Những Đóa Hướng Dương

18/01/20211:00 SA(Xem: 1498)
Những Đóa Hướng Dương
NHỮNG ĐÓA HƯỚNG DƯƠNG 
Truyện ngắn của Bảo Tâm

hoa huong duong 3

Chương I

     

Chiếc xe đò Sài Gòn – Phú Lâm vừa ghé trạm, nhóm bán hàng rong vội vàng túa lại, rao vang lên:

- Bánh mì chả lụa nóng đây!

- Kẹo, thuốc lá đây!

- Báo mới, báo mới đây!

      Hàn cũng vội vàng xách ấm nước trà đá chạy quanh xe rao vồn vã:

       - Trà đá, trà đá, trà đá đây!

       Thằng bé cố rướn cổ rao lớn, rao dồn dập và mời mọc như năn nỉ từng người, nhưng không ai buồn để ý, hoặc giả thậm chí lắc đầu. Hành khách trên xe vài người bước xuống, vài người leo lên rồi xe lại tiếp tục lăn bánh. Hàn tiu nghỉu, đứng thừ người nhìn theo chiếc xe, vẻ mặt đầy thất vọng.

       Mặt trời lên khá cao, những tia nắng gay gắt đổ xuống thân thể gầy ốm xanh xao của Hàn khiến những giọt mồ hôi lấm tấm đọng lại trên vầng trán rộng, chiếc áo mỏng dính nơi lưng ướt đẫm. Cường nhìn sang bạn ngần ngại hỏi:

       - Bộ từ sáng đến giờ mày chưa bán được đồng nào sao?

       Hàn lắc đầu buồn bã nói:

       - Chưa! Mày hết nước rồi hả? Bán dùm tao ấm này đi, trả tiền nước luôn. Tao phải chạy về đã, mẹ tao đang bệnh nặng.

       - Vậy hả? Thôi đổ sang đây tao bán cho.

       Hàn cầm ấm nước nâng lên đổ sang ấm bạn, nó chừa lại một tí rót ra ly và nói:

       - Cho tao xin miếng uống, tao khát quá!

       - Từ sáng đến giờ mày ăn gì chưa?

       Hàn lắc đầu. Cường thò tay vào túi lấy ra củ khoai lang bảo:

       - Mày ăn đỡ đi, mẹ tao nấu khi sáng đấy!

       - Mày để dành mà ăn, tao phải về ngay.

       Rồi nó co giò xách ấm chạy trên hè phố. Chúng nó thường chạy như thế mỗi khi sợ trễ giờ học hoặc khi bán về tối… Trên đường, người qua kẻ lại và xe cộ tấp nập. Những quầy hàng đủ các loại được bày bán hai bên lộ. Chạy ngang qua khu chợ trái cây, Hàn bỗng chậm chân lại, nó vừa thoáng thấy điều gì đó khiến bước chân nó chần chừ rồi quay lui.

       Một ông khách đang lom khom cắm cúi lựa hàng. Chiếc túi quần sau, tờ giấy bạc nằm nửa trong nửa ngoài. Khi thằng bé đi lui vẫn thấy ông còn lom khom mua hàng, tờ giấy bạc còn nằm y như cũ. Nó đi quá một tí rồi lộn trở lại. Nó bước chầm chậm sát vào người đàn ông, nhẹ đưa tay khẽ rút tờ giấy bạc. Nghe động, người đàn ông vội chụp tay vào túi quần, nhằm ngay bàn tay nhỏ bé của nó. Ông ta đứng thẳng người xoay lui, nghiến chặt hai hàm răng rít lên:

       - A! Móc túi hả? Ông sẽ cho mày bài học đáng giá để nhớ đời mà bỏ nghề nghe con.

       Nói chưa dứt câu, ông giơ bàn tay to lớn tát lia tát lịa vào mặt thằng bé. Hàn bật người, nhào qua nhào lại rồi ngã xuống. Ông nắm tóc nó kéo đứng lên, vừa chửi rủa vừa đưa tay đánh tiếp. Người đi đường qua lại thấy hơi bất nhẫn nhưng chẳng ai buồn can thiệp.

       Rất may vừa lúc ấy Ni sư trụ trì chùa Bảo Liên cùng Phật tử Tiên Dung đang mua trái cây gần đấy chợt thấy cảnh này, Ni sư vội vàng bước đến nắm tay người đàn ông lại. Cánh tay to lớn đang hung dữ trút bao nổi tức giận xuống đầu thằng bé bỗng như bị chiếc kềm sắt kẹp cứng lại. Ông ta ngạc nhiên nhìn lui. Ni sư buông tay ông ra hỏi nhỏ nhẹ:

       - Thằng bé có lỗi gì khiến ông phải đánh đập nhiều thế?

     Nhìn dáng người mảnh dẻ, gương mặt hiền hòa phúc hậulời nói từ tốn khiến cơn giận trong ông đột nhiên chùn xuống. Tuy vậy ông vẫn cố lớn giọng nói:

       - Sư coi! Mới chừng đó tuổi đã đi móc túi, thứ này đánh cho chết cũng được chứ để sống chỉ làm bẩn xã hội.

       Ni sư hỏi thằng bé:

       - Con lấy của ông bao nhiêu?

       Hàn run rẩy nói:

       - Thưa! Con chưa lấy được ạ.

       Người đàn ông lại rít lên:

- May mà mày chưa lấy được đấy nhé, nếu lấy được ông đã chặt tay mày rồi.

       Ni sư bảo thằng bé:

       - Thôi! Con xin lỗi ông đi.

       Thằng bé vòng tay thều thào:

       - Xin ông tha thứ cho con. Con hứa không dám làm vậy nữa đâu ạ!

       - Nể Sư nên tao tha cho đó, nếu không chết với ông nghe con!

       Nói xong ông quày quả bỏ đi. Thằng bé bỗng thấy trời đất quay cuồng đảo lộn, nó lảo đảo. Phật tử Tiên Dung vội kêu lên:

       - Thằng bé xỉu rồi Ni sư ơi!

       Ni sư Bảo Liên nhẹ nhàng đưa tay ra đỡ lấy nó. Mặt mày nó xanh mét, máu từ trong miệng trào ra. Mấy người bán hàng gần đấy đồng cất tiếng rủa xả người đàn ông quá tàn bạo, đánh trẻ con mà chẳng chút nương tay. Ni sư bảo Tiên Dung lấy chiếc khăn trong túi vải đưa Sư. Tiên Dung mở tuí rút ra chiếc khăn tay màu vàng cũ mèm mà Sư vẫn thường dùng. Sư cầm chiếc khăn lau lên vầng trán đượm đầy mồ hôi của nó và lau dần xuống khuôn mặt xanh xao hốc hác. Hàn đang trong cơn ngất bỗng thoáng nghe một mùi hương lạ và cảm giác mềm mại êm ái nơi chiếc khăn tay đã giúp nó choàng tỉnh, khỏe khoắn như không có chuyện gì xảy ra. Nó mở mắt, ngồi thẳng lên, khuôn mặt mang đầy vẻ ngạc nhiên. Sư thấy nó đã tỉnh nên bảo:

       - Con nhổ nước miếng trong miệng ra đi!

       Một ngụm nước bọt cùng máu và hai chiếc răng liền rơi ra. Sư bảo Tiên Dung lấy tạm miếng gòn trong hộp thuốc cảm, viên lại nhét vào lỗ chân răng cho cầm máu. Sư hỏi nhỏ:

       - Con nghĩ sao về người đã đánh con?

       - Con biết con có lỗi.

       Thằng bé tuy miệng bị ngậm gòn nhưng vẫn nói được. Sư nhìn sang Tiên Dung bảo:

       - Chỉ cần nghe câu nói này ta có thể biết được tương lai của nó.

       Tiên Dung hỏi Hàn:

       - Biết có lỗi sao em lại làm nghề ấy?

       - Em có làm nghề ấy đâu. Em đi bán trà đá.

       Hàn lắc đầu nói và rồi nó nhớ lại chiếc ấm bèn đưa mắt tìm quanh, chiếc ấm nhôm đã văng xa, nắp một nơi bình một ngã. Nó đứng lên chạy đi nhặt lại. Sư hỏi:

       - Thế thì tại sao có chuyện khi nãy?

       Mặt Hàn bỗng nhiên đỏ gay và hai dòng lệ chợt tuôn trào trên khuôn mặt nhỏ. Nó mếu máo nghẹn ngào chỉ nói được mấy tiếng:

       - Mẹ con đang đau nặng!

       - Con ở đâu?

       - Nhà con ở khu ổ chuột.

       Ni sư nhìn sang Tiên Dung như muốn hỏi: “Con có biết nơi ấy không?”. Tiên Dung lắc đầu tròn mắt ngạc nhiên hỏi Hàn:

       - Khu ổ chuột nằm ở ngã nào? Tại sao lại có tên lạ như thế? Từ đây đến đó có xa không?

       - Thưa! Cũng không xa mấy. Đi hết đường này đến chợ Cầu Muối, qua cầu Calmette, khu ổ chuột nằm rải rác dọc theo bờ sông.

       - Con đưa Sư về thăm mẹ con được không?

       Thằng bé nhìn Sư hơi ngần ngại nhưng cũng gật đầu nhận lời. Sư bảo Tiên Dung đi lấy xe đến chở Sư và Hàn về nhà nó. Trên đường đi Sư hỏi:

       - Vì mẹ con đau nặng nên con phải làm việc xấu như thế sao?

       - Thưa, mẹ con đau mấy hôm rồi, trong nhà không còn gạo để nấu cháo, tiền cũng không có. Sáng nay con đi mượn quanh xóm cũng không có. Con làm điều này mẹ con hay được chắc đánh con chết.

       - Con đã làm bao giờ chưa mà sợ mẹ đánh?

       - Có một lần chúng con được một bà khách từ trên xe bước xuống, bỗng kêu chúng con lại nhưng không mua gì cả. Bà cho chúng con mỗi đứa hai chục ngàn rồi vội vã bỏ đi. Tụi con mừng chưa từng thấy, bởi tụi con đứa nào cũng nghèo, đi bán vậy chứ thèm ăn hàng lắm. Thấy hành khách mua ăn đủ thứ chúng con thèm nhỏ dãi nhưng không có đứa nào dám bỏ tiền ra mua ăn cả, những món hàng mình bán cũng đâu dám ăn, sợ hụt vốn sợ ít lời. Hôm ấy bỗng dưng mỗi đứa được hai chục ngàn vậy là tha hồ cho chúng con ăn. Có đứa mua đồ về cho cha mẹ hoặc cho em út, những thứ mà từ lâu chúng khao khát. Còn con, con không ăn cũng không mua gì cả. Con muốn đem tiền về đưa cho mẹ để mẹ con mua cái áo lạnh mặc vào mùa rét sắp đến, vì áo bà đã sửa lại cho con rồi nên bà lạnh lắm! Nhưng khi con đưa tiền ra, mẹ con không tin, bà cứ tra gạn mãi:

       - Tiền này từ đâu con có? Có phải con đi ăn cắp không? Mẹ không dùng thứ tiền đó, thà nghèo đói có chết cũng cam chứ tiền bất chính mẹ nhất định không dùng.

       Bà đòi quăng vào bếp lửa, con tiếc quýnh cả lên. May đâu có thằng Cường bạn con sang chơi, con mừng quá bèn nói:

       - Không tin mẹ hỏi thằng Cường đi. Nó cũng được cho chứ đâu phải mình con!

       Khi tra hỏi kỹ, lúc đó mẹ con mới tin, không còn la hét khóc lóc nữa.

       - Vậy mà hôm nay em dám làm điều mẹ không vui? – Tiên Dung nói.

       Hàn ứa nước mắt lòng đầy lo lắng. Qua khỏi cầu Ông Lãnh, Ni sư bảo Tiên Dung dừng xe lại vào tiệm mua bịch cháo và lon sữa. Hàn chỉ đường và chỗ ở, Tiên Dung chỉ chạy thêm một đoạn ngắn liền tới nhà. Tiên Dung mới dừng xe, Hàn liền vọt xuống chạy tuốt vào túp lều nhỏ gọi mẹ. Nó chạy lại bên chõng tre nơi mẹ nằm lay gọi:

       - Mẹ! Mẹ! Dậy đi mẹ, có Sư đến mẹ ơi! Mẹ à! Mẹ.

       Người đàn bà vẫn nằm mê man, thiêm thíp. Hàn đâm hoảng hốt như muốn gào lên:

- Mẹ! Mẹ, mẹ sao vậy mẹ…?

       Thấy mẹ vẫn lặng thinh Hàn bỗng bật khóc òa. Ni sư và Tiên Dung vội cúi rạp người xuống chui vào túp lều. Thấy Hàn đang gục mặt khóc bên cạnh người đàn bà nằm mê man, Ni sư bước lại đặt tay lên trán người bệnh, vầng trán nóng hổi, mồ hôi rịn ướt cả mái tóc trước. Gương mặt tuy trong ánh sáng lờ mờ mà cũng thấy đỏ gay. Ni sư ra hiệu bảo Tiên Dung đưa chiếc khăn tay. Hàn sực nhớ lại mùi hương và cảm giác mát mẻ của chiếc khăn đã giúp nó tỉnh táo nhanh chóng. Nó kéo áo lau mặt và mở to mắt chờ đợi sự mầu nhiệm nơi chiếc khăn. Quả nhiên khi Ni sư vừa đưa chiếc khăn lau trên vầng trán và đi dần xuống mặt, người đàn bà bỗng nghiêng người qua rên khẽ và chị mở choàng mắt. Hàn mừng rỡ kêu to lên:

- Mẹ ! Mẹ tỉnh lại rồi!

       Chị chống tay xuống giường như muốn tìm cách ngồi dậy. Hàn chạy lại đỡ lưng mẹ. Chị thấy miệng Hàn ngậm gòn nên ngạc nhiên hỏi:

       - Con sao thế?

       Hàn đang còn lúng túng, Tiên Dung vội đỡ lời:

       - Em nó lo cho mẹ quá nên chạy vấp té gãy răng. Ni sư gặp, giúp đỡ mới hay mẹ em bệnh nên cùng về thăm. Chị thấy trong người đã đỡ nhiều chưa?

       - Cảm ơn Sư và cô nhiều quá! Nhà con nghèo khổ mà Sư cũng lặn lội tới thăm. Giờ thì con nghe trong người đỡ lắm rồi.

       Ni sư bảo Hàn:

       - Con lấy khăn ướt cho mẹ lau mặt và súc miệng rồi lấy tô cho cháo ra.

       Sư quay sang nói với mẹ Hàn:

       - Em phải gắng ăn hết cháo mới uống thuốc được. Thuốc cảm sốt Sư có mang theo đây.

       Sư lấy lọ thuốc cảm ra đưa cho mẹ Hàn và dặn:

       - Ngày uống ba lần, mỗi lần hai viên, uống sau bữa ăn nhé! Thôi, bây giờ Sư có việc phải đi. Em hãy ăn và uống thuốc cho khỏe, hai hôm nữa Sư sẽ ghé.

       Sư lấy trong túi vải ra một bao thư đưa cho mẹ Hàn bảo:

       - Trong đây có ít tiền, em cất để lo trị bệnh.

       Sư nói với Hàn:

       - Mẹ con còn yếu lắm, con đi học rồi về săn sóc mẹ, đừng đi bán nữa nhé! Hai hôm nữa Sư sẽ trở lại.

       Dặn dò xong, Sư cùng Tiên Dung chào ra về.

       Hàn và mẹ ngẩn người ngơ ngác. Sư hiện diện thật bất ngờ và ra đi quá đột ngột. Chưa rõ Sư là ai. Chị Minh – mẹ Hàn – hỏi Hàn về Sư. Thằng bé cũng ấm ở. Mới gặp trong chốc lát nó có biết gì đâu. Tuy nhiên ở nơi Sư, cả hai đều cảm thấy có một sự thân thiết đến kỳ lạ, một sự che chở bảo bọc đầy lòng thương yêu chân thật, tựa như cha mẹ đối với con. Hai mẹ con cứ ngồi bàn tán mãi. Rồi Hàn nói:

       - Thôi! Giờ mẹ lo uống thuốc cho khỏe mạnh đi, mai mốt Sư trở lại thì thế nào mẹ con mình cũng biết mà.

       Rồi Hàn nói:

       - Mẹ ơi! Khi sáng con đi mượn gạo về nấu cháo cho mẹ nhưng không nhà nào còn một hạt. Có lẽ dì bảy, bác ba ăn khoai trừ cơm mấy hôm nay. Hay là  giờ có tiền Sư cho, mình mua gạo về biếu mỗi nhà một ít đi mẹ!

       - Được đấy con ạ! Chúng ta giúp đỡ bà con lối xóm. Con làm được việc này chứ?

       - Dạ được! Nhưng mẹ hãy ăn cháo, uống thuốc đi đã.

       - Còn con đã ăn gì chưa?

       Hàn lắc đầu nói:

       - Con chẳng thấy đói.

     Hàn bỗng nhớ lại mùi hương của chiếc khăn. Chính mùi hương này khiến cho con người nó sảng khoái tỉnh táo một cách kỳ lạ và có lẽ mẹ nó cũng thế.

     Chị Minh nhìn con thương xót nói:

       - Mấy hôm mẹ bệnh chắc con nhịn đói mãi phải không? Mẹ biết nhà hết gạo lại chẳng có tiền thế thì con sống ra sao?

     Hàn vừa xoa bóp vai mẹ vừa nói:

       - Mẹ đã bệnh mà còn lo quá nên không lành nổi. May mà lúc nãy có Sư, nếu không con chẳng biết làm sao cho mẹ tỉnh.

       Chị Minh nhớ lại cơn cảm sốt đã hành chị mê man suốt hai ngày qua, muốn kêu, muốn nói, mở miệng cũng không nổi. Chị biết chị đau như vậy Hàn sẽ khổ sở lắm. Nhà chỉ có hai mẹ con, thằng bé mới mười tuổi làm sao lo toan mọi việc cho được. Cũng vì thương con, ráng gắng gượng mãi nên mới ra nông nổi này. Mà cũng lạ thật, chị đau nặng như thế sao giờ lại thấy khỏe vậy hẵn? Chị nhìn Hàn hỏi:

       - Bộ Sư đó là thầy thuốc hả con?

       - Nãy giờ mẹ chưa uống thuốc cơ mà.

       - Chẳng nhẽ chỉ nhờ chiếc khăn tay chăng?

       - Mẹ có nghe mùi thơm nơi chiếc khăn tay ấy không mẹ?

       - Hình như có con à. Mùi thơm thật nhẹ nhưng rất lạ.

       - Con đã tỉnh nhờ mùi hương ấy.

       Chị Minh nhìn con ngạc nhiên hỏi:

       - Con té đến ngất xỉu cơ à?

       Hàn sợ mẹ hỏi tới khó trả lời nên vội vàng nói sang chuyện khác:

       - Nhưng bây giờ mẹ phải ăn cháo và uống thuốc đã, con đi dọn dẹp nhà cửa rồi đi mua gạo biếu bà con lối xóm nghe mẹ.

       - Hàn à! Con ăn với mẹ một miếng đi! Mình mẹ ăn không hết đâu, có cả sữa và trái cây nữa kìa. Sư cho mình nhiều quá. Chẳng biết chúng ta tu từ kiếp nào mà ngày nay được phước này.

       Hai mẹ con lại tiếp tục nhắc đến vị Ni sư đã giúp họ.

 

 

****

    

 

Chương 2

 

Khi ánh dương vừa chiếu ra những tia nắng vàng óng, vạn vật bỗng tươi sáng hẳn lên. Những túp lều lụp xụp nơi khu ổ chuột cũng bớt đi phần nào u ám.

       Hai mẹ con Hàn đã dậy dọn dẹp căn lều của mình từ khuya. Họ trân trọng đón chờ Ni sư đến như đón chờ một thượng khách. Căn lều này đã được chắp vá dựng lên bằng những tấm tôn, tấm gỗ cũ mục. Hơn mười năm qua chưa từng có một người khách nào lai vãng và hầu như cả khu ổ chuột đều hiếm khách như thế. Bởi suốt ngày họ đi làm thuê, làm mướn, hoặc buôn gánh bán bưng, chạy hàng rong, chợ trời hoặc kiếm ve chai, lượm bao ni lông nơi bãi rác, bán được vài đồng mua ít gạo, củ khoai về nấu ăn cho qua ngày. Tối chui vào ngủ, sáng lại đi làm. Đời họ chỉ có thế, buồn tẻ quạnh hiu, chẳng ai màng để ý đến. Ai ngờ được giữa thành phố xa hoa tráng lệ như Sài Gòn, nơi được xem là hòn ngọc viễn đông,  lại có những khu ổ chuột thê lương nghèo đói như thế.

       Ni sư Bảo Liên và Phật tử Tiên Dung đúng là những vị khách đầu tiên của khu ổ chuột này. Họ đến đây một lần và mang về những ấn tượng thê lương trong lòng. Lần thứ hai họ đến với số quà nhỏ để tặng đồng bào nghèo trong xóm. Ni sư và Tiên Dung vào thăm chị Minh và Hàn một lát rồi nhờ chị Minh dẫn đi thăm viếng từng nhà. Sư hỏi thăm, an ủicuối cùng đưa cho mỗi gia đình một cái phiếu nhỏ, bảo theo Tiên Dung ra xe nhận quà. Sư làm việc này xong đã gần trưa. Hai thầy trò trở lại túp lều của chị Minh nghỉ ngơi bàn chuyện. Sư hỏi chị Minh:

       - Em ở đây được bao lâu rồi?

       - Dạ thưa, lúc con sắp sinh cháu Hàn.

       - Sao em lại chọn nơi này để ở?

       - Thưa, con bị rơi vào đường cùng nên phải về đây.

       Chị nhớ lại khoảng hơn mười năm trước lúc còn ở Sóc Trăng. Tuy gia đình chị chẳng dư giả gì nhưng ngày hai bữa ấm no, sống êm đềm bên cha mẹ anh chị. Minh học chưa hết trung học đã bị gả lấy chồng. Chồng chị là một tài xế xe khách đường dài, rày đây mai đó. Gia đình bên chồng khó khăn, chị làm dâu hết sức cay đắng. Thấy vợ nhỏ dại mà phải chịu nhiều gian khổ, anh quyết định đưa chị lên thành phố mướn nhà ở. Tưởng rằng như thế cũng được an ổn dài lâu. Nào dè khi chị đang mang thai Hàn, chồng chị lái xe trên tuyến đường Cao Nguyên đã gây tai nạn, anh bị thương rất nặng và cuối cùng không qua khỏi. Chị phải trốn biệt gia đình không dám về quê. Thế là đời chị bắt đầu đi vào ngõ cụt, bà con không có, tiền của chẳng còn. Mãi cho đến gần ngày sanh mà chị vẫn chưa có chỗ ở. Những người cùng làm thuê làm mướn thương xót nên mách chị hãy đến khu ổ chuột che lều ở tạm như họ. Và chị đã sanh Hàn tại đây trong cô đơn nghèo tủi. Thế mà chị vẫn sống nổi và Hàn đã lớn lên cho đến ngày nay.

       Ni sư hỏi:

       - Nếu có người muốn giúp đỡ, nhận Hàn về nuôi cho ăn học đàng hoàng thì em nghĩ sao?

       - Thưa Sư! Con mà chịu đựng nổi sống được đến ngày nay cũng vì Hàn. Con vẫn hằng mong có ngày chúng con thoát khỏi cảnh khổ này. Nếu nay thật có người thương xót bảo bọc được Hàn, con xin cúi đầu bái lạy tri ân, nguyện không bao giờ quên ân ấy.

       - Còn em? Nếu em muốn, Sư cũng có thể giúp đỡ cho nơi làm ăn an ổn. Còn như phát được tâm quy y cửa Phật, về chùa ở với Sư càng quý.

       Chị Minh sáng mắt lên nhìn Sư sung sướng hỏi:

       - Con tu được sao Sư?

       - Được chứ! Nếu em phát tâm.

       - Con thích lắm, nhưng sợ không ai nhận.

       - Có gia đình rồi tu hơi khó nhưng không sao, miễn em tha thiết tinh tấn dõng mãnh tu tập thì vẫn có kết quả tốt đẹp như thường.

