Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM

1- Di Liệu Văn Tự Kharosthi

24/06/20229:35 SA(Xem: 202)
1- Di Liệu Văn Tự Kharosthi

VŨ THẾ NGỌC
KINH PHẬT
NGUỒN GỐC và PHÁT TRIỂN
Buddhist Sutras: Origin and Development

 

Phụ Lục I

 

KINH PHẬT CỔ NHẤT

BẰNG VĂN TỰ  KHAROSTHI

VIẾT TRÊN VỎ CÂY BHOJA-PATRA

 

 

Ý NGHĨA TRỌNG ĐẠI CỦA KINH PHẬT

CHỮ KHAROSTHI VIẾT TRÊN VỎ CÂY Ở GANDHARA

 

 

I - LỊCH SỬ THÁNH ĐỊA GANDHARA

Gandhāra trong kinh điển Hán Tạng quen gọi là “Càn Đà La” 乾陀羅 ngày trước là một trung tâm Phật giáo và cũng là thủ phủ văn hóa nghệ thuật và chính trị quan trọng của Ấn Độ. Gandhāratrung tâm giao tiếp giữa Ấn Độ với Tây Á và Đông Á, con đường Tơ Lụa thương mại quốc tế cổ đại cũng dừng ở đây. Alexander Đại Đế (356-323 B.C.) đã chiếm đóng thủ phủ Taxila (gần Peshawar) và Gandhāra trở thành một phần của khu vực cai trị rộng lớn của Alexander Đại Đế cho đến khi ông qua đời. Sau đó đến thời kỳ Đế quốc Khổng Tước (Maurya 300-185 B.C.) vua A-Dục (Aśoka) cũng bành trướng đến Gandhāra và để lại nhiều Pháp Trụ (Indicts of Aśoka) coi vùng đất này là cửa ngõ phát triển về phương tây. Đến triều đại Quí Sương (Kushan 50-300) vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniṣka lên ngôi năm 120) người hộ trì Phật giáo và bảo trợ đại hội Kết Tập Kinh lần thứ tư, cũng lập thủ đô ở đây - Triều đại Kushan cũng bắt đầu phát triển việc biên chép kinh Phật Sanskrit.[1] Về Phật giáo, chúng ta nên biết Gandhāra cũng là quê hương của Mã Minh (Asvaghoṣa t.k.I), Thế Thân (Vasubandhu 316-396) và Vô Trước (Asaṅga 310-390). Các nhà Tây du thỉnh kinh Á Đông danh tiếng như Pháp Hiển (320-420), Huyền Trang (600-664), Nghĩa Tịnh (635-713) cũng đều đến đây chiêm bái và học tập trước khi tiến sâu vào nội địa Ấn Độ.

1. GANDHARA TRUNG TÂM HỘI TỤ VĂN HÓA

            Nghệ thuật là sự phản ảnh tâm thức con người trong đời sống văn hóa, cho nên từ thời Alexander Đại Đế đến triều đại Quí Sương, một nghệ thuật tượng hình điêu khắc kiến trúc mang sắc thái hòa hợp văn hóa Ấn Âu đã thai sinh. Qua hằng ngàn các tượng Phậtảnh tượng trạm trổ trong chùa tháp và trên núi đá khắp khu vực và hiện nay tản mát khắp các bảo tàng viện thế giới, chúng ta luôn luôn thấy được dấu ấn vô cùng đặc sắc ấy. Đó là một dấu ấn vừa mang truyền thống Ấn Độ vừa tiếp thu được nét tinh xảo hiện thực của Hy Lạp.[2] Nghệ thuật đó đã phát triển thành một trường phái riêng biệt độc đáo Gandhāraảnh hưởng sâu sắc trên nghệ thuật Phật giáo cho đến thời hiện đại. Quả thật, dù Phật giáo Gandhāra sau này suy tàn sau nhiều lần xâm lăng của rợ Hung Nô và Hồi giáo, trải qua hai ngàn năm nghệ thuật Gandhāra vẫn tiếp tục là một nguồn cảm hứng quan trọng trong nghệ thuật điêu khắctạc tượng của Phật giáo Á Châu.

Thủa Phật giáo còn hưng thịnh, khi thời đại cho phép nghệ sĩ sáng tác hình tượng đức Phật (trước đó Phật giáo không chấp nhận) nghệ thuật Gandhāra đã trở thành đại diện và tiên phong cho sự ra đời hình tượng của đức Phật trong nghệ thuật Phật giáo. Những hình tượng đức Phật còn tồn tại đến nay cho thấy sự đột phát thần kỳ và có thể coi là một hình thái tâm linh siêu nghiệm, mà trải qua bao nhiêu thế kỷ với biết bao nghệ sĩ tài hoa của nhiều truyền thống văn hóa khác nhau đã không thể tái tạo được. Cho nên từ Ấn Độ đến Trung Hoa, qua Tích Lan đến Nhật Bản dù có vô số các hình tượng đức Phật, nhưng hầu như những tượng Phật đẹp nhất đều chỉ là một cố gắng sao chép thần thái siêu phàm của hình tượng đức Phật Gandhāra.

            Ngày nay Gandhāra nằm giáp ranh giữa tây bắc Ấn Độ, bắc Pakistan, đông Afganistan và cũng gần với biên giới các tiểu quốc Hồi giáo mới độc lập sau khi Liên Xô tan rã. Dù không còn là một thủ phủ kinh tế quốc tế, nhưng từ đầu thế kỷ XX Gandhāra đã trở nên một địa chỉ khảo cổ danh tiếng, nơi còn tồn tại các di chỉ Phật giáo cổ đại với các địa danh lẫy lừng như Gilgit (Cơ nhĩ tập), Peshawar (Bạch hạ ngỏa), Taxila, Hadda, Jalabad là những nơi các cổ vật, cổ thư Phật giáo vô giá liên tiếp được khám phá và buôn bán, trước khi vùng này biến thành trung tâm chiến tranh của các lực lượng quân sự cách mạng Hồi giáo quá khích trong những năm vừa qua.

