● Ngỗn Ngang Trăm Mối Tơ Vò - Tản Mạn Về Một Chuyến Đi Xuyên Việt

14/10/201012:00 SA(Xem: 13301)
● Ngỗn Ngang Trăm Mối Tơ Vò - Tản Mạn Về Một Chuyến Đi Xuyên Việt

TRÍ TÁNH ĐỖ HỮU TÀI
NHƯ THỊ NGÃ VĂN
TỪ XA, NGHĨ VỀ VÀI VẤN ĐỀ CỦA PHẬT GIÁO TẠI NƯỚC TA 
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG - 2008,
NHÀ XUẤT BẢN TÂN VĂN - 2008
Ấn Bản Điện Tử 2009 USA

NGỔN NGANG TRĂM MỐI TƠ VÒ…
TẢN MẠN VỀ MỘT CHUYẾN ĐI XUYÊN VIỆT 

Sau hội thảo khoa học về những cơ hội và thách thức của Phật giáo Việt Nam được tổ chức tại thành phố HCM vào tháng 7 năm 2006 vừa qua, tôi phải mất hơn một tháng mới đọc hết 82 bài tham luận đăng tải trên hai trang nhà của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ( http://vnabri.org ) và của Hội Giao Điểm tại Mỹ (http://www.giaodiemonline.com ) để rồi choáng váng, nhựng phấn khởi, nhận ra rằng Phật giáo Việt Nam, ít nhất là trên mặt nhận thức, có vẽ như đang có những nỗ lực xét sóat lại chính mình, lượng giá lại gia tài cũ và vốn liếng mới để từ đó, lương thiệncan đảm tìm cách giải quyết những vấn nạn có thực của mình hầu vươn lên cao thêm và mở ra rộng hơn.

Tuy nhiên, tôi vẫn cứ thắc mắc một điều: Hiện thực của Phật giáo Việt Nam có thật sự phản ánh những mô tả, những đo đếm, những nhận diện, những đánh giá ... để trên cơ sở đó, các tác giả những bài tham luận trong cuộc hội thảo đề xuất các giải pháp không ? Có những lý thuyết khoa học, ngay cả khoa học nhân văn, xuất sinh từ bộ óc của những thiên tài. Còn thường thường thì một lý thuyết chỉ có giá trị thực sự sau khi đã được đối chiếu rồi kiểm chứng bằng thực tế. Cho nên tôi vẫn tìm tòi những nghiên cứu xã hội học nghiêm túc, có cơ sở vững chãi, có phương pháp luận chặt chẽ, có mô tả định tính và định lượng thực tế ... để làm tiền đề phân tích và đánh giá các hiện tượng xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, điều đó thật là khó. Lại càng khó hơn khi đối tượng nghiên cứu lại là một tổng thể phức tạp “vô hình vô tướng” như Phật giáo Việt Nam.

Vì vậy tôi thường ước mơ được thực hiện một chuyến du khảo điền giả bình thường, giới hạn trong một chủ điểm đặc thù, và khoanh vùng trong một đối tượng nhất định. Chưa phải để tiến hành một cuộc nghiên cứu xã hội học quy mô thì ít nhất cũng trực tiếp tiếp cận được với những đối tượng bằng da bằng thịt trong cuộc sống đời thường. May quá, vào tháng 11 năm 2006, một “phái đoàn” bốn Phật tử (hai trong nước và hai ngoài nước) thực hiện một chuyến đi xuyên Việt để mở rộng mạng lưới công tác từ thiện Phật giáo của họ. Tôi xin tháp tùng với mục đích rõ ràng là chỉ đặt một câu hỏi tổng quát để lắng nghe nhiều câu trả lời chi tiết, từ nhiều người ở nhiều địa phương khác nhau, về một vấn đề nóng bỏng của Phật giáo Việt Nam, một vấn đề mà hầu hết Phật tử đều cảm nhận từ nhiều góc độ khác nhau nhưng khó mô tả được rõ ràng và nghiêm túc: Những yếu tố gì đã cản trở Phật giáo Việt Nam chưa đóng đúng và đóng trọn vai trò của nó trong bước đồng hành với dân tộc và thời đại ở thời điểm nầy ? Đặc biệt, và đây là điều cố ý, tôi không quan tâm đến thành tựuthuận tiện, cơ hội và triển vọng. Những yếu tố tích cực nầy xin để vào một dịp khác, cho chuyến đi nầy, tôi chỉ muốn điểm mặt những cản trở.