       - Vậy xin Sư mở lòng từ bi nhận cho mẹ con con theo Sư tu học.

       - Con không còn gì quyến luyến nơi đây chứ?

       - Thưa không. Nhưng xin Sư cho con vài phút để đi từ giã những người quen thân. Họ đã từng giúp đỡ mẹ con con trong những ngày nghèo đói.

       Sư hoan hỷ gật đầu. Khi chị Minh đi rồi, Tiên Dung nói với Sư:

       - Thưa Sư! Con thấy Hàn còn nhỏ ốm yếu quá. Hay là Sư cho con đưa Hàn về nhà, xin ba má con nhận làm con nuôi cho ăn học được không Sư?

       Sư hơi lưỡng lự nhưng cũng nói:

       - Thôi được, để lát về nhà rồi hãy tính. Sư phải gặp ba má con xem sao.

       Liền khi đó thằng Cường – bạn của Hàn - từ đâu chạy ào vào lều khóc tấm tức, vòng tay trước Sư nói:

       - Thưa Sư! Xin Sư cho con đi với. Con muốn được theo học như thằng Hàn.

       Sư đặt tay lên đầu Cường vuốt tóc hỏi:

       - Nhà con ở đâu? Ba má con có chịu cho con đi không?

       - Thưa Sư! Túp lều ở cuối dãy này là nhà con. Chắc ba má con không cho con đi đâu. Nhưng dì Minh và Hàn đi rồi con buồn lắm! Con thường đi đến đây, nghe dì Minh dạy dỗ Hàn, con rất thích. Còn ba má con chỉ biết chửi mắng đánh đập chúng con, có khi xúi giục chúng con trộm cắp nữa. Con buồn quá! Sư cho con theo về chùa đi học với.

       - Ba má con không tốt mà con biết hướng đến điều thiện thật là đáng quý! Nhưng Sư không thể cho con theo được. Con cứ thử về xin ba má, nếu ba má con không cho, lúc đó con cứ đến chỗ Sư, Sư sẽ nhận con. Hiện giờ không thể cho con theo được, ba má con sẽ gây khó khăn, con ở không yên đâu.

       - Làm sao con biết được nơi ở của Sư mà con đến?

       - Sư sẽ cho con địa chỉ. Nhưng con nhớ đừng cho ba má con biết nhé. Trước khi đi, con phải nhắn sao cho ba má con an tâm khỏi đi tìm.

       - Dạ con biết rồi.

       Sư bảo Tiên Dung ghi địa chỉ cho Cường và đưa cho em ít tiền bảo cất đi, để dành đi xe. Cường mừng ứa nước mắt, cúi đầu cảm ơn Sư.

       Khi chị Minh về, còn dẫn theo một người đàn bà và hai bé gái. Chị thưa với Sư:

       - Thưa Sư! Đây là em Mai. Em cũng gặp hoàn cảnh khổ như con. Chính con đã chỉ cho em về nơi này ở tạm. Con vẫn thường qua lại để giúp đỡ em, nhưng nay con theo Sư, xin Sư cho em cùng về ở chùa tu được không ạ?

       Sư nhìn Mai với hai đưa bé bằng tâm từ bi rộng mở, Sư hỏi:

       - Hai em bé còn nhỏ quá mà con muốn tu sao? Bé này mấy tuổi rồi?

       - Thưa Sư, đứa lớn năm tuổi, đứa nhỏ ba tuổi.

       - Bố nó giờ ở đâu?

       - Đã mất tích ba năm nay rồi ạ!

       Sư thở ra:

       - Thôi được, cứ về chùa rồi tính.

       Thế là mọi người cùng lên xe theo Sư về chùa. Chị Minh nhắn lại với Cường:

       - Cháu coi trong nhà dì còn có thứ gì có thể xài được cứ lấy về xài, cả bên lều của dì Mai nữa nhé!

       Cường nhìn theo mọi người ra đi, đôi dòng nước mắt chợt tuôn trào.

 

***

 

 

Chắp tay tựa búp sen hồng

Con dâng trước Phật tấm lòng thơ ngây

Đường trần dầu có khổ đầy

Tâm con như hạt sương mai sáng ngần

   

Chương 3

 

       Chùa Bảo Liên nằm ở một khu đất riêng biệt thuộc thành phố Mỹ Tho. Diện tích đất của chùa rộng lớn mấy chục héc-ta, nào là đất xây dựng, đất canh tác, đầm sen và ruộng lúa mênh mông. Đất này ngày trước là của một vị quan lớn triều đình, về sau giác ngộ đạo Phật, xuất gia tu học, liền “cải gia vi tự”, trưng dụng tất cả tài sản lập thành đạo tràng. Chùa Bảo Liên được hiện diện từ đấy. Khi vị trụ trì đầu tiên viên tịch, người kế thừatrưởng tử của ngài – Hòa thượng Tâm Minh. Vị này là bạn học với thân phụ của Ni sư. Khi Ni sư muốn xuất gia, ông bèn gởi con cho bạn mình. Hòa thượng Tâm Minh thế phát cho Sư xong, gởi Sư sang Ni trường tu học. Tuy có rất nhiều đệ tử nhưng không hiểu sao cuối cùng Hòa thượng di chúc cho Ni sư kế thừa.

Khi Ni sư mới về, dân làng vùng này lúc đó còn thưa thớt lắm, đất hoang rất nhiều, cây cỏ tre gai um tùm cao quá đầu người. Chùa rộng người ít, quang cảnh tịch liêu. Sư lúc ấy chưa đầy ba mươi tuổi, dáng người mảnh dẻ, nhỏ nhắn nhưng hoạt động xã hội rất tích cực. Có hôm Sư bận công việc từ thiện, khi về chùa đã sẩm tối, trên đường có vài thanh niên lêu lỏng xông ra trêu chọc. Sư vẫn im lặng lách người rảo bước, chúng chạy theo níu tay cợt nhả. Sư biết lúc đó có kêu la cũng chẳng ai hay nên buộc lòng phải ra tay đối phó. Với một Ni cô thân thể mảnh mai, nào ai dè chỉ cần vài ba chiêu, Sư đã hạ được hai tên côn đồ lực lưỡng. Từ đó dân làng mới biết Sư võ nghệ cao cường, đám thanh niên hư hỏng không còn dám đến chùa quấy phá chọc ghẹo như trước nữa.

Sư có lòng từ bi rất lớn, thường để tâm chăm sóc cho dân nghèo, nhất là những người già yếu và trẻ em mồ côi. Chùa Sư đệ tử xuất gia thì ít mà người công quả rất nhiều. Hễ ai phát tâm tu, Sư đều tiếp độ, chẳng chọn lựa. Nếu còn trẻ, sau khi thế phát xong, Sư dạy dỗ hướng dẫn cho họ một thời gian rồi sau đó gởi sang Ni trường cho tùng chúng tu học. Còn đối với những người già và trẻ em thì Sư chăm sóc ở chùa. Ruộng đồng Sư cho dân nghèo trong làng làm, đến mùa thu hoạch họ muốn cúng cho chùa bao nhiêu thì cúng. Chỉ có đầm sen là Sư giữ làm kinh tế chính và giúp công ăn việc làm cho cả dân làng. Sư càng ở lâu, người ta càng quý kính. Họ xem Sư như một Phật sống của làng. Hễ ai gặp khó khăn nan giải hay ốm đau nghèo đói đều chạy đến nhờ Sư giúp đỡ. Nhờ vào sự tận tâm nhiệt tình của Sư đã an ủi chia sẻ, giải thoát cho bao nỗi đắng cay nghiệt ngã của cuộc đời mà họ phải gồng mình gánh chịu.

       Khi Sư đưa mẹ con chị Minh và mẹ con Mai về, trong chùa chẳng lấy gì làm ngạc nhiên cả. Chị Minh và Mai không ngờ chùa rộng lớn đến thế. Nhà ngang nhà dọc và người lặt sen ngồi đầy cả sân. Họ vừa làm vừa nghe băng giảng rất thanh tịnh. Sư đưa mọi người lên lễ Tổ, lễ Phật. Một lần nữa họ vô cùng xúc động, nơi giảng đường có rất đông người xâu hạt sen trong im lặng. Sư bảo họ đang niệm Phật, mỗi một hạt sen là một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Lễ Tổ và lễ Phật xong, Sư đưa mọi người sang phòng khách. Vài chú tiểu mang khăn nước lên xá mời Sư và khách. Chị Minh hỏi:

       - Thưa Sư! Những người làm đó họ ở chùa luôn hay về nhà?

       - Cũng có người muốn xuất gia nên ở chùa làm công quả, còn phần đông đều về nhà. Những người ở chùa chỉ làm phụ thôi, hoặc coi ngó công việc, còn những người kia họ làm ăn theo năng suất. Nếu hai em chưa muốn tu cứ làm như họ, Sư sẽ cho căn nhà phía sau để ở. Còn nếu thật sự phát tâm xuất gia thì phải tuân giữ giới luật, nội quy của chùa và ăn chay trường. Tùy các em chọn lựa.

       Minh và Mai đồng thưa:

       - Xin Sư cho chúng con được tập sự xuất gia.

       - Như vậy thì tốt, nhưng phải công quả thời gian thử xem có thích hợp không đã nhé! Tu hành thì phải nhận định chín chắn, đừng vội vã. Nhất là Mai, em phải mang hình thức cư sĩ để chăm sóc cho hai bé, ít nhất hai năm nữa mới xuất gia được. Các em nghĩ sao?

       - Thưa! Chúng con  bằng lòng như thế.

       - Còn hai bé, có thể cho xuất gia ngay, em chịu không?

       - Thưa vâng! Xin Sư cho chúng được xuất gia.

       - Còn Hàn, con đã mười tuổi rồi, con có thể quyết định đời con chứ?

       - Thưa Sư, con tu có được ở đây không ạ?

       Sư lắc đầu cười từ ái:

       - Con là nam, phải ở chùa Tăng thôi.

       Hàn lộ nét mặt buồn nói:

       - Như thế tùy Sư và mẹ con tính, con sao cũng được.

       Tiên Dung liền thưa:

       - Thưa Sư! Cho Hàn về nhà con ở.

       - Nhưng con chưa xin ba má con mà?

       - Tuy vậy, con biết chắc ba má con hoan hỷ.

       - Như thế cũng được. Con ở với chị Tiên Dung nhé? – Sư hỏi Hàn. Hàn thăm dò:

       - Chị Tiên Dung có thường lên chùa không?

       - Có, hầu như ngày nào chị cũng có mặt ở chùa. – Tiên Dung trả lời.

       Nghe vậy mắt Hàn sáng lên, cậu liền gật đầu. Tiên Dung nói:

       - Thưa Sư! Sư đặt pháp danh cho Hàn đi, tên đời nghe buồn quá!

       Sư cười hỏi:

       - Quý vị đã quy y Tam Bảo chưa?

       - Thưa Sư, chưa.

       - Thôi được. Để rằm đến Sư quy y và đặt pháp danh kêu luôn cho tiện.

       Vậy là chùa Sư hôm ấy nhận thêm bốn người nữa. Sư tự thân sắp xếp nơi ăn ở và chỉ bảo giờ giấc. Đến rằm, Sư làm lễ truyền trao tam quy, ngũ giới cho những người mới đến. Ai nấy đều xúc động rưng rưng nước mắt, riêng hai bé thì được xuất gia luôn. Sư ban pháp danh cho chị Minh là Bảo Hạnh, Mai là Bảo Phước, hai bé là Bảo Trang – Bảo Nghiêm và Hàn là Bảo Lân. Thế là từ đó  họ mang tên mới và sống cuộc đời mới, an vui thanh tịnh.

****

Như ánh trăng trong

Giữa bầu trời rộng

Giã từ huyễn mộng

Dạo bước thênh thang

Sen nở bạt ngàn

Gió lành khởi dậy

Đường xưa ngay đấy

Ai thấy trăng trong

Biển giác thong dong

Chưa từng kết bạn.

 

Chương 4

 

Đêm đã khuya mà Bảo Hạnh vẫn còn ngồi lặng im trong mùng niệm Phật. Cô cảm thấy trong tâm hoan hỷ một cách kỳ lạ. Hầu như cô quên biến thời gian, lòng cô đang tràn ngập hạnh phúc, một thứ phúc lạc không thể nào tả được. Nguồn hỷ lạc ấy cô chưa từng nếm biết, bỗng dưng tối nay nó dâng trào, tràn ngập trong cô một cách bất ngờ.

       Đêm càng về khuya càng thanh tịnh sâu lắng. Khung cảnh chùa Bảo Liên dưới ánh trăng non trông huyền ảo như cảnh giới siêu phàm. Hàng tre xanh bên đầm sen đứng im lìm như một ẩn sĩ. Cánh đồng lúa mênh mông, gió mang hương lúa ngậm sữa lan tỏa hương thơm khắp chốn. Hai hàng tùng bách xanh ngát đứng sừng sững nghiêm nghị trên lối đi vào chùa. Cây Bồ đề cao vòi vọi cành lá sum xuê che mát đài Quan Âm trước cổng.

       Chùa Bảo Liên tuy đông người nhưng thường vắng lặng, bởi vì Sư dễ dãi vui vẻ trong đời sống nhưng rất nghiêm túc trong công phu. Cho nên vào những giờ giấc tu tập tọa thiền, niệm Phật, sám hối… tất cả đại chúng phải tuân hành nghiêm chỉnh. Phần đông đại chúng trong chùa thích niệm Phật, riêng Sư lại thường tọa thiền. Sư có một cái thất bằng lá nhỏ nằm trong vườn xoài vắng vẻ, có khi Sư tọa thiền gần như suốt đêm ở đó. Tuy ít ngủ nghỉ nhưng nhìn Sư rất nhanh nhẹn mạnh khỏe, không mấy khi đau ốm như những người lớn tuổi khác.

Đệ tử Sư phần lớn học rất giỏi nhưng về mặt công phu tu tập, Bảo Hạnh lại có phần trội hơn. Phải chăng do cuộc đời cay đắng đã giúp cho cô thêm quyết chí, ra sức tinh tấn dõng mãnh tu tập. Sư luôn thầm theo dõi công phu của đệ tử mình, kiểm soát việc tu học của chúng rất kỹ. Do đó không ai dám lơ là giải đãi. Bảo Phước tuy rất siêng năng tu tập nhưng chưa nếm được mùi vị an lạc bao nhiêu, có lẽ cô còn bị chi phối bởi Bảo Trang và Bảo Nghiêm. Hai bé khi xuất gia rồi trông ngoan ngoãn xinh đẹp như hai tiểu đồng. Còn Bảo Lân hiện làm em nuôi của Tiên Dung, cậu bé học giỏi vượt bậc, được  cha mẹ nuôi cưng chìu như con ruột. Về phần Cường, sau khi Sư đưa gia đình chị Minh đi rồi, Cường nhỏ to xin cha mẹ mãi vẫn chẳng được. Một tuần lễ sau, Cường quyết định tìm đến chùa Sư. Trước khi đi, Cường nhắn với chúng bạn: “Hãy nói với ba mẹ tao, tao được một người đàn ông lạ mặt nhận làm con nuôi, hứa cho ăn học nên đã đi theo họ rồi.”

       Khi biết Cường bỏ nhà đi, cha mẹ cậu điên tiết lên, chửi rủa con chẳng tiếc lời. Lúc Cường gặp lại Sư, nó quỳ mọp dưới đất, ôm chân Sư khóc tấm tức:

       - Con lạy Sư! Xin Sư cứu con, con muốn thành người tốt. Suốt một tuần qua con không quên được hình bóng Sư. Con muốn được sống bên Sư, xin Sư cứu giúp con!

       Sư từ ái đỡ Cường lên hỏi:

       - Con bao nhiêu tuổi rồi?

       - Dạ thưa, con mười ba tuổi.

       - Giờ con muốn thế nào?

       - Con muốn sống như Sư.

       - Con muốn đi tu à?

       - Thưa vâng!

       - Vậy Sư sẽ gởi con qua chùa Bảo Minh để con tu nhé! Chùa ấy là của Sư huynh Sư.

       - Con không được ở với Sư sao? – Cường ngỡ ngàng hỏi

       - Con trai đi tu thì phải ở chùa Tăng con ạ!

       - Con muốn theo Sư thôi!

       - Nhưng con cần phải đi học chứ.

       - Thưa vâng! Nhưng xin Sư đừng bỏ con.

       Suy nghĩ một lát Sư nói:

       - Thôi được, duyên của con như thế, ta sẽ quy y cho con và lo tất cả cho con ăn học, nhưng phải ở chùa Bảo Minh nhé!

       - Con thường về thăm Sư được không?

       - Thỉnh thoảng thôi, con phải tu học cho giỏi chứ. Đừng để Sư bị mắng vốn nhé!

       Cường cúi đầu vâng dạ, hứa sẽ nghe lời Sư chỉ dạy.

       Sư cho Cường ở lại chùa một tuần rồi làm lễ quy y và ban pháp danh cho cậu là Bảo Long. Sau đó Sư gởi cậu qua chùa Sư huynh mình. Từ đó Bảo Long ở chùa Bảo Minh tu học rất tinh tấn.

       Sư rất có duyên độ người, dẫu ai ngang ngạnh cách mấy khi gặp Sư cũng được chuyển hóa.

       Tiên Dung ngày trước cũng thế. Là con gái út trong nhà, nàng được bố mẹ và hai anh cưng chìu nên tính tình bướng bỉnh, muốn gì làm nấy, chẳng ai  ngăn nổi. Vào năm cuối trung học, cô  suýt bỏ thi, ham theo chúng bạn rong chơi tối ngày. Nghe lời rủ rê, cô xoay qua học đàn, học vẽ, ca hát… Bố mẹ sợ con gái cưng hư nên buồn bã vô cùng.

Gia đình Tiên Dung có một tiệm ảnh nổi tiếng ở Mỹ Tho. Bố mẹ cô rất thâm tín Tam bảo. Một hôm, Tiên Dung được mẹ sai chở lên chùa. Từ nhà Tiên Dung đến chùa Bảo Liên không xa mấy. Trong khi mẹ vào thưa chuyện với Sư thì Tiên Dung dạo quanh trước chùa đợi mẹ. Khung cảnh nơi đây êm đềm trầm lắng khiến Tiên Dung cảm thấy bao sôi nổi bồng bột của tuổi trẻ trong cô dường như cũng lắng dịu xuống. Cô rảo bước dạo quanh bờ hồ sen, nhìn từng búp sen nhô lên với cái cọng nhỏ tí như chiếc đũa nhưng thật cứng cáp. Trong hồ sen hoa nở rộ, từng cánh lá mỏng dính bay rơi rụng trên nước, phơi bày hẳn gương sen ra. Có lẽ ở đây trồng sen cốt lấy hạt nên họ cứ để mặc cho hoa nở khắp hồ. Tiên Dung chợt nghĩ “Hoa tuy có xinh đẹp thật nhưng sao mau tàn úa thế? Tại sao đời người con gái lại hay ví như đóa hoa? Chẳng lẽ nó lại mong manh mau tàn đến thế sao? Giá trị của đời người nằm ở đâu?”

     Tiên Dung cứ đi thơ thẩn quanh bờ hồ với bao ý tưởng khúc mắc trong đầu, rồi chẳng biết nhờ thần lực nào dắt dẫn khiến cô vui chân bước dần vào chùa. Cô dạo quanh nhìn ngắm cách sắp xếp, cách trang trí và cô ngạc nhiên vô cùng trước một bức tranh. Bức vẽ đơn sơ, chỉ có hai thân tre với vài cành lá lưa thưa cùng mảnh trăng non chiếu rọi xuống dòng sông êm ả. Bức vẽ sống động như khung cảnh thật trước mắt mang đến cho Tiên Dung cảm giác êm đềm thanh thoát kỳ lạ. Bức họa chỉ đề năm tháng chứ không ghi tên họa sĩ. Tiên Dung bị bức tranh thu hút chôn chân tại chỗ. Mãi mê nhìn ngắm từng nét vẽ, cô quên cả chuyện đưa mẹ đi về.

Bà Xuân Thảo thưa chuyện với Sư xong xin phép lui. Sư đưa bà ra cổng nhưng cả hai chẳng thấy Tiên Dung đâu cả, chỉ có xe dựng đó. Sư và bà lại quay vào, vừa đi vừa trò chuyện, đi dọc theo hành lang chùa vào trai đường rẻ sang hậu tổ, Sư thấy Tiên Dung đang đứng đó say sưa ngắm bức tranh. Bà Xuân Thảo kêu Tiên Dung:

       - Dung ơi, chào Sư về con à!

       Tiên Dung nhìn ra thấy Sư và mẹ đang bước vào. Nàng khẽ cúi đầu chào Sư rồi hỏi:

       - Thưa Sư! Bức tranh này ở đâu vậy?

       - Ở đây.

       - Không, con muốn biết tác giả.

       Sư cười:

       - Con đã thấy được gì trong đó?

       - Trong con có nhiều cảm xúc đặc biệt nhưng con không thể tả được.

       - Con có phần đạt được ý bức vẽ đấy.

       - Sư vẽ bức này chăng? -  Tiên Dung ngạc nhiên hỏi.

       Sư cười hỏi dí dỏm:

       - Nếu phải thì sao con?

       Tiên Dung liền chắp hai tay:

       - Con xin bái phục! Vậy là Sư vẽ bức tranh này cách đây gần bốn chục năm? Thật quá tuyệt vời.

     Thế là sau đó, cô thường đến chùa và Sư có dịp chuyển hóa cô. Có hôm Sư hỏi:

       - Con có biết giá trị của đời người nằm ở chỗ nào không?

       - Nơi sự hiểu biết phải không thưa Sư?

       - Gần gần như thế, chúng ta hơn muôn vật nhờ ở trí khôn, biết nhận định phải trái, đúng sai, tốt xấu… để hành động. Tuy nhiên cổ nhân nói: “Có đạo đức mới gọi là người”. Thành ngữ Việt Nam ta cũng có câu:

“Hoa thơm nhờ nhụy

Người giá trị nhờ đạo đức”

       Người thông minh hiểu biết chưa chắc đã có đạo đức con ạ! Nhưng người có đạo đức chắc chắntrí tuệ thực sự.

       - Sao gọi là đạo đức thưa Sư?

       - Người có đạo đức là người luôn nghĩ đến tha nhân. Mọi tư tưởng và hành động của họ thường mang lại lợi ích cho người khác. Đức hy sinh của người ấy rất cao, luôn nhận chịu mọi thiệt thòi về phần mình, đó cũng là người thực sự có can đảmtrí tuệ. Còn người khôn ngoan hiểu biết, đôi khi do chính cái thông minh ấy cộng với tính ích kỷ thì sẽ gây ra không biết bao nhiêu điều tội lỗi. Họ sẽ sáng chế phát minh ra những thứ độc hại nguy hiểm khôn lường. Nào là hạt nhân nguyên tử, hỏa tiển, súng ống, xì ke, ma túy v.v…. Những thứ ấy có đem hạnh phúc đến cho con người không? Hay chỉ toàn gây ra bao đau thương đổ vỡ? Con có biết vì sao người ta có thể thông minh ở lĩnh vực này mà mê muội ở các lãnh vực khác chăng?

       - Thưa không, tại sao lại thường xảy ra như thế hở Sư?

       - Tại vì tâm ích kỷ của họ quá sâu nặng con ạ! Họ chỉ nghĩ đến họ chứ không hề nghĩ đến người khác. Họ chỉ làm theo điều họ muốn, họ thích chứ chẳng hề biết thương xót bao kẻ khác sẽ khổ vì mình. Những người này thiếu cả lòng ‘nhân’ chứ nói gì đến ‘đức’. Sống một cuộc đời như thế có giá trị chăng? Thật đáng tiếc phải không con?

       Tiên Dung ngồi lặng lẽ lắng nghe, cô cảm thấy thấm thía liền nhìn Sư với ánh mắt ân hận:

       - Có lẽ con đang nằm trong hạng người này.

       Sư ôn tồn bảo:

       - Khi con nhận định được điều ấy là con có thể chuyển hướng được cuộc đời mình.

       - Xin Sư từ bi chỉ dạy thêm cho con.

