Bài Kệ Thứ 36-40

20/11/201012:00 SA(Xem: 5494)
Bài Kệ Thứ 36-40

GIẢNG LUẬN DUY BIỂU HỌC
Nhất Hạnh
Lá Bối Xuất Bản 1996

KỆ THỨ 36

Nhân duyên đủ hiển hiện
Nhân duyên khuyết ẩn tàng
Không đi cũng không đến
Không có cũng không không.
 
 

Khi các yếu tố nhân duyên biểu hiện đầy đủ thì chúng ta có thể nhận thức được bằng ý thức, bằng năm thức. Nhưng khi các nhân duyên không đầy đủ thì không thể nhận thức được và nó đang ẩn tàng. Không phải do nhân duyên đủ mà có cũng chẳng phải nhân duyên thiếu mà nó không, chỉ là vấn đề hiển hiện và ẩn tàng mà thôi. Có nghĩa là không có vấn đề chết và sống ở đây. Nhân duyên đủ thì nó hiển hiện ra chứ không phải nó sanh ra. Sanh có nghĩa là từ khôngtrở thành có. Nhưng cả hai quan niệm không và có đều là tà kiến. Người tu tập, quán chiếu cần phải vượt qua những tà kiến đó. Nhân duyên đủ thì nó biểu hiện, nhân duyên khuyết thì nó ẩn tàng, không phải nhân duyên đủ nó mới bắt đầu có, nhân duyên thiếu nó mới bắt đầu không. Ví dụ như cái bông hoa, có đủ các nhân duyên nào mặt trời, đám mây, hột giống, đất, nước, phân bón, người làm vườn hợp với nhau đầy đủ thì bông hồng biểu hiện ra cho chúng ta thấy. Bông hoa sẽ nói rằng: “Bạn đừng bảo tôi mới có, nếu có thì có từ vô thỉ, tôi không có và cũng không không, đừng lấy nhận thức của bạn mà bảo tôi có hoặc không, tôi thoát ra ngoài ý niệm có và không của bạn và hôm nay tôi hiển hiện ra là vì nhân duyên đã đầy đủ”. Mai kia bông hoa ẩn tàng thì bông hoa đó sẽ nói với bạn rằng bạn đừng bảo tôi đã chết, tôi chỉ ẩn đi mà thôi. Do vì tôi không có sanh và tôi không có diệt. Đây là một phép quán chiếu rất sâu sắc ở trong đạo Bụt. “Nhân duyên đủ hiển hiện, nhân duyên khuyết ẩn tàng”. Ví dụ nhưng một bài được phát thanh trên đài được phát đi, nếu có một chiếc máy thâu thanh đang ở trong tình trạng tốt, mình bật ra thì mình nghe được bài phát thanh đó, khi mình bắt đúng tần số thì nó hiện ra chứ không phải nó bắt đầu có từ khi mình mới bật đài. Rồi thì khi cái thâu thanh của mình bị hư một bộ phận nào đó không thể nghe được nữa thì mình có cho rằng chương trình phát thanh đó bị chết hay không. Cũng vậy, ý niệm sống và chết là thuộc nhận thức chủ quan của mình, còn thực tại của nó vượt ra khỏi ý niệm sanh và diệt.

“Không đi cũng không đến”. Các pháp không từ đâu mà đến và cũng chẳng đi về đâu. Nếu mình đặt vấn đề bông hoa từ đâu đến, thì ta sẽ hiểu từ phương hướng này mà đến, trong không gianthời gian nào đó, và bông hoa nầy sẽ đi về theo không gianthời gian, nó thuộc về ý niệm có đi và có đến, không có có và không có không. Khi hỏi Bụt từ đâu tới, Ngài sẽ trả lời: “Từ chân như mà tới” và sẽ đi về đâu, - Trả lời “Sẽ trở về chân như”. Nhưng chân như là gì? - Chơn như là một thực tại, không đến cũng không đi. “Như Lai giả. Vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ thị danh Như lai”. Như Lai (Tathagata) nghĩa là không từ đâu mà đến chẳng đi về đâu gọi là Như Lai. Không chỉ Bụt mới đi và đến như thế mà bông hoa nầy cũng vậy không đến cũng không đi, chúng ta cũng vậy không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu. Có nghĩa nhân duyên đầy đủ chúng ta hiển hiện, nhân duyên chưa đầy đủ chúng ta ẩn tàng mà thôi. Đây là nội dung của giáo lý trung đạo: “Không sinh cũng không diệt, Không đến cũng không đi” mà học thuyết này ngài Xá Lợi Phất đã dạy cho ông Cấp Cô Độc trong khi ông hấp hối sắp chết. Và sau đó ông thẩm thấu ý nghĩa “Bất Sanh, Bất Diệt” thì ông ta bật lên khắp ròng ròng. Ngài A Nan thấy vậy hỏi tại sao ông khóc vậy? Có lẽ ông thất bại, quán chiếu không được thành công hay sao? Ông Cấp Cô Độc trả lời: Không phải như thế tôi quán chiếu thành công chứ Thầy A Nan, tôi khóc vì tôi cảm động quá! Theo hầu Bụt mấy chục năm nay mà chưa bao giờ tôi nghe được bài giáo lý mầu nhiệm như thế nầy, cho nên tôi khóc. Thầy A Nan mới nói rằng, tại vì ông là cư sĩ, còn chúng tôi những người xuất gia hầu như giáo lý nầy nghe mỗi ngày vậy. Khi ông Cấp Cô Độc nghe như vậy, ông ta hơi tủi và bạch Thầy A Nan về nói lại với Bụt rằng, chúng con những người cư sĩ cũng có thể nghe, hiểu, và tu tập hành trì giáo lý nầy vậy. Xin Thầy từ bi hoan hỷ về thưa lại với Bụt như vậy, và Thầy A Nan chấp nhận lời đề nghị của ông Cấp Cô Độc. Đó là nội dung Kinh Giáo Hóa Người Bệnh.
 