Từ thế kỷ XIX, người ta đã chú ý đến những đền đài cung điện Phật giáo khổng lồ bằng đá hay được đào đục vào lòng núi và những thủ bản kinh Phật cổ xưa nhất cũng đã đều tìm được là ở khu vực này. Danh tiếng của Gandhāra đã mau chóng trở thành một một tính từ quen thuộc Gandhāran Buddhism, Gandhārī Art hay Gandhārī Model trong giới nghiên cứu nghệ thuật và mỹ thuật. Các bảo tàng danh tiếng thế giới đều có trưng bầy các cổ tượng Phật giáo Gandhāra. Khu vực Gandhāra trong những năm qua lại một lần làm chấn động thế giới với việc “quân cách mạng Taliban” đã dùng đạn chiến xa và chất nổ phá hủy toàn diện hai bức tượng Phật vĩ đại nhất và cổ kính nhất ở Kabul – Bamiyan. Đây chỉ là hành động cuối cùng của quân Hồi giáo sau một thời gian dài phá hoại các di tích Phật giáo tuyệt đẹpcổ kính trong miền này như đã từng truy diệt Phật giáo trước đây ở Ấn Độ. Dù ngày nay không còn tăng nhân hay Phật tử sinh sống ở đây, thì họ nhắm vào các thắng tích di tượng Phật giáo. Cuộc phá hủy hai tượng Phật vĩ đại ở Bamiyan Gandhāra đã gây thành đợt sóng thần phẫn nộ của toàn thế giới, đặc biệt với thành phần những người yêu chuộng văn hóa và nghệ thuật. Người Nhật đã bất lực khi đề nghị với quân cách mạng để mua lại những bức tượng Phật lịch sử ở đây. Hoàng hậu Nhật Bản trước đây đã từng đến chiêm bái vùng này và khi nghe tin quân đội Taliban phá hủy hai bức tượng Phật này bà đã viết một bài thơ Hòa Ca tuyệt diệu, hoàn toàn không có ý tưởng căm thù nào mà qua sự kiện rất đau buồn này cũng chỉ nhắc nhở chúng ta đến lẽ vô thườngĐức Phật vẫn dạy.

Nhưng cũng trong thời gian này một biến cố khác, không nổ như vụ phá hủy hai bức tượng đại Phật nhưng có lẽ còn quan trọng hơn nữa. Đó là vào tháng 9 năm 1994 một vị bồ tát vô hình vô danh nào đó đã âm thầm gửi đến phòng tư liệu Đông PhươngẤn Độ của Thư Viện Anh (The British Library’s Oriental and Indian Office Collection) một di liệu gồm 29 cuộn kinh Phật viết trên vỏ cây bu-lô (Bhoja-patra) trong ba khạp đất nung. Qua nội dung kinh bản và các chữ khắc trên ba khạp đất, người ta đã bàng hoàng khi khám phá đó là thủ bản các bản kinh tối cổ của Phật giáo, cổ hơn cả hai ba trăm năm so với các thủ bản kinh Phật Sanskrit và Pāli mà chúng ta đang có. Tóm lại, cuối cùng giới nghiên cứu Phật học cũng đã tìm ra được những tài liệu kinh Phật vô giá bằng chữ Kharosthi viết trên vỏ cây bhoja-patra có niên đại từ thế kỷ thứ nhất Dương lịch. Trước đây mọi người đều biết kinh tạng Pāli được coi là cổ xưa nhất, nhưng đó chỉ là truyền thống khẩu truyền, còn đây mới là chứng tích văn tự cụ thể kinh Phật sớm nhất mà chúng ta có được.

Thư viện Anh đã lập tức liên lạc với giáo sư Richard Salomon của đại học Washington, một trong vài học giả trên thế giới có thể đọc được văn tự Kharosthi. Liên thủ Thư Viện Anh và đại học Washington nhanh chóng thành lập “Dự Án Nghiên Cứu Nguyên Cảo Kinh Văn Phật Giáo Thời Sơ Khai” (The British Library/ University of Washington Early Buddhist Manuscripts Poject) – EBMP- và lập tức hoạt động. Năm năm sau (1999) Gandhāran Buddhist Texts (GBT) xuất bản nghiên cứu đầu tiên có tên là Ancient Buddhist Scrolls from Gandhāra: The British Library Kharoṣṭhī Fragments [3] giới thiệu tổng quát toàn bộ chương trình nghiên cứu này, mở đầu cho một chuỗi sách với chủ đề “nghiên cứu văn bản Phật giáo thời sơ kỳ ở Gandhāra”. Tiếp tục làm việc không ngưng nghỉ, hai mươi năm trôi qua, cho đến nay GBT đã xuất bản được 6 quyển và nhiều nghiên cứuliên hệ với dự án – Trong số này có ba luận án tiến sĩ của các nghiên cứu sinh đã hỗ trợ và sẵn sàng thay thế các sư phụ trong cuộc nghiên cứu dài hạn này.

