ được tông môn còn bị lầm hiện bày của tình thức.

Quí vị cần biết tướng chân thật chăng? Chỉ là về trước không đeo dính, về sau bặt thân mình, tự nhiên tường quang hiện tiền, mỗi mỗi vách đứng ngàn nhẫn (một nhẫn hai thước tây). Lại biện minh được hay không? Chưa biện thì biện lấy, chưa minh thì minh lấy. Đã biện minh được, hay cắt đứt dòng sanh tử, đồng ở ngôi Phật Tổ, diệu viên siêu ngộ chính ở khi này, kham đền cái ơn chẳng đền, dùng giúp giáo hóa pháp vô vi.

Tăng hỏi:- Thế nào là cổi áo ngự bào mặc y nhơ xấu?

Sư đáp:- Duỗi tay chẳng duỗi tay.

- Xin Thầy phương tiện

- Mắt trái móc gân, mắt mặt bươi thịt.

*

thượng đường:

- Đại chúng! Trước cùng xướng đáp, cũng cần cái ấy mới được. Nếu chưa có con mắt chạy trên nước, đi trên đao, chẳng nhọc gì phải đề ra. Do đó nên nói, như đống lửa lớn, gần chạm thấy thì đốt cháy cửa mặt, cũng như cầm cây bảo kiếm Thái A thủ thế, đi ngang qua trước liền tan thân mất mạng.

Sư lại nói: Thủ thế Thái A nhà Tổ lạnh, ngàn dặm cần nên dứt vạn đoan, chớ chờ điện lạnh ngang đầu xẹt.

Sư lại bảo: Xem! Xem! Liền xuống tòa.

*

thượng đường, có vị Tăng hỏi:

- Thế nào là Duy-ma một phen làm thinh?

Sư đáp:- Hàn Sơn hỏi Thập Đắc.

- Thế ấy là vào cửa bất nhị?

Sư: Hư!

Sư lại bảo:

 Duy-ma đại sĩ khứ hà tùng

 Thiên cổ linh nhân vọng mạc cùng

 Bất nhị pháp môn hưu cánh vấn

 Dạ lai minh nguyệt thướng cô phong.

Dịch:

 Đại sĩ Duy-ma đi không nơi

 Ngàn xưa lắm kẻ trông vời vời,

 Pháp môn bất nhị thôi chớ hỏi

 Đêm về trăng sáng trên đảnh đồi.

 Sư thượng đường nói:

 Xuân sơn điệp loạn thanh

 Xuân thủy dạng hư bích

 Liêu liêu thiên địa gian

 Độc lập vọng hà cực.
 
 

 Núi xuân chồng chất xanh

 Nước xanh lóng lánh biếc

 Thênh thang bầu trời không

 Đứng riêng trông nào tột.

*

thượng đường:

- Chỗ ruộng đất ẩn mật Phật Tổ còn chẳng dám gần, vì sao giở chân chẳng lên? Thần thông du hí quỉ thần không thể lường, vì sao để chân xuống chẳng được? Thẳng cho mười chữ tung hoành sáng đánh ba ngàn chiều đánh tám trăm.

*

Thị giả của Bảo Hoa đến tham vấn Sư. Sư hỏi Bảo Hoa có bao nhiêu chúng. Thị giả thưa: Chẳng nhọc Hòa thượng như thế. Sư bảo: Ta hỏi rành rẽ, ngươi nhảy chạy làm gì? Thị giả thưa: Cũng chẳng được bỏ qua. Sư bảo: Thật là sư tử con. Uống trà xong, Sư nắm đứng thị giả, hỏi: Vừa rồi tại sao vô lễ? Thị giả suy nghĩ, Sư cho một tát tai, bảo: Đi về thuật rõ lại cho Bảo Hoa.

*

Sư làm bài tụng Đạo Quí Như Ngu:

 Vũ quá hàn vân hiểu bán khai

 Sổ phong như họa bích thôi ngôi

 Không Sanh bất giải nham trung tọa

 Mặc đắc thiên hoa động địa lai.

Dịch:

 Mưa qua mây lạnh trời rạng đông

 Dãy núi sắp bày cao ngất xanh

 Không Sanh chẳng hiểu ngồi trong núi 

 Lặng lẽ bao giờ thiên hoa rơi.

[Không Sanh: chỉ cho ngài Tu-bồ-đề.}
 
 

*

Lại có bài tụng Danh Thật Vô Đương:

 Ngọc chuyển châu hồi Phật Tổ ngôn

 Tinh thông du thị ô tâm điền

 Lão Lư chỉ giải trường xuân mễ

 Hà đắc phong lưu vạn cổ truyền? 