 

KỆ THỨ 37

Hạt giống sinh hiện hành
Đó gọi là nhân duyên
Chủ thể nương đối tượng
Ta gọi là sở duyên duyên 

Qua bài kệ nầy, chúng ta đi vào giáo lý tứ duyên, bốn loại điều kiện. Vừa rồi chúng ta đã đề cập đến ý nghĩa: Nhân duyên đủ thì hiện, nhân duyên khuyết thì ẩn tàng, cho nên bây giờ chúng ta đi vào các vấn đề nhân duyên.

Khi một hạt giống, một chủng tử phát sinh ra một hiện hành, ví dụ như củ khoai trở thành một dây khoai, hoặc là một hạt giống của sự giận hờn biến thành sự giận trong ta. Như vậy được gọi là chủng tử sanh hiện hành. Ở trường hợp nầy thì cái hạt giống kia được gọi là nhân duyên. Nhân có là cái điều kiện chính và gần nhất. “Nếu phân tích trong chữ Nho ta thấy cũng hay có chữ đại là lớn, nhưng nó bị còn nhỏ vì có bộ vi nó bao bọc ở ngoài nên chưa lớn, nhưng một ngày nào đó nó sẽ lớn, cũng giống như chữ tù là có con người bị bao vây trong bốn bức tường. Cái nhân cũng thế, nó cũng nhỏ như hạt đậu chẳng hạn, nếu chúng ta cho nó những điều kiện, gieo nó vào trong đất ẩm ướt thì hạt đậu đó bung ra và mọc lên cây đậu lớn. Điều kiện này gọi là nhân duyên, điều kiện nầy chính là, gần nhất; nhưng điều kiện này cũng chưa đủ để sinh ra quả.

Sở duyên đuyên là điều kiện thứ hai, nó là đối tượng của nhận thức. Nếu không có đối tượng thì chủ thể nhận thức không phát sinh và cũng vậy nếu không có chủ thể nhận thức thì không có đối tượng nhận thức. Cho nên đối tượng này gọi là sở duyên duyên.

Từ sở duyên duyên, chữ duyên cuối là điều kiện và chữ duyên tiếp theo sau chữ sở là đối tượng nhận thức. Chủ thể nhận thứcnăng duyên hay là năng tri hoặc là kiến phần. Năng duyên là phần chủ thể. Cũng vậy nếu khôngtướng phần của thức thì không có chủ thể của nhận thức. Vì vậy khi hiển hiện ra thì năng duyênsở duyên, sở duyênđiều kiện tất yếu của thức.
 
 

KỆ THỨ 38

Điều kiện thuận hay nghịch
Đều là tăng thượng duyên
Vô gián duyên thứ tư
liên tục chuyển tiếp
 
 

Điều kiện thứ ba là Tăng thượng duyên. Tăng thượng tức là làm cho nó tăng trưởng thêm lên. Ví dụ như hạt lúa, nếu không có đất, mưa thì không làm cho nó thành cây. Cho nên đất, mưa, hơi ấm gọi là tăng thượng duyên. Những điều kiện hỗ trợ cho sự thành đó cũng gọi là tăng thượng duyên. Nhưng tăng thượng duyên đôi khi nó nghịch, nó làm cho sự phát triển không được thoải mái, êm xuôi phát triển gọi là nghịch tăng thượng duyên. Nhưng nghịch tăng thượng duyên đôi khi cũng hỗ trợ cho mình, có gặp những nghịch duyên như thế, nó mới mài dũa tính khí tự kiêu, tự đại của mình đi. Nhờ nó mà trở nên xứng đáng hơn. Ví dụ như Devadatta, một con người luôn luôn gây trở ngại cho Bụt, nhưng cũng nhờ gây trở ngại đó mà Bụt thăng tiến một cách vững vàng hơn. Đó không phải là thuận mà là nghịch tăng thượng duyên.

