Chương 6 Những Nguyên Lý Quan Hệ Và Sự Hình Thành Vạn Pháp

28/11/201012:00 SA(Xem: 9527)
Chương 6 Những Nguyên Lý Quan Hệ Và Sự Hình Thành Vạn Pháp

KHẢO NGHIỆM DUY THỨC HỌC
TÂM LÝ HỌC THỰC NGHIỆM
Thích Thắng Hoan

Chương 6

 NHỮNG NGUYÊN LÝ QUAN HỆ VÀ SỰ HÌNH THÀNH VẠN PHÁP

 

A.- MINH ĐỊNH VẤN ĐỀ THỨC VÀ TÂM

Vấn đề THỨC và TÂM sở dĩ được phân định khác nhau là căn cứ nơi sự khảo luận về hiện tượng vạn pháp và về bản thể của các pháp mà thành lập danh nghĩa. Khảo luận về hiện tượng vạn pháp nghĩa là khai thác về hiện tượng vạn pháp trong thế gian để xác định nghĩa lý. Khảo luận về bản thể của các pháp nghĩa là quán chiếu về nguồn gốc phát sanh ra hiện tượng vạn pháp trong thế gian để xác định giá trị. Đứng về phương diện hiện tượngnhận xét, THỨC thì thuộc về dụng của TÂM, nghĩa là TÂM tác dụng biến thành ra THỨC, nguyên do THỨC có hình tướng và đã được thể hiện qua hình tướng của các pháp. Hơn nữa THỨC mới có sự hiểu biết và đã được thể hiện qua sự hiểu biết của chúng sanh. THỨC nếu như khôngsinh hoạt thì chúng sanh không có hiểu biết, còn đứng về phương diện bản thểnhận xét, TÂM thì thuộc về thể tánh căn bản của THỨC, nguyên do TÂM khônghình tướng và cũng không có hiểu biết như THỨC. THỨC chính là biệt danh của TÂM, phát sanh từ nơi TÂM và nương tựa nơi TÂM để làm bản thể, nên gọi là Tâm Thể. THỨC thì không thể phát sanh ngoài TÂM và cũng như vạn pháp không thể phát sanh ngoài THỨC, nên gọi là Thức Dụng. Sự tác dụng của TÂM THỂ để phát sanh ra THỨC DỤNG đã được minh định như sau:

I.- THỂ VÀ DỤNG CỦA TÂM:

Theo luận Đại Thừa Khởi Tín của ngài Mã Minh, TÂM ở đây là chỉ cho Chân Tâm, tức là Tâm chân như bình đẳng, thanh tịnh sáng suốt. Chân Tâm này không có vấn đề sanh hay diệt, đến hay đi, tăng hay giảm, ô nhiễm hay trong sạch. Chân Tâm chính thuộc về thể tĩnh (Static State), nghĩa là thể của Chân Tâm thì ở trạng thái tĩnh lặng, hoàn toàn không có chút gì hình tướng của thế giới Mê Vọng ở trong, cho đến cũng không có hình tướng của thế giới Chân Như lưu tồn. Chân Tâm này là thể chung (tổng thể) của tất cả chư Phật trong mười phương và cũng là thể chung của tất cả chúng sanh trong ba cõi. Ba cõi là, cõi Dục (Dục Giới), cõi Sắc (Sắc Giới) và cõi Vô Sắc (Vô Sắc Giới). Thể của Chân Tâm thì bao trùm cả muôn pháp trong thế giới Chân Như và cũng bao trùm cả muôn pháp trong thế giới Mê Vọng. Hình tướng của Chân Tâm là Tạng Như Lai, một loại Trí Tuệ thuộc về thể động (Dynamic State) của Chân Tâm. Cho nên Tạng Như Lai được gọi là Tâm Như Lai Tạng. Tâm Như Lai Tạng có khả năng tàng trữ vô lượng tánh công đức của chư Phật trong mười phương, cho nên Tâm Như Lai được gọi là Tạng. Tâm Như Lai Tạng này cũng gọi là Tâm Địa (Tâm là miếng đất hay là nơi chốn), nguyên vì Tâm này là nền tảng căn bản để phát sanh tất cả thế giới Chân Như của chư Phật. Diệu dụng của Tâm Như Lai Tạng luôn luôn hoá hiện thế giới y báo trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật trong mười phương và cũng như luôn luôn thể hiện Pháp Thân chánh báo hảo tướng quang minh của các đức Phật một cách mầu nhiệm trong mười pháp giới. Những thế giới y báo trang nghiêm thanh tịnh của chư Phật trong mười pháp giới như, thế giới Cực Lạc, thế giới Hoa Nghiêm, thế giới Pháp Hoa, thế giới Tịnh Lưu Ly của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai..v..v...

Thí dụ, Chân Tâm cũng như tấm gương soi mặt. Tạng Như Lai của Chân Tâm cũng như ánh sáng trong suốt của tấm gương và diệu dụng của Tạng Như Lai, cũng như sự trong sáng của ánh gương có công dụng là thâu nhận muôn pháp ảnh hiện trong tấm gương. Muôn pháp chỉ ảnh hiện ở phía trong tấm gương và không thể ảnh hiện ở phía ngoài tấm gương. Ánh sáng trong suất thâu nhận muôn pháp vào tấm gương một cách bình đẳng không phân biệt.

Nói cách khác, Chân Tâm thì thuộc về thể tĩnh của thế giới Chân Như, còn Tạng Như Lai của Chân Tâm thì thuộc về thể động của thế giới Chân Như. Tạng Như Lai chính là hình tướng trí tuệ của Chân Tâm, thường gọi Tạng Như LaiTrí Tướng. Trí Tướng nghĩa là trí tuệ sáng suốt của Tạng Như Lai. Người tu tập thiền quán sở dĩ biết được hình tướng của Chân Tâm là nhờ quán chiếu nhìn thấy hình tướng trí tuệ sáng suốt của Tạng Như Lai thể hiện. Cũng từ đó hình tướng của Chân Tâm được gọi là Tạng Như Lai. Tạng Như Lai thuộc về thể động của Chân Tâm cho nên có khả năng thân nhận, tàng trữ và phát sanh muôn pháp của thế giới chân như nên gọi là Tâm Như Lai Tạng. Muôn pháp của thế giới chân như được phát sanh và tồn tại từ Tạng Như Lai nên gọi là Chân Như Duyên Khởi.

1). Tánh chất của chân tâm:

Chân Tâmthể tánh chân thật rốt ráo của vạn pháptrạng thái tĩnh lặng Chân Tâm không có hình tướng, không bị biến thể và cũng không bị thời gian chi phối, nghĩa là không bị sanh tử lưu chuyển theo dòng thời gian, tức là không bị trôi lăn từ quá khứ vô lượng kiếp về trước cho đến vị lai muôn đời về sau. Thế nên Tâm này được gọi là Tâm Chân Như. Thể tánh của Chân Tâm thì cũng không có không gian và chính Chân Tâm này là không gian của tất cả thế giới Chân Như và cũng là không gian của tất cả thế giới Mê Vọng. Không gian của thế giới Chân Như cho đến không gian của thế giới Mê Vọng đều hiện hữu ở phía trong thể tánh của Chân Tâm và chọn lấy Chân Tâm làm không gian cho chính mình. Điều này cũng giống như không gian của ngọn đèn xanh, không gian của ngọn đèn đỏ, không gian của ngọn đèn trắng, không gian của ngọn đèn vàng v.v... đều hiện hữu phía bên trong không gian của căn phòng và các ngọn đèn đều chọn lấy không gian của căn phòng làm không gian chiếu tỏa cho mình. Chân Tâm nếu như khôngthực thể thì thế giới của mười phương chư Phậtthế giới của muôn loài chúng sanh không thể nào hiện khởi. Trường hợp đây cũng tương tợ như không gian của một căn phòng và ánh sáng của các ngọn đèn điện. Giả sử căn phòng nếu như khôngkhông gian thì các ngọn đèn không thể chiếu tỏa để thể hiện không gian cho chính mình. Cũng vì lý do trên, Chân Tâm được mệnh danh là thể chung (tổng thể) cho các thế giới của chư Phật và cho các thế giới của muôn loài chúng sanh. Thế nên Chân Tâm bao trùm cả muôn pháp của chân như và bao trùm cả vạn pháp của mê vọng.

Tóm lại, Chân Tâm là loại Tâm Thể thuộc tĩnh lặng, không hình tướng, không sanh diệt, không dơ sạch, không tăng giảm và không biến đổi bản chất. Nhờ tĩnh lặng, thanh tịnhthường hằng, Chân Tâm đây tồn tại muôn đời để làm nền tảng căn bản cho muôn pháp của chân như và kể cả cho vạn pháp của mê vọng cùng nhau nương tựa hiện khởi. Thế nên Chân Tâm này được liệt vào hạng thuộc loại "Chân Thật Không".

2). Tánh chất của thế giới chân như:

CHÂN: là chân thật, không hư giả, không mê vọng và không sanh diệt.

NHƯ: là bình đẳng không sai biệt, không chênh lệch về hình thức lớn nhỏ thấp cao, sang hèn, quí tiện..v..v...

CHÂN NHƯ: là thể tánhhình tướng của vạn pháp nơi thế giới chân như đều chân thật, bình đẳng, tồn tạibất diệt.

THẾ GIỚI CHÂN NHƯ: là thế giới y báo (cảnh giới để nương tựa) và pháp thân chánh báo (thân Phật) của chư Phật trong mười phương đều chân thật, bình đẳng, thanh tịnh, sáng suốt, không sai biệt, không hư vọng và không sanh diệt. Thế giới Chân Như được thành lập là do diệu dụng của Chân Tâm thể hiện. Diệu dụng của Chân Tâm tùy theo duyên thể hiện thế giới Chân Như một cách huyền diệu để hoá độ chúng sanh, nên gọi thế giới này là Chân Như Thật Tướng. Chân Như Thật Tướng nghĩa là hình tướng của thế giới Chân Như thì chân thật, thanh tịnh, không ô nhiễm, không huyễn vọng và không biến dị. Thế giới Chân Như luôn luôn hiện hữu một cách vi diệu trong thể tánh chân không của Chân Tâm (trung không diệu hữu).

Chánh Báo của mười phương chư Phật gọi là Phật Thân, tức là chỉ cho Pháp Thân của chư Phật. Chư Phật đều có thân thể riêng của các ngài để sinh hoạt. Thân thể riêng đó được kết hợp bằng chất liệu trí tuệ giác ngộ nên gọi là Phật Thân và cũng gọi là Pháp Thân chánh báo. Trái lại, thân thể của chúng sanh phàm phu được kết hợp bằng xác thịt ô trược nên gọi là Nhục Thân hoặc gọi là Nghiệp Thân, còn cảnh giới của chư Phật an trụ có tên là Pháp Giới Tánh. Điều đáng chú ý là Pháp Thân chánh báo của chư Phật và Pháp Giới Tánh y báo của chư Phật an trụ được gọi chung là Thế Giới Chân Như. Thế Giới Chân Như lại lấy Chân Tâm làm thể và lấy Tạng Như Lai làm tâm địa để sanh khởi. Tạng Như Lai làm chất liệu để xây dựng và hình thành Pháp ThânPháp Giới Tánh (Dharmadhàtu).