       - Con còn nhỏ lắm, bổn phận con bây giờ chỉ cần học hành nghiêm túc, thứ nhất nó giúp cho con có được một kiến thức vững vàng để tồn tại trong cuộc đời và thứ hai nó còn làm cho bố mẹ và hai anh con vui lòng, không phải buồn lo vì con nữa. Nghĩ đến người khác, sống cho người khác, con sẽ nhận được hạnh phúc thật sự ngay, huống nữa là cho gia đình mình, thân quyến mình.

       Tiên Dung thú nhận dù cô có ăn chơi tự do nhưng cô vẫn chưa thấy đâu là hạnh phúc, lương tâm cô luôn bứt rứt. Bản năng thụ hưởng cứ mãi thúc giục cô lao vào cuộc chơi, tìm thú vui ở những nơi mới lạ. Nhưng sau đó, trong cô xuất hiện một sự dằn vặt ngấm ngầm khiến cô bất an. Đây là thực trạng của tuổi trẻ thời đại. Thật đáng thương xót, đáng cho người lớn lưu tâm, thương cảm, hướng dẫn, tìm cho chúng một hướng đi thích hợp.

       Tiên Dung từ đấy vâng theo lời Sư ăn học đàng hoàng. Tốt nghiệp trung học xong, cô tiếp tục thi vào Đại Học Mỹ Thuật. Ngoài giờ học, cô thích lên chùa làm thị giả cho Sư, muốn học cách vẽ đặc biệt tuyệt vời của người. Sư bảo:

       - Muốn vẽ được bức tranh lắng đọng như thế, trước tiên con phải tọa thiền.

       - Tọa thiền để làm gì thưa Sư?

       - Để tâm tư ta trầm lắng, rỗng rang, an định… tâm ta lúc đó như một tấm gương trong suốt. Khi con tập sống quen với trạng thái này, tâm trí con sẽ nhẹ nhàng thanh thản và khi đưa bút lên vẽ thì con sẽ có một bức họa như thế đấy!

       Thế là từ đó cô theo Sư tập tọa thiền và quả nhiên Tiên Dung nếm được vị hỷ lạc do sự an định của tâm tư đưa đến. Cùng thời gian đó, cô bắt đầu cho ra đời những bức tranh giá trị. Còn hơn một năm nữa Tiên Dung mới ra trường mà tranh của nàng đã nổi tiếng khắp nơi. Vì thế, bố mẹ Tiên Dung xem Sư như vị cứu tinh của gia đình họ.

 

 

    

 

Tiên Dung sau khi hồi tâm tỉnh ngộ học hành tử tế bỗng thấy thương nhóm bạn ăn chơi hư hỏng của mình thuở trước. Một hôm nàng tìm cách rủ cả nhóm hơn mười đứa cùng lên chùa. Chúng chạy toàn xe đời mới, ồn ào náo nhiệt. Sư chào đón tất cả bằng nụ cười hiền hòa an lạc. Tiên Dung giới thiệu:

       - Kính bạch Sư! Đây là chúng bạn cũ của con, xin phép Sư cho chúng con được đi tham quan chùa.

       - Được rồi, các con cứ tự nhiên, một lát trở lại Sư mời dùng bánh uống nước nhé!

       Tiên Dung đưa bạn đi dạo hồ sen. Buổi sáng khí trời thật mát mẻ tinh khiết, ánh dương lên quá đầu ngọn tre. Chim muôn chuyền cành gọi nhau ríu rít và hót líu lo. Từng bầy cò trắng không biết từ phương nào tụ về đứng bên nhau muốn trắng cả bờ đê. Đồng lúa xanh đang độ ngậm sữa rì rào trong gió, mang hương thơm ngào ngạt. Dưới đầm sen hoa nở rộ, màu trắng màu hồng xen lẫn nhau trông rất ngọan mục. Hoa đã nở hay hoa còn búp hoặc hàm tiếu, với độ nào sen cũng mang nét đẹp đặc biệt, vừa duyên dáng vừa đằm thắm hiền hòa.

       Tố Trinh buột miệng:

       - Cảnh đẹp tuyệt như thế này bảo sao Tiên Dung vẽ không nổi tiếng được.

       Tiên Dung nói:

       - Đố các bạn, hoa sen đẹp nhất ở điểm nào?

       - Mùi thơm của hoa sen đặc biệt nhất

       - Sen còn búp trông đẹp tựa như đôi bàn tay em bé chắp lại.

       - Cọng sen cứng, vươn cao trông vững chãi cao quý.

       Tiên Dung nói:

       - Tất cả đều đúng. Nhưng còn một điều quan trọng hẳn mà các bạn quên. Sen nở trên bùn nhơ nhưng vô cùng tinh khiết. Đó là điểm đặc biệt nhất các bạn thấy chăng?

       Các bạn Dung đều phải gật đầu công nhận và tự trong sâu thẳm của tâm hồn, ai nấy đều nhận thấy hình như trong tâm họ đang có một gợn sóng nào đó. Dung đưa bạn đi dần lên chùa, đến cội Bồ Đề, đài Quan Âm, giàn hoa thiên lý, vào giảng đường (hôm nay chủ nhật, người làm sen đều nghỉ cả).

       Chợt Ánh Tuyết nhìn thấy bình hoa chưng trên bàn, ánh mắt lộ vẻ ngạc nhiên:

       - Ồ! Đặc biệt quá! Ai cắm bình hoa hết sức đẹp. Các bạn xem kìa! Chỉ một cành cây khô bên viên đá cuội, cùng đóa mẫu đơn trắng toát trên thảm rêu xanh, trông giản dị đơn sơ nhưng vô cùng nghệ thuật.

       Nam thì dán mắt vào bức thư pháp với những dòng “Mùa xuân qua ánh mắt, ý xuân qua vòng tay, ngày đi qua hơi thở, trăng sáng nào ai hay”

      Cậu ta nói với các bạn:

       - Chùa này trông bề ngoài có vẻ quê mùa cũ kỹ nhưng bên trong quả là “Chùa đất Phật vàng” các bạn ạ!

       Thu nói:

        « Chớ thấy áo rách mà cười,

Những giống gà nòi lông nó lưa thưa. »

       Trần Đại nghe xong cười vang bảo:

       - Đúng! Đúng!

       Tiên Dung nói:

       - Các bạn hay lắm! Nhận định rất chính xác. Ni sư trụ trì ở đây trông bề ngoài chất phác như dân quê nhưng thật chẳng phải quê. Chúng ta vào chùa gặp Sư nói chuyện thử nhé.

       Các bạn đều đồng ý. Tiên Dung đưa mọi người vào phòng khách. Sư từ trong phòng bước ra, trên tay cầm theo quả bánh vui vẻ nói:

       - Có lẽ chúng ta nên ra bàn đá trước hiên ngồi chơi, ngắm cánh đồng, hồ sen sẽ hay hơn các con ạ!

     Nhóm bạn của Tiên Dung vỗ tay tán thưởng, bởi chúng đã quen với sự phóng khoáng, thích ở nơi rộng rãi giữa trời đất. Sư biết nếu bắt chúng ngồi nơi phòng khách, chúng sẽ thấy ngột ngạt không thoải mái. Tiên Dung tiện tay cầm theo hai chai nước và khay ly. Chiếc bàn đá hình tròn được đặt dưới giàn hoa thiên lý, chung quanh là hai dãy ghế. Sư mời tất cả tự do ngồi rồi mở bánh và tận tay mời từng bạn. Sự ân cần của Sư khiến chúng thấy vui vui và thân thiện ngay.

       Ánh Nguyệt hỏi Sư:

       - Sư đi tu lúc bao nhiêu tuổi hở Sư?

       - Sư phát tâm năm mười sáu nhưng ông cụ bắt thi Tú tài toàn phần xong mới cho xuất gia.

       - Đi tu sớm vậy Sư có thấy buồn không?

       - Nếu không có sự phát tâmthông hiểu đạo lý chắc là dễ buồn lắm.

       Hoàng Trọng nhíu mày nói:

       - Con nghĩ đạo lý nhà chùa chỉ dành cho những người già chứ Sư lúc ấy còn trẻ mà cũng mến thích sao?

       - Con lầm rồi, giáo lý nhà Phật cho đến hiện nay, các nhà khoa học, tâm lý học, xã hội học v.v… trên thế giới đang nghiên cứu mà còn chưa thấu triệt được, làm sao có thể nói dành cho người già?

       - Có gì hay ho trong đó xin Sư nói cho chúng con nghe với.

       - Đức Phật là một người rất thực tế. Con cứ thử tưởng tượng đi, cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm, loài người lúc ấy sống hết sức lạc hậu. Họ chỉ tin vào thần linh ban phước giáng họa, hay có một vị trời nào đó tạo ra muôn loài, muôn vật và thưởng phạt theo ý muốn. Nhất là xứ Ấn Độ, nền triết học của Ấn Độ cực kỳ huyền bí và đa dạng nhất trên thế giới. Vậy mà khi Đức Phật Thích Ca thành đạo, Ngài liền tuyên bố: Tất cả chúng sanh đều có tánh giác như nhau, chỉ do nhân duyên nên mới có sự khác biệt, mọi vận hành sai biệt ấy đều không ra ngoài Nhân và Quả.”

       Ngài còn nói rõ về cấu kết của cơ thể con người là do hai yếu tố vật lýtâm lý tạo nên. Căn bản của các yếu tố vật lý là đất - nước  - gió - lửa, và căn bản của các yếu tố tâm lý là thọ - tưởng -  hành - thức. Đây là cuộc cách mạng có một không hai trong lịch sử phát triển của đất nước Ấn Độ. Cuộc cách mạng này đã đánh đổ gần cả trăm tà thuyết đang bành trướng tại Ấn Độ thời ấy. Những điều Phật nói mãi đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị. Bởi lẽ, khi những tiến bộ vượt bậc của khoa học hiện đại, lại một lần nữa xác chứng lời Phật đã dạy cách đây hơn 2000 năm là những chân lý bất di bất dịch.

       Trong bước đường hoằng hóa, Đức Phật thường dạy những điều hết sức thực tế. Ngài chỉ rõ nguyên nhân và kết quả trong từng hành động của chúng ta, để chúng ta tự nhận lấy trách nhiệm của mình chứ không đổ lỗi hay tin dựa vào ai cả. Kinh Pháp Cú câu số 43, Đức  Phật dạy:

Tự mình làm điều ác

Tự mình làm ô nhiễm

Tự mình ác không làm

Tự mình làm thanh tịnh

Tịnh không tịnh tự mình

Không ai thanh tịnh cả

       Chẳng phải nhờ cha mẹ hay thân bằng quyến thuộcchính tâm hướng thiện giúp ta tốt hơn lên. Điều này chứng tỏ giáo lý của Đức Phật đã đưa ta trở về làm chủ lấy đời mình, tự gánh trách nhiệm trong từng hành vi của mình. Các  con có thấy điều đó thực tế vô cùng không?

       Các bạn Tiên Dung đều ngồi lặng yên, chúng bàng hoàng khi nhìn lại hành động và cách sống phóng túng của mình. Từ lâu chúng hay đổ thừa mọi thứ, nào là cha mẹ không thông cảm tuổi trẻ, nào là do xã hội mới tạo nên, do bất mãn với học đường, do duyên số, do phận mình, do trời xui đất khiến v.v… chứ chúng thì hoàn toàn vô tội trước sai lầm ấy. Nhưng nay không phải cha mẹ, anh chị, thầy cô la rầy dạy dỗ mà do chính bậc giác ngộ nói ra « lỗi ấy chính tại bản thân ». Điều này quá rõ ràng thực tế, khiến chúng sững sờ không còn trốn tránh vào đâu được nữa.

       Sư thông cảm tâm trạng của bọn trẻ bèn an ủi:

       - Những lỗi lầm này chẳng phải riêng các con ngày nay mới có thôi đâu, mà chính Sư lúc còn niên thiếu cũng đã vấp phải. Quan trọng ở chỗ là ta có biết phục thiện hay không thôi, chứ tuổi trẻ phần nhiều đều bị sai lầm, hay chạy theo bản năng đam mê phóng túng, chưa biết nhận định chân chính, sống không có lý tưởng.

       Thuở ấy, Sư không hề nhận ra đó là lỗi của mình, cứ cho người  lớn quá lạc hậu cổ hủ, không biết thụ hưởng. Ông thân sinh của Sư lúc đó là một võ tướng, ông trung thành liêm chính. Chị và anh hai Sư học hành rất nghiêm chỉnh, chỉ có Sư và anh kế hay theo mẹ vui chơi nơi này chốn nọ, đủ trò giải trí. Mẹ Sư lại hay giao du với mấy bà đầm nhảy nhót, bà lại mê thích đánh cờ bạc, sống theo trào lưu mới và cho con mình tự do giao thiệp. Cha Sư dùng hết lời khuyên nhủ răn nhắc nhưng vô hiệu quả, ông buồn lắm! Nhưng đùng một cái, mẹ Sư ngã bệnh rồi ra đi thật bất ngờ. Chính cái chết đột ngột của mẹ đã làm Sư tỉnh ngộ. Nào ai dè cuộc đời lại vô thường đến thế. Mong manh, giả tạm, phù hư vậy mà con người cứ mãi tranh hơn, tranh thua, nào lợi, nào danh, nào sắc, nào tài. Chúng ta luôn luôn mong muốn đạt cho được những thứ ấy. Nhưng rồi để làm gì? Khi nhắm mắt xuôi tay hoàn toàn không mang theo gì cả. Chỉ có nghiệp thiện, ác đã gây, sẽ đi theo ta đời đời kiếp kiếp. Tục ngữ ta có câu “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Và Sư cứ thắc mắc, chết như thế là mất hay còn? Tại sao trong nhà ai cũng thấy bà về kêu khóc than thở, bảo là bà bị đói khát lắm, bà hối hận một đời sống ích kỷ, chỉ biết thụ hưởng, chưa từng hy sinh lo lắng cho ai, dù là cho người chồng đáng kính của bà. Mẹ Sư chết lúc còn rất trẻ đẹp nhưng hình như không mấy ai thương tiếc điều đó. Họ nhỏ to chê trách và chỉ thương cho cha Sư thôi. Đến lúc này Sư mới thấm thía câu “Hoa thơm nhờ nhụy, người giá trị nhờ đạo đức”. Từ đấy Sư chỉnh đốn lại sự học và phát tâm xuất gia. Anh kế Sư cũng như thế.

       Các con ạ! Thời gian chỉ đi có một chiều, người xưa ví “như ngựa qua cửa sổ”, “ngày tháng thoi đưa”, nhanh chóng vùn vụt, dù cho ta đổi với bất cứ giá nào, cũng không thể tìm lại được những tháng ngày đã qua. Ngày qua thì đã qua mất rồi, ngày mai cũng rất xa vời, nếu chúng ta không biết sống trong phút giây hiện tại của ngày hôm nay. Giá trị cuộc đời nằm trong chính sự sống, như lời cổ nhân nói “sống trăm năm chưa phải là nhiều, sống một ngày chưa hẳn là ít”. Có những cuộc sống rất dài lâu nhưng suốt cuộc đời chẳng làm lợi ích gì cả, có khi còn gây hại cho xã hội, xấu hổ cho gia đình, nặng nề cho cuộc đời. Tuy nhiên, vẫn có những đời sốngtrải qua cả mấy ngàn năm sau vẫn còn đem lại lợi ích cho bao người. Như cuộc sống của Đức Thích Ca Mâu Ni, như Chúa Giê-su, thánh Gandhi v.v… đó là những tấm gương tốt đẹp sáng ngời, chúng ta cần nên soi hằng ngày để nuôi chí lập hạnh. Các con có nhận thấy rõ những điều này không? Nhưng muốn làm lợi ích cho đời, trước tiên ta phải lập chí. Người có chí làm mười việc thành công cả mười, người không chí làm trăm việc thất bại cả trăm. Sống phải biết hướng thượng, phải có lý tưởng…chúng ta phải tự tạo giá trị chân thật cho đời sống mình, chớ đừng dại dột thả trôi, buông xuôi rất uổng phí. Người trí thức chẳng bao giờ để đời mình qua suông vô tích sự. Trong cuộc đời có rất nhiều điều cao quý để cho ta hướng đến. Nói chung, sống là một nghệ thuật các con ạ! Nếu chúng ta không biết “sống đẹp” là uổng phí lắm!

        - Sống như thế nào là sống đẹp hả Sư?

       - Sống có lý tưởng.

       - Lý tưởng là sao?

       - Là luôn biết hướng đến những điều tốt đẹp, cao quý, thánh thiện chân thật. Chẳng hạn như con là một kiến trúc sư hay một nghệ nhân hoặc nhạc sĩ, văn sĩ, tu sĩ v.v…thì con luôn mong mỏi cống hiến cho cuộc đời  những tài ba của con. Con sẽ thiết kế những tòa nhà đầy nghệ thuật, những tác phẩm điêu khắc thẩm mỹ, những bản nhạc bất hủ để đời, những áng văn có giá trị cao, hay đời sống thánh thiện với lòng thương bao la, đạo đức tuyệt mỹ.... Con luôn nghĩ đến quê hương, đất nước, xã hội, lòng con hằng mong mỏi mình sẽ làm một điều gì đó để đem lại lợi ích cho dân tộc, cho cộng đồng. Đó là người sống có lý tưởng, có hiểu biết.

       - Khi Sư bỏ những đam mêsống lại một cuộc đời mới, Sư có cảm thấy khó chịu lắm không?

       - Không đâu con! Sự sống phóng đãng thường dằn vặt tâm tư ta, khiến ta luôn buồn bã chán nản. Vì buồn bã chán nản, ta càng lún sâu vào sai lầm bất thiện. Nhưng đến khi ta biết tỉnh ngộ, quay về nẻo lành, thì tâm hồn ta sẽ nhận được giá trị tuyệt vời của sự sống.

      Các con còn nhớ chuyện Thomas Edison chăng? Nhà thiên tài này có hai ngàn năm trăm bằng phát minh, người đã sáng chế ra đèn điện, máy hát, máy điện tín, cùng vô số những phát minh tột bậc, cống hiến cho hạnh phúc nhân loại, mà ngày hôm nay chúng ta đã thừa hưởng.

       - Sư kể cho  chúng con nghe chuyện Edison đi thưa Sư!

       - Thomas Alva Edison (1847 – 1931) là nhà phát minh kỳ tài của thế giới. Có lúc ông sáng chế bốn mươi lăm phát minh một lần, đầu óc ông siêu phàm đến như thế nhưng ít ai biết khi còn là cậu bé bảy tuổi, ông học chữ không nổi, khiến thầy giáo nản chí chỉ muốn đuổi ông ra khỏi lớp.

       Mẹ ông, bà Nancy Elliott - một người phụ nữ chí khí đặc biệt, nghe vậy vô cùng tức giận bèn dẫn con đến mắng thầy giáo rồi bảo “ông hãy chờ xem, một ngày kia người ta sẽ nhắc đến tên tuổi con tôi”’. Bà lại nói với Edison “Từ đây con khỏi cần đến trường nữa, ở nhà mẹ sẽ dạy con”. Thế là cậu bé bỏ trường từ đấy. Học ở nhà với mẹ được ba bốn năm. Cậu rất thích học môn Hóa học. Ở nhà cậu trồng rau bán, có tiền cậu mang đi mua sách và các chất hóa học về thí nghiệm. Sau đó cậu xin bố mẹ đi buôn rau, chở bằng tàu lửa. Những giờ rảnh trên tàu, cậu cũng làm thí nghiệm hóa học. Cậu xin vào hội thanh niên để được mượn sách ở thư viện nghiên cứu, cậu lại xin bán báo cho công ty xe lửa để đi tàu khỏi trả tiền. Khi có được nhiều vốn rồi, cậu mua máy in và tự làm chủ một tờ báo. Tờ báo này được mang tên Weekly Herald, mỗi tuần ra một số. Tòa sọan được đặt ngay trong toa chở hàng của công ty xe lửa. Lúc đó Edison mới mười lăm tuổi, vừa làm giám đốc, vừa làm chủ bút, kiêm luôn thợ in, thợ sắp chữ, tự lấy tin tức quảng cáo, viết và phát hành báo in hai trang, mỗi kỳ in bốn trăm số. Tuy vậy nó đã gây tiếng vang đến tận Luân Đôn.

       Một hôm, chuyến xe lửa chở tòa soạn của Edison đang chạy hết tốc lực thì ở toa chở hàng bỗng bốc khói. Còi báo động kêu vang. Tàu dừng lại, nhân viên lấy nước dập lửa. Họ liệng từ trong toa ra, nào là rau, báo chí, sách vở, máy in, bin điện, ống thuốc v.v… Họ lôi Edison xô xuống đường. Sếp tàu giận đánh một bạt tai như trời giáng (khiến cậu bé từ đó điếc hẳn một bên tai luôn). Edison vừa xoa tai vừa thu lượm máy móc đồ dùng, cậu không hề buồn vì biết lỗi tại mình. Trong lúc thí nghiệm, cậu sơ ý để cho một thỏi lân tinh rớt trên sàn tàu, bốc lửa cháy lan qua đống báo. Đây là thất bại đầu tiên và sau đó cậu phải chịu thất bại liên tiếp nhiều lần, nhưng Edison chẳng hề thất vọng. Hễ mỗi lần thất bại càng khiến cậu hăng hái thêm lên.

       Kể từ sau sự cố đáng tiếc đó, Edison đặt tòa sọan tại nhà, đổi tên tờ báo là Paul Pry, lúc này cậu không thèm in tin vặt trong miền nữa, xoay qua viết trào phúng, chỉ trích các nhà danh tiếng ở Port Hurou. Báo bán chạy mạnh, riêng những kẻ bị chỉ trích giận điên lên. Họ kéo lại nhà Edison, lôi xềnh xệch cậu ra bờ sông và liệng xuống nước. Edison lóp ngóp lội vào bờ, từ đó bỏ nghề làm báo.

       Một hôm Edison đang thơ thẩn trong ga Mount Clemens, bỗng thấy một toa hàng lìa đầu máy chạy xuống dốc. Cách đó không xa có một em bé đang chơi trên đường sắt. Tức tốc, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, cậu chạy đến kéo em bé ra, vừa lúc bánh xe chạm vào gót chân Edison. Người sếp ga chạy ra mừng rỡ cảm động:

       - Vô cùng cảm ơn, cảm ơn cậu đã cứu được con tôi. Tôi đền ơn cậu bằng cách nào đây?

       - Tôi muốn học nghề điện báo. Ông giúp tôi được không?

       - Tôi sẵn sàng. Sáng mai cậu đến nhé!

       Đầu óc của Edison luôn luôn muốn phát minh những cái mới. Học khoảng bốn tháng, cậu đã biết cặn kẻ về kỹ thuật điện tín. Suốt năm năm, Edion làm điện tín viên cho nhiều công ty, vừa làm vừa thí nghiệm về hóa học. Edison làm việc một ngày trên hai mươi giờ. Chàng nói “Tôi còn có nhiều việc để làm nhưng đời lại quá ngắn nên tôi phải gấp.”

       Một hôm, các nhà doanh nghiệp ở Wall Street mong đợi tin tức về giá vàng thì máy điện thoại bị hư, điện tín viên sửa mãi chẳng được, ba trăm người chạy việc cho hãng  lớn khắp châu thành ùn ùn kéo tới phản đối. Edison đến xem xét sau đó chàng bảo họ là có thể sửa được, và quả thật, sau đó máy gọi được. Ông Laws - chủ thị trường vàng - mừng quá, cho chàng làm Giám đốc kỹ thuật. Ông trả lương mỗi tháng ba trăm mỹ kim, Edison mừng phát khóc.

       Có tiền nhiều rồi, Edison mở một xưởng thí nghiệm. Giám đốc công ty Gold and Stock Telegraph Company là tướng Lefferts bảo chàng chế tạo máy điện tín in được dấu. Chế tạo xong, tướng Lefferts muốn hỏi mua lại và ông xin trả chàng bốn vạn mỹ kim - một số tiền khổng lồ mà Edison vừa nghe qua muốn té xỉu.