2. KINH PHẬT Ở GANDHARA

            Trong thế kỷ trước giới nghiên cứu thế giới đã phát hiện ra nhiều văn mảnh kinh Phật quan trọng tại Gandhāra mà quan trọng nhất là bản kinh Pháp Cú (kinh điển Tiểu thừa) và các mảng kinh Bát Nhã (kinh điển Đại thừa) viết bằng cổ tự Kharosthi trên vỏ cây bu-lô (bhoja-patra). Các văn kiện cổ kính này không chỉ cho thấy Gandhāra từng là trung tâm Phật giáo của cả Đại thừaTiểu thừa mà còn có thể cho chúng ta biết được thêm chi tiết về thời kỳ phát triển đầu tiên của Phật giáo Đại thừa – vốn là một khâu nghiên cứu quan trọng từ xưa chúng ta thường không có tài liệu. Tuy nhiên những văn bản trước đây chỉ là những thủ bản có niên đại khá muộn, phải đến năm 1994 khi thư viện Anh và đại học Wasington có được 29 cuộn kinh Phật viết bằng cổ tự Kharosthi trên vỏ cây Bu-lô tìm được ở Gandhāra có niên đại từ thế kỷ thứ I Dương lịch, giới nghiên cứu thế giới mới thực sự thấy rõ hơn tầm quan trọng của các kinh điển Phật giáo bằng văn tự Kharosthi rất cổ này, như lời Đức Đạt-lai Lạt-ma XIV trong lời giới thiệu sách Ancient Buddhist Scrolls from Gandhāra “Những cuộn kinh khắc trên vỏ cây bu-lô này sẽ cho chúng ta bằng chứng văn tự sớm nhất về những lời dạy nguyên thủy của chính đức Phật.” Graham Shaw của Thư Viện Anh Quốc cũng tiếp lời khẳng định “Giá trị của các bản kinh này thật khó thể đo lường được… Sự khám phá di liệu này tạo cơ hội cho các học giả có thêm tài liệu trong nỗ lực tìm hiểu giáo pháp do chính đức Phật đã thuyết giảng, cũng như xác định ngôn ngữ chính đức Phật đã dùng để giảng dạy giáo thuyết đó. Chúng còn giúp chúng ta chứng thực các kinh điển được thành lập về sau”.

            Đúng như hy vọng của Graham Shaw, sau khi thành lập tổ chức xuất bản các nghiên cứu về các di cảo này (Gandhāran Buddhist Texts) các học giả thế giới đã qui tụ cộng tác mật thiết với đại học Washington trong nỗ lực chung. Đầu tiên là cùng chia sẻ nguồn tài liện về kinh Phật ở Gandhāra mà nhiều năm trước đã tản mát khắp thế giới. Ngoài Sưu Tập Thư Viện Anh, hiện nay chúng ta đang có những sưu tập rải rác khắp thế giới như sau.

3. CÁC SƯU TẬP VỀ KINH PHẬT Ở GANDHARA

            Kinh Phật ở Gandhāra (Gandhāran Buddhist Texts) là những văn bản kinh Phật cổ nhất của thế giới được tìm ra ở Gandhāra, chủ yếu là các thủ bản được viết bằng văn tự Kharoshthi trên vỏ cây bu-lô có niên đại từ thế kỷ thứ nhất trước Dương lịch cho đến thế kỷ thứ ba Dương lịch.[4] Từ thế kỷ trước người ta đã tìm thấy hoặc mua được từ những tay săn tìm cổ vật khá nhiều các mảnh (fragment) kinh như thế. Các di liệu này thường tản mát trong tay những người sưu tầm cổ vật và một vài thư viện lớn khắp thế giới. Tuy nhiên phần lớn các di liệu còn bị hủy hoại vì các toan tính mở xem chúng. Nên nhớ đây là những mảnh vỏ cây mỏng đã được lưu giữ từ hai ngàn năm. Theo phim ảnh ghi nhận và tường trình mới đây thì chúng ta thấy rõ chúng thường đã vỡ thành các mảnh vỏ (fragment) vô cùng mỏng manh và rất dễ vỡ vụn - giống như những lớp giấy vàng mã đã được đốt sau ngày tết lễ ở Việt Nam chúng ta. Phương pháp cũ là tẩm dầu hay ngâm dầu thì dù có thể cứu chữa tạm thời sự vỡ vụn nhưng hầu như vẫn không đọc được bao nhiêu những cổ tự Kharosthi viết trên đó. Hiện nay, nhờ kỹ thuật hình chụp cắt lớp của y khoa và “adobe photoshop” cuối cùng của những năm cuối thế kỷ XX vừa qua người ta mới không hủy hoại nó mà còn có thể đọc được nó rõ hơn dù với mắt thường. Và đây chỉ mới là giai đoạn nhìn được chúng. Văn tự Kharosthi vẫn còn là một cổ tự có nhiều vấn đề không dễ diễn dịch.[5]

1- SƯU TẬP CỦA THƯ VIỆN ANH

            Đầu tiên là sưu tập gọi là “the British Libaray Collection” 1994. Đây là một sưu tập gồm 29 cuộn vỏ cây bu-lô bỏ trong ba chiếc chum đất chôn sâu trong một cổ tự ở Gandhāra. Theo sự ghi chú trong kinh và trong chữ khắc trên chum thì người ta ước đoán được niên đại của chúng là vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ nhất Dương lịch. Ngôn ngữ của kinh gọi là “tiếng phổ thông của Gandhāra” (Gāndhārī language hay Gandhāran Prākrit) viết bằng văn tự Kharosthi, nên cũng thường gọi là Kharoṣṭhī Manuscripts. Hiện nay toàn bộ sưu tập được chia thành 57 mảng vỏ cây (fragment) lớn thì có vài chục dòng nhỏ thì chỉ có vài chữ, được bảo trì trrong 57 hộp kính được trưng bầy tại Thư Viện Luân Đôn. Tất cả các đoạn mảng này đều đã được chụp lại và mọi học giả muốn nghiên cứu có thể nhìn xem trên màn hình internet.

Nội dung chính của kinh được nhận diện lên đến gần 20 bộ kinh nhưng hầu như không có kinh nào có đầy đủ trọn bộ. Các kinh sớm được nhận diện là một bản kinh Pháp Cú (Dharmapāda) hơi khác với bản truyền thống, Kagga-visana-suta (kinh Sừng Tê Giác), Avadanas (thí dụ kinh 13 Tiểu Bộ-Kinh), Purvayoas, Luận và văn bản A-tì-đàm .v.v. Bốn quyển sách đầu tiên của GBT xuất bản mới chỉ là một phần của các văn liệu này.

Theo Salomon[6] đây là kinh bản của Pháp Tạng Bộ (Dharmaguptaka) một chi phái xuất phát trực tiếp từ Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) vốn là một bộ phái quan trọng nhất và lâu dài nhất ở Gandhāra.[7] Từ xưa người nghiên cứu tin rằng Nhất Thiết Hữu Bộ là khâu quan trọng nhất trong sự phát triển của Phật giáo Đại thừa, thì nay chúng ta sẽ có văn cảo cụ thể để chứng minh giả thiết này.