Chân Tâm thanh tịnh và sáng suất thì thế giới Chân Như thanh tịnhsáng suốt, nên gọi là Thế Giới Chân Tịnh. Chân Tâm tồn tạibất diệt thì thế giới Chân Như thường còn và không hoại, nên gọi là Thế Giới Chân Thường. Hình tướng của Chân Tâm bản chất vô lậu (không bị sa rớt trong vòng sanh tử) và không giả huyễn thì thế giới Chân Như thuộc loại thật ngãgiá trị thuộc loại chân thể, nên gọi là Thế Giới Chân Ngã. Diệu dụng của Chân Tâm không phải vọng niệm và cũng không phân biệt thì thế giới Chân Như thể hiện tự tại và không bị chấp trước, nên gọi là Thế Giới Chân Lạc.

Sự biến hiện thế giới Chân Như của Chân Tâm trong các học thuyết Phật Giáo gọi là Chân Như Duyên Khởi. Thế giới Chân Như luôn luôn hiện hữu ở phía bên trong (nội tại) của Chân Tâm và nương tựa nơi không gian của Chân Tâm làm không gian cho mình. Ngoài không gian của Chân Tâm, thế giới Chân Như không thể hiện hữu và không có Tạng Như Lai làm chất liệu cho việc hiện hữu.

Thế giới Chân Như cũng là nguyên nhân chính yếu để phát sanh ra thế giới hiện tượng đầu tiên trong ba cõi. Từ nơi thế giới Chân Như, đầu tiên thế giới hiện tượng trong ba cõi sở dĩ được thể hiện là do các Thánh Chúng động niệm phân biệt tạo nên. Thế giới hiện tượng trong ba cõi là thuộc về thế giới ảnh tử mang tánh chất đại mộng (Great Dream) của thế giới Chân Như biến hiện. Trường hợp này cũng giống như thế giới mộng mơ (Dream) trong Trung Giới. Thế giới mộng mơ là thuộc về ảnh tử, mang tánh chất tiểu mộng (Little Dream) của thế giới hiện tượng lưu xuất (lưu lại và xuất hiện). Thế giới Chân Như giả sử không hiển lộ ảnh tượng thì thế giới hiện tượng trong ba cõi nhất định không thể thành hình, cũng như thế giới hiện tượng nếu như không lưu ảnh thì thế giới mộng mơ trong Trung Giới nhất định không thể phát sanh. Con người khi thức giấc thì mới biết mình đang nằm mơ trong giấc mộng con, cũng như con người khi giác ngộ thành Phật thì mới biết mình đang chìm đắm trong giấc mộng lớn sanh tử lưu chuyển của khổ đau.

II - NGUYÊN NHÂN HIỆN KHỞI VÔ MINH NGHIỆP TƯỚNG:

Từ vô lượng kiếp về trước, những hàng Thánh Chúng ở các cõi trong thế giới Chân Như gồm có, thế giới Hoa Nghiêm, thế giới Pháp Hoa, thế giới Cực Lạc..v..v..... đều là những vị chưa chứng được quả Phật, chưa được lên ngôi Chánh Giác để được diện kiến trực tiếp nơi Chân Tâm, nghĩa là họ chưa trực nhận được Phật Tánh. Bởi họ chưa thành Phật, cho nên các Thánh Chúng trong các cõi trên liền khởi Tâm động niệm và mong muốn sớm thành chánh quả như các đức Phật. Do bởi Tâm bị động, các vị Thánh Chúng kia liền sanh khởi niệm niệm phân biệt trong khi tu tập. Nguyên vì sử dụng tâm niệm niệm phân biệt để tu tập thiền quán, cho nên các vị Thánh Chúng nói trên hành trì không đúng phương pháp thực tập để rồi đi đến kết quả tâm họ bị động niệm bất an và cũng từ đó họ bị sa rơi vào vọng tưởng điên đảo của thế giới vọng hiện. Sự động niệm bất an ở đây là nguyên nhân tạo nên sự bất giác đầu tiên (sự hôn mê đầu tiên) và cũng vì sự bất giác đầu tiên này khuấy động thêm, các vị Thánh Chúng trở nên bị loạn niệm mê vọng lôi cuốn sa rơi từ thế giới Chân Như liền vào thế giới vọng hiện để sinh hoạt. Sự bất giác nêu trên chính là chất liệu của vô minh căn bản hiện khởi, nghĩa là cội gốc của sự không sáng suốt thành hình.

Thí dụ, con người, khi đối diện trước vấn đề khủng khiếp đưa đến một cách bất ngờ. Lúc đó tâm trí của họ liền bị loạn động bất an và họ trở thành con người mất bình tĩnh trong sự xét đoán. Sự kiện trên khiến cho họ sinh hoạt không bình thường. Vì họ sinh hoạt không bình thường, tâm trí của họ càng bị tăng thêm sự loạn động cực độ. Tâm trí của họ lúc bấy giờ không còn thông minh sáng suốt để giải quyết những vấn đề khó khăn trước mắt nữa. Trường hợp này gọi là vô minh hiện khởi để chân đứng trí tuệ không cho phát sanh. Tâm trí họ bị loạn động và mất bình tĩnhnguyên nhân chính sanh ra sự bất giác (không giác ngộ). Sự bất giác này gọi là Chi Mạt Vô Minh, nghĩa là sự không sáng suốt này đối với Căn Bản Vô Minh thuộc về ngọn ngành.

Do sự bất giác nổi lên, các vị Thánh Chúng nói trên đã bị mê hoặc che lấp tâm tri của mình, liền khởi vọng tưởng phân biệt điên đảo về Phật Tánh của Chân Tâm, nghĩa là phân biệt Phật Tánh của Chân Tâm bằng sự tưởng tượng mê tâmnhận định không đúng như thật. Sự phân biệt vọng tưởng điên đảo về Phật Tánh của Chân Tâm nên gọi là Lầm Tưởng. Sự lầm tưởng về Phật Tánh của chân tâm ở đây chính là nguyên nhân khiến cho hình tướng vô minh hiện khởi.

Thí dụ, người Việt Nam chưa từng đến nước Mỹ lần nào. Họ chỉ biết qua sách báo giới thiệu tổng quát về nước Mỹ hoặc họ được nghe những người đã đến nước Mỹ nhiều lần kể lại những kỳ quan, những thắng cảnh tốt đẹp của nước này. Họ liền khởi tâm động niệm, tưởng tượng những cái đẹp cái hay của nước Mỹ và cho rằng, người dân sống tại nước này thật sung sướng, thật hạnh phúc. Rồi họ ước mơ vượt biên để được sang nước Mỹ. Khi đến được nước Mỹ, họ nhiều dân trực tiếp nhìn thấy được tình trạng sự thật của người dân sống tại đây. Họ mới vỡ lẽ và tự hối tiếc rằng: Trước kia mình đã lầm tưởng về nước Mỹ. Đó là hiện tượng nói lên sự phân biệt vọng tưởng (tưởng tượng sai lầm không đúng sự thật) của tâm.

Các vị Thánh Chúng nói trên, nguyên vì sự bất giác (không giác ngộ) mê hoặc (mê lầm) nên phút giây hành động theo vọng tưởng và tạo thành nghiệp lực mang tánh chất vô minh. Nghiệp lực của vô minh này được cô đọng lại thành hạt giống (chủng tử) và hạt giống đó lại rơi vào trong Tạng Như Lai làm ô nhiễm tâm trí. Hạt giống nghiệp lực của vô minh trong Tạng Như Lai chính là Vô Minh Nghiệp Tướng (Nghiệp Lực hiện thành hình tướng mang tánh chất vô minh). Đây là nguyên nhân đầu tiên hiện khởi Vô Minh Nghiệp Tướng do các Thánh Chúng trong thế giới Chân Như tạo nên. Các vị Thánh Chúng chỉ mê lầm vọng tưởng trong phút giây nào đó nơi thế giới Chân Như, thôi thì khiến cho thế giới hiện tượng ba cõi bị vọng hiện, bị sanh diệt và bị lưu chuyển bất an suốt cả hằng tỷ tỷ năm.

Trường hợp này cũng giống như con ngườimê vọng quá nhiều cho nên đêm đến nằm mơ lúc nào không biết (bất giác). Trong lúc nằm mơ, con người lại gây nghiệp trong mộng. Khi tỉnh thức, mặc dù những cảnh trong mơ không còn hiện khởi, nhưng nghiệp lựccon người đã gây trong mộng không mất, lại nội kết thành hạt giống trong Tâm Thức của con người nằm mơ nói trên. Hạt giống nghiệp lực nội kết này chính là nguyên nhân khiến cho con người nằm mơ, sau khi chết bị luân hồi sanh tửkiếp sau. Trái lại con người nằm mơ kia, nếu như không gây nghiệp trong mộng thì không ảnh hưởng chút nào ở kiếp sau cả.

III.- NGUYÊN NHÂN SANH RA TÂM THỨC:

Nơi thế giới Chân Như, Thức ở đây chính là trí tuệ, thuộc diệu dụng của Chân Tâm và nương vào Chân Tâm làm thể để sanh khởi sự hiểu biết. Danh từ Thức được thành lập là căn cứ nơi chiều hướng mê vọng của trí tuệ để đặt tên và thường gọi là Tâm Thức, còn Trí Tuệ là danh từ căn cứ nơi chiều hướng giác ngộ để định danh và thường gọi là Tâm Trí. Từ đó, bản chất của Tâm Thức không khác gì trí tuệ và được phát sanh từ trí tuệ, nguyên vì trí tuệ được chuyển từ Tâm Thức. Theo nhà Duy Thức trong mỗi con người, Tâm Thức có tám loại sinh hoạt khác nhau, cho nên khi được chuyển thành trí tuệ có nhiều loại không cùng tên với nhau. Những Trí Tuệ được chuyển từ nơi Tâm Thức tổng quát gồm có bốn loại khác tên nhau:

1 - Năm Tâm Thức ở trước như là: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt ThứcThân Thức được chuyển thành trí tuệ gọi là Trí Thành Sở Tác. Trí Thành Sở Tác thuộc loại trí tuệ chỉ dùng vào việc làm nơi chốn, làm thành trì, làm cơ sở cho Tạng Như Lai của Chân Tâm nương tựa để thể hiện Pháp Thân Phương Tiện với danh nghĩa Ứng Thân hay Hoá Thân. Ứng ThânHoá Thân thể hiện với mục đích cứu độ chúng sanh trong mười phương. Trong khi cứu độ chúng sanh trong mười phương, Ứng Thân hay Hoá Thân thường hoá hiện vào các quốc độ tùy theo hạnh nguyện của từng người để hoá độ. Phật nghĩa là giác ngộ, như vậy thân thể của chư Phật đích thực là thân giác ngộ. Thân Giác Ngộ của chư Phật lại lấy Trí Thành Sở Tác làm Pháp Thân Phương TiệnPháp Thân Phương Tiện này chỉ hoá hiện vào việc hoá độ chúng sanh. Nói cách khác, chư Phật lấy Trí Tuệ giác ngộ làm Pháp Thân Phương Tiện để hoá độ chúng sanh trong mười phương, cho nên Trí Tuệ giác ngộ thuộc loại Pháp Thân Phương Tiện này được gọi là Trì Thành Sở Tác.

2.- Ý Thức thứ sáu dược chuyển biến thành trí tuệ gọi là Trí Diệu Quan Sát của chư Phật trong Pháp Thân thanh tịnh. Trí Diệu Quan Sát có khả năng quán chiếu căn cơ của tất cả chúng sanh trong mười pháp giới để tùy duyên hoá độ.

3.- Thức Mạt Na (Manas) thứ bảy được chuyển biến thành trí tuệ gọi là Trí Tánh Bình Đẳng không phân biệt của Pháp Thân chư Phật. Trí Tánh Bình Đẳng này đối với các pháp trong thế giới Chân Như không có vấn đề chấp trước hoặc xả bỏ, nghĩa là Trí Tánh Bình Đẳng của Pháp Thân chư Phật không bao giờ phân biệt chấp trước các pháp của thế giới Chân Như, mỗi khi các pháp này ảnh hiện trong Tạng Như Lai và cũng không lưu lại trong Tạng Như Lai một chút dấu tích nào, mỗi khi các pháp đó đến đi tự do.

