Mục Lục

22/11/201012:00 SA(Xem: 9603)
Mục Lục

Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang
LUẬN THÀNH DUY THỨC
Bản dịch Việt: TUỆ SỸ
Ban Tu Thư Phật Học 2547 - 2003

MỤC LỤC

CHƯƠNG I. BIỂU HIỆN CỦA THỨC
TIẾT I. NGÃ VÀ PHÁP
I. Các quan niệm về Ngã
1. Các thuyết ngoại giáo
2. Uẩn và ngã
3. Tổng hợp phê bình
4. Quá trình diệt ngã
5. Tổng thích
6. Phản vấn
II. Các quan niệm về Pháp
A. Các học thuyết ngoại đạo
1. Số luận
2. Thắng luận
3. Đại tự tại thiên giáo
4. Bảy luận sư ngoại đạo
5. Thanh luận
6. Thuận thế ngoại đạo
7. Tổng phá ngoại đạo
B. Các tông phái Tiểu thừa
1. Sắc pháp
2. Hành không tương ưng
3. Vô vi
4. Năng thủsở thủ
5. Đoạn trừ pháp chấp
TIẾT II. TỔNG KẾT
I. Tổng kết ngã pháp
II. Ý nghĩa giả thuyết
1. Nạn vấn
2. Giải thích
III. Thức biến
Thư mục chú thích
Bảng từ vựng Sanskrit-Việt-Hán
CHƯƠNG II. A-LẠI-DA THỨC
I. ĐỊNH DANH
1. A-lại-da
2. Dị thục
3. Nhất thiết chủng
II. CHỦNG TỬ
1. Định nghĩa
2. Tân huân và bản hữu
III. ĐẶC TÍNH CỦA CHỦNG TỬ
IV. ĐIỀU KIỆN HUÂN TẬP
TIẾT III. HÀNH TƯỚNGSỞ DUYÊN
1. Tổng thích
2. Hành tướng
3. Sở duyên
4. Biến thái đặc biệt
5. Bất khả tri
TIẾT IV. TÂM SỞ TƯƠNG ƯNG
1. Năm tâm sở
2. Duy xả thọ
3. Các tâm sở khác
TIẾT V. BẢN CHẤT
1. Bản chất của thức thứ tám
2. Bản chất tấm sở tương ưng
TIẾT VI. THỨC HẰNG CHUYỂN 
1. Ý nghĩa duyên khởi
2. Phê bình các bộ
TIẾT VII. XẢ A-LẠI-DA
1. Cứu cánh xả
2. Các biệt danh
3. Giai vị

TỰA QUY KỈNH

首 唯 識 性
滿 分 清 淨 者
我 今 釋 彼 說
利 樂 諸 有 情

Kính lạy Đấng thanh tịnh viên mãn,[1] 
Và đấng thanh tịnh từng phần[2] trong Duy thức tánh.[3]
Tôi[4] nay giải thích giáo thuyết của vị ấy,[5]
Vì lợi íchan lạc của các hữu tình.

Luận (Duy thức tam thập tụng) này được viết với mục đích khiếncho những ai có sự mê lầm ở trong hai Không[6] mà phát sinh nhận thức chân chính. Do nhận thức chân chính mà hai trọng chướng[7] được đoạn trừ. Bởi vì, do chấp ngãchấp pháp mà hai chướng cùng phát sinh. Nếu chứng hai Không, các chướng ấy tùy theo đó mà bị đoạn trừ. Do đoạn trừ các chướng mà đắc hai quả vị thù thắng. Do đoạn phiền não chướng vốn dẫn đến tái sinh[8] mà chứng chân giải thoát.[9] Do đoạn sở tri chướng vốn cản ngại nhận thức mà đắc đại bồ-đề.

Lại nữa, vì để khai thị cho những ai mê mờ Duy thức nhầm lẫn chấp ngãchấp pháp, khiến cho có tri kiến như thực đối với Duy thức.

Hoặc có người mê nhầm lý Duy thức;[10] hoặc chấp ngoại cảnh không phải là vô thể, như thức;[11] hoặc chấp nội thức không phải hữu thể, như cảnh;[12] hoặc chấp các thức có dụng sai biệt nhưng thể đồng nhất;[13] hoặc chấp lìa tâm khôngtâm sở riêng biệt.[14] Vì để bác bỏ những chấp trước sai biệt ấy khiến cho có được nhận thức như thực ở trong lý thâm diệu của Duy thức, do đó luận này được viết.
 
