7. Tin Thật

16/05/20154:20 CH(Xem: 5442)
7. Tin Thật

THỰC HÀNH 
KINH KIM CƯƠNG BÁT NHà
Đương Đạo 
Nhà Xuất  Bản: Thiện Tri Thức 2015

TIN THẬT

Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, liệu có chúng sanh nào được nghe lời nói câu chữ như thế mà sanh lòng tin chân thật chăng?

Phật bảo Tu Bồ Đề: Chớ nói như vậy. Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, có người giữ giới tu phước, đối với những lời câu này có thể sanh lòng tin, cho đó là chân thật, nên biết người ấy chẳng phải chỉ vun trồng căn lành nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật, mà đã vun trồng căn lành nơi vô lượng muôn ngàn đức Phật. Khi nghe lời câu ấy thậm chí ngay trong một niệm sanh lòng tin thanh tịnh, này Tu Bồ Đề, Như Lai biết rõ, thấy rõ những chúng sanh ấy được vô lượng phước đức.

Sanh được “lòng tin chân thật” tức là thấy được tánh Không, nhận ra được thực tại xưa nay, thấy được nền tảng không nền tảng của sanh tửNiết bàn, của mọi chúng sanh và chư Phật. “Ngay trong một niệm sanh lòng tin thanh tịnh” là một niệm thoát khỏi mọi nghi ngờ do tướng và tưởng quấy nhiễu, che mờ, bèn thấy ra bản tâm vốn không chỗ trụ, chưa từng dính vào một tướng và tưởng nào của sanh tử. Rồi với xác quyết “cho đó là chân thật”, bèn an trụ, sống ngập mắt đầy tai trong đó. Sống trong đó thì luôn luôn tự nhiên “được vô lượng phước đức”.

Nhưng lòng tin chân thật, thanh tịnh khi nào sanh? Khi trong tâm không có bốn tướng hay bốn tưởng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Trạng thái không có bốn tướng hay bốn tưởng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả nằm giữa hai tư tưởng. Hãy kéo dài trạng thái không có bốn tướng hay bốn tưởng giữa hai tư tưởng, đó là thực tại chân thật, đó là tâm không chỗ trụ, đó là lòng tin chân thật.

Vì sao thế? Chính vì chúng sanh ấy không có tướng ngã (hay tưởng ngã), tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có tướng pháp cũng không có tướng chẳng phải pháp.

Vì sao thế? Vì nếu những chúng sanh ấy tâm nắm giữ tướng tức là bám vào ngã , nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu nắm giữ tướng pháp, tức là bám vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Vì sao thế? Nếu nắm giữ tướng chẳng phải pháp, tức là bám vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Thế nên chẳng nên nắm giữ pháp, chẳng nên nắm giữ chẳng phải pháp. Do bởi nghĩa ấy, Như Lai thường nói: Tỳ kheo các ông nên biết pháp ta nói ra cũng như chiếc bè. Pháp còn phải bỏ, huống là chẳng phải pháp.

Một niệm sanh lòng tin, cho đó là chân thật, thì tức thời tương ưng với tánh Không và sống trong tánh Không. Sở dĩ tin được, sống được là khi đó những người ấy không thấy có tướng hay tưởng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, không thấy có tướng pháp cũng không có tướng chẳng phải pháp.

Làm thế nào để không có bốn tướng hay bốn tưởng, để vượt qua bốn tướng hay bốn tưởng hầu tiếp xúc trực tiếp với tánh Không?

Chẳng hạn trong hành động nhìn, một hành động khá tĩnh. Khi nhìn một cái cây, chúng ta tự hỏi có phải có một cái tôi đang nhìn hay không. Nếu có một cái tôi đang nhìn, hãy vượt qua cái tôi ấy. Có một người đang nhìn chăng. Nếu có hãy vượt qua cái người đang nhìn ấy. Có một chúng sanh đang nhìn chăng. Nếu có hãy vượt qua chúng sanh đang nhìn ấy. Và cuối cùng có một thọ giả đang nhìn chăng. Nếu có hãy vượt qua thọ giả đang nhìn ấy. Khi ấy chỉ còn một cái thấy không chỗ trụ hay là tánh thấy và mọi phân biệt chủ – khách dứt bặt.

Khi bằng thiền chỉthiền quán vượt qua cả bốn tướng che chướng ấy, tâm không có bốn tướng, bèn tiếp xúc, thấy trực tiếp thực tại, bởi vì thực tại thì không có bốn tướng hay bốn tưởng. Khi ấy chỉ có thực tại tánh Không, không có người thấy và cái gì được thấy, không có tâm và cảnh.

Cứ tiếp xúc nhiều lần cho đến khi tánh Không trở thành một sự thực, một thực tại hiện tiền, và chúng ta an trụ vào đó.

