● Trước Thềm Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc, Chợt Nhớ Đến Thầy Mật Thể ..

14/10/201012:00 SA(Xem: 12669)
● Trước Thềm Đại Hội Phật Giáo Toàn Quốc, Chợt Nhớ Đến Thầy Mật Thể ..

TRÍ TÁNH ĐỖ HỮU TÀI
NHƯ THỊ NGÃ VĂN
TỪ XA, NGHĨ VỀ VÀI VẤN ĐỀ CỦA PHẬT GIÁO TẠI NƯỚC TA 
NHÀ XUẤT BẢN LAO ĐỘNG - 2008,
NHÀ XUẤT BẢN TÂN VĂN - 2008
Ấn Bản Điện Tử 2009 USA

TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI PHẬT GIÁO TOÀN QUỐC, 
CHỢT NHỚ ĐẤN THẦY MẬT THỂ ...

Hiện nay, khi muốn tìm hiểu lịch sử khai sinh và quá trình hình thành của Phật giáo nước ta, những Phật tử ít thời giờ và dốt Hán học như tôi chỉ cần đọc tác phẩm Việt Nam Phật giáo Sử Lược (1943) của thầy Mật Thể, ba tập Việt Nam Phật giáo Sử Luận (1973) của thầy Nhất Hạnh, và Lịch sử Phật giáo Việt Nam - Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế(1999) của giáo sư Lê Mạnh Thát là cũng đã tạm đủ vốn liếng căn bản để làm chuyến hành trình tìm về nguồn cội của Phật giáo Việt Nam rồi. 

Trong ba tác phẩm nầy, cuốn sách của thầy Mật Thể đặc biệt làm tôi choáng váng ngây ngất vì hai lý do

Thứ nhất là thầy đã nén toàn bộ Phật giáo sử Việt Nam dài 1900 năm (từ năm 43 đén năm 1943) chỉ vào trong 164 trang ngắn ngủi. Đọc một cái vèo chưa đến hai tiếng đồng hồ là xong 10 giai đoạn thịnh suy rộng mênh mông của cả một tôn giáo trong bề dài ngút ngàn của cả một dân tộc. Mà vẫn đầy đủ, mà vẫn sâu sắc. Thầy viết trong Lời Nói đầu: “Trong khoản thời gian gần 2000 năm, sự bố giáo của liệt vị Tổ sư ra thế nào, tình cảnh thạnh suy của Phật giáo qua các triều đại ra thế nào , chúng tôi đều tham hiệp với tình hình chính trị, kinh tế của mỗi thời đại trong nước mà ghi chép rõ ràng kỹ lưỡng.”

Thứ nhì, và đây mới là điều tôi tâm đắc hơn cả, là cuối mỗi bước thăng trầm của Phật giáo nước ta, ta thấy như thầy bổng ngừng lại, đánh một hồi chuông và trầm ngâm suy nghĩ, rồi viết ra nhận định có tính đánh giá của mình. Thầy không lý luận quanh co mà viết thẳng, viết ngắn và viết đến nơi đến chốn. Viết lương thiện như một sử gia khí tiết, và viết với cả tấm lòng yêu nước yêu đạo của một Phật tử Việt Nam. Xin trích vài đoạn:

Thời đại Bắc thuộc (43-544), “Một tôn giáo mới du nhập, không được triều đình hoặc chính phủ đô hộ ủng hộ, thì không được rực rỡ phổ thông là phải”. Thời Hậu Lý Nam Đế (571-939), “Trong khoảng mấy trăm năm trời, dân ta sống điêu đúng dưới chính phủ đô hộ, chế độ hà khắc, mà Phật giáo sử có những giai đoạn ấy, thật cũng vẽ vang”. Thời Tiền Lê (968-1009), “Vào thời ấy có thể gọi là thời đại Phật giáo thịnh nhất. Vua tin theo, triều đình ủng hộ, lại có sứ đi cầu kinh, nhân dân ai cũng biết”. Cuối đòi nhà Trần (1225-1400), “Ấy thế là đạo Phật đến ngày bất hạnh. Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, có thể gọi thời đại nầy là Thời đại Phật giáo lạc đạo gốc”. Thời Hậu Lê (1428-1527), “Xét những điều kể trên, ta đủ biết Phật giáo đời nầy chỉ còn là sự cúng cáp cầu đảo, và Tăng đồ đã thành những tay sai đáng thương hại của vua quan hoặc các nhà có tiền khi muốn cầu tự cầu tài”. Thời kỳ cận đại (triều Nguyễn), “Thật ra, Phật giáo thời nầy đã kém lắm rồi nên dầu các triều vua và tín ngưỡng sùng phụng mà tinh thần Phật giáo vẫn suy. Ôi ! Tinh thần Phật giáo đến đây hầu đã tuyệt diệt !”. Thời kỳ hiện đại (thập niên 1930’), “Trong lúc nầy, đại đa số Tăng đồ trong các sơn môn vẫn đương mơ màng thiêm thiếp, chưa làm một việc gì tỏ rõ là người đã thức tĩnh”.