Câu hỏi quá lớn, quá tổng quát, và có tính khẳng định tiêu cực ngay từ đầu. Lại mang tính phê phán khiêu khích làm cho người đối thoại phải lương thiện tra vấn tri thứctự do bộc bạch tâm sự. Tri thức gì cũng được, tâm sự nào cũng xong. Tôi chọn câu hỏi đó cũng vì nó đánh động được vào chổ sâu thẳm nhất của một người Phật tử Việt Nam: tình yêu Dân tộc và sự gắn bó với Đạo pháp, hai tiêu chí đặc thù của Phật giáo Việt Nam. Câu hỏi đã lớn, mẫu khảo sát lại quá nhỏ khi so sánh với con số 6.000 chùa, 40.000 Tăng Ni và 10 triệu Phật tử (của Nhà nước chính thức công bố). Cho nên, hỏi thì cứ hỏi, trả lời thì cứ trả lời, tôi chỉ nhắm mắt lắng nghe để xem đọng lại sau mỗi buổi họp, sau hết buổi họp nầy đến buổi họp khác trên cả ba miền đất nước, là cái vóc dáng gì của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Như người tạc tượng, bắt đầu bằng một khối đá sần sùi, từ từ gọt đẻo thành một hình tượng có chiều kích nghệ thuật và thông điệp văn hóa.

Chuyến đi kéo dài ba tuần, từ Bắc qua Trung rồi vào Nam, dừng chân ở 15 tỉnh thành [9] và làm việc với 26 Chùa[10] . Trong những lần tiếp xúc nầy, chúng tôi đã được dịp trao đổi với khoảng gần 300 quý Tăng Ni với giáo phẩm và chức vụ cao thấp khác nhau, và hơn 60 nam nữ cư sĩ Phật tử ở lứa tuổi và góc độ nhận thức khác nhau. Chúng tôi cũng đã được hội kiến riêng tư với các bậc cao tăng như Hòa thượng Thanh Tứ (ở Hà Nội) hay Hoà thượng Huyền Quang (ở Nguyên Thiều), hay được lắng nghe tâm sự xót xa của các Phật tử “tóc đã muối tiêu” mà vẫn còn “hào khí 63” ở Huế và Đà Nẵng. Nhiều khi tình cờchúng tôi lại được chứng kiến những sự cố ngoài hoạch định như lễ kỷ niệm trang trọng 25 năm thành lập Giáo hội PGVN tại Cung Văn hóa ở Hà Nội, hay thấy tận mắt toàn bộ kinh Pháp Hoa khắc trên gổ tràm có niên đại cổ nhất của Việt Nam tại chùa Phật Quang ở Bình Thuận.

Đây là một chuyến đi tuyệt vời, cho tôi có dịp cảm nhận trực tiếp hàm lượng to lớn của Phật giáo khi quấn quít hòa trộn với văn hóa dân tộc. Không còn nghi ngờ gì nữa, sau bao nhiêu vật đổi sao dời trong suốt 2000 năm lịch sử, bây giờ, Phật giáo đã thấm vào da thịt, đã ăn vào xương tủy của dân tộc. Phật giáo miền Bắc đang trở mình hồi sinh với bề dày lịch sử làm nền tảng, Phật giáo miền Trung thâm hậu giử gìn giềng mối cho đạo pháp, Phật giáo miền Nam hiện đại tràn đầy sức sống đa dạng và phong phú. Dù ngổn ngang trăm mối tơ vò, tôi vẫn không thể không vui mừng thấy một đạo Phật đặc thù Việt Nam đang nhọc nhằn nhưng bền bỉ sống lại sau hơn ba thế kỷ cúi đầu trước những làn gió dữ từ phương Tây thổi đến. Tuy nhiên, bên cạnh niềm vui đó, tôi cũng nghe, thấy, sờ mó được những đe dọa to lớn, những cạm bẫy tinh vi, những vết thương tự tạo, những cản lực trì kéo mà Phật giáo Việt Nam đang phải đối diệncần phải đối trị để vươn lên. 

Cho nên trong mỗi buổi gặp mặt, dù chung hay riêng, sau phần thảo luận và đúc kết liên quan đến công tác từ thiện, tôi lại xin phép được đặt câu hỏi của mình. Câu hỏi lạc lõng và lạnh lùng, nhưng sôi động lên theo chiều dài của buổi họp. Mang mang suốt 26 buổi họp của chuyến đi là những xúc động và kỳ vọng, là những đam mê và chán chường, là những thoáng cam chịu và nỗi âu lo. Nhưng trên hết, vẫn là những bức xúc “nát gan nát ruột” của quý Thầy Cô và Phật tử về nguy cơ tụt hậu và đe dọa suy thoái của Phật giáo Việt Nam so với những tiến bộ vũ bảo của xã hộithế giới dù, đàng sau cơn chuếnh choáng nghiêng ngữa đó, vẫn thấp thoáng những quyết tâmnỗ lực để đem lại hy vọng óng ánh vào một ngày mai tươi sáng hơn cho Phật giáo Việt Nam.