Một niệm sanh được lòng tin chân thật, thanh tịnh, là khi thấy trực tiếp tánh Không và mọi sự dứt bặt. Khi không có bốn tướng hay bốn tưởng, đó chính là tánh Không. Bốn tướng hay bốn tưởng hư vọng nhưng che chướng này có nền tảng là tánh Không, hiện hữu trong tánh Khôngtiêu tan trong tánh Không. Quan sát liên tục và kỹ lưỡng, chúng ta thấy bốn tướng hay bốn tưởng chính là tánh Không, nghĩa là vô tự tánh, vô sở hữu, và do đó vô ngại.

Khi ấy bốn tướng trở nên trong suốt như những tấm kính để cho năng lực, ánh sáng của tánh Không thấu thoát qua. Bốn tướng vẫn còn nhưng trở nên trong suốt, vì với Bồ tát, không phá hủy bốn tướng để nhập Niết Bàn, mà vì bi nguyện ở với chúng sanh cho đến ngày họ được giải thoát. Khi ấy Bồ tát ở trong tánh Không, dùng năng lực, ánh sáng của tánh Không để làm hạnh Bồ tát.

Đời sống vốn là tánh Không trở thành khổ đau sanh tử vì có bốn tướng hư vọng. Nguyên nhân nổi khổ ‘ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả’ chính là do nắm giữ lấy tướng, kiên trì cũng cố tưởng. Hễ một niệm nắm giữ tướng hay tưởng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả là một niệm lọt vào sanh tử, và tức thời là một niệm khổ.

Nắm giữ tướng pháp là chấp có, đó tức là bám vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Còn nắm giữ tướng chẳng phải pháp là chấp không, cái chấp không này vẫn là bám vào ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Chấp có chấp không đều là bốn tướng. Không chấpkhông chấp không thì bốn tướng không còn, sanh tử tịch diệt.

Mở to mắt ra mà nhìn, cái “chẳng nắm giữ tướng có pháp, chẳng nắm giữ tướng không có pháp”, cái ấy là tâm Phật, vốn hiện diện với chúng ta từ vô thỉ đến nay và suốt cả tương lai vậy.

Nhìn lại đoạn này và những đoạn trước, chúng ta thấy con đường Bồ tát bắt đầu bằng hai sự tích tập, tích tập phước đức hay công đức và tích tập trí huệ, đây là giai đoạn Tư lương vị. Và cuối cùng khi hai sự tích tập này đã trọn vẹn thì thành Phật. Công đứctrí huệ là hai cột trụ của Đại thừa:

  • Phước đức: “vun trồng căn lành”, “bố thí”…
  • Trí huệ: đồng thời không nắm giữ các tướng và tưởng.

“Một niệm sanh lòng tin thanh tịnh” là thấy được Pháp thân tánh Không, bước vào Sơ địa, là do hai sự tích tập phước đứctrí huệ đã đầy đủ đến mức căn bản để thông đạt tánh Không vậy.

Tạo bài viết
Với người Bhutan, Phật giáo không chỉ là một tôn giáo mà đơn giản là triết lý thấm đấm trong văn hóa, lối sống và từng nếp nghĩ của đời sống thường nhật. Trong các nghi thức tâm linh, người Bhutan rất coi trọng nghi thức tang lễ, nếu không muốn nói là coi trọng nhất bởi vì cái chết không chỉ đánh dấu sự rời bỏ của thần thức mà còn khởi đầu của tiến trình tái sinh.
Ba tháng Hạ an cư đã qua, Tăng tự tứ cũng đã viên mãn, và tháng Hậu Ca-đề cũng bắt đầu. Đây là thời gian mà một số điều Phật chế định được nới lỏng để cho chúng đệ tử có thể bổ túc những nhu cầu thiếu sót trong đời sống hằng ngày. Cùng chung niềm vui của bốn chúng, nương theo uy đức Tăng-già, tôi kính gởi đến Chư Tôn đức lời chúc mừng đã hoàn mãn ba tháng tĩnh tu trong nguồn Pháp lạc tịnh diệu, phước trí tư lương sung mãn.
Coronavirus đang chia rẽ người dân Mỹ trong đó có cộng đồng Phật tử Việt. Người đệ tử Phật phải thường quán niệm: an hòa ở đâu và làm sao giữ đƣợc. Những tranh luận từ quan điểm, nhận thức, định kiến đã tạo nên nhiều xung đột, bất hòa và bạo loạn. Khẩu nghiệp trong thời điểm hiện nay cần được chú tâm tu luyện. Học biết yên lặng khi cần và tranh luận trong chừng mực nhưng phải mang đến sự an hòa. ... Giáo Hội kêu gọi chư Thiện Tín, Cư sỹ, Phật tử và đồng hương thật Định tĩnh, Sáng suốt trước đại dịch hiện nay. Chúng ta cùng chắp tay nguyện với lòng: Chúng con sẽ vượt qua. Nƣớc Mỹ sẽ vượt qua. Và Thế giới sẽ vượt qua. Mùa Vu Lan năm nay tuy có hoang vắng trong các sinh hoạt Phật giáo nhưng ta vẫn tràn đầy năng lực, một năng lực cần thiết để vượt qua đại dịch và khốn khó hiện nay.