Dịch:

 Chuyển ngọc xoay châu Phật Tổ bàn

 Tinh thông vốn lại nhớp tâm điền

 Ông Lư chỉ giỏi nghề giã gạo

 Sao được danh truyền mãi muôn đời?

[Ông Lư: Đức Lục Tổ khi mới đến Huỳnh Mai vẫn còn là người cư sĩ, nên gọi Ngài là Lư hành giả. Ngài chuyên giã gạo đến ngộ đạo. Vì họ thế tục của Ngài là Lư nên gọi là Ông Lư.]

Một hôm Sư dạo núi nhìn xem bốn phía, bảo thị giả: ngày nào lại đến ở đây. 

Thị giả cầu xin kệ di chúc. Sư bảo: bình sanh chỉ lo nói quá nhiều.

Hôm sau, Sư đem giày dép y hậu chia cho đồ chúng, nói: ngày bảy tháng bảy lại thấy nhau.

Đúng ngày mùng bảy tháng bảy, Sư tắm gội xong, nằm đầu xây về phía bắc an nhiên thị tịch. Nhằm năm Hoàng Hựu thứ tư (1058) nhà Tống, Sư thọ bảy mươi ba tuổi, năm mươi tuổi hạ. Vua sắc thụyMinh Giác Đại sư.


57. THIỀN SƯ HIỂU THÔNG
Động Sơn - (? - 1030)

Sư họ Đỗ quê ở Thiều Châu. Trong thời gian du phương, Sư ở Vân Cư làm hương đăng, thấy Tăng nói: đại thánh ở Thất Châu gần đây xuất hiệnDương Châu. Có vị Tăng lập câu hỏi đem hỏi Sư: Đã là đại thánh ở Thất Châu, vì sao lại đến Dương Châu xuất hiện? Sư đáp: Quân tử mến của lấy đó làm đạo.
Sau vị Tăng ấy thuật lại cho Am chủ Tường ở Liên Hoa Phong. Am chủ kinh hoảng nói: Con cháu Vân Môn vẫn còn. Đến nửa đêm, ông hướng về Vân Cư lễ bái.
Sư về trụ tại Động Sơn, thượng đường, có vị Tăng hỏi:
- Đạt-ma chưa truyền ấn tâm địa, Thích-ca chưa mở hạt châu trong búi tóc, khi ấy nếu hỏi ý Tổ tây sang, lại có ý Tổ tây sang chăng?
Sư đáp:
- Ngày hai tháng sáu mưa lâm râm, rộng trùm khắp cả tâm bá tánh.
- Thế ấy, mây tan nhà nhà trăng, xuân đến chốn chốn hoa.
- Gót chân dẫm đến kim cang, mé nước là bao nhiêu?
Tăng không đáp được, Sư bảo:
- Tổ sư tây sang đặc biệt đề xướng việc này tự vì Thượng tọa chẳng tiến. Sở dĩ, từ cửa mà vào chẳng là gia trân, nhận bóng quên đầu đâu chẳng lầm lớn. Đã là Tổ sư tây sang đặc biệt đề xướng việc này, đâu cần lại đối chúng lo đau đáu. Trân trọng

*

thượng đường nói:
- Bảo Sơn tăng nói cái gì mới được, xưa tức là nay, nay tức là xưa. Do đó, kinh Lăng Nghiêm nói: ?Tùng ngay cước cong, cò trắng quạ đen.? Lại biết được chăng? Tuy nhiên như thế, chưa hẳn tùng một bề ngay, cước một bề cong, cò bèn trắng, quạ bèn đen. Động Sơn (chỉ Sư) nói trong ấy cũng có cây tùng cong, cũng có cây cước ngay, cũng có con cò đen cũng có con quạ trắng.
Đứng lâu trân trọng.

*

thượng đường:
- Mùa xuân lạnh nước đông lại, đêm đến có tuyết nhiều, lại thấy chăng? Khắp đất tuyết tràn trề, gió xuân vẫn lạnh xưa, nói thiền nói đạo dễ, thành Phật thành Tổ khó. Trân trọng.

*

thượng đường:
- Giờ thìn gà gáy sáng, cháo xong trời rạng đông, lồng đèn vẫn còn ngủ, cột cái lại tỉnh tỉnh. Tỉnh tỉnh nói thẳng tỉnh tỉnh, rõ ràng nói thẳng rõ ràng, ngày sau tháng khác chớ nhận tớ làm thầy. Trân trọng.