Thí dụ, trường hợp trên cũng giống như tấm gương soi mặt. Một khi các hình ảnh hiện vào, tấm gương đây cũng không phân biệt tốt xấu, phải quấy..v..v... và một khi các hình ảnh đó không còn hiện lên nữa, tấm gương đây cũng không lưu luyến chút nào dấu tích. Các cảnh bên ngoài hiện ảnh vào tấm gương cũng như biến dạng ra khỏi tấm gương đều là tự tạibình đẳng. Các cảnh đó đến và đi không bị tấm gương soi mặt phân biệt khen chê. Trí Tánh Bình Đẳng của chư Phật đối với các cảnh giới lưu xuất trong thế giới Chân Như cũng không khác tấm gương soi mặt vừa kể trên.

4.- Thức Alaya thứ tám (Thức Tạng) được chuyển biến thành trí tuệ gọi là Trí Đại Viên Cảnh, tức là Trí Tướng của Tạng Như Lai. Trí Đại Viên Cảnh hay Trí Tướng đều là tên khác của Tạng Như Lai và Tạng Như Lai tức là tướng trí của Chân Tâm. Trí Đại Viên Cảnh của Tạng Như Lai khi an trụ vào Chân Ngã Phật Tánh gọi lã Pháp Thân chánh báo của chư Phật. Pháp Thân chánh báobáo thân chân thật của chư Phật trong mười Pháp Giới. Pháp Thân này luôn luôn hiện hữu thường trụthanh tịnh. Các đức Phật trong mười pháp giới một khi đã chứng ngộ đều có thân thể riêng, có cảnh giới riêng của mỗi vị an trụ. Các đức Phật khi chứng quả không phải thành một khối năng lượng hỗn hợp không hình tướng, không tri giác như mọi người lầm tưởng. Thân thể riêng của mỗi vị Phật chứng ngộ thường gọi là Chân Ngã Phật Tánh. Chân Ngã Phật Tướng là một loại ngã tướng chân thật của chư Phật và ngã tướng này chọn lấy thể tánh của trí tuệ nơi Tạng Như Lai làm bản ngã chân thật. Chân Ngã Phật Tánh của chư Phật đều giống nhau một loại hình tướng pháp Thân và nó không phải là nghiệp tướng sai biệt của chúng sanh. Nghiệp Tướng của chúng sanh thì có nhiều loại ngã tướng hay pháp tướng không giống nhau. Pháp Thân chánh báo thường trụ của chư Phật chính là Trí Đại Viên Cảnh của Tạng Như Lai đã an trụ vào Chân Ngã Phật Tánh. Từ đó cho thấy, Tạng Như Lai là nền tảng, là Tâm Địa để phát sanh Pháp Thân chánh báo và phát sanh cảnh giới y báo Chân Như của chư Phật trong mười phương an trụ, nên gọi là Chân Như Duyên Khởi.

I). NGUYÊN NHÂN SANH KHỞI THỨC TẠNG (THỨC ALAYA):

Thức Tạng là một loại Tâm Thức có khả năng tàng trữ tất cả hạt giống của muôn pháp trong thế gian. Danh từ Thức Tạng được dịch từ Thức Alaya. Thức Alaya nghĩa là Thức Tạng. Theo Luận Đại Thừa Khởi Tín của Ngài Mã Minh, Thức Tạng ở đây là chỉ cho Tâm Sanh Diệt. Thức Tạng thì được sanh ra từ nơi Như Lai Tạng. Bản chất của Thức Tạng có một phần chân và có một phần vọng, nghĩa là Tạng Như Lai hay là Như Lai Tạng có một phần mê và một phần giác hoà hợp lẫn nhau. Một phần mê gọi là Thức Tạng (Thức Alaya) và một phần giác gọi là Như Lai Tạng. Nguyên nhân nào Tạng Như Lai sanh ra Thức Tạng?

Như trước đã trình bày, hạt giống Vô Minh Nghiệp Tướng đầu tiên được thành hìnhdo bởi phút giây động niệm của các vị Thánh Chúng nơi thế giới Chân Như. Các vị Thánh Chúng động niệm theo vọng tưởng phân biệt về Phật Tánh của Chân Tâmnguyên nhân tạo nên sự bất giác đầu tiên (Vô Minh đầu tiên hiện khởi). Sự Bất Giác khiến cho các Thánh Chúng hành động tâm lạc theo vọng tưởng phân biệt liền nội kết trong Tạng Như Lai thành một tiềm năng với hình tướng hạt giống. Hạt giống Vô Minh Nghiệp Tướng tự nó có năng lực gọi là Hành, tức là một loại nghiệp lực mang tánh chất vô minh. Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng khiến cho Tạng Như Lai bị vẩn đục và bị ô nhiễm bởi chất liệu vô minh liền biến thành Thức Tạng (Thức Alaya). Thức Tạng là nền tảng để tạo thành thế giới sanh diệt trong ba cõi. Hành Nghiệp của Vô Minh cũng giống như Nghiệp Lực của Si Mê. Nghiệp Lực của Si Mê mỗi khi tác dụng khiến cho ý Thức con người không sáng suất trong sự hành động. Ý Thức bị Nghiệp Lực của Si Mê thúc đẩy, khiến cho con người không sáng suốt trong việc hành động tạo Nghiệp. Nghiệp Lực của Si Mê gọi là Chi Mạt Vô Minh, nghĩa là một loại vô minh thuộc về chi nhánh của Vô Minh Nghiệp Tướng căn bản.

Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng tác dụng hai chiều hướng: chiều hướng dẫn phát (Repulsive-force) và chiều hướng dẫn nạp (Attractive-force).

CHIỀU HƯỚNG DẪN PHÁT (REPULSIVE FORCE):

Chiều hướng dẫn phát (sức đẩy), Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng đầu tiên thúc đẩy Tạng Như Lai biến động liên tục không ngừng và khuấy đục Tạng Như Lai ô nhiễm bởi chất liệu vô minh. Vì bị kích động bởi Hành Nghiệp và bị ô nhiễm bởi chất liệu vô minh, Tạng Như Lai không được an trú nơi tự tánh của mình (bất thủ tự tánh), liền trở thành Thức Năng Lượng (Energy) đầu tiên. Thức Năng Lượng này, Lăng Già Tâm Ấn gọi là Thức Lưu Trú, nghĩa là loại Tâm Thức an trú lưu trữ trong trạng thái Thức Tướng.

Thí dụ, một ngọn lửa nhỏ phát cháy ở một vị trí nào đó, liền bị gió động thổi mạnh. Khi bị gió động thổi mạnh, một ngọn lửa nhỏ không thể an trú được nơi tự tánh của mình (bất thủ thự tánh) lên bừng cháy thành một ngọn lửa cao vút. Một ngọn lửa cao vút này không còn trở lại được nơi tự thể của nó (bất hoàn tự thể) và bị gió kích động thêm mạnh lên, đồng thời kết hợp được những bùi nhùi khác liền phát cháy thành nhiều đám lửa mới và lan tràn khắp vùng. Những đám lửa cháy lan tràn này đều phát nguồn từ một đóm lửa ban đầu không giữ được tự tánh của mình (bất thủ tự tánh) mà sanh khởi.

CHIỀU HƯỚNG DẪN NẠP (ATTRACTIVE FORCE):

Theo chiều hướng dẫn nạp (sức hút), Hành của Vô Minh Nghiệp Tướng cùng lúc khi Tạng Như Lai bị biến động liền thu hút Thức Lưu Trú (Năng Lượng) an trú vào trong Vô Minh Nghiệp Tướng để biến thành Thức Tạng gọi là Thức Alaya. Thức Tạng so với Tạng Như Lai chỉ là một điểm ô nhiễm nhỏ của Vô Minh Nghiệp Tướng. Đây là nguyên nhân sanh ra Thức Tạng gọi là Thức Alaya và Thức Alaya được lưu xuất từ nơi Tạng Như Lai.

Thí dụ, điện thể trong không giantrạng thái không hình tướng chỉ là năng lựcnăng lực đó biến khắp cả vũ trụ cũng tương tợ như Tạng Như Lai. Điện thể này không giữ được tự tánh tĩnh lặng của mình và bị biến động thành năng lượng cũng tương tợ như Thức Lưu Trú. Năng lượng của điện thể trong không gian không trở về được nguyên thể tĩnh lặng của mình, lại tác dụng ở hai vị trí khác nhau tạo thành hai tướng Âm và Dương. Điện âm và Điện Dương trong không gian tiếp tục bị biến động liền tác dụng lẫn nhau để phát sanh điện sấm chớp, ánh sáng và nhiệt lượng v.v...

Thức Tạng (Thức Alaya) là thể động của Chân Tâm trên lãnh vực mê vọng và Tạng Như Lai cũng thuộc về thể động của Chân Tâm trên lãnh vực chân giác. Thức Tạngbiến tướng của Tạng Như Lai. Cũng như điện sấm chớp, điện đèn.. v..v.... đều phát sanh từ nơi điện thể trong không gian và nương nơi điện thể trong không gian làm thể tánh của mình. Thức Tạng gồm có một phần chân (giác) và một phần vọng (mê) hoà hợp nhau. Vì thế, Thức Tạng có hai tướng: chân tướng và vọng tướng. Chân tướng của Thức Tạng chính là Tạng Như Lai và Vọng Tướng của Thức Tạng tức là Vô Minh Nghiệp Tướng.

Thí dụ, Chân Tướng cũng như bình pha lê trong suốt và Vọng Tướng cũng như bình pha lê đó bị đổ nước màu vào liền biến thành cái bình màu sắc.

2). NGUYÊN NHÂN SANH KHỞI BẢY THỨC:

Khi Tạng Như Lai biến thành Thức Tạng và nằm trong Vô Minh Nghiệp Tướng, Năng lực dẫn phát của Hành (sức đẩy) liền thúc đẩy năng lực Thức Tạng chuyển biến thành năng lực phân biệtnăng lực phân biệt đây là chỉ cho Kiến Phần Thức Alaya (phần tác dụng của Thức Tạng). Năng lực phân biệt của Thức Tạng (Kiến Phần Thức Alaya) liền kết duyên với căn tánh (tánh chất giác quan căn bản) của bảy Trí từ nơi Pháp Thân chư Phật trong thế giới Chân Như và khiến cho căn tánh của bảy Trí này vọng hiện thành bảy Căn Thức (bảy hình tướng của Tâm Thức), tức là bảy cái nghiệp tướng Chứng Tự Chứng Phần của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và mạt na. Năng lực phân biệt của Thức Tạng lại chun vào hình tướng của bảy Căn Thức trên (Chứng Tự Chứng Phần) liền biến thành hạt giống bảy Thức gọi là Tự Chứng Phần. Hạt giống bảy Thức này luôn luôn an trú trong Thức Tạng và nương tựa nơi Thức Tạng làm thể của mình. Riêng Thức Mạt Na thì có năng lực chấp trướcquản lý tất cả hạt giống muôn pháp thiện ác của chúng sanh từ vô lượng kiếp về trước không cho hoại diệt.