Kết thúc chuyến đi, tôi ghi nhận được 24 yếu tố tiêu cực có thể tổng kết lại trong năm vấn nạn lớn: 

(a) Tình trạng lão hóa tư duy của một số cấp lãnh đạo trung ương và/hoặc điạ phương của Giáo hội rõ ràng làm cho một bộ phận lớn của Phật giáo Việt Nam đang, ở nhiều nơi, trở nên còm cỏi, mất sinh khí, đứng bên lề những chuyển đổi sinh độngthành quả tích cựcthời đại cống hiến

(b) Sự bất lực của pháp chế và giáo quyền trước tình hình tha hóa đạo đức và giới hạnh của Tăng chúng, nhất là trong hàng ngũ Tăng Ni trẻ. Có một khoảng cách phẩm hạnh và uy quyền giữa trung ương và địa phương, giữa sư phụđệ tử, giữa Tăng NiPhật tử.

(c) Hiện tượng Tăng đoàn phân liệt và cát cứ vì nhiều loại hình mâu thuẫntranh chấp chồng chất lên nhau, đan bện vào nhau làm tê liệt mọi nỗ lực hòa hợp để đồng tu, mọi kết hợp để phát triển. Hầu như mỗi vùng điạ dư, thậm chí mỗi chùa, là một ốc đảo tự quản tự trị, chỉ gắn bó hàng dọc với nhau vì đạo tình cùng tông phái, hay liên kết hàng ngang với nhau vì công tác Phật sự. Ngoài tọa độ dọc-ngang đó, chùa không biết đến ai, và cũng chẳng ai biết đến chùa. 

(d) Vai trò và đóng góp của Ni chúngCư sĩ bị khống chế, thậm chí có nhiều nơi bị thủ tiêu hoàn toàn. Một nữa lực lượng Trưởng tử Như Lai không được sử dụng đúng cách, hai trong tứ chúng khép nép trước hay xa lìa hẳn cửa chùa. Đầu óc phân biệt giới tính và tinh thần gia trưởng Tống Nho đã làm bại liệt hơn một nữa cơ thể của Phật giáo Việt Nam

(e) Sự bất cập trong kế sách đào tạo Tăng Ni, từ nội dung giáo trình đến triết lý đào tạo, từ ngân sách tiền bạc đến hành lang pháp lý, từ kinh sách đến giảng sư, từ cơ sở vật chất đến kiến thức ngọai điển. Chổ cần thì không có đủ, chổ thiếu thì bị bỏ rơi. Tăng Ni du học ngoại quốc thì không chịu về nước, Tăng Ni tốt nghiệp trong nước thì không chịu về vùng sâu vùng xa. Tăng Ni là mạng mạch của Phật giáo, nhưng với tình trạng đào tạo Tăng Ni hiện nay, đa số những vị mà chúng tôi tiếp xúc trong chuyến đi đều chỉ biết ... thở dài

Điều ngạc nhiên là hai hiện tượng mà tôi nghĩ, trước khi đi, sẽ tác động mạnh mẽ lên phong cách và hành xử của chùa/tăng thì lại tỏ ra không có ảnh hưởng gì nhiều: Đó là quan hệ “đồng hành” khập khiễng về quản lý giữa Nhà nước và Giáo hội, và sự thâm nhập của Kinh tế thị trường vào đời sống tu hành. Ngược lại là khác, hầu như các chùa đều ý thức được mối đe dọa và những thách thức mà một đất nước đang mở toang cửa để hội nhập, nên đều vận dụng một cách thiện xảo được mối quan hệ và sự thâm nhập nầy một cách tùy duyên khá tích cực trong các công tác Phật sự

Tuy nhiên, song song với 5 yếu tố tác động tiêu cực vào khả năng phát triển lành mạnhbền vững của Phật giáo Việt Nam, vẫn có những hiện tượng mà tôi được lắng nghe và tận mắt nhìn thấy để có thể cô đọng lại thành ba yếu tố tích cực lớn:

 (a) Thứ nhất là một niềm tin vững chắc gần như huyền hoặc vào nội lực và tiền đồ của Phật giáo Việt Nam của hầu hết quí Tăng Nicư sĩchúng tôi tiếp xúc. Niềm tin không thể giải thích và không cần luận bàn đó vừa đặt cơ sở trên vận động Thành-Trụ-Hoại-Không tự nhiên, vừa có tính quy luật rằng cái Thiện sẽ thắng cái Ác, cái dở sẽ thành cái hay rất có hậu của triết lý sống của dân tộc. Đó là một niềm tin “tôn giáo” sôi nổi nhưng vẫn sâu đậm, bất khả tư nghì mà lại có tính logic. Tin để mà tu và hành, và tu và hành nhờ vào tin.