 
 

[1] Xu yếu (p613b29): Mãn tịnh, và phần tịnh, (danh từ) biến cách thứ tư (sở dữ cách, làm túc từ gián tiếp), chỉ đối tượng kính lễ.

[2] Phần thanh tịnh, Thuật ký (p233a3): “Thế Thân tuy chưa lên hàng Thập địa, nhưng đã có tín giải quyết định trong Duy thức tánh; tuy chưa chứng Chân, nhưng tuỳ thuận tu tập mà từng phần sở đắc, do đó được xưng tụng là Phần thanh tịnh.”

[3] Xu yếu (p613b27): “Duy thức tánh, (danh từ) biến cách thứ 7 (sở y cách, chỉ vị trí), chỉ sở ư chứ không phải sở y.” Theo đó, nên hiểu là “Ở trong Duy thức tánh.” Skt. vijñaptimātratāyām.

[4] Thuật ký (p233c13): chỉ bản thân An Huệ. Tức bài tụng quy kỉnh này do An Huệ. Ấn bản Sanskrit (Sylvain Lévi) và bản Tạng ngữ (Enga Teramoto) đều không thấy bài tựa này.

[5] Bĩ thuyết, Thuật ký (p233c23), chỉ Duy thức tam thập tụng của Thế Thân.

[6] Hai Không, chỉ sinh không (hay nhân không, Skt. pudgala-śūnyatā) và pháp không (dharma-śūnyatā). Sthiramati: pudgala-nairātmya (nhân vô ngã) và dharma-nairātmya (pháp vô ngã).

[7] Hai trọng chướng (Skt. āvaraṇa-dvaya), chỉ phiền não chướng (kleśa-āvaraṇa) và sở tri chướng (jñeya-āvaraṇa).

[8] Tục sinh phiền não; Du-già 59 (629c14): “Nên biết, hết thảy phiền não đều là chuỗi nối kết các đời sống (kết sinh tương tục; Skt. pratisandhi-bandha).

[9] Thuật ký (p235c5): Giải thoát, Tây vực phạn âm nói ba-lị-nặc-phược-nẫm; tức Skt. parinirvāṇam, bát-niết-bàn, niết-bàn viên diệu, hay viên mãn tịch diệt.

[10] Thuật ký (p236b17), Thanh Biện nói, theo thế đế, tâm và cảnh đều có; y thắng nghĩa, tâm và cảnh đều không.

[11] ibid., quan điểm của Hữu bộ.

[12] ibid., lập trường của Thanh Biện và các nhà Trung quán.

[13] ibid., một bộ phận Đại thừa. Nhiếp Đại thừa 4 (T31n1579, tr. 3392c21): có một hạng Bồ tát quan niệm chỉ có một ý thức thể.

[14] ibid., quan điểm của Kinh bộ hay Thí dụ luận giả (Chánh lý 11, tr. 395a1), và Giác Thiên. (cf. Tì-bà-sa 142, tr. 730b26).

(Phật Giáo Việt Nam)


Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
07/11/2010(Xem: 137618)
16/11/2010(Xem: 36809)
30/10/2010(Xem: 49355)
20/11/2010(Xem: 105374)
Bài này là cuộc phỏng vấn qua email trong tháng 1/2023 với nhà sư Kunchok Woser (Don Phạm), người xuất gia theo truyền thừa Phật Giáo Tây Tạng, sau nhiều năm tu học ở Ấn Độ đã tốt nghiệp văn bằng Lharampa, học vị cao nhất của dòng mũ vàng Gelug, và bây giờ chuẩn bị học trình Mật tông.
Nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc - Xuân Quý Mão, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi có lời chúc mừng năm mới, lời thăm hỏi ân cần tới tất cả các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tới chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; kính chúc quý vị một năm mới nhiều an lạc, thành tựu mọi Phật sự trên bước đường phụng sự Đạo pháp và Dân tộc!
Trong ngày hội truyền thống dân tộc, toàn thể đại khối dân tộc đang đón chào một mùa Xuân Quý mão sắp đến, trước nguồn hy vọng mới trong vận hội mới của đất nước, vừa trải qua những ngày tháng điêu linh thống khổ bị vây khốn trong bóng tối hãi hùng của một trận đại dịch toàn cầu chưa từng có trong lịch sử nhân loại, cùng lúc gánh chịu những bất công áp bức từ những huynh đệ cùng chung huyết thống Tổ Tiên; trong nỗi kinh hoàng của toàn dân bị đẩy đến bên bờ vực thẳm họa phúc tồn vong,