Nhờ năng lực chấp trướcquản lý của Thức Mạt Na, những hạt giống thiện ác nói trên mới có cơ duyên đề kết thành những quả báo khổ vui cho chúng sanh hưởng thụ ở kiếp sau. Còn sáu Thức trước thì có năng lực phân biệt những cảnh giới thuộc sáu trần bên ngoài nên gọi là Phân Biệt Sự Thức, nghĩa là những loại Tâm Thức chỉ có khả năng phân biệt các sự vật đối tượng bên ngoài như, sắc, thinh, hương, vị xúc và pháp. Sáu Tâm Thức này còn có tên là Phân Ly Thức, nghĩa là những loại Tâm Thức chuyên nghiệp phân biệt vạn pháp một cách chi ly để hiểu biết.

3). NGUYÊN NHÂN SANH RA HIỆN TƯỢNG BA CÕI:

Kiến Phần Thức Alaya (Thức Năng Phân Biệt) có khả năng sinh hoạt trên hai lãnh vực: Lãnh vực chân nhưlãnh vực hiện tượng.

Lãnh vực chân như:

Trước hết, Kiến Phần Thức Alaya có khả năng kết duyên với các Pháp Thân chánh báo và những Cảnh Giới y báo của chư Phật nơi thế giới Chân Như. Khi sinh hoạt kết duyên, Kiến Phần Thức Alaya khiến cho Pháp ThânCảnh Giới của chư Phật nơi thế giới Chân Như ảnh hiện qua lớp màng Vô Minh Nghiệp Tướng để nội kết thành những hạt giống ảnh tử của thân thể (thân căn) và của cảnh giới hiện tượng trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng trong Thức Thể Alaya chính là nguyên nhân đầu tiên cho việc sanh khởi vạn pháp của Thế Giới Vọng Hiện và cũng là nguyên nhân đầu tiên cho việc sanh khởi vạn pháp của Thế Giới Nghiệp Duyên về sau. Tánh chất những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng được nội kết trong Thức Thể Alaya đều mang tánh chất nghiệp tướng và những nghiệp tướng này hoàn toàn không có thể chất chân thật, cho nên nhà Duy Thức cho thế giới hạt giống này thuộc về thế giới Vô Chất Tánh Cảnh. Vô Chất Tánh Cảnh nghĩa là tánh chất của những cảnh giới thuộc hạt giống đều không có thể chất chân thật.

Thí dụ, dòng điện Kiến Phần Thức Alaya tác dụng qua bóng đèn màu Vô Minh Nghiệp Tướng liền hiện thành thế giới màu sắc. Thế giới màu sắc này là hình tướng ảo vọng của thế giới chân thật bên ngoài được xuất hiện qua bóng đèn màu.

Thế giới màu sắc thể hiện bên trong nội Tâm là hình bóng của thế giới Chân Như được phát xuất từ tâm điểm (O) của bóng đèn Vô Minh Nghiệp Tướng. Ánh sáng Kiến Phần Thức Alaya liền chun vào và an trú trong vô số ảnh tử hình màu (sắc tướng) của thế giới màu sắc. Những ảnh tử hình màu ở đây đều xuất hiện từ bóng đèn màu Vô Minh Nghiệp Tướng chiếu tỏa và tràn khắp cả vũ trụ màu sắc. Vũ trụ màu sắc đều hiện bày trong tầm tay của dòng điện Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt, nghĩa là ánh sáng Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt đến đâu thì thế giới màu sắc hiện bày đến đó.

Lãnh vực hiện tượng:

Những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng nói trên đầu tiên sở dĩ được lưu Xuất trong Thức Thể Alaya là do Kiến Phần Thức Alaya mê vọng Pháp Thân chánh báoCảnh Giới y báo nơi thế giới Chân Như hiện bày để làm đối tượng cho bảy Tâm Thức ở trước (Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức) phân biệtchấp trước. Nguyên do bảy Tâm Thức này không có khả năng duyên trực tiếp đến Pháp Thân chánh báoCảnh Giới y báo nơi thế giới Chân Như. Những hạt giống ảnh tử của thân thể và của cảnh giới hiện tượng trong Thức Thể Alaya như đã giải thích ở trên đêu thuộc về loại Nghiệp Tướng và cũng thuộc về loại Vô Chất Tánh Cảnh. Những hạt giống thế giới Nghiệp Tướng thuộc Vô Chất Tánh Cảnh trong Thức Thể Alaya vừa mới trình bày chính là nguyên nhân đầu tiên tạo thành Thế Giới Vọng Hiện. Những chúng sanh hữu tình cũng như những cảnh giới hiện tượng trong thế giới Vọng Hiện đều thuộc về hình ảnh và được phát sanh từ Pháp Thân chánh báoCảnh Giới y báo nơi thế giới Chân Như qua hình thức hạt giống trong Thức Thể Alaya.

Bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình trong thế giới Vọng Hiện nhân vì sinh hoạt theo sự phân biệtchấp trước những cảnh giới mê vọng nói trên, gây tạo vô số nghiệp nhân sanh tử cho sự lưu chuyểnkiếp sau. Cũng vì bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình nơi thế giới Vọng Hiện phân biệtchấp trước, thành thử những hạt giống nghiệp duyên (nghiệp tướng) hữu lậu đầu tiên lại được xuất hiện và được nội kết lần thứ hai trong Thức Thể Alaya. Những cảnh giới hạt giống Nghiệp Duyên hữu lậu được nội kết lần thứ hai trong Thức Thể Alaya cũng thuộc loại Nghiệp Tướng và cũng thuộc về loại Vô Chất Tánh Cảnh. Những cảnh giới hạt giống nghiệp duyên hữu lậu này là nguyên nhân cho những thế giới Nghiệp Duyên thực chất sau này hiện khởi. Hữu Lậu nghĩa là những hạt giống nghiệp duyên bị sa rớt trong vòng sanh tử luân hồi. Kiến Phần Thức Alaya lại nương nơi những cảnh giới hạt giống nghiệp duyên hữu lậu đã được nội kết lần thứ hai trong Thức Thể Alaya xây dựng thành thế giới Nghiệp Duyênthực chất bằng cách chuyển biến nghiệp tướng (chuyển tướng) trong hạt giống nghiệp duyên để tạo thành thế giới Hiện Tướng thuộc Nghiệp Báo. Thế giới Hiện Tướng thuộc Nghiệp Báo này được gọi là Hữu Chất Tánh Cảnh. Hữu chất Tánh Cảnh nghĩa là những cảnh giới có tánh chất chân thật, tức là có sức sống ở trong. Kiến Phần Thức Alaya đứng ra xây dựng thế giới Hiện Tướng thuộc Nghiệp Báo nói trên được gọi là Alaya Duyên Khởi.

Tóm lại, Thức là chỉ cho dụng của Tâm, phát sanh từ nơi Chân Tâm và nhơn nơi Chân Tâm làm thể của mình. Thức có tám loại, gọi là tám Thức Tâm Vương. Bảy Thức kia đều được phát sanh từ nơi Thức Alaya thứ tám. Kiến Phần Thức lại an trú vào bảy cái nghiệp tướng Chứng Tự Chứng Phần của bảy Căn Thức (bảy hình tướng của Tâm Thức) để biến thành bảy Thức Thể khác biệt nhau. Bảy Thức Thể này được gọi là Tự Chứng Phần.

Riêng Thức Thể Alaya lại phát sanh từ nơi Tạng Như Lai. Tạng Như Lailoại trí tuệ thuộc về hình tướng của Chân Tâm và nương nơi Chân Tâm làm thẻ của mình. Tạng Như Lai bị hành nghiệp làm biến động và an trụ vào Vô Minh Nghiệp Tướng để trở thành Thức Thể Alaya.

Nguyên nhân sanh ra Vô Minh Nghiệp Tướng chính là do một số các vị Thánh Chúng nơi thế giới Chân Như trong phút giây động niệm Phật Tánh của Chân Tâm tạo nên. Vô Minh Nghiệp Tướng từ đó ô nhiễm và khiến cho Tạng Như Lai biến thành Thức Tạng, gọi là Thức Alaya.

Thức Thể Alaya làm nền tảng căn bản để phát sanh ra thế giới hiện tượng trong ba cõi. Thế giới hiện tượng trong ba cõi đều do Thức Thể Alaya làm trợ duyên để sanh ra nên gọi là Alaya Duyên Khởi. Thế giới Chân Như đều do Tạng Như Lai làm duyên để sanh ra nên gọi là Chân Như Duyên Khởi. Tạng Như LaiThức Tạng đều thuộc về thể động, được phát sanh từ nơi Chân Tâm và nương nơi Chân Tâm làm thể của mình, còn Chân Tâm thì thuộc về thể tĩnh. Bản chất của Chân Tâm luôn luôn bao trùm và che chở cho cả thế giới Chân Như cùng với thế giới Hiện Tượng Mê Vọng nương tựa để sanh khởi.

Như vậy thế giới Hiện Tượng Mê Vọng đầu tiên được phát sanh từ nơi thế giới Chân Như và bị cuốn trôi theo dòng sanh tử lưu chuyển qua lăng kính Vô Minh Nghiệp Tướng, còn người tu tập thì lại bắt đầu khởi hành từ nơi cõi sanh tử lưu chuyển, trở về thế giới Chân Như để được giác ngộgiải thoát. Người tu tập nào hồi đầu tỉnh ngộ để quay về là người đó thật sự đã quy y Phật xong.

B.- TÁNH CHẤT CHỦNG TỬ:

Chủng Tử nghĩa là hạt giống. Vạn pháp hiện có mặt trong vũ trụ với nhiều hình tướng khác nhau thì nguồn gốc phát sanh ra những hình tướng đó cũng có vô số hạt giống không giống nhau. Những hạt giống đó đều được tàng trữ và bảo trì trong Thức Thể Alaya. Hơn nữa những hạt giống đây lại còn nương tựa và châm rễ nơi Thức Thể Alaya để sanh khởi vạn pháp. Xét về mặt tánh chất của mỗi loại hạt giống, nhà Duy Thức tóm lược phân làm hai loại: loại thứ nhất là Bản Hữu Chủng Tử và loại thứ hai là Thỉ Khởi Chủng Tử.

I.- ĐỊNH NGHĨA:

1/ BẢN HỮU CHỦNG TỮ:

BẢN nghĩa là nguồn gốc.

HỮU nghĩa là có.

BẢN HỮU nghĩa là có nguồn gốc, có căn nguyên và căn nguyên đó vốn sẵn từ bao giờ.

CHỦNG Tử nghĩa là hạt giống nguyên thể. Danh từ chủng tử cũng giống như danh từ nguyên tử của các nhà Khoa Học thường dùng. NGUYÊN Tử là nghĩa hạt giống nguyên thể.

BẢN HỮU CHỦNG Tử nghĩa là những hạt giống có nguồn gốc, có năng lực nguyên thể và những hạt giống này vốn sẵn từ vô thỉ. Những hạt giống có nguồn gốc nói trên đều được phát sanh từ nơi Tâm Trí và cũng là nguyên liệu thiết yếu cho sự sanh khởi vạn pháp. Bản Hữu Chủng Tử còn có thêm một tên nữa là BẢN TÁNH TRỤ CHỦNG. BẢN TÁNH TRỤ CHỦNG nghĩa là bản tánh của những hạt giống có nguồn gốc đều an trụ nơi Chân Tâm để thành hình.

2/- THỈ KHỞI CHỦNG TỬ:

THỈ nghĩa là đầu mối, mới đây, mới có đây, mới bắt đầu có.

KHỞI nghĩa là nổi dậy, mọc lên, mới có mặt, mới sanh sau này, mới nội kết (huân tập) thành hình tướng.

HUÂN TẬP nghĩa là xông ướp, chứa nhóm, như trà xông ướp hương sen, gọi là trà sen.