       Năm 1877, trong lúc vừa sửa một máy ghi dấu điện tín vừa trò chuyện với người cộng sự, tay kéo cây kim ghi những gạch lên trên một ống bằng sáp, khi ông thốt ra một tiếng hơi lớn, thì cây kim nhảy lên và đâm vào đầu ngón tay ông. Việc đó, người khác chắc không ai để ý tới; nhưng óc tìm tòi, tò mò của ông không bỏ qua nó được. Ông ngưng tay làm việc, suy nghĩ tìm ra nguyên nhân tại sao cây kim nhảy. Tại tiếng nói của ông lúc đó lớn, làm rung chuyển một miếng thép đính với cây kim. Như vậy, ông có thể kiếm cách ghi tiếng nói được. Thế là, do một sự cố bất ngờ, bị một mũi kim đâm vào đầu ngón tay ông mà máy hát ra đời, Edison nổi tiếng khắp thế giới; các báo chí không ngớt nhắc đến cái “máy nói” của “nhà phù thủy ở Menlo Park”. Người ta đổ xô nhau lại phòng thí nghiệm của ông để coi, đông đến nỗi công ty Hỏa xa phải đặt thêm những chuyến xe riêng.

       Ông được mời đến Washingtons để trình bày máy. Từ đó danh tiếng của Edison lừng lẫy. Không dừng lại ở những khám phá đó, danh tiếng Edison lên đến cực độ khi ông chế tạo được bóng đèn điện. Ông phải tốn công bốn năm, từ năm 1878 đến năm 1882. Người ta thường lấy câu: “Thất bại là mẹ thành công” để khuyên thanh niên và lấy gương Edison để chứng thực câu đó. Ông đã thất bại không biết bao nhiêu lần rồi mới kiếm được thứ chỉ để đốt trong bóng đèn, và mỗi lần thất bại lại đưa ông tới gần thành công hơn một chút. Ông mãi làm việc như thế cho đến khi mất, thọ được tám mươi bốn tuổi. Thế giới coi ông như bậc thánh về phát minh.

       Bây giờ mỗi khi ngồi học dưới bóng đèn điện sáng tỏ tiện nghi này, các con hãy nhớ noi gương Edison - bậc vĩ nhân đã sống một đời luôn luôn làm lợi ích cho nhân loại, hy sinh cần mẫn, trì chí và gan dạ… Ngày hôm nay người ta vẫn thường nhớ đến câu nói bất hủ của Edison “Thiên tài chỉ một phần trăm cảm hứng, còn chín mươi chín phần trăm toát mồ hôi”. Chúng ta nếu muốn có một đời sống hữu ích cũng đều có sự phấn đấu như vậy các con ạ!

       Sau lần gặp gỡ trò chuyện với Sư, các bạn của Tiên Dung không còn thấy thú vị mỗi khi ăn chơi nữa. Lúc ấy, chúng mới biết vì sao Tiên Dung dễ dàng bỏ rơi bọn chúng và sau đó chúng đã từ từ học hành nghiêm chỉnh trở lại.

 

***

 

Sức khỏe là gia sản to lớn nhất

Biết đủ là kho tàng quý báu nhất

Thành tín là bạn chí thân nhất

Niết bànhạnh phúc vô biên nhất

                      ( Pháp Cú 204)

 

                                                                            

      

Chương 5

 

       Bảo Lân cặm cụi làm xong bài toán, cậu xếp tập lại thở phào nhẹ nhõm. Lân bước ra bao lơn, vươn vai múa may vài đường cho giãn gân cốt rồi đi tìm Tiên Dung. Tiên Dung đang thu dọn giấy mực trên bàn, thấy Lân sang, cô dịu dàng hỏi:

       - Em đã thanh toán bài vở hết chưa? Năm nay chuyển cấp đấy nhé!

       - Thưa chị, em đã hoàn tất cả rồi, chị yên tâm.

       - Vậy giờ chúng ta đi được rồi phải không?

       - Thưa vâng!

Buổi sáng trời còn mờ sương, đường phố vắng vẻ, không khí trong lành mát mẻ, nhưng Tiên Dung và Bảo Lân cũng phải khoác áo gió để chạy xe cho đỡ lạnh. Hai chị em đưa nhau lên chùa Bảo Liên. Con đường này quen thuộc thân thiết đối với Bảo Lân làm sao! Đã năm mùa hoa phượng nở, chẳng biết cậu đã đi qua bao nhiêu lần trên con đường này? Con đường thanh vắng, mát mẻ đầy cây xanh, con đường mà mỗi lần đi qua là mỗi lần Bảo Lân nghe trong lòng nôn nao hồi hộp, thích thú.

Tuy đã hơn mười bốn tuổi rồi nhưng tính tình Bảo Lân vẫn rất trẻ con, tình cảm như một đứa bé gái. Đối với mẹ, cậu còn ngại sợ nhưng đối với Sư, cậu vòi vĩnh vô cùng. Gặp hôm nào Tiên Dung bận việc, cậu hớn hở lên chùa một mình. Vắng Tiên Dung, cậu sẽ thay thế chị làm thị giả. Thị giả là chở Sư đi và xách giỏ chứ có gì đâu, vậy chứ được Sư cho làm là cậu nhảy cỡn. Bởi trong lòng cậu còn mang một thắc mắc nhưng chẳng dám nói cho ai nghe. Vả lại, cậu cũng muốn tự khám phá. Thế mà suốt năm năm rồi, cậu vẫn còn mờ mịt. Khi được làm thị giả, cậu hy vọng mình sẽ biết được những điều mình muốn biết. Nhưng cho mãi đến nay nó vẫn còn nằm trong một dấu hỏi càng ngày càng to tướng. Có lần không kiềm chế được, cậu hỏi dò Tiên Dung:

       - Chị Dung! Chị thường làm thị giả cho Sư, chị có biết Sư xài dầu gì không?

       - Sư mạnh khỏe, Sư đâu có xài dầu đâu em.

       - Thế có bao giờ chị nghe trong giỏ Sư có mùi thơm lạ chăng?

       - Mùi thơm gì đâu cà? Chắc mùi mồ hôi của Sư nó như vậy đó.

       - Chị có lau mặt bằng chiếc khăn tay của Sư chưa?

       - Chưa, chị chỉ giặt khăn cho Sư lau mặt là thường, nhưng em hỏi chi kỹ vậy?

        - Không! Không có gì cả chị ạ.

       Thế rồi có lần bất chợt cậu hỏi mẹ:

       - Mẹ à! Những chiếc khăn mặt của Sư khi rách rồi Sư dùng làm gì?

       - Sư dùng để lau tay, lau chân hoặc lau bàn…

       - Ôi! Uổng phí quá! Mẹ nhớ khi nào Sư bỏ ra, mẹ lượm cho con nhé!

       - Để chi vậy?

       - Dạ.. dạ… để… để…

       Rồi cậu bỏ lửng không nói thêm được gì nữa. Bảo Hạnh nghiêm nét mặt nói với cậu:

       - Con hãy để tâm vào những điều thực tế nhất trong đời sống mình, phải học hành cho thật tốt để trả ơn Sư. Không được nghĩ chuyện vớ vẩn nữa.

       Cậu bé bị mẹ rầy ngồi lặng im thin thít. Từ nhỏ cậu vốn đã sợ mẹ, huống nữa nay Bảo Hạnh đã xuất gia tu hành, cô lúc nào cũng nghiêm nghị cứng cỏi cho nên ít khi cậu dám gần mẹ. Cậu hay vòi vĩnh với Sư thôi. Cậu thấy Sư võ nghệ tuyệt luân nên muốn theo học lắm nhưng cậu không dám xin thẳng, chờ lúc Sư hoan hỷ cậu nói khéo khéo:

       - Con thân thể ốm yếu, nếu được học võ nghệ chắc là khỏe mạnh lắm Sư nhỉ?

       Sư biết ý cậu nên cười nói:

       - Nếu con tọa thiền được, ta sẽ dạy võ nghệ cho con.

       - Tọa thiền để làm gì thưa Sư?

       - Tọa thiền cũng là một môn võ hết sức đặc biệt. Nó giúp con sức mạnh chống đỡhàng phục mọi tánh xấu ác như tham lam, sân hận, si mê v.v… nếu con luôn giữ được tâm an tịnh sáng suốt thì học võ mới có ích lợi, không gây tai hại. Còn bằng không, có võ nghệ dễ khiến ta trở thành vũ phu, tự thị, tăng trưởng tánh nóng nảy, chỉ tổ gây tai hại cho bao kẻ khác, chớ ích lợi chi.

       - Vậy con học cả hai cùng một lúc được không thưa Sư?

       - Con liệu học nổi chăng? Bài vở ở trường tuyệt đối không được lôi thôi đấy nhé!

       - Thưa vâng! Con xin hứa.

       Thế là Sư dần dần truyền đạt cho cậu tất cả những môn võ bí truyền của dòng họ Sư. Bảo Lân tọa thiền cũng rất giỏi, tuy là con trai nhưng tính tình cậu đằm thắm chăm chỉ, cho nên học môn gì cũng dễ thành công. Cậu có thể tọa thiền trong bốn mươi lăm phút trong tỉnh lặng. Sư dạy cậu lúc tọa thiền chỉ cần theo dõi hơi thở thôi. Hơi thở ra biết rõ mình đang thở ra, khi hít vào biết rõ mình đang hít vào. Không để xen một niệm nghĩ tưởng vớ vẩn nào cả. Chỉ cần giữ an định như thế, lâu ngày tâm trí rỗng rang sáng suốt kỳ lạ. Bảo Lân học mau thuộc bài và thông minh bén nhạy nhất lớp.

       Từ khi xa lìa được khu ổ chuột, Bảo Lân lúc nào cũng thấy mình như kẻ ở dưới hầm sâu được cứu vớt lên. Lòng cậu dâng tràn niềm hạnh phúcbiết ơn, nhất là với Sư. Dù lời nói nhẹ nhàng nào từ miệng Sư thốt ra cậu cũng xem như là một mệnh lệnh và tuyệt đối tuân theo. Lại còn muốn làm tốt đẹp hơn để tỏ lòng biết ơn người nữa.

       Xe đã chạy hết đường lộ, bắt đầu rẽ vào làng sen. Tiên Dung nói:

       - Chúng ta gặp được Sư quả là một điều may mắn cho cuộc đời mình Lân nhỉ?

       - Chị à! Mỗi lần nghĩ đến điều này em thầm cảm ơn người đàn ông đã đánh em hôm ấy. Nếu không có chuyện đó, làm gì em gặp được Sư phải không chị?

       - Em mang kỷ niệm cay đắng đó trong lòng, em có cảm thấy buồn không?

       - Không! Em ví như Việt Vương Câu Tiễn tự nếm mật nằm gai, để luôn nhớ chí nguyện. Vả lại, nếu không xuất thân từ khu ổ chuột, chưa chắc em đã biết quý đời sống hiện nay của mình.

       - Đúng đấy! Chị đã một thời xem thường hạnh phúc mình đang hưởng, cho nên cuộc đời quả là một bài học lớn, hoàn cảnh nào cũng có thể giúp ta tiến thân nếu ta là người có chí và có lòng biết ơn.

       - Nhưng quan trọng nhất là phải có người chỉ dạy mới thành công được phải không chị?

       - Đương nhiên rồi! Giả dụ như chúng ta không có phước gặp Sư thì đời chúng ta vô tích sự thôi. Sống không ích lợi lại còn làm nhiều điều sai quấy, thì giá trị chỗ nào nữa mà kể.

       Xe quẹo vào cổng chùa, Tiên Dung và Bảo Lân nhìn thấy Sư đang hái hoa thiên lý trước sân. Dựng xe xong, cả hai đi lại phía Sư chấp hai tay xá chào cung kính. Sư cười từ hòa hỏi:

       - Hai chị em ăn sáng chưa mà lên chùa sớm vậy?

       - Thưa chưa ạ!

       - Vậy chờ lát ăn cháo hoa lý với Sư nhé!

       - Thưa vâng!

     Rồi cả hai cùng nhau phụ Sư hái hoa. Những chùm thiên lý xinh xắn, hương thơm rất dịu, dùng làm thức ăn, nấu canh, nấu cháo, hay xào với đậu hủ rất ngon.

       Khi ông mặt trời vừa ló dạng rải những tia nắng vàng mượt trên đồng lúa xanh, bầu trời trong veo cao thăm thẳm, gió từ cánh đồng mênh mông nhẹ lướt qua mát rượi. Từng hạt sương mai đậu đầy trên giàn hoa thiên lý, xuyên qua ánh nắng long lanh kỳ ảo. Tiên Dung buột miệng:

       - Con trông cảnh hái hoa thiên lý lúc mặt trời lên đẹp tuyệt thưa Sư!

       Rồi cô đưa tay vào túi lấy máy hình ra nhắm cảnh bấm lia lịa. Cô còn kê máy hình sát giọt sương muốn chụp ảnh long lanh lóe sáng của nó. Cô nói:

       - Thế nào con cũng tạo một bức tranh tuyệt vời với cảnh hái hoa lý lúc mặt trời lên này.

       - Chị Dung nhớ trả tiền cảnh và người mẫu đấy nhé! - Bảo Lân nói, Sư cười cười bảo:

       - Chúng con chỉ thấy được việc trước mắt mà không biết còn có một cái đẹp hơn, vô giá hơn đang ẩn tàng.

       - Cái gì cà? Nó ở đâu thưa Sư?

       Tiên Dung hỏi, Sư chậm rãi nhìn sâu vào mắt Tiên Dung nói:

       - Ở ngay nơi chỗ con hỏi ta đó!

       Lân ngơ ngác, Dung cũng thừ mặt ra mờ mịt.

       - Sư vừa nói gì chúng con chưa kịp hiểu?

       Lặng thinh giây lâu Sư từ tốn hỏi:

       - Có bao giờ các con nhìn lại mình và tự hỏi cái gì khiến chúng ta nhận biết được cảnh mặt trời lên chăng? Cảnh đồng lúa xanh, cảnh hạt sương mai long lanh trên giàn hoa thiên lý? Tất cả cảnh này con thấy và máy hình cũng thấy được. Vậy máy hình với con có giống nhau không?

       - Làm sao giống nhau được thưa Sư! Máy hình chỉ chụp được cảnh chết cứng còn trong con đang dào dạt niềm vui. Con thấy cảnh và nhận biết từng thứ rõ ràng, máy hình đâu có được như thế.

       - Đúng vậy! Thế thì cái con nhận biết đó ở đâu?

       Tiên Dung lúng túng, Bảo Lân nhanh nhẩu:

       - Thưa Sư! Chứ không phải nó nằm trong đầu mình sao?

       - Vậy sao nó biết được bên ngoài mà nó không hề thấy gì bên trong? Con có thấy sự cấu tạo của não bộ con ra sao không?

       - Thưa không.

        - Con cũng chẳng rõ – Tiên Dung cùng đáp

       - Cái đó mới là vô giá đấy!

       Cả hai lại ngơ ngác, Sư nói tiếp:

       - Các con có thấy sự hoạt động mầu nhiệm của con người mình chăng? Cái gì khiến nó tuyệt vời đến thế? Nếu con dành nhiều thời gian suy nghiệm về điểm này thì con sẽ có nhận thức vượt lên khỏi thường tình. Không còn mê đắm sắc, tài, danh, lợi, nữa.

       - Sư ơi! Nếu không còn mê đắm những thứ ấy thì ta sống ra làm sao? Còn gì để vui?

       - Ta sẽ có một cuộc đời hoàn toàn thánh thiện, sẽ có niềm vui chân thậtlòng vị tha. Các con không thấy tấm gương của Đức Bổn Sư sao? Ngày trước Ngài là Thái Tử, nhưng với trí tuệ sáng suốt, Ngài không chấp nhận sống một đời thường với bao sắc – tài -  danh - lợi. Lòng Ngài luôn thao thức, trí Ngài luôn suy ngẫm. Ngài muốn tìm hạnh phúc vĩnh hằng, không còn bị khống chế bởi thời giankhông gian. Thoát ly khỏi sanh – lão - bệnh - tử, buồn, vui, thương, ghét, vô minh, phiền não điên đảo... Ngài không thể mặc nhiên để cho những hắc ám đó quấy nhiễu đời mình. Ngài nhất quyết muốn vượt ra ngoài mọi trói buộc của đời thường và Ngài đã thành công.

       - Bằng cách nào Ngài thành công được thưa Sư?

       - Không phải là chuyện dễ dàng đâu con, Ngài phải tự chiến đấu mãnh liệt với lòng mình, xa lìa vua cha, giã từ cung điện, chối bỏ vợ đẹp con ngoan, thu hết can đảm mà vượt thành xuất gia. Nguyện vì bao chúng sanh đang khổ đau Ngài ra đi. Thế rồi Ngài tìm vào giữa rừng sâu theo học đạo với các đạo sư danh tiếng đương thời, chỉ trong một thời gian ngắn, Ngài đã đạt được đến mục tiêu tối cao của các pháp tu ấy, nhưng nó vẫn chưa đáp ứng được sở nguyện của Ngài, bởi chưa thể loại trừ hết mọi căn bản khổ đau của sanh lão bệnh tử, vẫn chưa thể đạt đến cứu cánh hạnh phúc miên viễn cho mọi loài. Ngài liền bỏ các phương pháp ấy và tự tu khổ hạnh suốt sáu năm trong rừng sâu heo hút, cho đến lúc kiệt lực, vẫn chưa tìm ra ánh sáng chân lý. Cuối cùng Ngài quyết định chọn con đường Trung đạo. Đến dưới cội Bồ Đề trải nệm cỏ tọa thiền, tự thệ “Nếu không đạt được sở nguyện, thề không rời khỏi tòa ngồi.” Với ý chí ngất trời ấy, chỉ sau bốn mươi chín ngày đêm, Ngài đã đạt được trí tuệ viên mãn, chánh giác, thành tựu “Tam minh, Lục thông”. Từ đây không còn điều gì có thể che giấu được Ngài nữa.

       - Thế Đức Phật đã thấy gì vậy Sư?

       - Ngài đã thấy rõ nguyên nhân và kết quả của mọi sự, mọi việc, mọi hành động… Giả dụ như Ngài thấy rõ các hành tinh trong các vũ trụ được kết cấu từ nhân tố nào? Khi hình thành và đến lúc hoại diệt ra sao? Nhân duyên để thành tựu cây cỏ, động vật và loài người… Ngài rõ suốt từng chi tiết, đặc biệt nhất là Ngài thấy rõ một điều kỳ lạ là con người vốn sẵn có tánh sáng suốt, thông đạt, giải thoát, thế mà do vô minh chấp trước, tham đắm trần cảnh, tự cột tự trói trong điên đảo sầu não. Và nếu như muốn thoát ra khỏi mạng lưới sanh tử luân hồi đó thì phải như thế nào? Mỗi mỗi Ngài lập ra nhiều phương cách chỉ dạy cặn kẽ.

       - Thưa Sư! Giả dụ như con, vì sao con lại bị sinh ra từ khu ổ chuột? Phải chịu cực khổ suốt chín, mười năm? Rồi do đâu ngày nay con lại được sống an ổn ăn học sung sướng? Con vẫn hay tự hỏi và thắc mắc hoài điểm này.

       Sư nhìn Bảo Lân vừa thông cảm vừa thương xót. Người nhẹ nhàng nói:

       - Nếu Đức Thế Tôn còn tại thế thì Ngài sẽ nói rõ vì sao cho con nghe ngay. Còn Sư thì chẳng thể biết được. Tuy nhiên trong Kinh dạy “Muốn biết nhân đời trước thì xét quả hiện tại – muốn biết quả đời sau thời xét nhân ngày nay.”

       - Con chưa hiểu lắm về Nhân – Quả này?

       - Có gì đâu! Quả hiện tại của con như con vừa nói đó. Đời con như vậy có nghĩa là ngày trước con đã từng gieo nhân lành rất nhiều sống tốt với mọi người, hay giúp đỡ sự ăn học cho kẻ khác. Nhưng có lẽ, con đã lỡ lầm làm một điều không tốt nào đó. Hoặc khinh bỉ, chửi mắng hay nguyền rủa lời bất thiện… nên con phải chịu trả quả khổ sở trong một thời gian ngắn vậy thôi. Chẳng hạn như người đàn ông đánh con, ông ta vì cơn giận nên đã gây một Nhân bất thiện, thế nào cũng bị trả quả tương tự như con. Nhân là hành động hiện nay mình mới gây tạo, Quả là sự việc đưa đến cho ta không trốn tránh được. Điều này hoàn toàn thực tế không một chút mơ hồ. Tuy nhiên, Nhân - Quả nó không nằm trong thời gian nhất định, nên ta khó biết khó nhận. Ví như khi ta gieo một hạt giống xuống, phải đợi dầy đủ duyên nó mới phát sinh. Có lúc chỉ trong vòng vài tháng ta đã thấy kết quả của nó, nhưng cũng có khi phải đợi vài năm. Tùy theo Nhân và tùy theo Duyên, cho nên cần phải chín chắn nhận định mới lãnh hội được. Lại cũng có khi Nhân nhỏ mà chịu Quả lớn, hoặc Nhân lớn mà Quả nhỏ, tùy tâm niệm, tùy trường hợp, không cố định. Ví như câu chuyện “Con số đen” các con đã  đọc chưa?

       - Thưa chưa! Sư kể cho chúng con nghe đi thưa Sư! – Tiên Dung nói, Sư cười hiền:

       - Truyện dài lắm! Thôi, Bảo Lân mang hoa lý vào bếp cho điệu Hòa, rồi chúng ta ra đài Quan Âm nhổ cỏ, tắm nắng, kể chuyện luôn thể nhé!

       Bảo Lân vội vã bưng rổ hoa chạy vào bếp ngay. Lát sau cậu chạy ra hối thúc Sư:

       - Thưa Sư kể chuyện cho chúng con nghe với ạ! Con có đọc nhiều truyện cổ Phật giáo lắm nhưng con chưa gặp truyện ấy.

       Sư chỉ Tiên Dung cầm theo mấy cái ghế nhỏ, ba thầy trò ra ngồi làm cỏ dưới Đài Quan Âm trong ánh nắng ấm áp. Sư bắt đầu kể:

       - Thuở ấy, trước thời Phật, tại một làng quê nọ, có một ngôi chùa nhỏ rất đơn sơ. Trong chùa chỉ có một vị Tăng, hàng ngày Ngài đi xuống xóm khất thực rồi về chùa tu niệm rất tinh tấn. Dân làng thường đến lễ Phật cúng dườnghọc hỏi đạo lý nơi Ngài. Cuộc sống cứ thế êm ả trôi qua, cho đến một hôm, bỗng xuất hiện một vị tu sĩ lạ mặt đi vào làng khất thực. Vị này đi đến đâu, dân làng đều quý mến thăm hỏi cúng dường, và thỉnh cầu Ngài trụ lại làng họ. Rồi dân làng cùng nhau đưa Ngài lên chùa, xin vị tăng thường trụ trên thỉnh Ngài cùng ở. Cả hai vị thầy đều hoan hỷ tùy thuận ý dân chúng. Nhưng mà, từ khi có vị tu sĩ mới này dân làng không còn thân cận nhiều với vị thầy thường trụ như trước nữa. Họ mãi mê thân cận bên vị thầy mới để nghe giảng về Phật pháp nhiệm mầu, bởi vị này có biệt tài thuyết pháp lưu loát như nước chảy mây trôi.

     Mới đầu thì không sao, nhưng lâu dần vị thầy trước cảm thấy bực bội khó chịu vì thái độ “có mới nới cũ” của dân làng. Vị thầy sau biết được điều đó liền tìm cách để giải quyết. Hôm sau, vị sư thường trụ thấy cửa phòng vị khách tăng đóng chặt, nhưng thầy cũng chẳng buồn gọi, tự đi khất thực một mình. Dân làng ngạc nhiên đổ xô hỏi:

       - Ủa, còn một thầy nữa đâu? Sao hôm nay Thầy ấy không đi?

       - Tôi cũng không rõ, cửa phòng thầy đóng chặt, có lẽ thầy đang ngủ.

       - Sao lại ngủ giờ này? Chẳng phải quý thầy đã tọa thiền từ giữa đêm sao?

       - Đúng vậy! Tôi thì hành như thế, còn thầy ấy tôi không biết.