Hiện nay, trong thời gian tôi viết sách này, GBT đã xuất bản được 6 nghiên cứu từ Sưu Tập Thư Viện Anh gồm:

GBT 1 (2000): Richard Salomon, A Gāndhārī Version of the Rhinoceros Sūtra: British Library Kharoṣṭhī Fragment 5B.

GBT 2 (2001): Mark Allon, Three Gāndhārī Ekottarikāgama‐Type Sūtras: British Library Kharoṣṭhī Fragments 12 and 14.

GBT 3 (2003): Timothy Lenz, A New Version of the Gāndhārī Dharmapada and a Collection of Previous‐Birth Stories: British Library Kharoṣṭhī Fragments.

GBT 4 (2007): Andrew Glass, Four Gāndhārī Saṃyuktāgama Sūtras: Senior Kharoṣṭhī Fragment 5.

GBT 5 (2008): Richrd Salomon, Two Gāndhārī Manuscripts of the Songs of Lake Anavatapta (Anavatapta‐gāthā): British Library Kharoṣṭhī Fragment 1 and Senior Scroll 14.

GBT 6 (2010): Timothy Lenz, Gandhāran Avadanas: British Library Kharoṣṭhī Fragments 1, 2, 3, and 21, and Miscellaneous Fragments A-Z.

Thêm vào danh mục trên, nhiều nghiên cứu liên quan đến văn bản “Tạng Kharosthi” của Sưu Tập Thư Viện Anh và các Sưu Tập khác sẽ được xuất bản gồm các nghiên cứu:

Mark Allon. Ancient Buddhist Scrolls from Gandhāra II: The Senior Collection;

Stefan Baums. A Gāndhārī Commentary on Early Buddhist Verses: British Library Fragments 7, 9, 13 and 18;

Collett Cox. A Gāndhārī Abhidharma Text: British Library Kharoṣṭhī Fragment 28;

Timothy Lenz. Gandhāran Avadanas II: British Library Kharoṣṭhī Fragment 4;

Jason Neelis and Timothy Lenz. Gandhāran Avadanas III: British Library Kharoṣṭhī Fragment 16;

 Richard Salomon et al. Mahāyāna Sūtras in Gāndhārī in the Schøyen Collection: The Bodhisattvapiṭaka- and Sarvapuṇyasamuccaya-sūtras;

Richard Salomon. The Gāndhārī Bahubuddha-sūtra: The Library of Congress Scroll;

Tien-chang Shih. A Gāndhārī Version of the Dārukkhanda-sutta: Senior scroll 19.

Salomond ước lượng GBT sẽ xuất bản đến 40 đầu sách như thế và sẽ không giới hạn trong Sưu Tập Thư Viện Anh mà còn từ những sưu tập khác như dưới đây.

2- SƯU TẬP SENIOR

The Senior Collection là sưu tập của nhà nghiên cứu người Anh tên là Robert Senior. So với Sưu Tập Thư Viện Anh, thì sưu tập này tuy cũng là bằng vỏ cây Bu-lô và bỏ trong khạp đất nung. Salomon cho biết nó được viết muộn hơn sưu tập Thư Viện Luân Đôn đôi chút (nghĩa là vào khoảng cuối thế kỷ thứ nhất).[8] Tuy nhiên điểm tốt của sưu tập này thay vì gồm nhiều đoạn kinh, Sưu Tập Senior gồm có nguyên vẹn kinh.

Senior có hơn 20 thủ bản vỏ cây ngôn ngữ Gandhāra cũng viết bằng văn tự Kharosthi bỏ trong khạp đất nung và có lẽ được chôn trong cổ tự gần với Sưu Tập Thư Viện Anh. Salomon giới thiệu “Trong khi Sưu Tập Thư Viện Anh viết bằng nhiều lối văn tự do và do nhiều người viết thì Sưu Tập Senior dường như chỉ dùng một bút pháp vì chỉ do một người viết. Nếu Sưu Tập Thư Viện Anh bị phân chia thành nhiều mảng văn và dường như không hoàn toàn, thì văn bản Senior cho thấy đã hoàn hảo trước khi đem chôn dấu.”[9]

            Cuối cùng và quan trọng nhất là Salomon báo cáo rằng phần lớn các văn liệu trong Senior giống như đã có trong kinh điển Tướng Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya) của Theravāda và Tạp A Hàm của Hán Tạng. – Điều này cho thấy giả thuyết Tạp A Hàm của Hán Tạng không dịch từ Sanskrit như nhiều người nghĩ trước đây mà từ ngôn ngữ địa phương gọi là Gandhārī Prākrit (nên nhớ văn tự brahmi và Kharosthi được dùng để viết ngôn ngữ phổ thông Prākrit vùng Gandhāra (gọi là Gandhārī Prākrit) trước rồi sau đó mới được dùng để viết Sanskrit – suy ra văn tự Hán Tạng có thể cổ hơn Pāli vì Pāli cùng thời với Sanskrit nhưng sau thời vua A Dục  người ta mới dùng văn tự Kharosthi và Brahmi để viết Sanskrit và Pāli. [10]

3- SƯU TẬP SCHØYEN    

            The Schøyen Collection nguyên là một sưu tập của Martin Schøyen vốn là một nhà sưu tầm người Thụy Điển gồm một số kinh Phật viết trên vỏ cây, lá bối và da thuộc được định niên đại từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ tám, xuất thổ từ các hang động vùng Bamiyan Gandhāra. Số kinh Phật này Schøyen mua được phần lớn, phần còn lại do các nhà sưu tầm khác người Nhật mua được. Ngôn ngữ của kinh là tiếng phổ thông Gandhāra (Gandhārī Prākrit) nhưng còn có thêm một phần kinh quan trọng văn hệ Sanskrit thuộc Phật giáo Đại thừa. Đa phần sưu tập này viết bằng chữ Brahmi chỉ có một phần viết bằng chữ Kharosthi (chữ Brahmi cùng thời với chữ Kharosthi và là tiền thân của chữ Tất Đàn/ Siddham).[11]  

            Phần đặc biệt của sưu tập Schøyen là trong những phần bằng văn tự Kharosthi được nhận diện thuộc về Pháp Tạng Bộ (Dharmaguptaka) viết về giáo pháp Lục Ba La Mật (sādpāramitā) là giáo pháp căn bản của hàng Bồ Tát của Phật giáo Đại thừa.[12] Hiện nay các tông môn Đại thừa đang tụng học Tứ Phần Luật 四分律 thì đó cũng là kinh điển của Pháp Tạng Bộ.