THỈ KHỞI CHỦNG TỬ nghĩa là những hạt giống mới bắt đầu sanh khởi về sau, mới nội kết thành hình tướng sau này. Những hạt giống mới sanh này lẽ tất nhiên không có thật thể và cũng không được phát sanh từ nơi Tâm Trí giống như Bản Hữu Chủng Tử đã được trình bày ở trên. Thỉ Khởi Chủng Tử cũng còn có thêm một tên nữa là TẬP SỞ THÀNH CHỦNG TỬ. TẬP SỞ THÀNH CHỦNG TỬ nghĩa là những hạt giống do huân tập kết thành. Những hạt giống do huân tập kết thành đều là những nghiệp duyên được nội kết từ nơi hình tướng của các pháp bên ngoài. Những hạt giống đó được tàng trữ và tồn tại ở bên trong Thức Thể Alaya.

II.- TÁNH CHẤT:

Như trên đã trình bày, Chủng Tử có hai loại: một loại là Bản Hữu Chủng Tử và một loai là Thỉ Khởi Chủng Tử. Tánh chất của Bản Hữu Chủng Tử cũng như tánh chất của Thỉ Khởi Chủng Tử khi ở trạng thái nguyên thể chỉ là những loại hạt giống riêng biệt, thuần chất, không ảnh hưởng với nhau và không bị các hạt giống liên hệ khác làm biến chất. Bản chất của những hạt giống Bản Hữu thì hoàn toàn thuộc về năng lực của Trí Tuệ, mặc dù những năng lực đó đã bị ô nhiễm bời chất liệu vô minh, còn bản chất của những hạt giống Thỉ Khởi thì có hai loại: một loại thuộc về Nghiệp Lực và một loại thuộc về Nghiệp Tướng. Hai loại hạt giống thỉ khởi nầy đêu được nội kết từ nơi thế giới nghiệp duyên trong thế gian. Tất cả hạt giống Bản Hữu và Thỉ Khởi đều được tàng trữ và nằm yên một cách độc lập trong Thức Thể Alaya, mong chờ thuận duyên để được sanh khởi. Những nguyên nhân rất quan yếu cho việc sanh khởi vạn pháp trong thế gian chính là những hạt giống Bản Hữu và Thỉ Khởi nói trên. Chúng nó không thể thiếu mặt ở bất cứ trường hợp nào trong việc kiến tạo thế giới nghiệp duyên sau này.

Còn đứng trên lãnh vực sanh khởinhận xét, những hạt giống nguyên thể của Bản Hữu và của Thỉ Khởi một khi tác dụng liền bị biến chất, cũng như bị biến tướng do bởi các hạt giống liên hệ khác chuyển hóa để cùng nhau hình thành vạn pháp. Thật ra hiện tượng vạn pháp trong thế gian chỉ là hình tướng tổng hợp của nhiều hạt giống nguyên thể hoà hợp lẫn nhau trong sự tác dụng. Hình tướng tổng hợp của vạn pháp vừa kể ở trên được gọi là Tổng Tướng của các hạt giống nguyên thể đã được chuyển tướng trong sự hoà hợp lẫn nhau. Riêng tánh chất thuần nhất của những hạt Bản Hữu và Thỉ Khởi khi chúng chưa bị tác dụng đã được trình bày sau đây:

1.- BẢN HỮU CHỦNG TỬ:

Tánh chất của Bản Hữu Chủng Tửtrạng thái nguyên thể khi chưa bị tác dụng được nhận định trên hai dạng thức: một loại thuộc về vật lý và một loại thuộc về tâm lý.

a/. Dạng thức vật lý:

Dạng thức vật lý nghĩa là hình thức về nguyên lý của vật chất. Nguyên lý của vật chất ở đây là chỉ cho bốn nguyên lý đất, nước, gió và lửa, gọi là nguyên lý Tứ Đại. Bốn nguyên lý hạt giống này khi chưa bị tác dụng vẫn còn ở vị trí năng lực đơn thuần của đất, nước, gió và lửa. Bốn nguyên lý Tứ Đạitrạng thái năng lực đêu thuộc về bản thể của vật chất và cũng là nguyên nhân để sanh ra vật chất.

Nguồn gốc phát sanh ra bốn nguyên lý Tứ Đại chính là Thức Alaya, nguyên vì thể tánh của Thức này cũng là năng lực. Thức Alaya nếu như không chịu sinh hoạt thì bốn nguyên lý Tứ Đại không thể góp mặt để làm nguyên liệu cần thiết cho việc sanh khởi vạn pháp về vật chất. Thức Alaya nương nơi các duyên của vô minh phiền não để tạo nên bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại. Thức Alaya là một thực thể, cho nên bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại được phát sanh từ nơi Thức Alaya cũng thuộc về loại hạt giống thực thể. Bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại chỉ thực thể nơi thế gianvật chất và không thực thể nơi thế giới Chân Như không vật chất, nguyên vì chúng nó đã biển thể trong thế giới Chân Như. Nơi thế giới hiện tượng, bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại được gọi là Pháp Tánh. Pháp Tánh nghĩa là thể tánh của vạn pháp về vật chấtchúng nó không phải là thể tánh của Chân Tâm. Bốn năng lực của Tứ Đại chính là bốn loại hạt giống thực thể của thế gian để làm nguyên lý cho việc sanh ra vạn pháp về vật chất trong thế gian. Thế nên bốn năng lực của nguyên lý Tứ Đại này được ghép vào loại Bản Hữu Chủng Tử của thế giới hiện tượng.

b/. Dạng thức tâm lý:

Dạng thức tâm lý nghĩa là hình thức thuộc về nguyên lý của Tâm Thức. Nguyên lý của Tâm Thức ở đây là chỉ cho tánh chất nguyên thể của hạt giống tám Thức Tâm Vương. Tánh chất nguyên thể của hạt giống tám Thức Tâm Vương chính là chỉ cho tánh chất Trí Tuệ của Tạng Như Lai. Tánh chất Trí Tuệ của Tạng Như Lai an trụ trong Pháp Tướng của mỗi Tâm Thức để biến thành hạt giống tám Thức Tâm Vương. Pháp Tướng của tám Thức Tâm Vương là hình tướng của Pháp Tánh được ảnh hiện từ nơi Pháp Thân chư Phật để làm chỗ nương tưa cho trí tuệ an trụ. Trí tuệ sau khi an trụ vào Pháp Tướng của tám thức Tâm Vương liền biến thành Tự Chứng Phần cho mỗi Tâm Thức. Do đó Pháp Tướng của tám Tâm Thức, nhà Duy Thức gọi là Chứng Tự Chứng Phần. Đối với Pháp Thân chư Phật, Pháp Tướng này chỉ là những hình tướng. chân thật của Phật Thân lưu ảnh và bản chất của Pháp Tướng thì thanh tịnh, nguyên vì Pháp Thân của chư Phật đều hoàn toàn thanh tịnh. Pháp Tướng khi bị ô nhiễm bởi Vô Minh Nghiệp Tướng liền trở thành Chứng Tự Chứng phần. Ngay lúc đó Trí Tuệ của Tạng Như Lai an trú trong những pháp Tướng ô nhiễm trên liền biến thành hạt giống của tám Thức Tâm Vương. Hạt giống của tám Thức Tâm vương thường gọi là Chủng Tử Thức.

Trường hợp này cũng giống như điện tử trong Television. Bản chất của Điện tử thì không có màu sắc. Trái lại những hình ảnh (Forms) trong Video-tape thì có màu sắc. Vô số điện tử khi an trú trong những hình ảnh màu sắc lên biến thành ánh sáng màu sắc.

Cũng thế, Trí Tuệ khi an trú vào những pháp Tướng đã bị ô nhiễm liền biến thành những hạt giống Tâm Thức ô nhiễm. Hạt giống Tâm Thức trong những pháp Tướng ô nhiễm trên, nhà Duy Thức gọi là Tự Chứng Phần.

Bản tánh trí tuệ nguyên thể của tám Thức Tâm Vương điều thuộc về thể tánh giác ngộ hồn nhiênsáng suốt. Thể tánh giác ngộ này không có vấn đề so đo và chấp trước, không có quan niệm chủ thể (Subject) hay đối tượng (Object). Thế nên, dù cho chúng sanh bị biến tướng ở bất cứ hình thức nào và cũng như dù cho chúng sanh bị lưu chuyển ở bất cứ nơi chốn nào, bản tánh trí tuệ nguyên thể của tám Thức Tâm Vương vẫn nhất địnhthanh tịnh sáng suốt và trong đó không có vấn đề sanh diệt hay tăng giảm. Riêng đứng về phương diện sanh khởi, Trí tuệ này mỗi khi tác dụng để sinh hoạt thì mới có sự sai khác về hình tướng, hoặc gọi là bốn Trí hay gọi là tám Thức Tâm Vương.

Bốn Trí là Trí Thành Sở Tác, Trí Diệu Quan Sát, Trí Bình Đẳng Tánh và Trí Đại Viên Cảnh. Bốn trí này sở dĩ được thiết lập là đứng về phương diện giác ngộ để định Danh, còn đứng về phương diện mê hoặc vọng động để nhận xét, bốn Trí này sở dĩ được phân thành tám Thức Tâm Vương là căn cứ theo tánh chất và giá trị của mỗi loại để minh định. Bản tánh hạt giống của tám Thức Tâm Vương như đã xác định ở trên đều thuộc về loại trí tuệ đã được cô đọng và an trụ trong Pháp Tướng Chứng Tự Chứng Phần, cho nên nhà Duy Thức gọi tám hạt giống này là Bản Hữu Chủng Tử.

Đã là trí tuệ cô đọng và an trụ, đặc tánh của Bản Hữu Chủng Tử lẽ tất nhiên đều thuần chất, thanh tịnhsáng suốt không bị sanh diệt hay tăng giảm và cũng không bị chi phối bởi thiện ác của thế gian. Cho nên Bản Hữu Chủng Từ của tám Thức Tâm Vương cũng gọi là Chủng Tử Vô Lậu. Chủng Tử Vô Lậu nghĩa là những hạt giống không bị sa rớt trong ba cõi sanh tử. Bản Hữu Chủng Tử của tám Thức Tâm Vương chỉ khi nào phát sanh tác dụng với hình thức Kiến Phần để sinh hoạt thì mới bị chi phối bởi vấn đề sanh diệt và mới bị ô nhiễm bởi vấn đề thiện ác trong thế gian. Kiến Phần của tám Thức Tâm Vương một khi sinh hoạt liền bị ô nhiễm bởi vấn đề thiện ác trong thế gian, gây tạo vô số nghiệp nhân sanh tử hữu lậu. Những nghiệp nhân sanh tử hữu lậu do Kiến Phần của tám Thức Tâm Vương gây tạo được nội kết trong Thức Thể Alaya liền trở thành hạt giống nghiệp duyên sanh tử. Những hạt giống nghiệp duyên sinh tử này, nhà Duy Thức gọi là Chủng Tử Hửu Lậu. Chủng Tử Hữu Lậu nghĩa là những hạt giống bị sa rớt trong ba cõi sinh tử. Để xác định rõ hơn, hạt giống của tám Thức Tâm Vương thì thanh tịnhvô lậu, chỉ có Kiến Phần của tám Thức Tâm Vương thì mới bị ô nhiễmhữu lậu.