*

Sư tự tay trồng cả muôn cây tùng ở trên ngọn núi phía đông. Trong khi trồng cây, Sư thường tụng kinh Kim Cang Bát-nhã. Người trong núi nhân đó đặt tên núi này là Kim Cang Phương Thực Tùng.
Thiền sư Tiêu Dao hỏi:- Ngọn núi ở đây, Kim Cang ở chỗ nào?
Sư chỉ, nói:- Gốc tùng này là đích thân Lão tăng trồng.

*

Ngày mùng tám tháng sáu niên Thiên Thánh thứ tám (1030), Sư có chút bệnh, triệu tập hết Tăng tục, nói: Pháp tịch này giao cho Tự Bảo trụ trì, Sư liền lên tòa nói bài kệ Thấu Pháp Thân.
 Tham thiền học đạo mạc man man
 Vấn thấu pháp thân bắc đẩu tàng.
 Dư kim lão đáo bằng luy thậm
 Kiến nhân vô lực đắc thương lượng,
 Duy hữu sừ đầu tri ngã đạo
 Chủng tùng thời phục thướng kim cang.
Dịch:
 Tham thiền học đạo chớ mờ mờ
 Hỏi tột pháp thân bắc đẩu tàng.
 Nay tôi già yếu càng quá lắm
 Thấy người không sức để luận bàn,
 Đạo ta người hiểu chỉ cây cuốc
 Những lúc trồng tùng lên kim cang.
Nói xong Sư liền thị tịch.

*

58. THIỀN SƯ TỰ BẢO
Động Sơn

Sư sanh trong nhà con hát nên không có họ, tánh tình liêm khiết cẩn thận kính trọng Phật thừa, xuất gia tại chùa Giáp Thạch. Làm Tăng, Sư tu theo hạnh đầu-đà ăn cơm hẩm mặc y vá. Đến tham vấn Thiền sư Giới ở Ngũ Tổ, Sư phát minh tâm địa tiếng tăm vang lừng. Ở hội Ngũ Tổ Sư làm chủ tự.
Một hôm, Hòa thượng Giới bệnh, sai một cư sĩ đến kho lấy gừng sắc thuốc, bị Sư rầy không cho. Cư sĩ lên bạch lại Hòa thượng, Hòa thượng bảo đem tiền hoàn lại, Sư mới chịu lấy gừng trao cho. Nhân đây, Hòa thượng Giới tâm càng mến trọng. Thời nhân gọi Sư là ông thầy bán gừng.

*

Sau, Sư dạo các tòng lâm đến Động Sơn. Thiền sư Hiểu Thông trụ trì nơi đây cũng quí trọng Sư. Sau khi Hiểu Thông tịch, di chúc thỉnh Sư trụ trì
khai phápĐộng Sơn, có vị Tăng hỏi:- Thế nào là Phật?
Sư đáp:- Tương tợ đầu não. Hoặc: lưng dài chân ngắn.
- Sư xướng gia khúc tông phong ai? nối pháp người nào?
- Nói vẫn ở tai.
- Thế ấy là con Ngũ Tổ giới, là cháu Vân Môn.
- Ngày chạy năm trăm.

*

Sư dạy chúng:
- Thảy đều ở trong gió dừng sóng lặng đến, bỗng gặp sóng to nổi dậy, lượng cả ngập trời, chính khi ấy tìm kẻ thủy thủ khó được, trong chúng có người cầm lái hay không?
Chúng không đáp.
Sư tiếp:- Lừa hết mọi người trong thuyền.

*

Sau, Sư dời đến trụ tại núi Qui Tông.
Một hôm, Sư chống gậy xuống núi, đi giữa đường gặp lính nạt đường: tránh bên cho xe Huyện úy đi. Sư đứng qua bên trái. Con ngựa kéo xe quan Huyện úy thấy Sư liền quì mọp. Sư nói: ?Súc sanh này cũng biết người.? Huyện úy biết là Sư liền xuống xe đảnh lễ. Sau đó, ngựa mới chịu chạy.

*

Sư lại dời về trụ ở Vân Cư.
Một đêm, Sơn thần kiệu Sư đi quanh chùa. Sư quở rằng: lên đài ở phương trượng đi. Sơn thần riu ríu đi lên đài ở phương trượng. Sư vì người gìn giữ giới pháp rất tinh nghiêm.