       - Vậy xin thầy hoan hỷ mang dùm phần ăn của thầy ấy về hộ nhé! Chúng tôi luôn sắm đủ hai phần.

       Vị sư thường trụ nói vậy cốt hạ thấp giá trị vị khách tăng mới đến, mục đích là làm cho dân chúng bớt tin tưởng, nào dè họ phớt tỉnh bỏ qua, còn gởi phần ăn, khiến cho thầy thêm nhọc. Khi khất thực xong, trên đường về, lòng thầy bực bội. Đi ngang qua rẫy mía do dân làng đốt thuận tay thầy đổ cả phần ăn của bạn vào đống lửa lớn mà không ai hay biết rồi thản nhiên ra về. Khi đến chùa, cửa phòng của khách tăng vẫn còn đóng kín. Thầy hơi ngạc nhiên, nghĩ bụng “Bộ ông ta định nhịn đói chết sao cà?” Bất giác, thầy đưa tay lên gõ cửa gọi:

-            Sư huynh! Sư huynh! Thầy có bệnh chăng? Sao không mở cửa?

       Kêu đôi ba phen vẫn thấy im lìm, thầy bèn phá cửa vào, bỗng thấy căn phòng trống trơn, chẳng có ai cả. Thì ra vị sư ấy tu đã đạt đạo, thấy cảnh bất ổn bèn dùng thần thông xuyên mái nhà đi mất. Vị Sư trụ trì lúc này mới hoảng hốt, ăn năn, hối hận lỗi lầm của mình. Bao nhiêu năm tu hành thanh tịnh, chỉ vì một phút vô minh tật đố nên đã gây tạo một nhân xấu vô cùng. Thầy buồn phiền đến lâm bệnh rồi chết.

       Sau khi chết, liền phải theo nghiệp lực của mình đã gây nên mà thọ quả báo. Vì tâm ganh tị cùng tội thiêu đốt thức ăn của kẻ khác mà thầy phải chịu đầu thai vào một gia đình ngư dân nghèo khổ. Từ khi mang thai cậu bé này, cả làng không ai đánh được con cá nào. Cuộc sống trong thôn ngày càng kiệt quệ, dân làng hết sức ngạc nhiên. Sau đó một người trong làng hiến kế, họ bèn chia các hộ dân trong làng ra làm hai nhóm. Bên có gia đình bà mẹ mang thai cậu bé không đánh được cá, còn phía bên kia làm ăn trở lại bình thường. Họ lại đề nghị chia nữa và cứ thế chia cho đến lúc khám phá ra chính hộ của người đàn bà có thai này là xui xẻo nhất.

Lúc này bà mẹ biết chắc do chính bào thai trong bụng mình gây nên tai họa này. Thế là, khi vừa sinh cậu bé ra, trong nhà đặt tên là “con số đen” rồi bàn tính vất bỏ đi, nhưng vì duyên nghiệp nên không thực hiện được. Cả nhà phải chịu đói khổ thê thảm, sống lây lất nuôi cậu bé cho đến lúc biết nói. Sau đó họ trao cho cậu một cái ca bể rồi bảo “hãy tự đi mà kiếm ăn”,  thằng bé cầm cái ca ra đi, và từ đó gia đình trốn thoát được nó. Thế nhưng, “con số đen” đi đến đâu thì thức ăn khô cạn đến đó. Nó xin suốt ngày chỉ được nửa muỗng cơm, ăn đủ cầm hơi. Cậu bé sống đói khổ như thế cho đến năm tám tuổi.

Một hôm trên đường đi khất thực, Ngài Xá Lợi Phất – vị đại đệ tử trí tuệ bậc nhất của Phật - chợt thấy thằng bé, động lòng từ bi Ngài kêu lại hỏi:

- Này con, trông con đói khổ quá, con có muốn đi theo ta xuất gia chăng?

       Vì duyên xưa vốn dĩ là thầy tu nên khi gặp lại người cùng chí hướng, lòng phát tâm mãnh liệt, tha thiết xin xuất gia. Tôn giả Xá Lợi Phất thế phát truyền giới cho cậu làm Sa di. Dù đã được vào Tăng đoàn, chú tiểu này cũng chẳng có bữa nào xin được thức ăn no đủ. Phật tử cúng dường rất đồng đều nhưng không hiểu sao cứ hễ đến phiên chú, thức ăn luôn hết sạch. Hoặc có lúc họ thấy bát của chú thức ăn đầy ngập nên không bỏ vào nữa mà thực ra trong bát chẳng có gì cả. Còn sắp theo thứ tự thì hễ chú đứng sau thì họ cúng dường từ trên xuống, đến khi tới chú liền hết thức ăn. Thấy tội nghiệp quý thầy cho chú đứng trước, thì Phật tử hôm ấy lại cúng từ dưới lên, đến phiên chú lại hết. Bảo đảm nhất họ bảo nên cho chú đứng giữa, thế là Phật tử hôm ấy bỗng phân chia ra từ hai đầu lại nên cuối cùng chú cũng chẳng có chi.

       Tuy phải chịu đói khát khổ sở như thế nhưng chú vẫn tu tập hết sức tinh tấn cho nên chẳng bao lâu, chú đã đạt được quả vị Thánh vô lậu. Dù đã đạt được Thánh quả nhưng ác nghiệp vẫn chưa hết. Vị A-la-hán này lúc nào cũng phải chịu sự đói khát. Một hôm Tôn giả Xá Lợi Phất quán sát biết đệ tử mình sắp nhập diệt, Ngài thương xót nghĩ “Ta phải làm cách nào cho ‘con số đen’ ăn một bữa no lòng trước khi xả báo thân”. Ngài bèn nói với đệ tử:

       - Hôm nay con ở lại tịnh xá tọa thiền, để ta đi khất thực cho con.

       Khi xin được bát đầy, Ngài gởi Tôn giả Mục Kiền Liên đem về, nhưng tôn giả Mục Kiền Liên có việc nên về đến Tinh Xá thì đã quá ngọ, thế là vị thầy “con số đen” phải chịu nhịn đói. Hôm kế tiếp đích thân Tôn giả Xá Lợi Phất mang bát đầy thức ăn về, Ngài định sớt qua bát con số đen một nửa. Nhưng kỳ lạ quá! Hễ sớt bao nhiêu vào, bát cũng trống rỗng, thức ăn biến mất ngay, chỉ còn vài hạt dính miệng bát, cho vị tôn giả này ăn tạm cầm hơi. Cứ xui xẻo đủ cách như thế cho đến ngày cuối cùng của thọ mạng, Ngài Xá Lợi Phất phải dùng hết thần lực, tự bưng bát cơm đứng trước mặt đệ tử mình bảo:

       - Con hãy ăn đi. Ta phải đứng đây cầm bát như vậy thì con mới ăn được.

       Đó cũng là lần duy nhất trong đời, “con số đen” được ăn no đủ và ngay đêm ấy, tôn giả nhập Niết bàn.

       Các con thấy có khủng khiếp không? Chỉ một nhân xấu nhỏ chừng ấy mà quả báo của nó tăng gấp vạn lần. Cho nên chúng ta đừng ngạc nhiên vì sao có nhiều cuộc đời quá khổ, cơm không đủ no, áo không đủ ấm, thân bệnh ghẻ lở, tật nguyền… Quả nào cũng có nguyên nhân cả. Vì thế, chúng ta không thể không cẩn thận trong từng hành động của mình.

       - Ôi! Sợ quá Sư ơi! Lỡ lầm có một chút mà phải chịu đắng cay đến thế sao?

       - Cũng xui xẻo cho vị thầy này, tại thầy đốt thức ăn của một vị Thánh nên quả báo mới nặng nề như thế, chứ phàm nhân không đến nổi như vậy đâu.

       - Nhưng làm sao ta biết được ai phàm ai Thánh? Làm Thánh rồi ai lại phạt nặng vậy?

       - Con lầm rồi. Con không thấy vị Thánh đó đã bỏ đi từ trước. Ngài có biết việc làm của vị sư trụ trì đó đâu. Quả báo là do tự thân tâm mình làm thì tự thân tâm mình đền trả, chứ không hề có ai nhúng tay vào thưởng phạt gì cả. Tuy nhiên, những bậc Thánh thường làm lợi ích cho muôn loài, lời nói, việc làm, sự hiện diện, của vị đó đủ cứu cho bao chúng sanh xa lìa điên đảo, khổ đau mê muội. Hại các Ngài chính là thiêu đốt sự thánh thiện, đoạn tận con đường sáng của nhân loại, cho nên gieo một nhân nhỏ với các bậc này thì quả của nó tăng theo phép số nhân. Nếu con gieo được nhân lành với chư vị thì phước đức vô lượng vô biên. Vì thế nên Phật thường khuyên các bậc Thánh đệ tử hiện diện ở đời, để làm phước điền cho chúng sanh là vậy. Vả lại, con thấy ở thế gian, nếu có một người tài đức, thường làm lợi ích cho bao kẻ khác thì luôn được nhiều người ủng hộ, bảo vệ. Nếu ta xúc phạm người tài đức đó, thì những người bảo vệđể yên cho ta chăng? Huống nữa là một vị Thánh. Không những Ngài cứu giúp cho loài người thôi mà còn hóa độ cho vạn loài. Có những loài không có hình sắc, mắt phàm ta không thấy nhưng chư Thiên, Hộ Pháp, Thiện Thần luôn bảo vệ vị ấy. Gây hại đến các Ngài ta khó tránh sự quở phạt là vậy.

       - Việc Nhân Quả đáng sợ quá Sư nhỉ? Nếu không rõ biết e khó tránh - Tiên Dung thở ra nói. Bảo Lân hỏi tiếp:

       - Thưa Sư, chứng đạo rồi mà còn phải chịu trả quả nữa sao?

       - Người xưa nói: “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu” nghĩa là lưới trời lồng lộng nhưng một vật nhỏ cũng không lọt qua. Việc nhân quả cũng vậy, nó phản ánh rất trung thực, hễ làm lành hưởng quả lành, làm ác chịu quả ác, không tránh đi đâu được. Như chúng ta thấy vị thầy đó trọn đời tu hành tinh tấn, nên trong việc tu ông đâu có bị trở ngại gì, ông vẫn tu cho đến chứng đạo, đó là một hạnh phúc tuyệt vời. Nhưng chỉ vì hành động hủy hoại thức ăn nên phải chịu đói khát để trả quả vậy thôi. Luật nhân quả này tự nó công bằng tuyệt đối, cho nên sống trên đời bắt buộc chúng ta phải nhận trách nhiệm trong từng hành động của mình. Chớ dại khờ đổ lỗi cho ai vô ích. Người có trí luôn luôn chấp nhận những gì đến với mình, bởi vì chẳng phải vô cớ mà nó đến đâu. Nghiệp là do từ thân – miệng – ý mình gây ra chứ nào phải nơi nào đến. Các con phải gắng giữ gìn miệng, tuyệt đối không nói lời hung dữ ác độc, ý không nghĩ chuyện sai quấy, tội lỗi và thân luôn làm điều lành điều tốt thì bảo đảm đời các con an vui, hạnh phúc chớ chẳng có gì khó.

       - Nghiệp cùng Luân hồi - Nhân quả, người ta thường cho là chuyện mơ hồ, nhưng sao nghe Sư nói, con thấy rất rõ ràng thực tế!

       - Giáo lý nhà Phật mênh mông như rừng như biển. Trong đó gồm có Kinh - Luật - Luận, gọi là Tam tạng giáo điển. Từ ba tạng này, chư Thánh đệ tử Phật khai triển ra nhiều vô số, học chẳng biết mấy đời mới hết, nên có lúc nói thật thấp, có khi phải nói cao không nhất định, chỉ cốt làm sao cho người nghe tin hiểu mà thôi. Nếu các con có thời giờ nên nghiên cứu học hỏi, rồi các con sẽ thấy mọi việc trên cuộc đời này dù khó tin, khó hiểu, bí mật tới đâu đi nữa, cũng đều được chư Thánh giảng giải ra rõ như ban ngày. Lúc Sư còn trẻ, khi học được đạo lý này, Sư thấy không còn gì để cho mình lưỡng lự, phân vân, hoang mang nữa cả. Đây quả là một kho tàng châu báu mà mỗi người chúng ta đều có sẵn, nhưng vì không hay biết nên đã bỏ qua! Thật là luống uổng…! Cho nên đối với Sư, đạo Phật không phải là một tôn giáo cần có đức tinđạo Phật chính là cuộc đời, phơi bày tất cả cái thật nhất và khai triển những gì quý nhất, cốt đem lại hạnh phúc chân thật cho muôn loài. Sư học Phật đến nay trên bốn mươi lăm năm, chưa có lúc nào nhàm chán. Càng học, càng tu, càng thấy Đạo vô ngần cao quý. Nếu các con không dành thời giờ học hỏi đạo lý này là một thiệt thòi lớn. Bởi vì mọi thứ dù danh, lợi, sắc.., gì gì đi nữa rồi phút cuối cũng trả lại cho cuộc đời. Chỉ có trí tuệ hiểu biết, tánh linh giác sáng rỡ, đó mới thực là ta mà thôi. Có được cái thấy đúng đắn này rồi, dù ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, cũng chẳng còn gì đáng ngại. Sư nói thế các con có hiểu gì không?

       - Sư muốn chúng con phải có niềm tin nơi mình?

       Sư cười hoan hỷ:

       - Tâm các con thông đấy! Thôi đủ rồi, chúng ta nên vào ăn cháo là vừa.

       Cả ba Thầy trò đứng lên đi vào.

       Trên cành tre xanh, muôn chim ríu rít ca hót líu lo. Trong ánh dương từng khóm lài nở trắng xóa, tỏa hương thơm ngào ngạt.

***

Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ bèo đầu đến mê

                      (Ôn Như Hầu)

 

Chương 6

      

       Bảo Long đi công phu chiều vừa xuống, Điệu Tiến chạy đến báo:

       - Sư Phụ cần gặp Thầy có việc.

       Bảo Long liền giải y, vội xuống phòng Thượng tọa Trụ trì. Ngài vừa thấy Bảo Long liền nói:

       - Có khách đợi con nãy giờ đấy!

       Bảo Long ngạc nhiên, bởi vì từ hồi nào đến giờ, Thầy chưa từng có khách riêng. Thầy hay tránh tất cả nên nghe nói có khách ngại lắm. Thượng tọa thấy Thầy đứng ngớ ra đó bèn cười nói:

       - Con cứ ra gặp thử đi, đâu có sao. Thầy cho phép tiếp mà.

     Bảo Long cúi đầu xá Thượng tọa rồi lui. Thầy đi thẳng ra phòng khách, hết sức ngần ngại khi bước chân vào. Nhưng khi vừa nhìn thấy,  thầy bỗng vụt kêu lên:

       - Ba! Mẹ…. Em…

       - Con..!

       - Anh Hai…!

       Họ ôm chầm lấy Thầy, mừng rỡ đến bật khóc.

       - Ôi! Con ơi! Suốt bảy tám năm trời rồi sao con trốn biệt ba mẹ thế? Ba mẹ ngày đêm trông mong con, ai đâu ngờ con tốt đẹp như thế này nè? Con lớn hẳn đi…

       - Anh hai, sao anh không về nhà? Tụi em nhớ anh quá!

       Bảo Long nãy giờ sững sờ, có bao giờ Thầy dám nghĩ đến cảnh này. Thầy xúc động hỏi:

       - Sao ba mẹ biết con ở đây? Lâu nay ba mẹ khỏe không? Các em đã được đi học chưa?

       - Con ơi! Mọi việc cũng đều nhờ cô Bảo Hạnh cả. Từ khi con đi rồi, ba mẹ buồn chán lắm nên sống có ra gì đâu. May sao thỉnh thoảng có cô Bảo Hạnh về thăm, cho cả xóm ít tiền ít gạo, khuyên lơn nhắc nhở bà con. Thấy Cô tu ngày càng trẻ, càng khỏe đẹp, lại ăn nói nhỏ nhẹ, hay ho nữa, khiến bà con lối xóm ai cũng quý mến thích nghe. Thế rồi, từ từ cô dẫn dắt lần lần sắp nhỏ trong xóm, gởi cho đi học. Người lớn thì cô khuyên tu tỉnh, ăn ở hiền thiện cho có chút phước, sau đó cô mới gởi gắm chỗ làm ăn đàng hoàng. Cô quen biết nhiều nơi làm ăn to lớn lắm con ạ. Ba mẹ ngày nay đã biết tin trời tin Phật, không còn dám chửi rủa, làm bậy như khi xưa. Chắc nay cô thấy ba mẹ đã sửa đổi nhiều rồi nên mới chỉ chỗ ở của con cho ba mẹ hay để đến thăm. Thật là vạn phúc cho gia đình ta. Nếu không nhờ cô Bảo Hạnh, khu ổ chuột thật khó ngóc đầu lên nổi. Xóm mình nay đi bộn rồi.

       - Bây giờ ba mẹ ở đâu?

       - Ba con thì chở hàng cho tiệm giày da Hưng Thạnh, mẹ thì phụ nấu ăn cho thợ ở đó. Họ cho ba mẹ một căn phòng nơi nhà kho. Mấy em con đều được đi học hết rồi.

       - Con ở đây vui không? Sao không chịu về thăm ba mẹ?

       - Nhiều lần con muốn xin về thăm lắm nhưng con sợ ba mẹ không cho đi lại nên không dám về. Ba mẹ có biết chỗ ở cô Bảo Hạnh không?

       - Không.

       - Sao ba mẹ không hỏi để đến thăm?

       - Cô nói “Để khi nào cô chỉ chỗ ở của con, ba mẹ đến đó thăm rồi con sẽ dẫn đến nơi cô cho tiện”

       - Nhưng ba mẹ nay đã vui vẻ cho con đi tu chưa?

       Ba mẹ Bảo Long liền chắp hai tay vái vái:

       - Ba mẹ thấy con tu như vậy là mừng lắm! Chắc cũng nhờ phước đức ấy ba mẹ ngày nay mới được như vậy. Mong con trọn đời tu hành an ổn, học hành giỏi giang. Ba mẹ không còn như khi xưa nữa đâu, con đừng lo.

     Bảo Long thở phào nhẹ nhõm:

       - Vậy thì bây giờ con xin phép Thầy đưa ba mẹ đi thăm chùa Sư nhé!

       - Xin đi con, ba mẹ mong lắm!

       Bảo Long mời ba mẹ và em uống nước xong, Thầy nói:

       - Ba mẹ đi cùng con lên lễ Phật, chào Thầy và Đại chúng rồi xin đi luôn thể.    

       Thượng tọa Trụ trì biết Bảo Long từ khi xuất gia đến giờ mới gặp lại gia đình nên rất hoan hỷ cho thầy đi cùng ba mẹ. Thượng tọa còn dặn dò:

       - Ngày mai chủ nhật không học, thầy cho con ở lại Bảo Liên thứ hai về cũng được.

       Bảo Long mừng lắm. Thầy về phòng lấy y áo rồi đưa ba mẹ đi ngay.

       Chùa Bảo Minh và chùa Bảo Liên chỉ cách nhau một con sông, vài cánh đồng, đi chưa mất một giờ đồng hồ đã đến. Ni sư Bảo Liên vừa nhìn thấy gia đình Bảo Long liền cười:

       - Ba mẹ Bảo Long lên thăm con đấy hở? Gia đình vẫn khỏe luôn chứ?

       Thấy ba mẹ ấp úng, Bảo Long liền chắp tay thưa:

       - Mô Phật bạch Sư, cô Bảo Hạnh chỉ chỗ cho ba mẹ con đến thăm và Thượng tọa đã cho phép con sang đây.

       - Sư biết! Mời quý vị ở lại đây chơi vài hôm nhé!

       Ba mẹ Bảo Long chắp hai tay khép nép thưa:

       - Xin Sư cho phép chúng con ở lại chùa đến thứ hai.

       Sư gật đầu từ ái bảo Bảo Long:

       - Thầy đưa ba mẹ vào gặp cô Bảo Hạnh, nói cô hướng dẫn ăn uống tắm giặt và xếp đặt nơi nghỉ ngơi. Sư cho phép thầy tự do trò chuyện với ba mẹ đêm nay, sáng mai Sư sẽ hỏi chuyện sau.

       Bảo Long cùng ba mẹ chắp tay xá chào Sư rồi lui. Tối đêm đó, tha hồ cho ba mẹ và thầy tâm sự, trút bao nỗi nhọc nhằn khổ sở suốt thời gian nơi khu ổ chuột, ông bố nói:

       - Người xưa nói “Bần cùng sanh đạo tặc” quả thật không sai. Bây giờ nhớ lại quãng đời đã qua, ba mẹ ân hận lắm. Mình đã lỡ lầm làm quá nhiều điều chẳng tốt. Cũng vì nghèo đói nên lúc đó ba mẹ chẳng từ nan, dù hành động xấu ác nào, miễn sao kiếm được miếng cơm ăn. Bản năng con người ai cũng sợ chết, dù khổ tới đâu cũng tranh giành để sống, mà chẳng biết sống như thế giá trị ở chỗ nào? Bây giờ hiểu được chút ít đạo lý, ba mẹ cảm thấy hối hận lo buồn, chẳng biết làm sao chuộc lại lỗi cũ, ăn năn cũng đã muộn rồi.

       - Chưa muộn đâu ba mẹ ạ! Biết còn hơn không, từ đây ba mẹ cố gắng tu sửa thân tâm, làm điều thiện, bòn mót phước lành cho tâm tánh thuần hậu. Lúc đó ba mẹ có muốn về chùa công quả tập tu, con sẽ xin Sư cho.

       - Chứ bây giờ không được sao con?

       - Không nên đâu ba mẹ ạ! Tập khí xấu ta đã huân tập quá sâu dày, phải tập lại từ từ, vào chùa mà còn khuyết coi kỳ lắm.

       - Chứ cô Bảo Hạnh, Bảo Phước từ khu ổ chuột vào chùa được ngay đấy! Ba mẹ quyết sửa đổi rồi mà.

      Đến lúc này, Bảo Long mới nhận thấy ba mẹ đã thực sự quay đầu ăn năn hối hận. Thầy thầm phục cô Bảo Hạnh chuyển hóa được ba mẹ thầy không phải là chuyện dễ. Bảo Long từ lâu cũng có ý muốn về thăm gia đình nhưng thầy biết mình chưa đủ sức độ ba mẹ nên lặng yên, nào dè cô Bảo Hạnh đã âm thầm giúp đỡ gia đình thầy tận tình. Chắc cô phải kiên nhẫn bền chí lắm mới thành công được như vậy.

       Sau thời công phu, cô Bảo Hạnh, Bảo Phước cùng hai tiểu Bảo Trang, Bảo Nghiêm đồng đến thăm hỏi trò chuyện vui vẻ. Bảo Long cảm ơn cô nhiều lắm về việc giúp đỡ gia đình thầy. Nhưng Bảo Hạnh nói:

       - Chẳng phải Bảo Hạnh tự ý làm mà là vâng lịnh Sư. Sư để tâm lo lắng cho nhiều người lắm, chẳng phải chỉ ở khu ổ chuột mà hầu như nơi nào Sư gặp, Sư thấy cần là Sư làm, chẳng kể thân sơ quen lạ. Khu ổ chuột nơi xóm mình đến nay cải thiện được nhiều rồi. Cũng mừng! Anh chị làm việc ở Hưng Thạnh thấy có dễ chịu không?

       - Thưa! Họ tốt lắm cô. Ông bà chủ rất rộng rãi tử tế, đối với người làm xem như người nhà, cho ăn uống rất đầy đủ.

       - Gia đình này cũng là Phật tử chùa Bảo Liên, họ quý Sư đây lắm, hay theo Sư làm việc thiện khắp nơi.

       - Nhưng dù đã được sống đầy đủ chúng tôi vẫn mong ước làm sao được như Cô mới quý. Trong cuộc đời mình đã lỡ gây tạo nhiều lỗi lầm quá rồi giờ chỉ muốn tu thôi.

       - Anh chị đã phát tâm thì sớm muộn gì rồi cũng sẽ được như nguyện.