Tôi đặc biệt thích cái khẩu khí của Thầy trong mỗi câu phê phán rất ngắn cuối chương như thế, vừa có cái hào khí Tuệ Trung Thưọng Sĩ cổ điển lại vừa có cái quyết liệt của Noam Chomski hiện đại. Nhưng rồi tôi tò mò không biết về mặt sử luận Thầy đứng trên cơ sở nào để xuống bút đánh giá những câu như dao chém đá vậy, để rồi chủ quan khám phá ra một điều: Thịnh suy, thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam, cuối cùng, quay quanh một trục vận động. Đó là mối quan hệ hai chiều giữa Triều đình và Tăng đoàn, giữa tập đoàn lãnh đạo chính trị văn hóa quốc giathành phần giữ gìn giềng mối Chánh pháp của Phật giáo.

Thì ra đó là phương pháp luận trong sử quan của Thầy Mật Thể, mà Thầy đã đúc kết thành một quy luật lịch sử vốn thành hình từ thế kỷ thứ sáu tại nước ta: “Dân tộc Tàu từ ấy đã bớt cho người mình là một thứ mọi rợ man di; đó cũng là nhờ ở mấy vị cao tăng”. Dưới thời Bắc thuộc đã như thế, huống gì khi nước nhà bắt đầu thực sự độc lập một cách bền vững hơn kể từ thời đại Ngô Quyền (939-944), thì lúc nào minh quâncao tăng cùng hiện diện song hành, và cùng lúc có quan hệ chặt chẻ trên cơ sở Dân tộc và Đạo pháp, thì lúc đó nưóc giàu dân mạnh, và quan trọng hơn, con người sống có văn hóa, cư xử với nhauđạo lý. Còn lúc nào không có hai điều kiện nầy thì đất nước suy kiệt, đạo pháp suy đồi.

Thật vậy, đọc lại 164 trang của Việt Nam Phật giáo Sử lược, đàng sau những biến cố trùng trùng điệp điệp tác động lên cuộc vận hành và hướng đi của Phật giáo nước ta, là những khuôn mặt to lớn, xấu hay tốt, trong chốn triều trung và tiếng giãng kinh trầm hùng đàng sau các cổng chùa. 

Một bên là những Lý Phật Tử, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Đại Hành, Lê Long Đĩnh, Lý Công Uẩn, Lý Thưòng Kiệt, Lý Thánh Tôn, Trần Thái Tôn, Trần Nhân Tôn, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Ỹ Lan Công chúa, Hồ Quý Ly, Nguyễn Trãi, Lê Thái Tôn, Nguyễn Huệ, Trịnh Tráng, Nguyễn Hoàng, Gia Long, Tự Đức, Khải Định, Bảo Đại, Richelieu, Bonard, Decoux, Hồ Chí Minh, Ngô Đình Diệm, Martin... Một bên là những Khương Tăng Hội, Vô Ngôn Thông, Vô Ngại thượng nhân, Khuông Việt, Pháp Thuận, Viên chiếu, Thuyền Lão, Minh Không, Thông Biện, Van Hạnh, Pháp Loa, Huyền Quang, Hương Hải, Tế Viên, Thạch Liêm, Nguyên Thiều, Liễu Quán, An Thuyền, Tống Thị Ni Cô, Diệu Giác, Trí Hải, Lê Đình Thám, Thích Nhất Hạnh, Thích Thanh Từ, ... Nếu ta sắp xếp những tên tuổi đó trên trục thời gian thì hầu như chỉ khi nào “minh quân” và “cao tăng” nắm tay song hành thì nguyên khí dân tộc hùng mạnh, chánh pháp của Phật đạo xiễn dương. Còn khi nào không “minh quân” mà cũng chẳng “cao tăng”, hay có cả hai mà chẳng song hành thì cả dân tộc và đạo pháp đều đi vào thời suy mạt.

Dưới ánh sáng của quy luật vừa đạo vừa đời đó của Phật giáo sử Việt Nam, và dù nhìn vào tình trạng hiện nay của Phật giáo Việt Nam thì chỉ thấy ngổn ngang trăm mối tơ vò, tôi vẫn mãnh liệt tin rằng “minh quân” và “cao tăng” Việt Nam đang có đó, đã hiện hữu hay chưa hiễn lộ, mang báo thân ngũ uẫn hay chỉ như một ý hệ tư duy.

Cho nên trước thềm Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc năm 2007, và từ bên nầy bờ Thái Bình dương xa xôi, người viết chỉ xin thắp nén hương thành kính tưởng nhớ thầy Mật Thể, và cảm ơn thầy đã mô tả rõ ràng một quy luật sinh tử của Phật giáo Việt Nam. Cho thế hệ chúng ta bây giờ và mai sau.

9-2007

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 6007)
14/04/2020(Xem: 3271)
24/02/2020(Xem: 870)
02/11/2019(Xem: 1352)
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Moon Jae-in nói: “Phật giáo là nguồn lực Bi-Trí-Dũng, tạo thành sức mạnh đã giúp đất nước và con người Hàn Quốc vượt qua biết bao thử thách trong hơn 1.700 năm qua. Phật giáo luôn sát cánh bên những người đang phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, dân chủ và hòa bình của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng cộng đồng Phật giáo sẽ liên tục hợp lực để mở ra con đường hướng tới giao lưu liên Triều và thúc đẩy hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên”.
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.