*

Sư có làm bài Chân Tán Tổ Sư Đạt-ma:
Tựa: Sư chân đồ mạc tam giới vô trước
 Nghĩ dục an bài tri quân đại thác
 Hư lao chỉ điểm hà xứ môn mô 
 Yếu thức Sư chân càn khôn khoách lạc.
Tán: Sư tướng hề thế sở hy
 Sư my hề trận vân thùy
 Sư nhãn hề điện quang huy 
 Sư tỷ hề tủng tu-di
 Sư khẩu môn vô xỉ hề quá tại thùy
 Nghĩ thiệp lưu sa hề hà bất tự tri phi
 Bỉ thử trượng phu hề truyền pháp dữ a thùy
 Cánh trụ Thiếu Lâm hề ma la cước tây qui
 Ngộ nạp tăng hề dữ nhất đốn chùy
 Tuy nhiên như thị hề bất hội mạc châm chùy.
Dịch:
Tựa: Muốn vẽ chân thầy hình tít mù tam giới
 Toan tính an bài, biết anh lầm lớn
 Luống nhọc chỉ điểm chỗ nào mó sờ.
 Cần biết tướng thầy, càn khôn thênh thang.
Tán: Tướng thầy ư đời ít có
 Mày thầy ư hàng mây rủ
 Mắt thầy ư làn chớp sáng
 Mũi thầy ư vượt tu-di
 Cửa miệng thầy không răng ư lỗi tại ai?
 Toan dẫm cát sông ư sao chẳng tự biết quấy
 Kia đây trượng phu ư nên truyền pháp cho ai?
 Lại trụ Thiếu Lâm ư mà lê gót về tây
 Gặp Thiền sinh ư liền cho một gậy
 Tuy nhiên như thế ư chẳng hội chớ dùi châm.
 Bài tán này trong thiền môn rất được lưu hành.

*

59. QUỐC SƯ ĐỨC THIỀU
Ở núi Thiên Thai - (881 - 972)

Sư quê ở Long Tuyền, Xử Châu, cha họ Trần, mẹ họ Diệp. Mẹ Sư nằm mộng thấy một luồng sáng chạm vào thân, nhân đó biết có thai. Đến khi Sư ra đời có nhiều điềm lạ
Năm Sư mười lăm tuổi có vị Tăng lạ thấy Sư liền vỗ sau lưng nói: ?ông nên xuất gia, trong trần tục không phải là chỗ của ông?. Năm mười bảy tuổi, Sư đến chùa Long Qui ở quê nhà xuất gia. Năm mười tám tuổi, Sư đến chùa Khai Nguyên ở Tín Châu thọ giới.

*

Khoảng niên hiệu Khai Bình (907-910) nhà Lương, Sư cất bước du phương. Trước đến núi Đầu Tử, Sư ra mắt Thiền sư Đại Đồng, đó là buổi phát tâm ban đầu.

*

Kế, Sư tham vấn Hòa thượng Tuần ở Long Nha. Sư hỏi: Bậc tôn hùng hùng vì sao gần chẳng được? Long Nha đáp: Như lửa với lửa. Sư hỏi: Chợt gặp nước đến thì sao? Long Nha bảo: Ngươi chẳng hội. Sư lại hỏi: Trời chẳng che đất chẳng chở, lý này thế nào? Long Nha đáp: Nên như thế. Sư không lãnh hội được, lại cầu xin chỉ dạy. Long Nha bảo: Đạo giả! ngươi về sau tự hội.

*

Sư đến tham vấn Sơ Sơn. Sư hỏi: Trăm vòng ngàn lớp là cảnh giới gì?
Sơ Sơn đáp: Tay trái bám dây mang trói con quỉ. Sư hỏi: Chẳng rơi xưa nay thỉnh Thầy nói. Sơ Sơn bảo: Chẳng nói. Sư hỏi: Vì sao chẳng nói? Sơ Sơn đáp: Trong ấy chẳng biện có không. Sư thưa: Nay Thầy khéo nói. Sơ Sơn kinh hãi.
Như thế, Sư đi tham vấn qua năm mươi bốn vị thiện tri thức, mà pháp duyên chưa hợp. Sau cùng, Sư đến Lâm Xuyên yết kiến Pháp Nhãn (Thiền sư Văn Ích).

*

Sư do đi khắp các tùng lâm nên mỏi mệt lười thưa hỏi. Ở trong hội Pháp Nhãn, Sư chỉ theo chúng mà thôi.
Một hôm, Pháp Nhãn thượng đường, có vị Tăng hỏi: Thế nào là một giọt nước ở nguồn Tào? Pháp Nhãn đáp: Là giọt nước ở nguồn Tào. Vị Tăng ấy mờ mịt thối lui. Sư ngồi bên cạnh hoát nhiên khai ngộ, bình sanh những mối nghi ngờ dường như băng tiêu, cảm động đến rơi nước mắt ướt áo. Sư trình chỗ sở ngộ cho Pháp Nhãn. Pháp Nhãn bảo: Ngươi ngày sau sẽ làm thầy quốc vương, khiến ánh sáng đạo của Tổ sư càng rộng lớn, ta không sánh bằng.