       - Được như Bảo Trang, Bảo Nghiêm thật toàn thiện, trọn đời làm lành. Được như Bảo Long nhà tôi còn đỡ, chứ già như chúng tôi rồi mà còn chần chờ chắc đợi Diêm Vương đòi mạng, đền tội chứ tu gì kịp nữa.

       - Giờ nào giác ngộ giờ đó tu liền, đâu có gì trở ngại. Nào phải đợi đến xuất gia mới tu được đâu! - Bảo Hạnh nói, mẹ Bảo Long buồn buồn:

       - Tại chúng tôi chưa hiểu biết mấy nên rất cần có Thầy bạn, có nề nếp khuôn khổ, chứ nói tu mà chẳng biết tu làm sao?

       - Bây giờ anh chị chỉ cần giữ tâm thanh tịnh bằng câu niệm Phật là dễ nhất. Trong công việc hằng ngày, mình hết lòng phục vụ. Làm việc gì cũng tận tình nghĩ đến lợi ích chung, có tiền của nên tập bố thí cúng dường, giúp đỡ được ai điều gì nên gắng giúp. Dù cực nhọc khó khăn tốn kém vẫn không từ nan, phải chịu khó nhọc như thế mới tạo được phước từ từ. Dù ở tại gia tu cũng được như thường.

       Nhờ Bảo Hạnh chỉ vẽ, ba mẹ Bảo Long mới tạm an tâm.

       Sáng hôm sau khi Sư xả thiền xong, chuông điện thoại reo, Sư nhấc máy:

       - A lô! Chùa Bảo Liên xin nghe.

       - Ni Sư đấy à?

       - Xin lỗi ai đầu dây ạ?

       - Sư huynh chùa Bảo Minh

       - Mô Phật! Kính bạch Thượng tọa, Thượng tọa dạy con điều gì ạ?

       - Bảo Long có bển chứ Ni Sư?

       - Thưa có.

       - Ni Sư báo cho Bảo Long biết thứ hai trên trường có cuộc lễ giao lưu, lớp trưởng nên lên sớm để chuẩn bị. Nhà trường mới gọi về như thế.

       - Thưa vâng! Thượng tọa vẫn khỏe luôn chứ?

       - Vẫn khỏe. Ni Sư độ rày càng làm công tác từ thiện nhiều quá nhỉ. Lớn tuổi rồi cũng nên bớt bớt lại Sư à.

       - Đa tạ Sư huynh đã chỉ dạy.

       - À! Báo cho Ni Sư mừng, Bảo Long học tuy không giỏi lắm, chỉ khá thôi nhưng hạnh kiểm bậc nhất đấy nhé! Chú ấy đạo đức hết sức vững vàng, cần mẫn, khiêm tốn, ham tu… Người này tương lai có thể giao phó việc lớn được lắm.

       - Sư huynh à! Hình như Sư phụ ta đã tiên đoán được điều này. Lúc Sư phụ muốn con trụ trì chùa Bảo Liên, con không dám, con thưa : “Chùa Tăng sao lại giao cho Ni?” Sư phụ nói: “Ni chỉ một đời con thôi”. Sau này khi thấy Bảo Long muốn xuất gianhất định đòi con độ, từ đó con ngờ rồi. Đến khi nghe Bảo Long tu học vững vàng con an tâm lắm.

       - Chú ấy khi thọ Đại giới là thủ khoa, khi học lớp Cơ bản bốn năm đều đứng đầu về tác phong đạo đức. Nay lên Đại học Phật khoa cũng được Ban Giám Hiệu khen thưởng về hạnh kiểm. Được một người như thế thật xứng đáng. Người tài giỏi thấy vậy chứ nhiều lắm còn người đạo đức rất hiếm hoi. Chẳng biết Ni sư tích phước gì mà có được con rồng quý này? Nghe nói cả đệ tử tại gia của Ni Sư cũng hiếu thảo lắm phải không?

       - Cảm ơn đại huynh. Con nghĩ chắc Tam Bảo đãi con đấy chứ bản thân con dỡ mọi mặt, có làm gì được nhiều đâu.

       - Việc Sư làm không có rần rộ tên tuổi gì nhiều nhưng lợi ích thiết thực cho dân nghèo rất nhiều, nhờ thế nên phước đức lớn. Biết thế nên Sư phụ mới giao phó chứ nào phải bỗng dưng đâu. Thôi nhé! Sư nhớ nhắn Bảo Long. Chúc Ni Sư vạn sự cát tường.

       - Con cũng xin nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho Sư huynh sức khỏe dồi dào, đèn tuệ chiếu soi, chúng sanh rộng độ, Phật sự viên thành.

        - Cảm ơn  Ni Sư nhiều vậy.

     Sư vừa gác máy liền thấy Bảo Ân vào thỉnh dùng điểm tâm sáng. Sau giờ tiểu thực, Sư hỏi thăm sức khỏe đời sống và sự học hành của các em Bảo Long ra sao? Ba mẹ Bảo Long trình bày cặn kẽ mọi việc và Sư nói với Bảo Long:

       - Từ đây thầy phải có bổn phận với gia đình, nhất là các em. Phải hướng dẫn đạo đức cho chúng cẩn thận. Thầy hãy chuẩn bị sau khi tốt nghiệp, tập làm Phật sự là vừa, còn trẻ khỏe nên sớm phát bồ đề tâm, “Phụng sự chúng sanhcúng dường chư Phật” đấy thầy!

       - Kính bạch Sư! Con chưa dám đâu ạ. Con còn nhiều khuyết điểm lắm, kinh điển chưa học được bao nhiêu và nhất là sự tu trì con còn non kém quá, sợ e khi làm việc khó nhọc ắt sanh phiền não.

       - Thầy cứ tập làm dần đi, thấy nó sanh tâm gì mình tu ngay tâm đó. Nếu không làm sao biết được phiền não còn hay hết. Làm Tăng phải cứng rắn mạnh dạn. Sư ngày càng già mọi việc sẽ trông cậy vào thầy.

       Bảo Long sợ hãi kêu lên:

       - Kính bạch Sư! Còn chư đại tỷ của con, xin Sư thương xót con.

       Sư cười từ ái:

       - Sư dạy trước như thế, chứ nào phải bắt thầy làm ngay bây giờ đâu? Thầy cứ yên tâm tu học tinh tấn, chư đại tỷ ai có phần nấy, đều phải góp phần phụng sự cả. Mỗi người đều có duyên phần riêng, muốn tránh né cũng chẳng được. Sư ngày xưa làm Ni mà phải đứng ra lãnh nhận chùa Tăng có vô lý không? Vậy mà từ chối có được đâu nào? Cung kính đâu bằng vâng lời. Tuy nhiên, thầy yên chí đi, sẽ có rất nhiều người đắc lực phụ tá. Thầy làm việc không đến nổi khó khăn lắm đâu, đừng lo sợ!

       Bảo Long từ nào giờ chưa từng nghĩ đến điều này. Thầy chỉ lo tu học tinh tấn mong lấy đó làm niềm vui cho Sư. Nào dè Sư đặt tin tưởng ở thầy quá nhiều. Chắc có lẽ từ đây thầy phải cố gắng nỗ lực tu học nhiều hơn nữa chứ không thể bấy nhiêu mà đủ, và cũng nhờ thế mà Bảo Long có những bước tiến đặc biệt.

***

Con xa mẹ nghe hồn lạc lõng

Mẹ xa con nhịp võng ai ru

Lìa Thầy đi bầu trời tối âm u

Vùng biển nhớ bao dạt dào sóng vỗ

Chiều lên lớp nắng hoen vàng gãy đổ

Mắt mờ mi lòng nặng trĩu dị thường.

 

 

 

 

 

Chương 7

 

Thời gian như dòng nước chảy xuôi, thấm thoát mà đã trải qua hơn mười hai mùa mưa nắng. Bảo Lân đã tốt nghiệp xong Cử nhân Ngoại Ngữ. Cậu ta được cấp học bổng du học. Sư rất hoan hỷ bèn cho mở một bữa tiệc khích lệ cùng tiễn đưa cậu lên đường. Tối hôm ấy có đầy đủ những khuôn mặt thân quen, có cả ba má Tiên Dung, ông bà khen ngợi cậu vô cùng:

       - Con học xuất sắc quá, ba má chẳng biết tặng gì, thôi để ba má thưởng cho con một vé máy bay sang Mỹ, còn mọi nhu cầu khác tính sau. Học hành như con thật xứng đáng, mong rằng qua bển con vẫn giữ được bước tiến này.

       - Sư đệ thật có phước phần trên đường học vấn. Bảo Long cũng xin thành tâm nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ cho sư đệ luôn mạnh khỏe vui vẻ và học giỏi như khi còn ở quê nhà.

       Bảo Long nói xong, Bảo Hạnh tiếp lời:

       - Hôm nay Bảo Hạnh cũng thành thật khen ngợi con và cảm ơn con. Con đã cho ta sự mãn nguyện. Mặc dù hơn mười năm qua ta chẳng lo gì được cho con nhưng con đã vô vàn hạnh phúc với bao tình thương yêu chân thật ở bố mẹ nuôi, Thầy tổ, huynh đệ. Con thật diễm phúc khó ai bì, tuy nhiên tình thương ấy có được không phải do nơi sự học giỏi của con đâu. Mà chính nhờ tánh chân thật, lòng thảo ngay, tâm hiếu hạnh cùng sự biết ơn, luôn trân quý những gì mình có được. Ta mong rằng dù học tới đâu đi nữa con vẫn nên giữ mãi bản chất tốt đẹp này, lấy đó làm nền tảng đạo đức cho mình. Con phải biết “thế trí biện thông” là một trong tám nạn. Cho nên đừng bao giờ xem ngôn luận giỏi, bằng cấp cao, hiểu biết rộng là hơn người. Con hãy xem học chỉ là một phương tiện cho ta dễ hành xử trong cuộc sống tương giao mà thôi. Hãy lấy đạo đứcviệc làm lợi ích cho người làm chính. Đó là những điều cô muốn nhắn nhủ với con.

       Bảo Lân đứng lên chắp hai tay xá mẹ thật sâu bằng với tất cả tấm lòng thương kính. Cậu thưa:

       - Con xin luôn ghi nhớ lời nhắc nhở này của mẹ.

       Tiên Dung bảo:

       - Bảo Lân sắp xa quê hương đất nước trong một thời gian dài. Vậy hôm nay có gì muốn nói, em nên nói hết đi, còn gì thắc mắc em nên hỏi luôn. Theo chị đoán không lầm, trong tâm em vẫn còn có điều chưa giải tỏa.

       Bảo Lân nhìn Tiên Dung thú nhận:

       - Nhưng mà em có nên nói ra lúc này không thưa chị?

       - Em còn chờ đợi dịp nào nữa?

     Bảo Lân đứng lên chắp hai tay hướng về Sư muốn thưa hỏi nhưng cậu ngần ngại mãi chẳng mở lời được. Điều này cậu đã quen giấu kín tuy suốt mười mấy năm qua cậu vẫn chưa tìm ra đáp án. Bảo Lân định bụng sẽ chờ dịp thưa hỏi riêng Sư, nhưng bỗng dưng hôm nay Tiên Dung lại gợi ý, khiến ai nấy đều đưa mắt nhìn Bảo Lân chờ đợi, càng làm cậu lúng túng ngập ngừng hơn, xem chừng cậu không mở miệng được. Thấy tội nghiệp Sư đỡ lời:

       - Con vẫn mãi thắc mắc về chuyện chiếc khăn tay chớ gì?

       Bảo Lân và Tiên Dung tròn mắt ngạc nhiên:

       - Sao Sư biết hay quá vậy?

       - Con chưa từng hỏi Sư cơ mà?

       - Điều gì ở các con mà Sư chẳng biết!

       Bảo Lân bỗng nghe tim đập mạnh, cậu hồi hộp lắng giọng hỏi nhỏ:

       - Như vậy là Sư vẫn biết chiếc khăn tay của Sư rất mầu nhiệm? Bằng cách nào khiến nó có được tác dụng  như thế thưa Sư?

       - Vậy bằng cách nào mà con có thể học trội hơn các bạn?

       - Thưa con không biết. Con thấy con vẫn học bình thường, không hề cố ý hơn ai cả.

       - Thì chiếc khăn của Sư nó cũng như vậy thôi.

       - Nhưng nếu xét kỹ, con thấy con học khá là do đầu óc con bén nhạy, do con chăm chỉ học hành. Còn chiếc khăn là vật vô tri, tự nó đâu có thể thành mầu nhiệm được?

       - Sao không? Con học giỏi là do đầu óc và sự cố gắng của con tạo nên. Còn chiếc khăn tay mầu nhiệm được là do công đức tu tập của một hành giả sử dụng nó.

       Bảo Lân cau mày, cậu vẫn còn thấy mù mờ chưa thỏa mãn được. Cậu chắp hai tay tựa búp sen nhìn Sư tha thiết thưa:

       - Bạch Sư! Con vẫn chưa hiểu được điều này.

       - Có gì đâu con. Hễ người nào phát tâm tu hành tinh tấn, nỗ lực công phu, gìn giữ giới luật tinh nghiêm và làm nhiều công đức. Tu cho đến lúc kết quả thì tự nhiên những vật dụng của người ấy dễ trở thành nhiệm mầu. Như xâu chuỗi hạt, y, áo, khăn tay v.v… những vật sở hữu của người đó đều có thể dùng làm Phật sự.

       - Có thật như thế chăng?

       - Đúng vậy, chư vị Tổ sư, những bậc Tôn túc trưởng thượng đều được công năng này. Hoặc lời nói, ý muốn của người đó cũng đều có tác dụng nữa.

       - Kính bạch Sư! Sao Sư không lưu giữ những chiếc khăn đó để cứu giúp người mà khi cũ rách Sư vất bỏ như những chiếc khăn tầm thường khác?

       - Con phải biết người tu chân chánh không để tâm dính mắc vô bất cứ điều gì, phải buông bỏ tất cả thì mới được tác dụng như vậy. Nếu còn một tí chấp trước thì mọi thứ linh diệu liền tiêu tan ngay. Bởi vì những tác dụng đó đều do công đức tạo nên. Nhưng công đức vô hình vô tướng, nó chỉ phát sinh khi tâm hoàn toàn rỗng mà thôi.

       - Lạ thật! Không hình không tướng mà lại có năng lực cực kỳ mầu nhiệm đến thế ư? Con còn nhớ mãi khi con bị đánh gãy hai cái răng đến ngất xỉu, vậy mà khi được Sư lau mặt, thoáng nghe mùi hương thơm nơi chiếc khăn con liền khỏe hẳn ngay. Và cả lúc mẹ con bị sốt mê man, con gọi mấy mẹ con cũng không tỉnh lại được, thế mà khi Sư vừa đưa chiếc khăn tay lau qua mặt, mẹ con mở mắt liền. Những hình ảnh này con nhớ mãi không quên, nó như một dấu son linh hiển tươi đẹp làm hỷ lạc tâm hồn con.

       - Nhưng con nên nhớ rằng, Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều không thật, như mộng như huyễn, hữu sanh hữu diệt, hữu hình hữu hoại. Chỉ có cái không sanh mới không diệt, không đến tức không đi. Cái không hình, không tướng, tác dụng nó mới vô lượng vô biên, còn cái gì thấy được, nói được, cái đó rất hạn cuộc. Chẳng hạn như lúc con đi học, con phải cố công chăm chỉ học hành suốt bao nhiêu năm mới lấy được vài mảnh bằng. Vậy mấy mảnh bằng này có giá trị hay sự học hỏi hiểu biết của con có giá trị? Từ đó suy ra, các con phải biết nhận định chín chắn chỗ giá trị để mình khai triển quý trọng. Chứ thường thường con người sống rất hời hợt, chỉ dại khờ xem trọng thứ mong manh giả tạm mà xem thường sự chân thật vĩnh hằng.

       Các con phải biết cuộc đời giá trị nơi sự sống, sự sống giá trị nơi hiểu biết, hiểu biết giá trị nơi hành vi. Từ nơi hành vi, nó có thể nói lên được tất cả những gì ở con, đơn giản vậy thôi. Sư đang chờ đợi lời nói vô ngôn đó, thử xem các con sau bao năm học hành sẽ đóng góp như thế nào cho Đạo pháp, cho cuộc đời để không hổ danh đệ tử Phật. Sư nay già rồi! Tre tàn măng mọc. Người con hiếu không chỉ phụng dưỡng cha mẹ già mà phải tiếp nối sự nghiệp cho vẻ vang hơn. Chúng ta đều là đệ tử Phật, dù tại gia hay xuất gia, chúng ta không ai được quyền từ chối bổn phận mình. Bổn phận người con Phật như thế nào? “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi bổn hoài” và luôn luôn nuôi lớn bốn tâm lượng Từ - Bi - Hỷ - Xả. Sư tin tưởng cuộc đời rộng lớn này là môi trường tốt cho các con thực hành hạnh lành. Các con hãy cố gắng phát huy, trau dồi và phụng sự.

       Bảo Lân với giọng trầm buồn thưa:

       - Kính bạch Sư! Vấn đề du học của con quả thật do nhân duyên thúc đẩy, chứ trong lòng con chẳng muốn. Con không hề mơ ước công danh sự nghiệp gì cả, con không có cao vọng ấy! Con vẫn thấy mình là thằng bé Hàn, nó chỉ muốn sống yên ấm trong tình thương yêu của Sư. Con không muốn lìa quê hương Việt Nam đâu Sư à! Con sợ bơ vơ lắm! Sư vẫn thường nhắc nhở con “lớn rồi phải cứng rắn” nhưng con thấy mình không cứng rắn được, lòng con vẫn mềm yếu, chưa đi mà đã thấy thương nhớ ngập tràn rồi. Con lo sợ và hồi hộp lắm, Sư cao tuổi rồi  mà con phải xa cách ở suốt một thời gian quá dài nơi đất khách. Sư có hứa với con không? Sư vẫn còn đó cho ngày về của con khỏi bơ vơ hụt hẫng Sư nha…!

       Bảo Lân nói đến đây bỗng nghẹn ngào không tiếp lời được nữa, khiến ai nấy thảy đều xúc động. Tiên Dung an ủi cậu:

       - Em cứ cố gắng nhẫn nại chịu đựng sự buồn bã thương nhớ. Coi vậy chứ thời gian bảy tám năm chẳng là bao đâu. Sư vẫn khỏe mà, ba má thì còn trẻ. Em gắng yên tâm học hành, có học hành tới nơi tới chốn mới làm nên việc lớn được. Sư vẫn hoài vọng chúng ta, đừng vì một chút yếu mềm mà thối chí. Chị báo trước, em mà bỏ ngang chạy về chắc Sư với chị không nhìn đâu đấy.

       - Chắc chắn là em không dám làm vậy đâu chị ạ! Em chỉ biết trả ơn bằng sự vâng lời.

       - Phải như thế chứ! “Nam nhi tự hữu xung thiên chí” mà!

       - Có điều em muốn, em thích nhiều quá, chẳng biết có nên nói ra không?

       - Em nên nói ra đi.

       - Em muốn xin chị bức tranh hái hoa Lý, xin Sư chiếc khăn tay đang xài, xin cô Bảo Hạnh cái áo tràng mặc tụng kinh lạy Phật, xin Sư huynh Bảo Long cái mũ nóc chùa, xin ba má tấm hình gia đình, xin cô Bảo Phước quyển Kinh thường tụng, xin Bảo Trang Bảo Nghiêm xâu chuỗi tay và tượng Phật đeo cổ.

       Cậu ta xin đủ mọi thứ, mỗi người phải tặng cậu một vật để kỷ niệm. Và quả thật, nhờ những vật kỷ niệm này an ủi, mà cậu đỡ thấy bơ vơ nơi xứ lạ quê người.

       Hai hôm sau, khi đưa Bảo Lân lên phi trường, không ai cầm được nước mắt, ngoại trừ Sư. Sư vẫn thản nhiên từ ái dặn dò:

       - Con gắng giữ gìn sức khỏe, chớ buồn nhớ mà sanh bệnh không ai lo nghe con. Nếu Sư nghe con không bình thường, Sư chẳng vui đâu, tinh thần phải mạnh mẽ lên nhé, mỗi tối cố gắng dành thời giờ tọa thiền cho trí tuệ sáng suốt, mỗi sáng nhớ luyện tập võ nghệ cho thân thể cường tráng, ít bệnh, ăn uống ngủ nghỉ phải điều độ chừng mực, tuyệt đối lánh xa sự ăn chơi trác táng nghe con.

       Bảo Lân hai tay nắm lấy áo Sư khóc như một đứa bé. Sắp hết giờ mà chàng ta cứ dùng dằng mãi chẳng chịu vào cách ly. Sư từ ái đặt tay lên vuốt đầu chàng dỗ dành:

       - Thôi đi đi con! Lau mặt đi, kẻo người ta cười cho kìa!

       Sư lại đưa cho cậu thêm một chiếc khăn tay nữa. Bảo Lân đưa hai tay ra đón nhận và quỳ mọp xuống lạy dưới chân Sư. Cậu cung kính Sư và chiếc khăn đến độ khiến mọi người đều bàng hoàng xúc động.

       Thông tín viên loan báo mời hành khách lên máy bay, lúc đó Bảo Lân mới chịu xá chào mọi người rồi vội vã chạy, khiến ai nấy trông theo chàng nửa tức cười, nửa thương xót.

 

***

 

 

     Lý tưởng là một thang thuốc mạnh, nó tăng cường sức lực cho người có tài năng và giết chết kẻ yếu đuối.

                                                               (Stendhal)

 

 

 

Chương 8

 

 Nữu Ước ngày… tháng…năm…

 

       Kính bạch Sư quý kính của con!

       Sư ơi! Cuộc đời quả thật đầy dẫy những chuyện bất ngờ, bất trắc, bất an… Nếu như con không được Sư dạy dỗ kỹ lưỡng, chắc là con sẽ rơi từ sai lầm này đến vụng dại khác. Tại toàn những điều mà con chưa từng nghĩ tưởng tới thì làm sao con có thể đủ khôn khéo đối phó được? Và thật đến chỗ hết biết này, con mới thấy phương pháp tọa thiềnlinh dược. Con chẳng thèm lo lắng, nghĩ tưởng gì nữa cả, con mặc kệ, buông sạch tất cả. Và quả thật nhờ giữ được tâm trống, con mới đủ sáng suốt chịu đựng vượt qua. Và nay thì mọi việc tạm ổn rồi. Xin Sư yên tâm.

       Thưa Sư! Con những tưởng sang đây sẽ được tiếp tục học, nào dè bằng cấp bên mình chẳng được chấp nhận, thế là con phải thi lại đại học và phải mất thêm vài năm nữa, làm cho thời gian xa Sư, xa quê hương dài ra. Điều này làm con buồn ơi là buồn, nhưng cũng may bên này họ cho sinh viên nội trú, làm việc thêm để có tiền xoay sở đáp ứng cho sự học. Tiền học bổng đủ trả tiền học thôi, chứ bao nhiêu chi phí khác mình phải tự lo Sư ạ!

       Vừa học vừa làm việc thêm nên rất cực nhọc, nhưng nhờ vậy mới không còn khoảng trống để nghĩ tưởng vớ vẩn. Con thì chẳng ngại cực chỉ có những việc rắc rối khác khiến con mệt mỏi. Phải công nhận nếp sống bên này quá cao, nhớ lại xót xa cho dân mình. Ngoài đường tuyết rơi thành đống, mỗi lần Noel con tưởng chừng như mình đang ở trong địa ngục hàn băng. Dĩ nhiên là khi ở trong phòng thì có máy điều hòa ấm áp nhưng con thì không thể chịu nhốt mình trong phòng mãi được. Con muốn nhìn bầu trời và thở không khí thiên nhiên.

       Sư ơi! Con nghe chị Tiên Dung nói Sư độ rày trông yếu rồi, con ngại quá! Sư bớt làm việc lại Sư nhé! Chúng con hứa là sẽ tiếp nối công việc của Sư mà. Chỉ ước mongmãi mãi còn hiện diện đó, để làm điểm tựa cho chúng con. Chúng con như những đóa hướng dương luôn cần ánh mặt trời, nếu thiếu mặt trời loài hướng dương chúng con không thể nào phát triển được tiềm năng của nó, nên con tha thiết xin Sư gắng giữ gìn sức khỏe, không những cho Sư mà là cho chúng con nữa. Con sống được, học được, làm việc được, đều là nhờ có Sư. Sư như hơi thở của con, là năng lực, niềm tin, hạnh phúc của con. Không có Sư con chỉ là thằng bé Hàn nghèo đói xơ xác, là một kẻ vô dụng, có khi sống chỉ làm bẩn xã hội. Lời mắng chửi của người đàn ông đó vẫn còn văng vẳng bên tai con.