4- SƯU TẬP CỦA ĐẠI HỌC WASHINGTON

            Sau khi thành lập “Dự Án Nghiên Cứu Nguyên Cảo Kinh Văn Phật Giáo Thời Sơ Khai” (EBMP) Đại học Washington cũng cố gắng tìm mua thêm tài liệu cổ thư tịch Phật giáo cho dự án này. Đến năm 2002 thư viện đại học Washington cũng mua được một sưu tập kinh Phật viết trên vỏ cây bu-lô viết vào khoảng thế kỷ thứ nhất đến thứ hai. Đây là kinh luận của các tự viện thuộc thời kỳ truyền thống 18 bộ phái. Nội dung sưu tập này là các luận thảo của A-tỳ-đàm giảng về Khổ (Duhkha) trong Tứ Diệu Đế.

5- SƯU TẬP CỦA THƯ VIỆN QUỐC HỘI

            Năm 2003, Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (Library of Congress) cũng mua được một cuộn kinh Phật bằng vỏ cây bu-lô nhưng đã bị bẻ nhỏ, bỏ trong một hộp đựng bút máy cho nên đã mất phần đầu và phần cuối mà chỉ còn độ 80 phần trăm nội dung – tài liệu được bẻ nhỏ chắc để dấu trong thời gian khu vực Gandhāra đang là một thị trường chợ đen của những nhà khảo cổ quốc tế lẫn với giới kinh doanh đồ cổ và các người đào trộm đồ cổ.

            Nội dung chính của Sưu Tập này là bộ kinh có tên là Bahubuddha Sutra, một kinh giống như “kinh Đại Sự” (mahāvastu) nói về tiền kiếp của đức Phật cũng như đường lối tu tập Thập Địa Bồ Tát thuộc kinh điển Xuất Thế Bộ (lokattara-vāda) một trong 18 bộ phái của thời kỳ A-tỳ-đàm. Nội dung văn cảo là giới thiệu về lịch sử các giáo luật của Luật Tạng (Vinaya). Phần còn lại là các phần giống như tiểu kinh Bản Sinh (Jātaka)[13] giảng về Nghiệp (Karma) và các tiền kiếp của đức Phật có trong Tiểu Bộ-Kinh và tiểu kinh Thí Dụ (Avadana). Đây là các kinh quan trọng coi như gạch nối Tiểu thừaĐại thừa

6- SƯU TẬP “SPLIT”

            Một sưu tập kinh Phật viết trên vỏ cây bu-lô bằng văn tự Kharosthi khác gọi là “Split Collection”. Đây là một tập hợp kinh Phật quan trọng liên quan đến sơ kỳ Phật giáo Đại thừa nhưng chưa được thu thập toàn vẹn vì một số phần hãy còn ở trong tay một vài cá nhân sưu tầm chưa biết tên. Theo Harry Falk[14] người duy nhất viết về sưu tập này thì tài liệu này từng được thấy ở Peshawar Gandhāra vào năm 2004 nhưng sau đó mất dấu người sở hữu ngoài phần có được thuộc về cơ quan chính quyền. Cứ theo Falk thì sưu tập này được tìm thấy ở trong một hang đá vùng Gandhāra, biên giới Pakistan và Afghanistan.

             Năm 2012 Harry Falk và Seishi Karashima lấy từ sưu tập này, biên tập và cho xuất bản thủ bản quyển kinh Bát Nhã rất quen thuộc của Đại thừa là “Bát Nhã Bát Thiên Tụng” (Aṣṭasāhasrikā Prajñāpāramitā Sūtra).[15] Theo chứng nghiệm carbon thì thủ bản kinh này được chép khoảng năm 75 và là bản kinh Bát Nhã cổ nhất mà chúng ta có thể thấy được (đúng như lời Edward Conze đã thảo luận từ năm 1960). Nội dung của nó tương tự với bản Hán dịch của Chi Lâu Ca Sấm (lokaksema)[16] dịch khoảng năm 180. So sánh thủ bản vỏ cây này với bản kinh Sanskrit truyền thống thì chúng ta có thể thấy rằng bản kinh truyền thống (bản Sanskrit) chỉ là bản dịch của kinh này vì bằng chứng là có nhiều từ và cách biểu tỏ trong bản truyền thống không có trong ngôn ngữ Gandhāra. thủ bản viết trên vỏ cây này lại là bản chép lại từ một văn bản sớm hơn nữa, có thể từ thế kỷ thứ hai trước Dương lịch.

CÁC SƯU TẬP CŨ

            Đến đây chúng ta cũng cần nhắc lại những sưu tập về văn tự Kharosthi từng nổi tiếng trong quá khứ, nhưng không cổ như các thủ bản của 6 sưu tập chúng ta vừa nói ở trên. Thứ nhất là sưu tập kinh điển Bát Nhã được khám phá ở Gilgit, Gandhāra (Gilgit Buddhist Manuscripts) do Raghu Vira và Lokesh Chandra biên tập xuất bản thời 1959-1974,[17] đã được Edward Conze giới thiệu trong “The Gilgit Manuscript of the Aṣṭasāhasrikā Prajñā-pāramitā (series Orientale Roma XXVI, Ismeo Rome 1960)[18] và tôi đã lập lại trong các nghiên cứu về Long Thọ. Thứ hai là thủ bản kinh Pháp Cú (dhammapada) của ngôn ngữ phổ thông Gandhāra (Gandhārī Prākrit) cũng viết bằng văn tự Kharosthi. Bản kinh Pháp Cú quan trọng này đã trải qua số phận khá long đong nên cũng cần vắn tắt ở đây. Trước hết một phần thủ cảo “Gandhārī Dharmapada” được nhà du hành người Pháp là Dutreuit de Rhins tìm thấy vào năm 1892. Cũng trong khoảng thời gian này viên lãnh sự người Nga cũng mua được một số mảnh khác. Trải qua rất nhiều nghiên cứu riêng biệt, đến thập niên 1960’s giáo sư Sanskrit của Đại học London là John Borough mới tổng hợp cả hai văn bản và cho xuất bản dưới tên là The Gandhārī Dharmapada cũng do Oxford University xuất bản năm 1962.