Thí dụ bản tánh của điện thể trong không gian thì không có vấn đề sanh hay diệt. Chỉ khi nào tác dụng, điện thể hiện khởi thì gọi là sanh và điện thể không hiện khởi thì gọi là diệt. Ánh sáng của điện không có vấn đề tăng hay giảm. Chỉ khi nào tác dụng, điện chun vào vị trí khác nhau của các bóng đèn 15w, 20w, 100w v.v... thì phát sanh ra ánh sáng có tăng và có giảm không đồng nhau. Ánh sáng của điện đều thuần nhất là một tánh chất nghĩa là không có màu sắc, chỉ khi nào điện tác dụng xuyên qua bóng đèn màu sắc thì ánh sáng mới phát sanh ra màu sắc khác nhau nào là màu xanh, màu vàng, màu trắng, màu đỏ v.v... Thế nên, ánh sáng trí tuệ không bị chi phối bởi màu sắc, chỉ vì chúng sanh chuyên sống trong màu sắc xanh đỏ v.v... cho nên ánh sáng trí tuệ mới bị ảnh hưởng bởi chúng nó.

Trên lãnh vực tu tập, các chúng sanh thường áp dụng nhiều pháp môn hành trì của Phật chỉ dạy, nhằm mục đích phát huy những bản tánh hạt giống nguyên thể thanh tịnh vô lậu kia để được giác ngộgiải thoát. Họ tu tập bằng cách chuyển tâm thức biến thành trí tuệ bát nhã. Nguyên vì trình độ của chúng sanh không đồng nhau, cho nên giáo pháp của Phật chỉ dạy cho chúng sanh tu tập có nhiều pháp môn cao thấp khác nhau. Vì tu tập theo các pháp môn khác nhau, những người chứng ngộ có nhiều đẳng cấp không giống nhau. Những bậc đạt đạo qua các pháp môn sai biệt này, nhà Duy Thức xếp họ vào hai hạng: một hạng gọi là Nhị Thừa Chủng Tánh và một hạng gọi là Đại Thừa Chủng Tánh.

a] Nhị thừa chủng tánh:

Nhị Thừa Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất Nhị Thừa. Nhị Thừa ở đây thường được chỉ cho các bậc Thinh Văn và Duyên Giác. Các bậc Thinh Văn và Duyên Giác do chuyên tâm tu tập các pháp môn Nhị Thừa nên được giác ngộ thành hạt giống. Những người tu tập các pháp môn Nhị Thừa thì chỉ đoạn trừ được chứng bệnh Ngã Chấp; nhưng họ vẫn chưa tiêu diệt được chứng bệnh Pháp Chấp. Nguyên vì còn chứng bệnh Pháp Chấp, cho nên họ chưa thấu triệt được nguyên lý của vạn pháp đều do Tâm sanh. Hay nói cách khác, họ chưa nhận chân được nguyên lý của vạn pháp đều do Thức biến. Bởi lẽ đó, hạng này cứ mãi quan niệm rằng, nguyên lý của vạn pháp luôn luôn hiện hữu, luôn luôn biệt lập và đối lập của Tâm Thức. Những chứng bệnh cố chấp của họ không thể hoá giải và trí tuệ của họ chỉ có khả năng hiểu biết đến mức độ đó mà không thể hiểu biết thêm được nữa. Cũng vì chứng bệnh cố chấp này của hạng Thinh Văn và Duyên Giác, cho nên đức Phật mới xếp họ vào hạng Nhị Thừa Chủng Tánh. Nhị Thừa Chủng Tánh gồm có hai bậc:

1).- Thinh văn chủng tánh:

Thinh Văn Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất thuộc hạng Thinh Văn. Hạng Thinh Văn gồm có bốn bậc: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na HàmA La Hán. Những bậc thuộc hạng Thinh Văn nhờ công phu tu tập pháp Tứ Đế nên được giác ngộ, gọi là Thinh Văn Chủng Tánh. Những người tu tập pháp môn này chỉ phát sanh được tánh chất hạt giống của bậc Thinh Văn và họ cũng chỉ có khả năng giác ngộ được lý pháp thể hiện trong phạm vi của bậc Thinh Văn mà thôi.

2).- Duyên giác chủng tánh:

Duyên Giác Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất thuộc hạng Duyên Giác. Những bậc thuộc hạng Duyên Giác là nhờ công phu tu tập quán chiếu, giác ngộ được nguyên lý Duyên Sanh của vạn pháp, nên gọi là Duyên Giác Chủng Tánh. Duyên Giác Chủng Tánh còn có tên nữa là Độc Giác Chủng Tánh. Độc Giác Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất tự giác ngộ độc lập không nhờ vả người khác điểm đạo, nên gọi là Độc Giác Chủng Tánh. Những người đã giác ngộ đến bậc Duyên Giác hay Độc Giác Chủng Tánh thì cao hơn Thinh Văn Chủng Tánh một cấp. Nhưng họ cũng chỉ giác ngộ được "LÝ DUYÊN SANH" của vạn pháp, còn vấn đề "NGUYÊN LÝ CỦA DUYÊN SANH VẠN PHÁP" thì họ chưa thấu triệt được, nghĩa là những hạng này chỉ biết rằng, vạn pháp bị sanh diệt theo nguyên lý Duyên Sanh, còn nguyên lý của vạn pháp từ đâu sanh ra và tại sao sanh ra phải theo luật tắc mười hai Nhân Duyên thì họ hoàn toàn chưa thông suốt. Do đó họ còn bị bệnh chấp trước chưa diệt.

b].- Đại thừa chủng tánh:

Đại Thừa Chủng Tánh nghĩa là những hạt giống mang tánh chất của các bậc Đại Thừa Bồ Tát. Hạng Đại Thừa Bồ Tát nhờ công phu tu tập pháp Lục Độ vạn hạnh của bậc Bồ Tát nên được giác ngộ thành hạt giống. Hạng Đại Thừa Bồ Tát đã dứt trừ hẳn bệnh chấp ngãchấp pháp của chúng sanh cũng như của Nhị Thừa. Nhờ đó họ chứng được Nhứt Thiết Chủng Trí, nghĩa là họ đã thành Phật. Cho nên họ được gọi là bậc Đại Thừa Chủng Tánh.

Ngoài ra còn một loại Chủng Tánh nữa không liên hệ đến hai loại Chủng Tánh trên gọi là Bất Định Chủng Tánh. Bất Định là không nhất định. Chủng Tánh là tánh chất của những hạt giống. Bất Định Chủng Tánh nghĩa là tánh chất hạt giống sẵn có của các chúng sanh không nhất định thuộc về hạng Nhị Thừa hay hạng Đại Thừa Bồ Tát. Thật sự tánh chất hạt giống của các chúng sanh không có vấn đề cấp bậc Thinh Văn, cấp bậc Duyên Giác hay cấp bậc Bồ Tát. Sở dĩ cấp bậc Thinh Văn, Duyên GiácBồ Tát được thành lập là căn cứ nơi trình độ đạt đạo của mỗi chúng sanh để định mức giá trị giác ngộ. Những chúng sanh mang tánh chất hạt giống Bất Định thì không bao giờ bị bệnh cố chấp và bị đóng khung trong sự kiến giải của bậc Nhị Thừa hay của bậc Đại Thừa, nghĩa là họ không nhất định an trúchấp trước vào Thừa nào cả. Họ tuy là hạng Nhị Thừa, nhưng có thể tăng tiến để trở thành Đại Thừa và họ tuy là hạng Đại Thừa, nhưng có thể tiến tu đạo nghiệp để trở thành Phật Thừa. Cho nên họ được gọi là Bất Định Chủng Tánh. Ngược lại, những bậc Nhị Thừa Chủng Tánh thường bị bệnh cố chấp cho rằng: "Chỉ có pháp môn thuộc bậc Thinh Văn hay bậc Duyên Giác của mình đã chứng được thì mới đúng với chánh pháp. Ngoài ra các pháp môn khác đều

thuộc về tà pháp". Cũng vì bị bệnh cố chấp nói trên, chỗ giác ngộ của bậc Nhị Thừa còn bị hạn hẹp và không được dung thông giống như sự sự giác ngộ của bậc Đại Thừa Bồ Tát.

2.- THỈ KHỞI CHỦNG TỬ:

Thỉ Khởi là mới phát khởi, mới phát sanh. Thỉ Khởi Chủng Tử nghĩa là những hạt giống mới phát sanh sau này. Những hạt giống mới phát sanh chỉ là những nghiệp tướng và những nghiệp lực được nội kết thành hạt giống. Tự thể của những hạt giống mới phát sanh thì không có bản chất chân thậtchúng nó không phải được xuất thân từ nơi thể tánh Chân Tâm, cho nên những hạt giống này được gọi là Thỉ Khởi Chủng Từ. Ngoài những hạt giống của tám Thức Tâm Vương, của Tứ Đại thuộc Bản Hữu Chủng Tử, tất cả hạt giống khác đều thuộc Thỉ Khởi Chủng Tử. Tất cả hạt giống thuộc Thỉ Khởi Chủng Tử thì hoàn toàn hữu lậu, không thật thể và bị sanh tử lưu chuyển trong ba cõi.

Trước hết, những hạt giống thuộc loại Nghiệp Tướng đều là những ảnh tử ảo vọng nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống này có loại được phát sanh từ nơi thế giới vọng hiện và có loại được phát sanh từ nơi thế giới nghiệp duyên. Đã là do mê vọng hiện bày hay là do nghiệp duyên nội kết, những hạt giống Nghiệp Tướng nói trên hoàn toàn thuộc về hữu lậu và không có thể chất chân thật, nghĩa là chúng nó không bao giờ có mặt trong thế giới Chân Như. Nhà Duy Thức cho những hạt giống Nghiệp Tướng đây là Vô Chất Tánh Cảnh. Những hạt giống Vô Chất Tánh Cảnh trên cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Thí dụ, hình ảnh của thành phố Sài Gòn, chùa thành phố Washington D.C., hay của thành phố Paris v.v... không thể có mặt trong thế giới Chân Như, nhưng chúng vẫn có mặt trong thế giới nội tâm của Thức Thể Alaya với hình thức hạt giống, nguyên vì những hình ảnh thành phố Sài Gòn, thành phố Washington D.C., thành phố Paris v.v... có khi xuất hiện trong mơ. Những hình ảnh thế giới trong mơ là những cảnh giới không có thể chất chân thật nên gọi là Vô Chất Tánh Cảnh và cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Còn những hạt giống thuộc loại Nghiệp Lực đều là những năng lực của thiện, ác và vô ký nghiệp đã được nội kết thành tập khí (Fetters), nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống Nghiệp Lực này, có loại được phát sanh từ nơi Vô Minh Nghiệp Tướng và có loại được phát sanh từ nơi Vô Minh Chi Mạt (vô minh thuộc ngọn ngành của Tham, Sân, Si tạo nên). Những hạt giống này cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Thí dụ, nghiệp lực Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến..v..v... tất cả đều không thể có mặt trong thế giới Chân Như, nhưng chúng vẫn có mặt trong thế giới nội Tâm của Thức Thể Alaya với hình thức hạt giống, nguyên vì những hạt giống tham, sân, si ... thường xuất hiện trong hành động. Những nghiệp lực Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến v.v... sở dĩ được thành hình là do Thân Nghiệp, Khẩu NghiệpÝ Nghiệp của chúng sanh hữu tình tạo thành hạt giống qua hành động, lời nóiý tưởng. Những hạt giống Tham, Sân, Si..v..v... cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử, mặc dù chúng nó mang tính chất phiền não căn bản.