“Vô gián duyên thứ tư, và liên tục chuyển biến”. Điều kiện thứ tư là vô gián duyên, nói đúng hơn là “Đẳng vô gián duyên”. Vô gián nghĩa là sự liên tục không bị gián đoạn. Ví dụ như những móc xích của một cái dây, nếu mất đi một móc xích thì nó không thể cài được. Sự liên tục gián đoạn nó rất cần thiết cho sự kết thành, biểu hiện của một hiện tượng. Đó là sự liên tục chuyển biến, duyên thứ tư. Trong giáo lý đạo Bụt có chỗ rất nhiều duyên, mười mấy hoặc hai mươi mấy duyên. Nhưng lý thuyết về bốn duyên được xem như tạm đủ, được nhiều bộ phái chấp nhận. Sự liên tục rất quan trọng. Ví dụ như máy điện toán của chúng ta cần liên tục, nếu đang vào tập tin nào dó mà điện cúp nữa chừng thì hỏng hết sự liên tục này là Đẳng vô gián duyên.
 
 

KỆ THỨ 39

Nhân duyênhai mặt
Vọng thứcchân tâm
Vọng thứcbiến kế
Chân tâm do viên thành

Vọng thức cũng có nhân duyên nó sinh ra cái khổ luân hồi. Và chân tâm cũng là nhân duyên và nó sinh ra thế giới mầu nhiệm của Hoa Nghiêm. Đây là nét mới của Duy Biểu học. Chứ không phải nhân duyên chỉ hoạt động trong cái vòng vọng thứcluân hồi mà thôi mà nhân duyên cũng hoạt động trong vòng trí tuệ, chân như. Vì khi vô minh diệt, minh sinh, khi minh sinh thì những cái mầu nhiệm khác cũng sinh, ví dụ như từ bi, trí tuệ và khi nó biểu hiện ra thì cũng tùy thuộc vào nhân và duyên.

Thế giơi của luân hồi, khổ đau cũng do quy luật nhân duyên điều động và chi phối thế giới an lạc, giải thoát cũng tùy thuộc vào quy luật nhân duyên. Vì vậy cho nên ở đây nói “Nhân duyên có hai mặt, Vọng thức và Chơn tâm”.

“Vọng thức vì biến kế, chơn tâm do viên thành”. Có hai danh từ biến kếviên thành. Biến kế là loại nhận thức rất dỡ, nói đủ là biến kế sở chấp (Vikalpa). Sống trong thế giới ảo vọng, lầm mê là sống bằng nhận thức biến kế. Tôi không phải là anh, nước Mỹ không phải là nước Pháp. Một là tôi sống hai là anh sống những nhận thức như vậy là đi ngược lại nhận thức tương tức, tương nhập. Có quan niệm rằng tôi giết anh để cho tôi sống mà không biết rằng tôi giết anh là tôi giết tôi. Tại vì không thấy tôi với anh là một. Thế giới biến kế thấy tôi nằm ngoài anh, cái này không liên hệ đến cái kia. Mình chỉ bảo vệ sự tồn tạihạnh phúc của chính mình mà không cần tới ai cả, đó là thế giới của biến kế.

Thấy sợi dây thành con rắn đó là thế giới của biến kế, cũng từ thế giới đó mà có tự, có tha, có một, chó nhiều, có đi, có đến và do biến kế sinh ra vọng thức, mê vọng. Do nhận thức mê vọng cho nên đem đến vô cùng đau khổ cho mình và người khác. Đó là thế giới của vọng thức nó dẫn đến đau khổ, còn thế giới chơn tâm trong đó không còn nhận thức biến kế nữa mà do chân như, tự tánh viên thành biểu hiện.

Viên thành tách nghĩa là tánh ngược lại với biến kế. Biến kế được chấn ngự bởi nhận thưc hữu ngã, phân biệt, nhị nguyên; còn viên thành là biểu hiện của chơn lý bất nhị, vô phân biệt, tương tức, tương nhập. Đó là hai thái cực. Hay nói theo luận Đại Thừa Khởi Tín, một bên là “Chơn như môn”, một bên là “Sanh diệt môn”.
 
 

KỆ THỨ 40 

Biến kế huân vô minh
Kéo theo luân hồi khổ
Viên thành mở tuệ giác
Hiểu lộ cảnh chơn như

Do nhận thức biến kế theo những hạt giống vô minh, ngu si, thiếu hiểu biết trong tàng thức của chúng ta, từ đó nó kéo theo những luân hồi sanh tử.

Đồng thời, viên thành thật tánh mở cửa cho tuệ giác, gieo hạt giống từ bi, trí tuệgiải thoát và nó làm hiển lộ thế giới chân như.

Biến kếhuân tập cái tâm của chúng ta với những hạt giống vô minh, do đó nó mang lại những đau khổ của luân hồi (samsara). Viên thành thật tánh khai mở cánh cửa trí tuệ chơn như.
Tạo bài viết
07/11/2010(Xem: 127921)
16/11/2010(Xem: 22667)
30/10/2010(Xem: 42097)
16/11/2010(Xem: 24102)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.