II – GIÁ TRỊ VĂN BẢN KINH PHẬT Ở GANDHARA

Sau hai mươi năm hoạt động giáo sư Richard Salomon đã điều hành xuất sắc tổ chức “Dự Án Nghiên Cứu Nguyên Cảo Kinh Văn Phật Giáo Thời Sơ Khai” (The British Library/ University of Washington Early Buddhist Manuscripts Poject) gọi tắt là EBMP. Là một nhà nghiên cứu, Richard Salomon và các cộng sự đã công bố những tác phẩm nghiên cứu kinh điển quan trọng về chủ đề này lấy từ EBMP. Là một nhà quản trị giỏi, Salomon đã điều hành một trung tâm có tầm vóc quốc tế một cách thành công, vừa về liên hệ chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu khắp thế giới, vừa có các quan hệ tốt với các mạnh thường quân và tài trợ cho chương trình. Quan trọng nhất là ông cũng có viễn kiến nhìn xa vào tương lai, để không quên nhiệm vụ đào tạo những chuyên gia tương lai, kế thừa cho một nghành học thuật hết sức độc đáo nhưng cũng rất tập trung là nghiên cứu về văn bản cổ Phật giáo. Trong hai mươi năm Salomon cũng đã đào tạo được hai lớp sinh viên tiến sĩhậu tiến sĩ chuẩn bị cho tương lai ấy.[19] Năm 1999 Salomon cho xuất bản quyển sách đầu tiên giới thiệu tổng quát về mục đíchchương trình hoạt động có tên là “Ancient Buddhist Scrolls from Gandhāra: The British Library Kharoṣṭhī Fragments”. Hai mươi năm sau (năm 2018) Salomon cho giới thiệu quyển thứ hai, tường trình thành tựu sau hai mươi năm miệt mài làm việc “The Buddhist Literature of Ancient Gandhāra: An Introduction with Selected Translations”. Sách được đại đa số độc giả lẫn giới nghiên cứu nhiệt liệt hoan nghênhtán thán thành quả tốt đẹp của chương trình EBMP. Tuy nhiên vẫn có những phê bình. Không phải là những phê bình cá nhân hay về nội dung có vấn đề của các tác phẩm đã được xuất bản. Mà đây có thể còn còn là phê bình của những người quá thiện chí đòi hỏi EBMP phải làm nhiều và sâu hơn nữa. Sự phê bình của những người dù thán phục nhưng vẫn phê phán[20] vì không thấy được sự quan trọng của nhiều vấn đề khó khăn của những nhà nghiên cứu trong cuộc. Ở đây chúng ta có thể đặt lại câu hỏi và tìm cách trả lời một cách tích cực hơn. Đó là đề tài “Sự quan trọng của đề án thủ cảo kinh Phật Gandhāra” để trả lời phê phán mà có lẽ hàm ngụ rằng Salomon đặt trọng tâm vào việc dịch thuật mà không đặc biệt quan tâm về tầm mức quan trọng của đề án.

Tôi cần nói ngay ở đây rằng vấn đề không phải là sai lầm hay là trách nhiệm của Salomon. Ông đã làm nhiệm vụ của ông và các cộng sự đã hoàn thành, phần còn lại là của người sử dụng các tài liệu. Tuy nhiên tôi nghĩ Salomon và những nhà nghiên cứu cộng sự sẽ không dừng lại công việc của những người sưu tầm cổ vật. Họ biết sự quan trọng đó và sớm muộn cũng tiến đến vấn đề khai thác sâu hơn và rộng hơn.

Trước hết, hầu như tất cả các nhà nghiên cứu về Phật giáo Đại thừa đều cho rằng không có tài liệu về giai đoạn khởi phát của kinh điển Đại thừa. Cho đến thế kỷ XX thì giới nghiên cứu đã thấy được mối liên hệ giữa Tiểu thừaĐại thừa trong một số kinh. Luận án năm 1962 của Hòa thượng Thích Minh Châu “So sánh kinh Trung Bộ A-hàm Hán ngữ và kinh Trung Bộ Pāli” (The Chinese Madhyana Āgama and the Pāli Majjhima Nikāya: A Comparative Study); rồi nghiên cứu của học giả Analayo “Nghiên cứu tỷ giảo Trung Bộ-kinh” (A Comparative Study of the Majjhima-nikaya) năm 2011; cả hai bộ sách Tạp A Hàm Hội Biên hay Nguyên Thủy Phật Giáo Thánh Điển Chi Tập Thành của Pháp sư Ấn Thuận và luận văn của tôi về sự liên hệ giữa kinh Bát Nhã và A-tì-đàm (Abhidharma and the Prajñā-pāramitā Sutras) [21] chính là đại biểu điển hình cho hướng nghiên cứu tỷ giảo văn bản.

Tuy nhiên ngày nay với các thủ bản chữ Kharosthi này thì chúng ta lần đầu tiên có những chứng cứ văn liệu cụ thể để chứng minh rằng một số kinh luận Phật giáo Hán Tạng đã được dịch thẳng từ văn bản văn tự Kharosthi chứ không phải thông qua Sanskrit (Phạn ngữ). Cho nên ở đây sự quan trọng trong việc khai thác các tài liệu văn bản Kharosthi sẽ giúp cho chúng ta nghiên cứu sâu hơn những nghiên cứu của Thích Minh Châu, Analayo và Ấn Thuận về ba lãnh vực có tính liên hoàn:

(1) Nghiên cứu văn liệu Phật giáo “tiền Sanskrit” nghĩa là vào những văn kiện, thủ bản đầu tiên của kinh Phật được viết xuống bằng văn tự, trước khi có các văn bản Sanskrit hay Pāli.[22]

(2) Nghiên cứu những bản kinh Hán tự dịch thẳng từ ngôn ngữ Prākrit (văn tự Kharisthi) hay qua ngôn ngữ truyền khẩu có trước thời văn tự.