 (b) Thứ nhì là một ý thức có cả chiều sâu lẫn chiều rộng của đa số mọi người về cuộc khủng hoảng mà Phật giáo Việt Nam đang kinh qua. Ý thức đó được đúc kết từ cuộc sống đời thường ở cả hai bên trong và ngoài cửa chùa, qua thao tác tư duy với hàng nghìn thông tin xôn xao, và qua cả chứng nghiệm rốt ráo của bản thân, nên cô đọng lại và hừng hực cháy như than hồng trên bếp lữa. Điều đáng nói là từ ý thức chập chùng đa chiều và đa dạng về cuộc khủng hoảng đó, ào ạt nổi lên những bức xúc và ước mơ về một cuộc thay da đổi thịt toàn diệntriệt để của Phật giáo Việt Nam. Chỉ cần một mệnh lệnh. Vì lòng người đã chín mùi, gió lớn đã nổi lên, thì thuyền sẽ ra khơi thôi.

 (c) Và thứ ba là độc lập với những tín hiệu khích lệ về một sự chuyển đổi não trạng còn dè dặt của giới lãnh đạo chính trị tại Việt Nam về bản chấtgiá trị của Phật giáo trong bước đồng hành với dân tộc, từ gần 5 năm nay, xuất hiện một số, không nhiều, những Thấy, Cô và Cư sĩ tuổi trung niên, có hành trang Phật học và thế học vững vàng, có tầm nhìn chiến lược viễn kiến và bản lãnh hành động cấp tiến, nhưng lại không kết tụ được thành một hợp lực duy nhất. Những vị nầy thì năng động, hiệu quả, và cô đơn hoàn thành các công tác Phật sự trong chuyên ngành của mình, trong lãnh vực của mình mà thôi. Hầu như không có một tiếng nói có trọng lượng trong sinh mệnh của Phật giáo Việt Nam. Trong chuyến đi vừa qua, tôi đã chủ quan nhận diện ra được ít nhất là 5 vị như thế mà tôi thật sự thán phục và kỳ vọng. Tôi lạc quan nghĩ rằng Phật giáo Việt Nam hiện nay đã có, và chỉ cần có, một khối 200 vị như vậy thì cũng đã chuyển được ... “thế cờ”. Chỉ với hai điều kiện gian truân: Họ là một khối keo sơn, và thời đại dám trao cho họ một cơ hội để hoàn thành tâm nguyện phục vụ Dân tộc và Đạo pháp của mình. 

Ít nhất là đối với tôi, chuyến đi thăm chùa xuyên Việt vừa rồi đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc. Tin tưởng thì nhiếu mà âu lo cũng lắm. Dù chuyến du khảo tuyệt đối không phải là một nghiên cứu xã hội học nghiêm túc để rút ra được những kết luận khả tín, nhưng bức tranh về hiện trạng Phật giáo Việt Nam cũng đã rõ ra thêm. Và xác định một quy luật của văn hóa Việt Nam: Mái chùa che chở hồn Dân tộc, Giềng mối muôn đòi của Tổ tông

[09] Sóc Sơn, Tp Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Huế, Tp Đà Nẳng, Quy Nhơn, Bình Định, Nha Trang, Phan Thiết, Tp Hồ Chí Minh, Bến Tre, Mỹ Tho, và Vĩnh Long.
[10] Học viện Sóc Sơn, Quán Sứ, Pháp Vân, Phúc Chính, Thanh Hòa, Tâm Đức, Đông Hà, Châu Quang, Từ Đàm, Tường Vân, Pháp Lâm, Thanh Hà, Hải Hội, Bà Đa, Thiên Đức, Nguyên Thiều, Hải Ấn, Tỉnh hội Phan Thiết, Phật Quang, Giác Ngộ, Thiền viện Quảng Đức, Vạn Phước, Từ Tân, Tỉnh hội Bến Tre, Vĩnh Tràng, và Sơn Thắng.

11-2006

 

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 5995)
14/04/2020(Xem: 3262)
24/02/2020(Xem: 859)
02/11/2019(Xem: 1343)
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Moon Jae-in nói: “Phật giáo là nguồn lực Bi-Trí-Dũng, tạo thành sức mạnh đã giúp đất nước và con người Hàn Quốc vượt qua biết bao thử thách trong hơn 1.700 năm qua. Phật giáo luôn sát cánh bên những người đang phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, dân chủ và hòa bình của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng cộng đồng Phật giáo sẽ liên tục hợp lực để mở ra con đường hướng tới giao lưu liên Triều và thúc đẩy hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên”.
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.