       Thưa Sư kính quý!

        Con làm sao có thể nói hết được nỗi niềm của con cho Sư thông cảm! Tuy nhiên, con vẫn biết đâu cần con phải nói nhiều, Sư bao giờ cũng thấu tận tim gan của chúng con, phải thế không thưa Sư?

       Lại tới giờ con lên lớp nữa rồi, con không có thời gian nhiều để viết thư riêng, xin Sư cho con kính hầu thăm tất cả.

       Con cung kính chắp hai tay nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho Sư pháp thể khinh an, Ta Bà cửu trụ và luôn làm ngọn tuệ đăng soi đường dẫn lối cho chúng con ra khỏi rừng mê tham chấp.

                                                      Kính thư!

                                                   Thằng bé Hàn của Sư

                                                           Bảo Lân.    

 

       Ni sư Bảo Liên đặt lá thư xuống bàn, mỉm miệng cười nói với Tiên Dung:

       - Thằng bé đó tính tình yếu đuối, con đừng nên cho nó biết Sư bệnh khiến nó lo, không học được tội nghiệp.

       - Thưa Sư! Bảo Lân viết thư cho con mà cứ hỏi về Sư hơn hai phần rồi. Nó kêu con dọn về chùa ở với Sư. Nó nói “Ở chùa thanh tịnh chắc chắn chị sẽ làm được nhiều việc hơn. Nếu em còn ở Việt nam thì em sẽ xin ba má cho em về ở chùa. Qua bên này em nhớ chùa quá đi mất!”. Thưa Sư! Chân Sư hôm nay đỡ chưa? Sư đừng đi nhiều quá nó sưng lên nữa.

       - Không sao đâu con, già rồi phải có tí bệnh chứ! Cứ để Sư tự trị, các con nên lo việc mình cho tốt là Sư vui rồi.

       Sau đó, Tiên Dung quét dọn phòng liêu rồi lui ra ngoài làm việc. Sư tiếp tục dịch bản Kinh dang dỡ.

       Ni Sư Bảo Liên năm nay đã ngoài bảy lăm tuổi, thân Sư đã có vài bệnh lạ, hai chân Sư bỗng sưng phù và tai Sư hơi nặng. Quả thật, định luật vô thường không chừa bất cứ một ai. Sanh già bệnh chết là việc thường nhiên, dĩ nhiên điều này đối với Sư chẳng quan trọng gì. “Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ”. Tuy nhiên, đối với tất cả môn hạ, đó là điều lo lắng lớn. Sư đã bắt đầu thu xếp công việc gọn lại.

       Bảo Long sau khi tốt nghiệp Cử nhân Phật học, Sư bảo ở lại chùa Bảo Minh phụ làm việc trả ơn trong vòng năm năm. Sau đó Sư xin Sư huynh cho về Bảo Liên tập sự trụ trì. Sư chỉ làm cố vấn thôi. Ni chúng, Sư đã gởi sang chùa Bảo Hải, chùa này do đệ tử lớn của Sư trụ trì từ lâu. Chùa Bảo Liên bây giờ chỉ còn lại những vị lớn tuổi vững vàng, phụ trông coi công việc với Bảo Long. Tương lai Bảo Long sẽ mở Trường Cơ bản tại chùa và dĩ nhiên chư Tăng sẽ tụ hội đông đảo trở lại. Sư chu đáo thu xếp gọn gàng mọi việc, rồi ra ở ngoài ngôi thất lá tọa thiền tu hành suốt ngày.

       Bảo Long ngại nhất là đất đai của chùa nhiều quá, Thầy e mình không đủ sức quản lý. Sư bảo:

       - Sẽ có người cần đất rộng để lập hội từ thiện, Thầy có hoan hỷ chia chăng?

       - Xin Sư cho con được thanh tịnh cúng dường.

       - Tốt lắm! Kẻ phụng sự đạo, người phụng sự đời, cả hai đều cần thiết.

       Về phần Bảo Lân, chàng ta vẫn kiên nhẫn cố gắng học nhưng đến lúc còn hai năm cuối, lòng chàng cứ nóng như lửa, không chịu nổi. Thỉnh thoảng cứ điện thoại về thăm chừng Sư, đến mức Sư phải cấm chỉ cho phép ba tháng gọi một lần thôi. Có lần Bảo Lân gọi về, vừa nghe giọng Sư khàn đục, bởi Sư đang bị cảm, chàng ta quýnh cả lên:

       - Sư ơi! Sư sao vậy? Sư đang bệnh rồi, Sư cứ giấu con mãi, con không chịu đâu. Hè năm này Sư cho con về thăm Sư một lần Sư nhé! Con còn tới hai năm nữa mới trình Luận án Tiến sĩ. Lâu quá Sư à! Sư cho con về thăm một lần đi mà.

       - Bảo Lân! Nghe Sư nói đây.

       - Thưa vâng, con đang nghe.

       - Cổ đức nói “Người nam không chí như gươm không được mài sắc, người nữ không chí như cỏ thúi không tươi”. Con muốn vào hạng nào? Con nay đã lớn rồi, đâu còn nhỏ bé gì nữa. Con phải tập vững vàng chững chạc, dù cho có chuyện gì đi nữa cũng phải bình tĩnh chứ không nên cuống cuồng như thế được. Từ Mỹ về Việt Nam hơn nửa vòng trái đất, chứ đâu phải từ tiệm ảnh Xuân Thảo lên chùa Bảo Liên mà con cứ nằng nặc đòi về. Gắng thêm hai năm nữa có là bao, chờ hết chương trình về luôn tiện hơn không? Bảo Lân! Con thừa biết con làm điều gì Sư vui và điều gì Sư không bằng lòng chứ? Bây giờ Sư chỉ muốn biết sau bao năm học con dự tính làm gì nào?...

       - Kính bạch Sư! Xin Sư tha thứ cho con, tại con quá nhớ Sư! Nhớ Việt Nam! Nhưng từ đây con xin hứa sẽ không dám đòi về nữa. Sư hoan hỷ cho con nhé! Bạch Sư! Hiện tại chúng con đang dự định lập hội “Ái nhi”. Hội Ái nhi này được thành lập với mục tiêu là để hỗ trợ cho “làng trẻ” tương lai của chúng con. Dự tính của chúng con như thế này thưa Sư.

       - Thôi được rồi, con cúp máy đi, để Sư gọi lại rồi con hãy nói tiếp.

       - Không sao đâu Sư! Con có một người bạn Trung Hoa con nhà tỷ phú. Anh ấy thương con lắm! Biết con quý Sư, thèm nói chuyện với Sư (bởi vì lúc nào cũng thấy con nhắc về Sư), anh ấy bảo: “Anh sẽ chịu tiền điện thoại, Bảo Lân cứ nói chuyện với Sư thoải mái.”

       Sư ơi! Con đang gặp một chuyện, có cô sinh viên Lily tìm cách tiếp cận con mãi. Cô này mẹ là người Anh cha người Ý. Nếu con không nhờ anh Lâm Vĩnh Tài ‘cứu nạn’, chắc bị ‘làm thịt’ quá! Con từ chối thì cô ấy nổi giận mắng con không tiếc lời. Còn một cô bạn học cùng lớp khác thì lại hiền ơi là hiền, tội ơi là tội, đó là cô Tú Khanh có mẹ là người Việt, cha là người Mỹ. Mẹ cô ấy đã mất cách nay ba năm, còn cha thì đang bệnh nặng nằm nhà thương, cô ấy suýt bỏ học mấy lần rồi, nhưng chúng con động viên giúp đỡ nên cũng gắng gượng, cũng không biết có đi hết chương trình không. Anh Tài và cô Khanh là hai người bạn thân nhất của con bên này Sư à. Chúng con đã nhận nhau làm anh em kết nghĩa. Anh Tài hứa học xong sẽ sang Việt Nam làm việc từ thiện với con, còn cô Khanh thì bảo nếu ông cụ không qua khỏi thì cổ chẳng thiết gì bên này nữa. Hai bạn này nghe con nhắc mãi về Sư, nên cũng rất muốn về Việt Nam để được hội kiến Sư. Cô Khanh nói tiếng Việt rành lắm rồi, chỉ có anh Tài nghe thì hiểu hết nhưng nói chưa rõ lắm. Con đang dạy anh ấy học tiếng Việt. Thưa Sư! Dự án chúng con bàn tính chưa ổn lắm nên chưa dám trình Sư. “Làng trẻ” tương lai của chúng con tạm hoạch định như thế này thưa Sư!

       - Sư nghe đây, con nói tiếp đi.

       - Trước tiên, chúng con cần xây dựng trường Trung – Tiểu học, văn phòng Điều hành, phòng Triển lãm và nhà cho các em ở. Bạch Sư! Chúng con muốn xây dựng ‘làng trẻ’ chứ không phải trại cô nhi. Chúng con muốn nuôi dạy các em như trong mái ấm gia đình cho nên cần phải xây từng nhà, từng nhà. Mỗi nhà ở khoảng mười em với một người mẹ nuôi (bà mẹ nuôi này là người trong hội Ái nhi). Chúng con sẽ gọi mỗi gia đình này bằng tên các loài hoa cho tươi mát, ví dụ như gia đình Hồng Liên, Hồng Nhung, Tường Vi, Cẩm Chướng… Trong mỗi gia đình nhận các em đủ loại tuổi, người mẹ có bổn phận săn sócyêu thương, cơm nước được nấu từ tập thể, mỗi gia đình tự đến nhận về ăn.

       - Về giáo dục thì sao?

       - Kính bạch Sư! Chúng con vẫn dạy đủ chương trình phổ thông, chỉ đưa vào thêm ba môn phụ: đạo đức, thiền tọa và võ thuật.

       - Cách nhận trẻ thế nào?

       - Chúng con đặc biệt ưu tiên cho trẻ mồ côi và hiếu học. Chúng con tự đi tìm, khuyên và nhận về nuôi nấng ăn học miễn phí hoàn toàn. Đồng thời chúng con cũng có thể nhận trẻ có gia đình gởi đến học, sẽ tính học phí tùy theo hoàn cảnh mỗi gia đình. Chúng con định nhận trẻ từ năm tuổi đến mười tám tuổi. Trong khoảng thời gian học tại làng, chúng con cũng muốn đào tạo các em sáng tác những tác phẩm nghệ thuật, văn hóa, mỹ thuật. Những tác phẩm này sẽ được trình bày tại phòng triển lãm để khuyến khích chúng, còn tiền bán được sẽ tặng lại cho tác giả.

       Thưa Sư! Con cũng có bàn sơ qua với chị Tiên Dung con về dự án này, chị rất thích và hứa sẽ ủng hộ hết mình. Chị sẽ nhận dạy cho các em vẽ. Nhất là các em sau khi tốt nghiệp phổ thông mà còn muốn ở lại làng, hoặc vào hội Ái nhi để hỗ trợ làng. Một số bạn chị đã hứa sẽ ghi tên vào hội.

       Kính bạch Sư! Chúng con mới thảo luậndự tính như thế. Sư thấy có thể tiến hành được không thưa Sư?

       - Dự án như thế rất hay! Các con nên cố gắng thực hiện, nhưng thành công hay không còn tùy thuộc vào phước của đồng bào ta. Quan trọng là địa điểm phải là nơi khí hậu trong lành mát mẻ, xanh tươi, nuôi trẻ rất cần nơi như thế.

       - Kính bạch Sư! Thời buổi này tìm một vùng đất rộng lại hội tụ những yếu tố như vậy, ngoài làng sen của chùa ra chắc khó tìm được nơi nào lý tưởng hơn. Con vẫn mơ ước được làm việc trên đất Chùa.

       - Ta đã tiên đoán và để dành cho con rồi đấy!

       Bảo Lân mừng rỡ:

       - Hoan hô Sư! Đa tạ Sư!

       - Nhưng con nhớ khi đã ra làm việc phải vững vàng chín chắn, chứ chẳng thể trẻ con vậy đâu nhé!

       - Thưa Sư! Sư yên tâm đi, thằng bé Hàn hèn nhát năm nào nay dưới sự chỉ bảolo lắng của Sư, nó chẳng còn vô tích sự nữa đâu! Nhưng có điều, Sư hứa làm cố vấn cho con Sư nhé!

       - Thôi được rồi, còn gì con biên thư về tiếp nhé. Con gắng giữ gìn sức khỏe, cho Sư gởi lời chúc an lành đến các bạn con.

       - Thưa Sư…! Thưa Sư khoan cúp máy, hai bạn con muốn gặp Sư.

       - Bạn con bây giờ ở đâu?

  - Hai bạn con đang ngồi bên con. Họ kêu con mở máy lớn cho họ nghe ké nãy giờ. Xin Sư cho hai bạn thưa chuyện.

       - Được. Chúng con cứ tự nhiên.

       - Kính bạch Sư! Con là Lâm Vĩnh Tài. Con được biết Sư qua lòng kính quý của Bảo Lân. Chúng con nhận thấy Bảo Lân là người thông minh, ý chí, thành thật, đạo đức. Nhưng Bảo Lân nói tất cả những gì bạn ấy có được là đều nhờ Sư tạo nên, chứ Bảo Lân thật chỉ là đứa bé nghèo hèn đói khổ. Biết được hoàn cảnh của Bảo Lân và cảm nhận sự ân cần dạy dỗ của Sư, chúng con cảm thấy khao khát muốn mình có được vị Thầy đỡ đầu đầy lòng từ biđạo đức nghiêm minh như thế, nên chúng con tha thiết xin Sư thương xót cho chúng con được quy y Tam bảo làm đệ tử Sư.

       Sư cười nhẹ hỏi:

       - Hai con không nhẹ dạ bị Bảo Lân dụ đấy chứ? Có đáng tin chăng? Hay các con đợi đủ duyên về Việt Nam gặp Sư rồi hãy quyết định, có lẽ như thế mà hay hơn đấy các con ạ!

       Tú Khanh bèn thưa:

       - Kính bạch Sư! Anh Lân tốt lắm! Chẳng có dụ chúng con đâu. Anh đã kể tất cả cuộc đời nghèo khổ của anh cho chúng con nghe. Anh còn cho con chiếc khăn mà anh xem là vật quý báu nhất trên đời. Anh bảo con đem về đặt lên trán ba con cho ông cụ khỏe. Thưa Sư! Đời con bất hạnh lắm. Nếu ba con không qua khỏi cơn bệnh này, con chẳng còn ai để nương tựa. Tinh thần con đang sa sút, xin Sư thương xót hướng dẫn con và cho con được Quy y.

       - Các con làm Sư cảm động quá! Thôi được rồi, Sư sẽ hoan hỷ nhận lời các con, nhưng tạm thời Sư chỉ vắn tắt truyền trao quy giới cho các con thôi, chứ không thể dài dòng được, sau đó sẽ viết thư giảng giải rõ nhé!

       - Chúng con xin tri ân Sư.

       Thế là Sư phương tiện truyền Tam quy ngũ giới qua điện thoại và ban pháp danh cho Vĩnh Tài là Bảo Quy, Tú Khanh là Bảo Phụng. Sư dặn dò thêm vài điều rồi cúp máy. Sau đó, Sư báo cho Bảo Long biết về dự án của Bảo Lân. Bảo Long hoan hỷ vô cùng, Thầy nói:

       - Anh em chúng con tuy kẻ đời, người đạo nhưng đều một lòng vâng theo ý Sư làm lợi ích quần sanh. Chúng con cúi mong Sư từ bi luôn luôn cố vấn cho chúng con, để chúng con có thể tránh được những lỗi lầm do còn non dại gây nên.

       Sư cho gọi Tiên Dung đến cùng hoạch định lại vấn đề Làng trẻ. Tiên Dung nói:

       - Với mảnh bằng tiến sĩ Xã hội học, Bảo Lân có thể xin phép lập làng trẻ không mấy khó đâu thưa Sư. Bảo Lân phát kiến được dự án này con thấy rất hợp lý. Hiện nay cậu ta đang huy động bạn bè để lập hội Ái nhi. Hội này Bảo Lân nói gồm có hai thành phần: thành phần nòng cốt thì phải độc thân (rất cần có nhiều tu sĩ) dâng hiến trọn đời phục vụ, thành phần thứ hai vẫn sống đời thường nhưng luôn luôn hỗ trợ tinh thần lẫn vật chất cho làng trẻ. Thành phần thứ nhất đứng trong Ban Điều hành trực tiếp, cùng làm Thầy, cô giáo và mẹ nuôi. Thành phần thứ hai nếu có khả năng phát tâm cũng có thể nhờ các anh chị này nhận vài môn dạy.

       Thưa Sư! Về kinh tế, Bảo Lân nói là điều đáng lo ngại nhất. Dĩ nhiên là cậu sẽ liên hệ với các hội từ thiện, kêu gọi sự giúp đỡ. Khó khăn nhất là thời gian đầu, cần có một khoản tài chánh lớn để xây dựng. Bảo Lân còn tính nếu gặp khó khăn thì thành phần thứ nhất trong Hội Ái nhi phải ra ngoài nhận vài môn dạy để có tiền xoay sở cho Làng. Cô Tú Khanh hứa sẽ dạy Anh văn, còn Vĩnh Tài dạy Hoa văn, những bạn này đi dạy chắc chắnlợi ích lớn. Bảo Lân cũng biết lo xa, lo gần, chu đáo quá Sư nhỉ?

       Cậu còn nói phòng triển lãm là kinh tế chính của làng. Mục này Bảo Lân yêu cầu con lãnh nhận. Con có hứa, và trong số bạn con có rất nhiều nghệ nhân, họ đã lần lượt ghi tên nhập hội. Con tin tưởng dự án có thể thực hiện chứ không đến nổi ảo huyền đâu. Thưa Sư! Về cách sắp xếp xây dựng, xin Sư phác họa dùm cho Bảo Lân.

       - Con ạ! Nguyên vùng đất canh tác của chúng ta đã được sáu mẫu rồi. Chúng ta đã có một mặt bằng rất tốt. Chúng ta dùng nơi đây xây dựng hai dãy trường đối diện, khoảng giữa làm công viên tạo nhiều bóng mát, lùi vào bên trong, ở khoảng giữa chúng ta cho xây phòng Điều hành, đối diện nằm hai bên là phòng Triển lãm, phòng Y tế. Sau phòng Điều hành là khu bếp. Nơi ở của trẻ chúng ta nên cất trong vườn xoài, cất theo vòng chữ U, khoảng giữa chúng ta cho xây một niệm Phật đường cho các em tỉnh tâm tọa thiền, sau niệm Phật đường là một thư viện, trước thư viện là một sân cỏ rộng lớn, dùng làm nơi tập võ thuật và cho các em chơi đùa, cần tạo nhiều phong cảnh xanh tươi và mát mẻ.

       Các em tuy ở nội trú nhưng chúng ta cũng nên quy định ngày giờ một năm tối thiểu ba lần cho gia đình đến thăm, cũng có thể cho các em theo gia đình ra ngoài khoảng một vài giờ thư giãn. Nếu em nào hoàn toàn không có thân nhân, Ban Điều hành phải nhờ quý Thầy, quý cô nhận làm thân thuộc để các em đỡ tủi buồn, nếu không dẫn đi chơi xa được thì nên dẫn cho các em đến viếng chùa cũng thú vị vậy. Thỉnh thoảng Ban Điều hành cũng nên tổ chức những cuộc du ngoạn, tham quan các thắng cảnh lịch sử của đất nước v.v…

       Còn vấn đề kinh tế, Sư sẽ phân chia ruộng lại và tặng cho làng trẻ hai phần để làm căn bản đỡ lo. Riêng đầm sen phải giữ nguyên cho chùa. Tạm thời như thế đi, mọi việc để sau đó lại tính tiếp. Ta nên tùy duyên ứng xử, đừng nên chấp chặt vào một quy định nào, vì tất cả pháp đều là bất địnhvô ngã.

 

***

 

     Hạnh phúc chỉ dành riêng cho những kẻ làm cho nhiều người được hạnh phúc.

                                                        (Abbe’ delile`)

 

 

 

    

 

 

Chương 9

 

Trong làn sương mai mờ đục, bầu trời Nữu Ước đang chuyển dần vào mùa đông tuyết giá, lạnh cắt da. Mọi khi như thế là Bảo Lân đã kêu vang “cóng – cóng…” Vậy mà hôm nay, chàng ta như quên bẵng đi thời tiết, bởi trong tâm cậu đang náo nức niềm vui, rộn rã tiếng cười.

       Bảo Lân đang lăng xăng chuẩn bị cho chuyến hồi hương sau mười năm dài xa cách với bao nổi nhớ. Bảo Quy, Bảo Phụng cũng thấy buồn cười khi nhìn anh chàng hớn hở ra mặt.

       - Bảo Quy, Bảo Phụng ơi! Em tưởng chừng như mình sắp bay bổng! Rồi các bạn sẽ thấy Việt nam và người Việt Nam đáng yêu ra sao!

       - Bảo Lân! Sau mười mấy năm xa cách, anh phải chuẩn bị tinh thần để đón nhận những hình ảnh mới, cùng những sự việc bất ngờ. Đừng ngây thơ ôm ấp khung trời cũ, có gì bất di bất dịch không thay đổi đâu anh?

       Nghe Bảo Phụng nói, Lân cười giòn:

       - Cô bé thâm nhập lời lẽ của Sư nhanh hơn anh đấy! Nhưng Bảo Phụng yên tâm đi, Việt Nam chứ không phải Mỹ quốc đâu. Ngoại cảnh và lòng người cũng chậm tiến, khó thay đổi lắm Phụng ạ! Anh sang đây thời gian cũng khá dài rồi mà Phụng thấy anh có thay đổi được gì chăng?

       - Anh thì không thay đổi gì mấy, nhưng Việt Nam chưa biết sao?

       - Cảm ơn sự nhắc nhở của Bảo Phụng nhưng anh vẫn cầu trời đừng thay đổi gì cả. Anh vẫn muốn thấy con đường đầy cây xanh rợp bóng mát vào mỗi buổi chiều lá vàng bay lả tả. Anh vẫn muốn ngắm đầm sen khi bình minh vừa ló dạng, trên mặt hồ rực rỡ đầy hoa. Anh yêu thích làm sao mái chùa hiền hòa yên lắng, nuôi nấng bao tâm hồn cao quý của người con Phật…

       Có lẽ các bạn của Bảo Lân đều quý mến anh bởi những tâm niệm thánh thiện đó. Bảo Lân rất nhiệt tình, hăng hái, vui vẻtâm hồn luôn trong sáng. Các bạn đã chạy xe đến khá đông. Họ đưa tiễn cả ba lên phi trường và chuyến bay mười giờ đã bắt đầu cất cánh.

       Nhìn lại lần cuối thành phố Nữu Ước hoa lệ, Bảo Phụng nghe trong lòng rưng rưng. Dù sao cũng là quê hương, nơi cô bé Tú Khanh với một thời tuổi thơ êm ấm, nhưng nay đã qua rồi, hạnh phúc đó đã vuột ra khỏi tầm tay người con gái mang hai dòng máu. Khi mẹ cha lần lượt qua đời, Tú Khanh cô đơn buồn bã. Bây giờ với lý tưởng phụng sự từ thiện, Tú khanh chấp nhận về quê ngoại nhưng không mang niềm nao nức như Bảo Lân. Tú Khanh muốn tìm đến cõi an tịnh vĩnh hằng. Tú Khanh thấp thoáng thấy cảnh giới tỉnh mặc đó qua lòng từ bi của Ni sư. Vì thế mà cô thông cảm được Bảo Lân. Chỉ có nơi ấy mới đủ sức an ủi, chở che cho bao tâm hồn bất hạnh.