(3) Nghiên cứu sự phát triển của Kinh Điển Phật Giáo Đại Thừa – Đây là nghiên cứu trên văn bản cụ thể (trước đây thường chỉ là suy luận hay lý luận theo đức tin hoặc huyền thoại)

Ba bước nghiên cứu này tôi nghĩ Salomon và các nhà nghiên cứu Phật học không phải không nghĩ đến.

Cũng nên chú ý ở đây, như đã giới thiệu ngoài Sưu Tập Thư Viện Anh còn có nhiều Sưu Tập khác về văn liệu Gandhāra đang nằm rải rác tại nhiều thư viện và bảo tàng viện lớn trên khắp thế giới (trong các sưu tầm này có những thủ cảo còn sớm hơn Sưu Tập Thư Viện Anh và có liên quan nhiều hơn với Đại thừa). Học giả quốc tế hiện nay không chỉ giới hạn trong Sưu Tập Thư Viện Anh đang được Đại học Washington tập trung nghiên cứu mà còn nghiên cứu các sưu tập khác như có thể thấy trong hai tường trình “Kharosthi Manuscript Fragments in the Pelliot Collection, Bibliotheque Nationale de France” (Những phần của văn bản Kharosthi có trong Sưu Tập Pelliot trong Thư Viện Quốc Gia nước Pháp ) của Salomon đăng trong Bulletin d’ Études Indiennes 16, 1998 và “Fragments of a Gandhāri Version of the Mahaparinirvana Sutra in the Schøyen Collection” (Những phần của thủ cảo Gandhāra kinh Đại Niết Bàn có trong Sưu Tập Schøyen) của Mark Allon và Salomon có in trong volume 1 của tuyển tập Buddhist Manuscripts in the Schøyen Collection, Oslo Hemles Publishing.

Cho nên dù tôi chưa được đọc nội dung, nhưng đọc tên các sách sẽ được xuất bản của GBT như Mahāyāna Sūtras in Gāndhārī in the Schøyen Collection: The Bodhisattvapiṭaka- and Sarvapuṇyasamuccaya-sūtras (Kinh Đại Thừa ở Gandhāra trong Sưu Tập Schøyen); The Gāndhārī Bahubuddha-sūtra: The Library of Congress Scroll (Kinh Chư-Phật trong Sưu Tập Gandhāra của Thư Viện Quốc Hội) thì thấy rằng họ đang đi theo đường hướng ba bước nghiên cứu mà tôi vừa phác họa ở trên.

Chú thích, xin nhắc lại kinh Phật Sanskrit và kinh Phật Pāli chỉ xuất hiện sau thời gian kinh Phật ngôn ngữ Māgadhī được viết bằng văn tự Kharosthi, điển hình như thời vua A-Dục (làm vua 268-232 trước Dương lịch) người ta chưa viết kinh Phật bằng văn tự - Về chữ trên các Trụ Pháp của vua A-Dục (Edicts of Asoka) có hai điểm chúng ta cần biết: Thứ nhất, chữ Kharosthi hay chữ Brahmi trên Trụ Pháp dùng để viết ngôn ngữ Māgadhī chứ không phải viết ngôn ngữ Sanskrit. Thứ hai, các Trụ Pháp dù có dùng một hai danh từ Phật giáo như “ưu bà tắc” upāsaka và có nhắc đến tên đức Phật “Thích-ca Mâu-ni” nhưng chưa bao giờ nói đến giáo lý Phật giáo hay nhắc đến kinh Phật. Chỉ từ triều đại Quí Sương (Kushan 50-300) người ta mới thường dùng văn tự để viết Sanskrit và viết kinh Phật. Cho nên giáo sư Salomon, trong tuyên bố chương trình nghiên cứu về “văn liệu kinh Phật thời tối cổ” (EBMP) của Đại Học Washington kết luậnSự thật, văn bản đầu tiên kinh Phật được giao truyền ra ngoài Ấn Độ chính là những cuộn vỏ cây giống như những tài liệu mà EBMP đang nghiên cứu”.[23]

Tóm lại, cho rằng Salomon hay các học giả cộng sự không chú ý nghiên cứu về tầm quan trọng của các thủ bản Kharosthi thì chỉ là các phê bình quá sớm của những người ao ước muốn được biết rõ về nguồn gốc kinh bản Phật điển Đại thừa mà tôi đã trình bầy trong sách “Kinh Phật: Nguồn Gốc và Phát Triển”.

 

 

Những mảnh kinh Phật chữ Kharosthi trên vỏ cây bu-lô (The British Library)

 

Một mảng kinh Phật chữ Kharosthi viết trên vỏ cây bu-lô (Library  of Congress)

 

 

Tượng Phật ở Gandhāra

 

 

Tượng Phật ở Gandhāra

 

 



[1] Cho đến nay văn cảo sớm nhất mà chúng ta có được bằng Sanskrit là 14 khổ đầu của tác phầm Buddhacarita (Phật Sở Hạnh Tán 佛所行囋) của Mã Minh (Asvaghoṣa thế kỷ I). Trúc Pháp Hộ (Dharmaraksa) dịch ra Hán văn vào khoảng năm 414.

[2] Đây tôi chỉ nói về hai truyền thống chính (Hy Lạp và Ấn Độ) nên biết hai truyền thống này cũng đã có ảnh hưởng từ các truyền thống khác.

[3] Năm vừa qua Richard Salomon đã bổ túc và cho xuất bản ấn bản mới dưới tựa đề The Buddhist Literature of Ancient Gandhāra: An Introduction with Selected Translations, nxb Wisdom Publications, 2018

[4] Ibid. tr. 1

[5] Allon, Mark. "Wrestling with Kharosthi Manuscripts," BDK Fellowship Newsletter, No 7, 2004.