Riêng thế giới Vọng Hiện, những cảnh giới này đều là hình tướng của thế giới Chân Như đã được ảnh hiện qua lớp màn Vô Minh Nghiệp Tướng để hiện hữu trong Thức Thể Alaya. Hình ảnh của những cảnh giới Vọng Hiện cũng giống như hình ảnh của những cảnh giới mộng mơ. Nguồn gốc phát sanh ra hình ảnh của những cảnh giới Vọng Hiện chính là Kiến Phần Thức Alaya. Đầu tiên, Kiến Phần Thức Alaya nương theo những hình ảnh của những cảnh giới Chân Như biến hiện qua lớp màn Vô Minh Nghiệp Tướng lưu ảnh thành thế giới Vọng Hiện trong Thức Thể Alaya. Những cảnh giới trong thế giới Vọng Hiện là những hình ảnhtrạng thái không có thể chất chân thật. Vì thế nhà Duy Thức cho những cảnh giới này là Vô Chất Tánh Cảnh và cũng gọi là Thỉ Khởi Chủng Tử.

Thí dụ, cảnh trí núi rừng trên đất liền do ánh sáng mặt trời ảnh hiện dưới đáy sông hồ. Sông hồ là biểu tượng cho Thức Thể Alaya. Ánh sáng mặt trờibiểu tượng cho Kiến Phần Thức Alaya. Cảnh trí dưới đáy sông hồ đều là hình ảnh của cảnh trì núi rừng chân thật trên đất liền. Cảnh trí núi rừng dưới đáy sông hồ đều thuộc về thế giới Vô Chất Tánh Cảnh.

Kiến Phần Thức Alaya khi bị Hành Nghiệp của Vô Minh Nghiệp Tướng kích động và lôi cuốn liền nương nơi hình ảnh của những cảnh giới Vọng Hiện trong Thức Thể Alaya xây dựng thành những cảnh giới sống động trong thế giới Vọng Hiện để cho bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình sinh hoạt. Những cảnh giới sống động này cũng thuộc về loại thế giới Vọng Hiện. Nhà Duy Thức cho những cảnh giới sống động trên là Hữu Chất Tánh Cảnh. Hình tướng của những cảnh giới sống động chính là hình ảnh thật sự chưa bị biến tướng của thế giới Chân Như, mặc dù những hình ảnh đó đều là ảnh tử của thế giới Chân Như lưu xuất. Những cảnh giới sống động đây cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Trường hợp như thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là một trong bốn cõi của Vô Sắc Giới. Thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là những cảnh giới Vọng Hiện của thế giới Chân Như lưu xuất qua bức màn Vô Minh Nghiệp Tướng và được Kiến Phần Thức Alaya xây dựng thành thế giới sống động để cho bảy Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình trong thế giới đó sinh hoạt. Thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ giao thoa với thế giới Chân Như. Thế giới này cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Xác định một lần nữa, tất cả hạt giống thuộc loại ảnh tử trong Thức Thể Alaya, mặc dù là hình ảnh vọng hiện của thế giới Chân Như, nhưng chúng đều thuộc về loại Vô Chất Tánh Cảnh và chúng hoàn toàn không có thể chất chân thật, nhưng tất cả hạt giống thuộc loại ảnh tử nói trên đích thực là những nguyên nhân rất cần thiết cho việc sanh khởi những cảnh giới vọng hiện sống động thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh trong thế gian. Tất cả hạt giống ảnh tử trong Thức Thể Alaya đều thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử.

Đặc biệt hơn, những hạt giống thuộc Nghiệp Duyên trong Thức Thể Alaya đều được ghép vào loại Thỉ Khởi Chủng Tử. Trong Thức Thể Alaya, những hạt giống Nghiệp Duyên cũng có hai loại, một loại thuộc về Ảnh Tử Lạc Tạ và một loại thuộc về Chủng Tử Nghiệp Lực. Hai loại hạt giống thuộc Vô Chất Tánh Cảnh này là nguyên nhân sanh thành những cảnh giới Nguyệt Duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh trong thế gian.

Điều cần biết, những hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạ trong Thức Thể Alaya là do Kiến Phần sáu Tâm Thức (từ Nhãn Thức cho đến Ý Thức) của các chúng sanh hữu tình thuộc kiếp trước tạo nên. Kiến Phần sáu Tâm Thức nương nơi những cảnh giới nghiệp duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh của kiếp trước phân biệtchấp trước thành hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạ nằm trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống đây đều thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Tử. Những hạt giống Ảnh Tử Lạc Tạnguyên nhân để tạo thành những cảnh giới thực chất nơi thế giới Nghiệp Duyên trong thế gian.

Ngoài ra, Kiến Phần sáu Tâm Thức còn nương theo những cảnh giới nghiệp duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh nói trên phân biệtchấp trước qua sự điều khiển của Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác Kiến ... tạo thành hạt giống mang danh nghĩa Chủng Tử Nghiệp Lực. Chủng Tử Nghiệp Lực là những hạt giống thuộc loại tập khí cũng được nội kết trong Thức Thể Alaya giống như các hạt giống khác. Các hạt giống nghiệp lực đây cũng thuộc về loại Thỉ Khởi Chủng Từ. Các hạt giống Nghiệp Lựcnguyên nhân thúc đẩy Kiến Phần Thức Alaya xây dựng thành thế giới Nghiệp Duyên thuộc Hữu Chất Tánh Cảnh trong thế gian và còn khiến cho các chúng sanh hữu tình nơi thế giới Nghiệp Duyên nói trên hưởng thọ quả báo khổ vui trong thế gian.

Kiến Phần sáu Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình ngay từ bây giờ chẳng những mang vào hai loại hạt giống, một loại thuộc Chủng Tử Nghiệp Lực và một loại thuộc Ảnh Tử Lạc Tạ từ nơi những cảnh giới nghiệp duyên Hữu Chất Tánh Cảnh hiện tại để cất giữ trong Thức Thể Alaya. Kiến Phần sáu Tâm Thức này vẫn còn tiếp tục mang vào hai loại hạt giống nói trên từ vô lượng kiếp về trước cho đến muôn đời về sau, qua các thế hệ chúng sanh hữu tình nhiều kiếp, luôn luôn tàng trữ nơi Thức Thể Alaya để làm nhân duyên cho việc sanh khởi những thế giới sanh tử lưu chuyển trong ba cõi. Từ đó có thể nhận thấy, tất cả hạt giống Ảnh Tử Lạc TạChủng Tử Nghiệp Lực trong Thức Thể Alaya do Kiến Phần sáu Tâm Thức của các chúng sanh hữu tình tạo nên đều hoàn toàn không có thể chất chân thật, nghĩa là chúng nó không bao giờ có mặt trong thế giới Chân Như. Cho nên chúng nó được gọi là Thỉ Khởi Chủng Tử hoặc gọi là Tập Sở Thành Chủng Tử.

III.- GIÁ TRỊ:

Những hạt giống thuộc thế giới vọng hiện cho đến những hạt giống thuộc thế giới nghiệp duyên từ vô lượng kiếp về trước cho đến ngày nay đã được tàng trữ quá nhiều trong Thức Thể Alaya không thể nghĩ bàn. Nhà Duy Thức cho vô số hạt giống không thể nghĩ bàn với danh nghĩa là Nhút Thiết Chủng Tử. Thức Thể Alaya tàng trữ vô số hạt giống này được nhà Duy Thức đặt cho một danh hiệu là Nhứt Thiết Chủng Thức. Mặc dù hạt giống chứa trong Thức Thể Alaya nhiều vô số, nhưng giá trị của chúng có thể phân ra ba loại khác nhau: một loại Thiện, một loại Ác và một loại Vô ký.

1/- MỘT LOẠI THIỆN:

Thiện nghĩa là những điều lành có lợi ích cho chúng sanh về phương diện phước nghiệp hữu lậu trong thế giới sanh tử. Những điều thiện của phước nghiệp như là những công hạnh thuộc công tác bắt cầu, đắp đường, bố thí v.v... Những thiện nghiệp này cũng được nội kết trong Thức Thể Alaya để thành hạt giống. Những pháp thiện trên đây mặc dù đã được thành nghiệp, nhưng vẫn còn thuộc về loại tạp nhiễm, chỉ có giá trị trong thế giới sanh tửchúng nó hoàn toàn không có giá trị trong thế giới Chân Như thanh tịnh. Tất cả hạt giống thiện nghiệp nói trên đều thuộc về loại Hữu Lậu Thiện.

Thí dụ, những điều thiện của đạo thờ Bò không thể có trong đạo thờ Heo, cũng như những điều thiện theo quan niệm tập quán của quốc gia này, của thế giới này không thể có trong quốc gia khác hay trong thế giới khác.

2/- MỘT LOẠI ÁC:

Ác nghĩa là những điều trái ngược với pháp thiện ở trên. Những điều ác thường gây tổn hại cho chúng sanh chẳng những ở đời này, cho đến muôn đời về sau. Những điều ác được thành hìnhdo bởi hành động, lời nóiý tưởng của các chúng sanh hữu tình tạo nên. Những điều ác được minh định như sau:

a/- VỀ HÀNH ĐỘNG:

Ba điều ác do hành động của chúng sanh hữu tình gây nên chính là sát hại, trộm cướp và dâm dục. Tánh chất của ba điều ác được xây dựng từ nơi thân nghiệp tạo nên. Ba điều ác đây được nội kết thành nghiệp lực trong Thức Thể Alaya với dạng thức hạt giống. Hành động của ba điều ác được trình bày như sau:

Sát Hại: nghĩa là hành động chém giết, đánh đập và hành hạ các loài hữu tình (những loài có tình cảm và hiểu biết), trong đó chủ yếu là giết người. Những người có nghiệp háo sát thường ham thích chém giết làm nghề thú vui. Họ chẳng những tự mình hại chúng sanh và còn khuyến khích kẻ khác đi chém giết hoặc tán thành sự chém giết của kẻ khác. Nghiệp sát hại cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Trộm Cướp: nghĩa là hành động trộm cắp, hoặc dùng bạo lực tước đoạt của cải, quyền lợi của chúng sanh hữu tình bằng mọi thủ đoạn không chân chánh, nên gọi là trộm cướp Những người có nghiệp trộm cướp thường ham thích đi cướp đoạt những vật sở hữu của kẻ khác bằng mọi cách và khiến cho họ trở nên đau khổ, nghèo đói và bệnh tật. Nghiệp trộm cướp cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Dâm Dục: nghĩa là hành động háo sắc bất chánh, say đắm dục lạc quá độ, không biết chừng mực trong sự tiết dục. Những người có nghiệp dâm dục thường ham thích say đắm dục lạc với những người khác phái, hay phá hoại hạnh phúc gia cang của chúng sanh và khiến cho thân thể của họ trở nên bệnh tật, yếu đuối và mất dần trí tuệ. Nghiệp dâm dục cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

b/. VỀ LỜI NÓI:

Bốn điều ác do miệng lưỡi của chúng sanh hữu tình gây nên từ lời nói không chân chánh. Bốn điều ác đây được nội kết thành nghiệp lực trong thức thể Alaya. Bốn điều ác như là:

Vọng Ngôn: nghĩa là nói dối, nói không thật, vu khống, chụp mũ. Chuyện không có tội lại ghép cho là có tội và chuyện có tội lại che chở cho là không tội. Chuyện phải lại cho là quấy và chuyện quấy lại cho là phải. Người vọng ngữ là kẻ thường hay nói những điều không đúng sự thật. Lời nói vọng ngôn cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Ý Ngữ: nghĩa là nói quanh co, nói dua nịnh, nói dụ dỗ, nói lường gạt qua những lời đường mật nhằm mục đích lợi dụng lòng tin của mọi người. Người ỷ ngữ là kẻ thường hay nói những lời không đúng đắn, không chân chánh. Lời nói ỷ ngữ cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Lưỡng Thiệt: nghĩa là nói hai lưỡi, tức là đến người này nói chuyện xấu của người kia và đến người kia lại nói chuyện xấu của người này, khiến cho hai bên thù nghịch lẫn nhau. Người lưỡng thiệt là kẻ thường hay gây sự bất hoà giữa người này với người khác. Lời nói lưỡng thiệt cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Ác Khẩu: nghĩa là lời nói hung dữ, độc ác. Những lời nói ác khẩu như là, chửi mắng, nguyền rủa, doạ nạt, thề thốt v.v... khiến cho người nghe bị đau khổ bứt rứt tâm can. Lời nói ác khẩu cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

c/- VỀ Ý TƯỞNG:

Ba điều ác do ý tưởng của chúng sanh hữu tình gây nên. ý tưởng của chúng sanh hữu tình thường hay thúc đẩy miệng lưỡi và thân thể gây nên ba điều ác qua nói năng và hành động. Ba điều ác sau khi được ý tưởng chỉ huy tạo nghiệp liền nội kết trong Thức Thể Alaya thành hạt giống nghiệp lực. Ba điều ác này cũng là nguyên nhân khiến cho chúng sanh hữu tình bị luân hồi sanh tử lưu chuyển mãi trong ba cõi. Ba điều ác như là:

Tham Lam: nghĩa là ham muốn, tham đắm, nhiễm trước những điều mà mình ưa thích và say mê chạy theo năm dục lạc của thế gian, như là: tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ, vì lòng ham muốn không đáy, chúng sanh hữu tình luôn luôn tự gây tạo không biết bao nhiêu tội lỗi sinh tử trong ba cõi. Người hành động tham lam theo ý tưởng chỉ đạo cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong thức Thể Alaya.