       Phi cơ phải bay suốt mười hai giờ mới đáp quá cảnh rồi tiếp tục cất cánh. Khi về đến không phận Việt Nam, Bảo Lân sung sướng hồi hộp muốn nghẹt thở. Chàng cố gắng giữ bình tĩnh vì ngại Bảo Quy, Bảo Phụng sẽ cười, nhưng vẫn không sao kiềm chế được niềm vui trong tim đang vỡ òa. Lúc phi cơ sắp hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất, Bảo Lân như muốn hét lên: “Tới rồi! Việt Nam! Ôi quê hương yêu dấu ơi! Bao người thân của ta đứng đâu? Ta muốn ôm tất cả vào lòng, ta muốn hôn lên vầng trán mẹ hiền sau bao ngày nhung nhớ. Ta muốn gục đầu xuống ôm chân Sư khóc nức nở cho hả hê nỗi niềm mong đợi ngày nay. Chị Tiên Dung thương mến của em đâu? Thầy Bảo Long, anh bạn xưa của một thời đói cơm rách áo, nghèo hèn khốn khổ… ba má nuôi nhân ái, bạn bè cũ thân thương… mọi người đang chờ đón niềm vui của ta từ một góc nào nhỉ?”

       Trong lòng Bảo Lân trào dâng cuồn cuộn vọng tưởng.     Phi cơ đã dừng hẳn và cửa từ từ mở, một bầu không khí mang đầy sức nóng tràn vào, mọi người tưởng chừng như mình đang rơi vào hầm lửa. Cái nóng của xứ nhiệt đới thật dễ sợ. Bảo Quy cau mặt, chàng vội vã cởi những chiếc áo lạnh ra khỏi thân. Bảo Phụng đưa chiếc khăn tay ướt đắp lên mặt, cô nghe da mình rát bỏng. Duy chỉ có Bảo Lân mặc nhiên trước mọi cảnh nóng lạnh. Cậu vội vội vàng vàng nắm lấy tay hai bạn kéo chạy về lối ra. Thấp thoáng trong nhóm người đi đón thân nhân, hình như họ cũng thấy cậu, họ đưa tay lên cao vẫy vẫy. Bảo Lân phải giữ lịch sự tối thiểu mới có thể đứng vào hàng chờ đi chầm chậm ra khỏi lối ra. Qua khỏi cửa, cậu chạy ào lại bên người thân như một cơn lốc.

       - Mẹ….!

       Cậu kêu to lên và ôm chặt Bảo Hạnh. Bất giác, Bảo Hạnh xúc động, nước mắt sắp tuôn chảy nhưng cô liền chấn chỉnh được. Cô gỡ tay cậu ra nói vui vẻ:

       - Ôi! Con cao lớn quá! Bảo Hạnh nhìn muốn không ra, còn đây là hai bạn con phải không?

       - Phải thưa mẹ! Đây là anh Bảo Quy và em Bảo Phụng.

       Hai bạn chàng cúi đầu chào mọi người. Bảo Lân tròn xoe mắt tìm quanh hỏi:

       - Sư đâu? Sư đâu hở mẹ?

       Bảo Hạnh không trả lời, đưa mắt nhìn Bảo Long. Bảo Long ôn tồn nói:

       - Sáng nay trong người Sư không được khỏe Sư chờ đón em tại chùa.

       Trong ánh mắt Bảo Lân thoáng nét nghi ngờ… nhưng cậu không thể hỏi thêm được lời nào vì mọi người đang còn vồn vã thăm hỏi cậu. Và Bảo Quy, Bảo Phụng đang còn lúng túng chờ sự giới thiệu của Bảo Lân. Sau phút giây mừng hội ngộ, họ cùng ra xe về chùa. Bảo Lân cảm thấy trong lòng hết sức bất an, một nỗi thất vọng ngấm ngầm nào đó đã khiến chàng hụt hẫng, chới với, nghi ngờlo lắng. Sự vắng mặt của Sư là cả một vấn đề lớn đối với Bảo Lân nhưng cậu cũng chẳng thể mở miệng được để hỏi thăm về Sư. Tiên Dung và Bảo Long chẳng biết vô tình hay cố ý mà cứ hỏi chuyện liên tục. Cho đến lúc xe về tới chùa, Bảo Lân thở phào nhẹ nhõm, cậu ta phóng ra khỏi xe cũng chẳng chờ đợi ai cả, liền lao thẳng vào chùa gọi vang:

       - Bạch Sư con đã về!... Bạch Sư con đã về…!

       Nhưng chùa hoàn toàn vắng lặng chẳng thấy bóng dáng Sư mà cũng không có một chúng Điệu nào cả. Sự vắng vẻ đến lạnh người. Bảo Lân chạy sang liêu Sư, chàng thấy cánh cửa phòng khép hờ, Lân cố nén lòng đưa tay lên gõ cửa, chẳng có tiếng trả lời. Không dằn được nỗi lo, Bảo Lân đẩy cửa bước vào. Căn phòng vắng tanh, chẳng có dấu hiệu gì là Sư đang ở đây cả. Vậy Sư ở đâu? Sư đi đâu? Sư còn không??? ….Sư ơi…

       Bảo Lân kêu thét lên, mắt chàng muốn hoa và tim chàng sắp vỡ. Bỗng Bảo Lân nhìn thấy một lá thư nằm trơ trọi trên bàn. Chàng bước đến cầm lên. Vừa lúc mọi người vô tới, Lân bóc thư ra, tay cầm thư run lẩy bẩy:

       Bảo Liên ngày … tháng… năm …

       A Di Đà Phật.

       Bảo Lân, Bảo Quy, Bảo Phụng cùng các con thương!

       Sự vắng mặt của Sư ắt cũng có nguyên do, các con đừng lấy đó làm quan trọng. Hãy vui vẻ sinh hoạt bình thường, những dự án của các con nên xúc tiến đừng chần chờ. Ngày tháng qua nhanh lắm, tuổi đời chẳng hẹn cùng người, các con hãy nhanh chóng đóng góp phần mình vào cho đạo phápxã hội. Các con phải biết yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, nên lấy hạnh phúc của tha nhân làm hạnh phúc của mình.

       Sư mong hai con Bảo Quy, Bảo Phụng sống an vui, hết lòng cùng Bảo Lân làm việc.

       Xin hẹn gặp các con vào dịp khác.

       Bảo Lân thả rơi lá thư lúc nào chẳng biết và người cậu rũ ra như một cọng bún. Mọi người hốt hoảng vội vàng xúm lại đỡ chàng lên giường, Bảo Lân mê thiếp. Tiên Dung vội bấm điện thoại gọi bác sĩ đến.

       Sau khi khám tim mạch và đo huyết áp xong, bác sĩ bảo:

       - Không sao đâu! Có lẽ anh ấy bị sốc tình cảm, một trạng thái chới với hụt hẫng nên tim đập hơi nhanh, nhưng huyết áp bình thường. Bệnh này không cần đưa vào bệnh viện, chỉ cần người đủ khả năng, đúng đối tượng trấn an, anh ta sẽ mạnh khỏe ngay. Bây giờ ta có thể chích thuốc trợ tim và chuyền dịch cho là được.

       Bảo Long và Bảo Quy bế chàng về phòng riêng để nằm ngay ngắn cho bác sĩ chuyền nước biển. Tất cả mọi người đều vô cùng ngẩn ngơ trước sự kiện này. Họ không hiểu vì sao Sư lánh mặt? Và cũng không ngờ Bảo Lân ra nông nổi như vậy? Bình thường trông anh ta cũng cứng cỏi vững vàng lắm, chứ đâu đến nổi nào. Bảo Quy hỏi Tiên Dung:

       - Sáng nay Sư vẫn còn ở chùa chứ phải không chị?

       - Vâng! Chân Sư đau và người Sư không khỏe thật nên Sư bảo Sư ở lại chùa, không đi đón các em, tất cả đều thấy điều đó hợp lý.

       - Vậy trước đây có bao giờ Sư báo là sẽ vắng mặt chăng? – Bảo Phụng hỏi.

       Tiên Dung lắc đầu nói:

       - Sư đã xếp đặt chu đáo tất cả mọi việc, lúc nào Sư cũng chuẩn bị cho sự ra đi vĩnh viễn nên Sư muốn chúng ta phải tự đảm đang lấy.

       Bảo Quy, Bảo Phụng thở ra buồn bã:

       - Chúng em chưa từng gặp Sư, chưa hề nhìn thấy được dung nghi của Sư.

       - Sư không thích ai ghi lại hình ảnh. Sư bảo “Thân này không phải là ngã thật, hãy tìm thấy Sư ở ngoài thân này.” Tuy nhiên, chị cũng có một bức vẽ về chân dung của Sư nhưng Sư không cho treo, để chị lấy ra cho các em xem.

       Tiên Dung lại tủ lấy ra một bức tranh Sư đang tọa thiền nơi vườn xoài râm mát, trong túp lều tranh hiền hòa an tịnh. Hình ảnh tuy không sáng sủa lắm nhưng rất rõ nét.

       Bảo Quy, Bảo Phụng sau khi ngắm nhìn bức tranh, cả hai bỗng ngờ ngợ tưởng chừng như mình đã gặp hình ảnh này nơi nào rồi. Nhìn thêm một lát, chợt Bảo Phụng kêu lên:

       - Em nhớ ra rồi! Em đã nhìn thấy hình ảnh này một lần trong giấc mơ.

       Bảo Quy cũng nói thế!

       - Thì ra Sư đã đến với chúng ta! Anh nhớ không lầm là ngay hôm được tiếp điện thoại với Sư, chính tối đêm ấy, hình ảnh này đã hiện ra. Kỳ lạ thật nhỉ? Chúng ta nào ngờ!

       Bảo Long nói:

       - Bây giờ điều cấp bách của chúng ta là làm sao tìm Sư về cho kịp để cứu Bảo Lân. Chứ không thể để tình trạng này kéo dài được.

       - Nhưng biết Sư ở đâu mà tìm bây giờ?

       - Hãy đến các nhà quen hay chùa quen hỏi thăm – Bảo Quy, Bảo Phụng nói. Tiên Dung lắc đầu:

        - Chẳng thể nào gặp đâu. Sư ngoài công tác Phật sự, chẳng bao giờ ghé nơi này chốn kia thăm viếng hay dạo chơi. Sư quý thời giờtu hành miên mật lắm, khó mà biết được Sư nay ở đâu mà tìm.

       - Chắc chắn là ta không thể nào tìm ra Sư đâu khi mà Sư đã cố ý lánh mặt. Chỉ còn một cách duy nhất mà ta có thể làm được là đồng thành tâm thỉnh cầu Long thiên Hộ pháp khiến xui sao cho Sư về thì họa may – Bảo Hạnh nói.

       Bảo Long liền chấp nhận ý kiến này và ngay tối đêm đó, toàn thể cùng nhau lên Đại hùng Bảo điện đốt trầm hương thành tâm đảnh lễ nguyện cầu. Họ gần như thức suốt sáng, nhất tâm niệm tọa thiềncầu nguyện mong Sư chóng về.

       Bảo Lân trải qua một đêm vẫn còn mê thiếp, thỉnh thoảng ú ớ gọi Sư, tình trạng thật căng thẳng. Có nhiều vị nóng lòng quá muốn đưa Bảo Lân vào bệnh viện. Bảo Hạnh nói:

       - Vào bệnh viện cũng chỉ thế mà thôi.

       - Nhưng dù sao ở bệnh viện cũng có nhiều dụng cụ máy móc tối tân, biết đâu người ta sẽ có cách làm Bảo Lân chóng tỉnh lại.

       Trong khi mọi người đang bối rối bàn tính xôn xao thì chợt có tiếng xe chạy vào cổng. Tất cả đều nhìn ra, Tiên Dung thoáng thấy bóng dáng của Sư. Cô mừng rỡ kêu lên:

       - Sư đã về!

       Sự hiện diện của Sư như ánh thái dương bừng tỏa, xua tan đi bao tăm tối của màn đêm. Tất cả đều chạy ra, chắp tay chào đón Sư, một nỗi vui mừng chưa từng thấy trong đời. Sư cười từ ái đặt tay lên đầu Bảo Quy, Bảo Phụng hỏi:

       - Hai con về đấy ư? Khí hậu xứ này oi bức quá, các con thấy có khó chịu lắm không?

       Rồi Sư nhìn quanh hỏi:

       - Còn Bảo Lân đâu? Sao Sư không thấy?

       Bảo Quy, Bảo Phụng đưa mắt nhìn nhau không dám trả lời. Sư lại nói;

       - Bệnh rồi à?

       Bảo Hạnh chắp hai tay thưa:

       - Kính bạch Sư! Bảo Lân yếu quá, đang còn mê man.

       - Bạch Sư! Bảo Lân du học hơn mười năm trời mà lúc về vẫn trẻ con như ngày nào. Cậu ta đọc chưa hết lá thư đã xỉu ngay tại chỗ và vẫn còn mê man suốt đến hôm nay – Tiên Dung nói.

       Họ đưa Sư vào phòng. Tay cậu đang truyền dịch, y sĩ vẫn ngồi một bên trực. Sư đi lại đặt tay lên trán Bảo Lân, thấy trán cậu vẫn mát rượi. Sư móc trong túi ra chiếc khăn tay, cầm lau lên vầng trán ấy rồi lau dần xuống mắt. Quả là một phép lạ cực kỳ không thể giải thích. Bảo Lân bỗng choàng tỉnh. Mùi hương lạ của ngày xưa một lần nữa đã đánh thức cậu. Khi chàng ta vừa mở mắt, bỗng chợt trông thấy Sư, Bảo Lân hốt nhiên kêu lên:

       - Sư!

       Rồi cậu choàng ngồi dậy khiến ống tim chuyền nước bật ra và máu phụt theo. Y sĩ vội chụp tay chàng lại và dán chặt băng cá nhân vào tay. Bảo Lân tuột xuống khỏi giường phục lạy dưới chân Sư, run rẩy thưa:

       - Con xin sám hối Sư! Con xin sám hối Sư! Xin Sư tha thứ cho sự hèn yếu của con.

       Sư chỉ nói nhẹ:

       - Con Kỳ Lân hùng vĩ mà lại như thế đấy à?

       Bảo Lân biết lời trách nhẹ ấy thay cái cau mày của Sư nên chàng càng sợ hãi dập đầu lạy lia lịa, miệng vang sám hối. Toàn chúng đứng lặng yên gần như muốn nín thở khi chứng kiến sự kiện ấy. Sư đưa tay ra hiệu cho Bảo Lân đứng lên. Sư nói:

       - Thôi được rồi! Chúng ta nên ra ngoài bàn chuyện.

       Sư bước ra, tất cả cùng theo ra phòng khách. Chờ cho tất cả ngồi yên, Sư nhìn Bảo Long, Bảo Lân cùng các đệ tử, nhỏ nhẹ bảo:

       - Các con sắp sửa đứng ra làm việc lớn, việc quan trọng, thế mà chỉ có tí chuyện nhỏ như vầy lại vượt qua không được thì việc lớn làm sao thành công? Trên cuộc đời này đâu phải chuyện gì cũng êm xuôi như thời mình đi học, con không nghe người xưa nói sao?

“Ra trường danh lợi vinh liền nhục

Vào cuộc trần ai khóc lẫn cười.”

       Khi các con bắt tay vào làm việc thì khó khăn, trắc trở, gian nan sẵn sàng chờ đón các con đấy! Các con nên chuẩn bị tinh thần phải nghĩ đến thất bại trước, mới đủ kiên nhẫn đi đến thành công các con ạ! Nghĩ như thế không phải là bi quan đâu, mà là người có bản lãnh, dám hiên ngang đón nhận tất cả, dù khó khăn nào.

       Các con đừng tưởng làm việc từ thiện xã hội là dễ. Không dễ đâu! Nó còn khó gấp trăm vạn lần việc bình thường. Phải là người sáng suốt, đủ nghị lực, có trái tim yêu thương lớn mới sống nổi đời sống vị tha, phải thật trí tuệ cùng lòng từ không biên giới mới mong làm được việc vô vụ lợi này. Các con nên cố gắng tu tập pháp “Vô ngã”, nếu không các con sẽ gặp nhiều chướng ngại vô cùng.

       Sư mong khi tu cũng như khi làm việc, các con đừng đánh mất mình, nên “xứng tánh tác Phật sự.” Phải biết thân này của tứ đại, tâm này của vọng trần. Tứ đại vốn không, ngũ ấm thực sự là vô ngã, chẳng có gì là ‘Ta’ hay là ‘của ta’ cả. Câu nói đơn giản này chính từ kim khẩu của Đức Thế Tôn nói ra. Nó chứa đựng một triết lý Vô ngã tuyệt vời! Các con nếu nắm vững được phương pháp này thì sẽ vượt qua được nhiều khổ ách lắm. Ta sẽ có cái nhìn “Viên Thành Thật”, không còn bị  “Biến kế sở chấp’ che mờ nữa. Tam độc, bát phong cũng không còn chỗ để hoạt động. Tiêu được tâm chấp trước này rồi thì mọi phiền não tự rơi rụng, lúc đó ta sẽ làm việc với tâm thênh thang vô trước. Những điều Sư nói đây rất cần thiết, các con phải  tập quán sát hằng ngày.

       Từ lâu Sư thường chỉ dạy các con trên ngôn thuyết đến nay mới thử cho một bài thực nghiệm thì liền thấy các con rớt tại chỗ ngay. Nhất là Bảo Lân, con chim đầu đàn mà như vậy được chăng hở con?

       Bảo Lân liền quỳ xuống, gục đầu vào gối Sư mếu máo thưa:

       - Kính bạch Sư! Quả thật con vô cùng ngu muội, vẫn còn non dại kém cỏi, chưa đủ sức lãnh hội được thâm ý Sư. Nếu như không có cuộc thử thách này, chắc là chúng con cũng còn tin tưởng vào tài năng của mình lắm! Cứ nghĩ là mọi việc chắc dễ dàng thôi, mình sẽ thừa sức đối phó mọi hoàn cảnh. Nào dè chỉ cần một bài học giáo đầu của Sư, chúng con đã bày hiện chân tướng ngu ngơ, vụng dại, lúng túng đủ mọi mặt. Kính bạch Sư! Chỉ cần chừng ấy thôi, đủ biết chúng con cần sự hiện diện của Sư đến mức độ nào. Chúng con vẫn thường nói Sư ví như ánh mặt trời sáng chói, chúng con chỉ là những đóa hướng dương bé nhỏ tầm thường. Những đóa hướng dương hèn mọn này làm sao đủ sức phát triển tiềm năng nếu như ánh mặt trời vắng bóng?

       Sư khẽ mỉm cười nhẹ nhàng hỏi:

       - Tại sao các con không biết hướng về ánh mặt trời vĩnh hằng “tuệ giác Phật”? Chúng ta đều có thể là những đóa hướng dương nếu muốn, nhưng phải biết hướng về tuệ giác Phật của tự tánh mình, không nên phóng ngoại tìm cầu, bởi vì tất cả pháp hữu vi đều mong manh tạm bợ, thì cái thân tứ đại này của Sư có bền chắc gì đâu mà các con muốn nương tựa?  Hãy nương tựa vào tuệ giác bất sanh bất diệt của chính mình. Các con đều là Phật tử cả, phải sáng suốt nhận định, không thể nói như thường tình. Con không thấy thân Sư đã mòn mỏi, già nua lắm rồi sao…?

       Bảo Lân lại ôm chân Sư khóc, tựa như thằng bé con đang vòi vĩnh bà:

       - Sư đã già thật rồi!... già quá rồi!... con sợ mất Sư lắm Sư ơi!

       Mọi người đều phát phì cười với lối trẻ con muôn thuở của Bảo Lân. Sư cũng không nhịn được cười. Người đặt tay lên xoa đầu cậu ta hoan hỷ bảo:

       - Nếu như con giữ mãi được tâm “anh nhi” này thì cũng đáng quý đấy. Bởi vì trẻ thơ không biết so đo tính toán, không tranh danh đoạt lợi, không ganh ghét, tị hiềm… Sư cũng cầu mong cho các con mãi vô tư thánh thiện như trẻ thơ hồn nhiên trong sáng. Bởi vì chính chúa Giê-su cũng đã nói “ hãy để con trẻ đến với ta vì nước thiên đàng dành cho những ai tâm thánh thiện như trẻ con”. Cho nên làng trẻ của chúng ta hãy là một nước thiên đàng tại trần thế nhé! Đó là điều mong mỏi của Sư.

       Các con ạ! Còn một điều này nữa Sư muốn lưu ý các con. Cổ đức thường nói “Muốn đứng trước phải lùi lại sau, muốn cao lên phải thấp mình xuống” Đấy là muốn dạy ta đức khiêm tốn. Các con có biết vì sao người ta thường gọi biển là vua của trăm sông không? Bởi vì biển thấp mà sông cao, nên nước muôn sông phải đổ về biển cả. Người đệ tử Phật cũng thế, vì muốn đạt đến chỗ cứu cánh cao tột nên cần phải thấp người xuống. Muốn thấp mình không gì bằng tâm khiêm hạ và đức nhẫn nhục. Tâm khiêm hạ và đức nhẫn sâu bao nhiêu thì đức hạnh cao chừng ấy. Nó như cái trũng sâu nên bao nhiêu nước công đức, đất màu mỡ của muôn hạnh lành đều đổ về, nên tài năng cũng theo đó phát triển. Đó chính là do nhờ ngã chấp không còn nên bao nhiêu cái hay của người đều học được cả. Hễ các con cảm phục được ưu điểm nào của người, thì ưu điểm đó trong con lần lần xuất hiện.

       Điều mà Sư mừng cho Bảo Lân là ngay từ câu nói đầu tiên của con “con biết con có lỗi”, chính nhờ tâm biết lỗi nên không oán trách người mà chỉ lo sửa lỗi mình, do đó con chóng thành người tốt. Cho nên Sư mong các con gắng phát triển hai tâm hạnh này “thấy lỗi mình”“biết quý trọng hạnh tốt của người”. Và cũng nên mạnh mẽ loại trừ những khuyết điểm còn ở nơi mình, tu là ở chỗ:

Các điều ác nên tránh

Các việc thiện nên làm

Tự thanh tịnh tâm ý mình

Đó là lời chư Phật dạy.

       Sư chẳng mong mỏi gì hơn ngoài việc các con luôn biết yêu thương, kính quý lẫn nhau, cùng đem hết khả năng ra phụng sự dù đạo hay đời. Tâm luôn muốn giúp đỡ người, xót xa trước bao nỗi khổ của tha nhân, biết vui mừng trước sự thành công hạnh phúc của kẻ khác, luôn tha thứ bao dung và xả bỏ. Hạnh phúc sẽ chắc chắn đến với các con do bởi tâm vị tha giàu có…

      Đấy là những huấn từ mà Ni sư Bảo Liên đã ban cho đệ tử mình và vì thế nên mãi mãi những đóa hướng dương luôn hướng về mặt trời sáng chói. Từ đấy họ làm việc và sống an vui trong suối nguồn Từ - Bi – Hỷ - Xả.

 

                                                                       Đầu xuân 2000

                                                                              Bảo Tâm.

 

 

Nguyện cầu quốc thái dân an

Thế giới hòa bình, muôn dân an lạc.

 

 

 

 


 

  

 

        … Chúng ta đều có thể là những đóa hướng dương nếu muốn, nhưng phải biết hướng về tuệ giác Phật của tự tánh mình. Không nên phóng ngoại tìm cầu, bởi vì tất cả pháp hữu vi đều mong manh tạm bợ,… Hãy nương tựa vào tuệ giác bất sanh, bất diệt của chính mình…

 

 

 

 

 

 

 

Tạo bài viết
30/04/2019(Xem: 3553)
04/05/2015(Xem: 7549)
06/01/2020(Xem: 1231)
Theo The Insider (Anh Quốc) vào ngày 18/1/2021, tại The Tampak Siring Temple ở Bali, Nam Dương, người ta cột con dao vào chân con gà trong trận đá gà truyền thống của người Balines Ấn Độ. Đây là một bộ phận của nghi lễ tôn giáo để thanh tẩy và trừ tà bằng máu của các con vật qua cuộc đá gà. Đá gà không phải lễ nghi tôn giáo được coi là cờ bạc tại Nam Dương.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.