*

Sư dạo núi Thiên Thai xem những di tích của Thiền sư Trí Khải dường như chỗ mình ở cũ. Sư lại đồng họ với Trí Khải. Thời nhân gọi Hậu thân Trí Khải.
Ban đầu, Sư trụ tại Bạch Sa. Lúc đó, Thái tử Trung Hiến Vương trấn ở Thai Châu, nghe danh Sư thỉnh đến hỏi đạo. Sư có bảo: Ngày sau làm chủ thiên hạ nên nhớ ơn Phật pháp.
Đến niên hiệu Càn Hựu năm đầu (948) Thái tử lên ngôi, sai sứ thỉnh Sư, đối xử theo tình thầy trò.

*

thượng đường nói:
- Thánh xưa phương tiện nhiều như hà sa. Tổ sư nói ?không phải gió phan động mà tâm nhân giả động?, đây là pháp môn tâm ấn vô thượng. Chúng ta là khách ở trong pháp môn của Tổ sư, nên làm sao hội được ý Tổ sư. Chớ nói gió phan chẳng động mà tâm ông vọng động. Chớ nói chẳng bác gió phan, đến gió phan nhận lấy. Chớ nói chỗ gió phan động là cái gì? Có người nói gá vật sáng tâm chẳng cầu nhận vật. Có người nói sắc tức là không. Có người nói chẳng phải gió phan động nên phải khéo hội. Giải hội như thế đối với ý chỉ Tổ sư có gì giao thiệp. Đã chẳng cho hội như thế, chư Thượng tọa liền nên biết rõ. Nếu ở trong ấy ngộ được triệt để, có pháp môn nào mà chẳng rõ. Trăm ngàn phương tiện của chư Phật một lúc rỗng suốt, lại có chỗ nghi nào? Do đó, Cổ nhân nói: một liễu thì ngàn minh, một mê thì muôn lầm. 
Chư Thượng tọa! đâu phải ngày nay hội được một, ngày mai lại chẳng hội. Đâu phải có một phần việc hướng thượng khó hội, có một phần hạ liệt phàm phu chẳng hội. Kiến giải như thế dù trải qua số kiếp như bụi, chỉ tự mỏi mệt tinh thần đâu có lẽ phải.
Sư có bài kệ dạy chúng:
 Thông huyền phong đảnh
 Bất thị nhân gian
 Tâm ngoại vô pháp
 Mãn mục thanh sơn.
 
 
 Thấu huyền chót đảnh
 Chẳng phải nhân gian
 Ngoài tâm không pháp
 Đầy mắt núi xanh.
Pháp Nhãn nghe được bảo: một bài kệ này có thể làm sống dậy tông của ta.

*

Sư dời trụ tại chùa Bát-nhã mở hội thuyết pháp. Hội đầu, Sư dạy chúng:
Một sợi lông nuốt biển cả, tánh biển không thiếu, một hột cải ném trên mũi nhọn, mũi nhọn không động. Thấy cùng chẳng thấy, hội cùng chẳng hội, chỉ ta biết vậy. Có bài tụng:
 Tạm hạ cao phong dĩ hiển dương
 Bát-nhã viên thông biến thập phương
 Nhân thiên hạo hạo vô sai biệt
 Pháp giới tung hoành xứ xứ chương.
Dịch:
 Tạm xuống cao phong đã hiển dương
 Bát-nhã viên thông khắp mười phương
 Người trời bát ngát không sai khác
 Pháp giới dọc ngang chốn chốn chương.
Có vị Tăng hỏi:
- Người xưa nói: ?người thấy Bát-nhã liền bị Bát-nhã trói, người chẳng thấy Bát-nhã cũng bị Bát-nhã trói?, đã thấy Bát-nhã vì sao lại bị Bát-nhã trói?
Sư đáp:- Ngươi nói Bát-nhã thấy cái gì? 
- Chẳng thấy Bát-nhã vì sao cũng bị Bát-nhã trói? 
- Ngươi nói Bát-nhã chỗ nào chẳng thấy? 
Sư lại bảo:
- Nếu thấy Bát-nhã chẳng gọi là Bát-nhã, nếu chẳng thấy Bát-nhã cũng chẳng gọi là Bát-nhã. Hãy bảo nói cái gì là thấy chẳng thấy? Sở dĩ, cổ nhân nói ?nếu thiếu một pháp chẳng thành pháp thân, nếu dư một pháp cũng chẳng thành pháp thân; nếu có một pháp chẳng thành pháp thân, nếu không một pháp cũng chẳng thành pháp thân?. Đây là chân tông Bát-nhã vậy.