[6] GBT 1 (2000): Richard Salomon, A Gāndhārī Version of the Rhinoceros Sūtra: British Library Kharoṣṭhī Fragment 5B. tr. 7

[7] Cũng nên biết “Tứ Phần Luật” 四分律 (dharmagupta-vināya) của Pháp Tạng bộ đã được Buddhayasa (Phật-đà-da-xá) và Trúc Phật Niệm dịch ra Hán văn vào khoảng năm 405 là luật có ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Đại thừa Á Đông. Thế Thân (vasubandhu 316-396) viết A-tì đạt-ma Câu Xá Luận khi còn là tu sĩ của Nhất Thiết Hữu Bộ. - Nhất Thiết Hữu Bộ lại xuất phát từ Hóa Địa Bộ (mahīsasaka) thuộc Đại Chúng Bộ (mahāsānghika).

[8] Salomon, Richard"The Senior Manuscripts: Another Collection of Gandhāran Buddhist Scrolls", Journal of the American Oriental Society, 123, 2003, tr. 78

[9] Ibid.

[10] Salomon, Richard. "Brahmi and Kharoshthi", Peter T.; Bright, William (eds.). The World's Writing SystemsOxford University Press, 1996.

[11] Chữ Brahmi cùng thời với chữ Kharosthi và là tiền thân của chử Tất Đàn (Siddham). Kinh luận Phạn văn của Cưu Ma La Thập (344-413) dùng thường viết bằng Brahmi, kinh luận Huyền Trang (601-664) mang về thường là Phạn văn viết bằng chữ Tất Đàn.

[13] Chú thích về Jataka, Thượng Tọa Bộ xem Trường Bộ Kinh Digha Nikāya (DN 19), Trung Bộ Kinh Majjhima Nikāya (MN 26, MN 36). Đại Chúng Bộ (Mahāsāṃghika) xem Mahāvastu

[14] Falk, Harry, "The ‘Split’ Collection of Kharoṣṭhī Text." Annual Report of the International Research Institute for Advanced Buddhology XIV (2011), tr. 13–23. (Có thể xem online)

[15] Falk, Harry và Seishi Karashima, "A first‐century Prajñāpāramitā manuscript from Gandhāra - parivarta 1" (Texts from the Split Collection 1). Annual Report of the International Research Institute for Advanced Buddhology XV (2012), tr. 19–61. (Có thể xem online)

[16] Chi Lâu Ca Sấm là Lâu Ca Sấm (Lokaraksa) người Nguyệt Chi (Scythian) là nhân vật trung tâm khi nghiên cứu về giai đoạn sơ khởi của Đại Thừa trong nghiên cứu của tôi về sự liên hệ giữa kinh Bát Nhã và A-Tỳ-Đàm (Abhidharma and the Prajñāpāramitā Sūtras)

[17] Sách tái bản và bổ xung năm 1995 gồm 3 tập lớn do Satguru, Delhi xuất bản.

[18] Aṣṭasāhasrikā Prajñā-pāramitā “Bát Nhã Bát Thiên Tụng 8000 kệ” tức là Tiểu Phẩm Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh  小品般若波羅蜜多經 do Chi Lâu Ca Sấm (Lokaksha) dịch từ năm 180 dưới tên là Đạo Hành Bát Nhã Kinh (T.227), La Thập (Kumārajī va) dịch lại năm 402, Huyền Trang dịch lại năm 660.

[19] và còn tạo nên một “phong trào học thuật” mang tên là “câu lạc bộ văn học Gandhara Kharosthi” đang soạn bộ từ điển chuyên nghành gọi là “Từ Điển Kharosthi”

[20] So What?  - Because it’s there!

[21] Bản tiếng Việt chưa xuất bản.

[22] Xin nhắc lại Sanskrit và Pāli đều là “ngôn ngữ nói” (spoken languages) chứ không phải “văn tự” (written languages). Văn tự Kharosthi hay Brahmi trước khi dùng để viết Sanskrit người ta đã dùng để viết các ngôn ngữ phổ thông Prākrit.

[23] “In fact, the first Buddhist books to travel outside of India must have been Gandhāran birch bark scrolls very similar to the ones the EBMP is now studying”. The University of Washington – Early Buddhist Manuscripts Project

 

Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
11/11/2010(Xem: 184678)
01/04/2012(Xem: 30614)
08/11/2018(Xem: 9937)
08/02/2015(Xem: 43433)
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Câu chuyện bắt đầu rất đau buồn nhưng về sau lại mở ra một cánh cửa mới đầy hy vọng và tỉnh thức. Zach Obseon lúc nhỏ đã chứng kiến em gái của mình bị hiếp và giết chết, sau này lớn lên anh theo học ngành cảnh sát với tâm nguyện ngăn chặn cái ác, không để xảy ra những trường hợp như em gái của mình. Về phần kẻ thủ ác, anh ta tên Dennis Skillicorn , sau khi bị bắt và chịu án chung thân không ân xá. Trong thời gian ở tù, anh ta đã ăn năn tội lỗi của mình, anh ta và những bạn tù khác lập ra tờ báo “Compassion”, số tiền thu được làm học bổng cho Obseon cũng như những học viên cảnh sát khác.
Sam Lim, tân đại biểu Quốc hội Úc châu khóa 47, đã làm được một bước lịch sử: Sam Lim hôm Thứ Ba 26/7/2022 đã trở thành người đầu tiên tuyên thệ vào Quốc hội Úc bằng lời thề đặt tay trên kinh Phật. Đó là cuốn kinh được đọc nhiều nhất - Kinh Pháp Cú.
Chúng tôi rất vui mừng thông báo với đại chúng và cộng đồng Phật Pháp rằng Tăng đoàn do chúng tôi thành lập đã hình thành nên một ngôi Phạm Vũ ở Tiểu bang Pennsylvania, Mỹ Quốc: Phạm Vũ Pháp Vân.