*

Hội thứ tư, Sư thượng đường dạy chúng: 
- Cổ nhân nói: ?Thế nào là thiền? Tam giới miên miên. Thế nào là đạo? Thập phương hạo hạo.? Vì sao nói tam giới miên miên? Chỗ nào là đạo lý của thập phương hạo hạo? Cần hội chăng? Bít mắt lại, bít tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại không chỗ rỗng thiếu, không chỗ chuyển động. Thượng tọa hội chăng? Ngang cũng chẳng được, dọc cũng chẳng được, buông ra cũng chẳng được, đoạt đi cũng chẳng được, không có chỗ dụng tâm, cũng không có chỗ lập bày. Nếu hội được như thế mới là pháp môn bặt chọn lựa, tất cả ngôn ngữ dứt rỉ chảy.

*

Hội thứ sáu, Sư thượng đường dạy chúng:
- Phật pháp hiện hành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói: ?tròn đồng thái hư không thiếu không dư?. Nếu như thế thì cái gì thiếu cái gì dư, cái gì phải cái gì quấy? Ai là người hội? Ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi đông cũng là Thượng tọa, đi tây cũng là Thượng tọa, đi nam cũng là Thượng tọa, đi bắc cũng là Thượng tọa. Thượng tọa tại sao được thành đông tây nam bắc? Nếu hội được, tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt.
Chư Thượng tọa! kẻ xuất gia làm gì? Cái lý bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. ?Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.? Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng tọa đứng lâu, trân trọng.

*

Đến niên hiệu Khai Bảo thứ tư (972), ngày hai mươi tám tháng sáu, Sư có chút bệnh, họp chúng từ biệt xong, ngồi kiết già thị tịch. Sư tịch tại Liên Hoa Phong thọ tám mươi hai tuổi, được sáu mươi lăm tuổi hạ. 

*

60. THIỀN SƯ HUỆ MINH
Ở chùa Báo Ân

Sư họ Trương, xuất gia lúc còn bé, tinh chuyên tam học, có chí tìm hiểu huyền chỉ. Sư du phương qua các nước Mân, Việt trải các thiền hội, mà chưa khế hợp bản tâm. Sau cùng, Sư đến Lâm Xuyên yết kiến Pháp Nhãn được thầy trò đạo hiệp.

*

Về sau, Sư trở về Ngân Thủy cất am trên núi Đại Mai. Một hôm có hai Thiền khách đến.
Sư hỏi:- Thượng tọa ở đâu đến?
Thiền khách đáp:- Ở đô thành.
- Thượng tọa rời đô thành đến núi này, thì ở đô thành thiếu Thượng tọa ở núi này dư Thượng tọa. Dư thì ngoài tâm có pháp, thiếu thì tâm pháp chẳng khắp. Nói được đạo lý thì ở, chẳng hội nên đi.
Cả hai đều không đáp được.

*

Sư dời về Thiên Thai cất am trên núi Bạch Sa. Có Thượng tọa Minh Nhan là người học rộng nhớ giỏi đến lý luận với Sư về Tông thừa
Sư hỏi:
- Nói nhiều cách đạo càng xa, nay có việc xin hỏi, từ trước các bậc tiên đức có ngộ hay không?
Minh Nhan đáp:- Nếu là chư thánh tiên đức đâu không có ngộ!
- ?Một người trở về nguồn chân, mười phương hư không thảy đều tiêu mất.? Nay núi Thiên Thai y nguyên, làm sao nói tiêu mất?
Minh Nhan không chỗ bám.

*

Khoảng niên hiệu Càn Hựu nhà Hán (948), Trung Hiến Vương thỉnh Sư vào cung hỏi pháp, mời ở viện Tư Sùng. Vua cho mời các bậc Thiền đức và các danh sĩ trong thành đến cùng Sư bàn đạo lý.
Thiền sư Thiên Long hỏi:
- ?Tất cả chư Phật và Phật pháp đều từ kinh này ra?, không biết kinh này từ đâu ra?
Sư hỏi:- Nói gì?
Thiên Long hỏi trở lại.
Sư bảo:- Qua rồi.
Trưởng lão Tư Nghiêm hỏi:- Thế nào là hiện tiền tam-muội?
Sư hỏi:- Lại nghe chăng?
Tư Nghiêm đáp:- Tôi không bệnh tai.
Sư bảo:- Quả nhiên là bệnh tai.

*

Sư nhắc lời Minh trên tháp của Tuyết Phong:
- ?Phàm từ duyên mà có thì trước sau thành hoại, chẳng từ duyên mà có thì nhiều kiếp bền lâu.? Bền cùng hoại gác lại, hiện giờ Tuyết Phong ở đâu?
Cả chúng đều không đáp được. Nếu có đáp cũng không đúng với ý hỏi. Khi ấy mọi người đều kính phục, Vua rất hài lòng, thỉnh Sư ở thự Viên Thông Phổ Chiếu Thiền sư.

*

thượng đường bảo chúng:
- Các ông lại nhận được chăng? Chớ bảo, nói nín động tịnh đều là Phật sự, chớ lầm hội.
Có vị Tăng hỏi:- Thế nào là mặt trăng thứ hai?
Sư đáp:
- Ấn mắt xem hoa, hoa lắm đóa, mắt tỏ xem cây, cây mấy cành.

*

61. THIỀN SƯ PHÁP ĐĂNG - Hiệu Thái Khâm
Ở viện Thanh Lương - (? - 974)

Sư người Ngụy phủ, có trí thông minh lạ thường, biện tài vô ngại. Trong hội Pháp Nhãn, toàn chúng đều ngưỡng mộ, đồng nói: ?người sáng suốt mẫu mực?.
Một hôm, Pháp Nhãn hỏi chúng:
- Cổ cọp mang lục lạc người nào mở được?
Toàn chúng không đáp được. Sư vừa đi đến, Pháp Nhãn hỏi Sư. 
Sư thưa:- Người cột mở được.
Pháp Nhãn bảo chúng:- Các ngươi chẳng được khinh y.

*

Ban đầu, Sư nhận thỉnh trụ viện Song Lâm tại núi U Cốc Hồng Châu. Sư thượng đường chưa bước lên tòa liền nói:
- Núi này trước đã có hai đời Tôn túc thuyết pháp, tòa này cao rộng bất tài làm sao lên? Người xưa nói: đảnh lễ Tu-di Đăng Vương Như Lai mới có thể ngồi. Hãy nói Tu-di Đăng Vương Như Lai hiện ở chỗ nào? Đại chúng cần thấy đồng thời đảnh lễ.
bước lên tòa giây lâu nói:
- Vì đại chúng chỉ như thế, lại có chỗ hội chăng?
Tăng hỏi:- Thế nào là cảnh Song Lâm?
Sư đáp:- Vẽ cũng chẳng thành.
- Thế nào là người trong cảnh?
- Hãy đi. Cảnh vẫn chưa biết mà luận đến người.
Kế, Sư trụ viện Hộ Quốc. Có vị Tăng hỏi:
- Khéo hành đạo Bồ-tát không nhiễm các pháp tướng, thế nào là đạo Bồ-tát?
Sư đáp:- Tướng các pháp.
- Thế nào được chẳng nhiễm?
- Nhiễm dính chỗ nào?

*

Sư lại đến trụ viện Long Quang ở Kim Lăng. 
thượng đường lên tòa. Duy-na bạch chùy rằng: Chúng long tượng trong pháp hội, nên quán nghĩa đệ nhất. Sư bảo: Duy-na là nghĩa đệ nhị. Các trưởng lão hiện nay là nghĩa thứ mấy? Sư liền dở tay áo bảo chúng: Đại chúng hội chăng? Đây là núi gọi đạp múa, chớ nói năm trăm đời trước đã làm nhạc chủ, hoặc có lòng nghi xin xủ ra xem.

*

Sau cùng, Sư trụ đại đạo tràng Thanh Lương ở Kim Lăng.
Đến tháng sáu niên hiệu Khai Bảo năm thứ bảy (974), Sư có chút bệnh, bảo chúng:
- Lão tăng nằm bệnh gắng lôi đến đây cùng các ngươi thấy nhau. Hiện nay đạo tràng mỗi chỗ rõ ràng là Hóa thành? Hãy nói thế nào là Hóa thành? Đâu chẳng thấy Đạo sư xưa nói ?Bảo sở chẳng xa cần phải tiến tới?. Khi đến thành rồi, lại nói ?do ta hóa ra?. Nay các ngươi thử nói đạo lý xem, là Như Lai thiền, là Tổ sư thiền, quyết định được chăng? Các ngươi tuy là kẻ sanh muộn, cần biết quốc chủ của ta nơi nào thắng cảnh đều dựng lập đạo tràng, việc cần dùng chẳng thiếu, chỉ cần các ngươi mở miệng. Hiện nay không gì hơn, biết cái gì là miệng của các ngươi? Đâu cần xét đến công tứ ân tam hữu. Muốn được hội chăng? Chỉ biết cái miệng là không lỗi, nếu có lỗi tại các ngươi có ngã. Nay gió lửa ép nhau, đi, đứng là đạo thường.
Lão tăng trụ trì sắp qua một kỷ (mười hai năm) mỗi mỗi nhờ quốc chủ giúp đỡ đến mười phương thí chủ, Tăng lữ thì từ chủ sự đến chú tiểu đều hết lòng vì ta, lặng lẽ mà khó nói. Hoặc mang gai mặc vải, đây tức là thuận tục, ta nói trái với chân. Hãy nói thuận là tốt hay trái là tốt? Song thuận theo ta nói là không điên đảo.
Di hài của ta để tại núi Nam bên trái bên phải của Hòa thượng Đại Trí Tạng xin hai phần huyệt. Sự thăng trầm rất rõ ràng không nên đổi dời. Cố gắng! cố gắng! trân trọng.
Ngày hai mươi bốn tháng sáu, Sư ngồi yên thị tịch.

*

62. THIỀN SƯ THANH TỦNG
Ở Linh Ẩn Hàn Châu

Sư quê ở Thanh huyện Phước Châu. Ban đầu, Sư đến tham vấn Pháp Nhãn. Một hôm Pháp Nhãn chỉ những giọt mưa bảo: giọt giọt rơi trong con mắt của Thượng tọa. Lúc này nghe nói vẫn chưa ngộ. Sau, nhân đọc kinh Hoa Nghiêm, Sư liền cảm ngộ. Sư đến trình với Pháp Nhãn, Pháp Nhãn ấn chứng.

*

Sư về cất am trên núi Tứ MinhMinh Châu. Tiến đạt sứ Tiền Ức kính Sư làm thầy. Trung Hiến Vương thỉnh Sư khai pháp hai nơi Lâm An. Sau, Sư trụ ở chùa Linh Ẩn ở thự hiệu Liễu Ngộ Thiền sư
thượng đường dạy chúng:
- Mười phương chư Phật thường ở trước các ngươi, lại thấy chăng? Nếu nói thấy, là đem tâm thấy hay đem mắt thấy? Do đó nên nói ?tất cả pháp chẳng sanh, tất cả pháp chẳng diệt; nếu hay hiểu như thế, chư Phật thường hiện tiền?.
?Thấy sắc là thấy tâm?, hãy nói cái gì là tâm? Tướng núi sông đất ruộng, vạn tượng sum la, xanh vàng đỏ trắng, nam nữ... là tâm hay chẳng phải tâm? Nếu là tâm, vì sao lại trở thành vật tượng? Nếu chẳng phải là tâm, sao lại nói thấy sắc là thấy tâm? Hội chăng? Chỉ vì mê cái này mà thành điên đảo các thứ chẳng đồng. Trong cái không đồng dị ép thành đồng dị. Hiện nay thẳng đó thừa đương chóng ngộ bản tâm, rõ ràng không có một vật có thể làm thấy nghe. Nếu người lìa tâm riêng cầu giải thoát, người xưa gọi là ?lầm sóng bàn nguồn, rất khó hiểu ngộ?.

*

Có vị Tăng hỏi:- Thế nào là Ma-ha Bát-nhã?
Sư đáp:- Tuyết rơi lai láng.
Tăng không đáp được.
Sư hỏi:- Hội chăng?
Tăng thưa:- Chẳng hội.
Sư nói:
 Ma-ha Bát-nhã
 Phi thủ phi xả
 Nhược nhân bất hội
 Phong hàn tuyết hạ.
 Ma-ha Bát-nhã
 Chẳng thủ chẳng xả
 Nếu người chẳng hội
 Gió lạnh tuyết rơi.
Tạo bài viết
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
Vào sáng ngày 22 Oct vừa qua, phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng lại tiếp tục lên đường cứu trợ cho 3 ngôi làng nghèo Thừa Thiên Huế, đó là Làng Phò Ninh, Làng Cổ Bi và Làng Hiền Sỹ. Đây là 3 ngôi làng thời gian qua bị nước lũ vây hãm không có đoàn nào vô làng cứu trợ được, may mắn là khi đoàn Từ thiện Trái tim BDDT có mặt thì nước lũ đã rút đi nhiều nên xe chở hàng cứu trợ đã có thể vào tận nơi để phát quà cho dân.
Sáng hôm qua, (ngày 21 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 2 xã Phú Lễ, xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền Tp Huế, đoàn đã phát tổng cộng là 300 phần quà tại nhà văn hóa cạnh chùa Quang Bảo- Phù Lễ. Chuyến cứu trợ lần này được sự nhiệt tâm giúp đỡ về mặt tổ chức cũng như vận chuyển hàng hóa của chư Phật tử chùa Quang Bảo & các thành viên trong Hội từ thiện nên đã diễn ra tốt đẹp và thành tựu viên mãn.