Sân Hận: nghĩa là giận ghét, thù hận mỗi khi gặp phải những hoàn cảnh trái nghịch, khổ đau, thất vọng. Người sân hận thường hay thù ghét, tức giận những ai cản trở sự tham muốn của mình và luôn luôn đối nghịch với những kẻ phá hoại công trình mà mình đang xây dựng theo chiều dục vọng lôi cuốn. Người sân hận thường tìm cách hãm hại những kẻ mà họ đã thù ghét. Người hành động sân hận theo ý tưởng chỉ đạo cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Si Mê: nghĩa là ngu si, mê muội, không sáng suốt, không minh định được rõ ràng những vấn đề phải quấy, chánh tà, chân vọng của vạn pháp. Người si mê là người không tin nhân quả, không tin chánh pháp, thường hay cuồng tín, mù quáng chạy tin theo những pháp bất chánh và hành động theo những tà giáo có tánh cách mê tín dị đoan. Người hành động si mê theo ý tưởng chi đạo cũng được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya.

Mười điều ác vừa kể trên sở dĩ được tạo thành hạt giống và được dung chứa trong Thức Thể Alaya là do hành động gây nên bởi thân thể, là do phát ngôn bất chánh bởi miệng lưỡi và cũng là do kế hoạch chỉ đạo bởi ý tưởng. Tánh chất của những hạt giống nghiệp lực này đều thuộc về loại Chủng Tử Hữu Lậu.

3/- MỘT LOẠI VÔ KÝ:

VÔ nghĩa là không.

KÝ nghĩa là ghi nhận, nhất định.

VÔ KÝ nghĩa là không nhất định thiện hay ác. Có những sự việc do chúng sanh hữu tình gây tạo không thể xác định giá trị là thiện và cũng không thể xác định giá trị là ác, nghĩa là những sự việc đó có mang một phần tánh chất của thiện và cũng có mang một phần tánh chất của ác, nên gọi là Vô Ký. Một số hành động của các chúng sanh hữu tìnhthời gian quá khứ cũng như một số hành động của các chúng sanh hữu tìnhthời gian hiện tại nếu cho là thiện thì cũng không thể được, nguyên vì những hành động đó thuộc loại bất thiện. Ngược lại, một số hành động của các chúng sanh hữu tình vừa kể trên nếu cho là ác thì cũng không thể được, nguyên vì những kẻ gây nên nghiệp nhân đó lại hoàn toàn không cố tâm chủ mưu, cho nên những hành động này được gọi chung là Vô Ký. Những hành động không phải thiện và những hành động không phải ác vừa mới trình bày đều được nội kết thành một loại hạt giống mệnh danh là Ký Nghiệp Nhân. Hạt giống Vô Ký Nhân là nguồn gốc để đi đến kết quả phải trả ở kiếp sau cho được tương xứng, nên gọi là Vô Ký Quả. Quả vô Ký ở đây mà chúng sanh hữu tình phải hưởng thọ lấy chính là sự kết quả đưa đến cho họ trong tình trạng bất ngờ, như là sự kiện chết bất đắc kỳ tử. Sự kiện chết bất đắc kỳ tử nghĩa là những kẻ bị chết bởi tai nạn bất ngờ hiện đến. Những kẻ bị chết đi trong tình trạng bất ngờ do bởi những hành động tạo nên không cố tâm chủ mưu của họ nên gọi là chết bất đắc kỳ tử thuộc Quả Vô Ký.

Thí dụ, một thanh niên bị động viên đi lính. Anh thanh niên này cố nhiên không muốn giết người, nhưng hoàn cảnh bắt buộc anh phải giết kẻ địch. Anh nếu như không giết kẻ địch thì kẻ địch trở lại giết anh. Vì lý do tự vệ, anh đành phải thi hành nghĩa vụ giết người. Sự hành động giết người của anh, nếu cho là thiện thì cũng không thể được, nguyên vì anh đang thi hành chém giết. Ngược lại, hành động đó của anh nếu cho là ác thì lại cũng không thể được, nguyên vì tâm của anh không muốn đi lính. Sự hành động của anh ở đây được gọi là Vô Ký Nghiệp Nhân. Đã tạo nên Vô Ký Nghiệp Nhân thì anh thanh niên kia nhất định phái trả quảkiếp sau bằng cách bị chết trong tình trạng bất đắc kỳ tử của Vô Ký Nghiệp Quả.

Tóm lại, về phương diện Bản Hữu Chủng Từ, hạt giống Tự Chứng Phần của tám Thức Tâm Vương chính là trí tánh của Tạng Như Lai. Trì tánh của Tạng Như Lai đã tác dụng và lưu trú trong cái vỏ (Form) Chứng Tự Chứng Phần để hiện thành hình tướng hạt giống. Do đó bản tánh của tám Thức Tâm Vương thì vốn sẵn có từ vô thỉ và không có vấn đề sanh diệt, tăng giảm hay nhơ sạch. Cho nên bản tánh của tám Thức này thuộc về loại Bản Hữu Chủng Tử thuần thiện vô lậu (hạt giống hoàn toàn thuần thiện, đã có bản chất từ vô thỉ và không bị sa rớt vào vòng sanh tử lưu chuyển trong ba cõi).

Còn bản tánh của Tứ Đại là chỉ cho bốn năng lực thực thể của đất, nước, gió và lửa. Bốn năng lực này đều phát sanh từ nơi Thức Thể Alaya để làm yếu tố cần thiết cho sự sanh khởi vạn pháp về vật chất. Vì phát sanh từ Thức Thể Alaya, cho nên bốn năng lực Tứ Đại cũng thuộc về loại Bản Hữu Chủng Tử. Bản Hữu Chủng Tử của bốn năng lực Tứ Đại thì vốn sẵn có từ vô thỉ và cũng không có vấn đề nhơ sạch hay tăng giảm, nhưng chúng thuộc về thuần thiện nhưng cố một điều là hữu lậu, vì chúng bị biến thể.

Riêng về phương diện tu chứng để phát huy Chủng Tánh (tánh chất hạt giống) của tám Thức Tâm Vương, nhà Duy Thức căn cứ theo trình độ tu tập của mỗi chúng sanh hữu tình chia thành bốn hạng: Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ TátBất Định. Hạng Thinh Văn Chủng TánhDuyên Giác Chủng Tánh tuy là đã phá được bệnh chấp ngã, nhưng họ vẫn còn bị bệnh chấp pháp kiên cố không thể hoá giải, còn hạng thuộc Bất Định Chủng Tánh thì không cố chấp và cũng không an trú một cách cố định vào những địa vị tu chứng nào của những hạng nêu trên. Hạng Bất Định Chủng Tánh chỉ mong cầu thành Phật làm mục đích cuối cùng.

Đặc biệt hạng Bồ Tát Đại Thừa Chủng Tánh thì đã hoàn toàn phá được sự chấp ngã, sự chấp pháp và chứng đến bậc Nhứt Thiết Chủng Trí, tức là đã thành Phật, thuộc ngôi vị tột cùng của đạo giải thoát.

Trái lại, tất cả hạt giống thuộc loại Thỉ Khởi Chủng Tử, từ thế giới Vọng Hiện cho đến thế giới Nghiệp Duyên đã mang tánh chất thiện, ác và vô ký thì hoàn toàn hữu lậu, nghĩa là chúng nó đều thuộc về những loại hạt giống giả tạo của sanh tử luân hồi. Những hạt giống Thỉ Khởi Chủng Tử đã được nội kết một cách liên tục, từ lâu đời và cũng đã được nội kết thành tiềm năng do sự phân biệt, do sự chấp trước cố định của các chúng sanh hữu tình trong vô lượng kiếp về trước. Những hạt giống này đã được nội kết từ nơi sáu Tâm Thức ở trước mê hoặc vọng hiện tạo nên và chúng nó hoàn toàn không có thể tánh chân thật trong Tâm Chân Như cho nên những hạt giống thuộc loại Thỉ Khởi Chủng Tử ở đây cũng gọi là Vô Chủng Tánh (hạt giống không có thể tánh chân thật).

C.- VẤN ĐỀ TỰ BIẾN VÀ CỘNG BIẾN:

Vấn đề tự biến và cộng biến được thành lập là căn cứ nơi tánh chất của vạn pháp để phân loại, nhằm mục đích làm sáng tỏ lập trường "VẠN PHÁP ĐỀU DO DUY THỨC BIẾN HIỆN". Vạn pháp trong vũ trụ, có loại hiện ra hình tướng nhìn thấy được như là hiện tượng vật chất, có loại chỉ biết qua sự tác dụng của chúng như là hiện tượng tâm linh, tất cả đều mang tánh chất nghiệp báo để hiện tướng, mặc dù chúng nó vẫn do Duy Thức biến hiện. Nguyên vì mang tánh chất nghiệp báo, vạn pháp do Duy Thức biến hiện đều phát khởi từ nghiệp nhân và bị chuyển thành nghiệp quả để cảm thọ những điều khổ đau hoặc những điều vui sướng không giống nhau. Riêng vấn đề nghiệp báo, có loại thuộc về cộng nghiệp (nghiệp chung) và có loại thuộc về biệt người (nghiệp riêng). Cho nên vạn pháp do Duy Thức biến hiện cũng có hai loại: một loại thuộc về Cộng Biến và một loại thuộc về Tự Biến.

I.- ĐINH NGHĨA:

TỰ: là mìmh, riêng mình, chính mình, nghịã là chỉ có riêng mình sinh hoạt một cách độc lập và sự sinh hoạt của riêng mình hoàn toàn không liên hệ chút nào đến kẻ khác trong mọi công việc.

CỘNG: là chung, cùng nhau, nghĩa là sự sinh hoạt của từng cá nhân rất quan hệ chặt chẽ với nhiều người chung quanh trong mọi công việc.

BIẾN: là biến đổi, chuyển biến để hiện ra, nghĩa là trạng thái này biến đổi ra trạng thái khác, biến đổi từ hình tướng này sang hình tướng khác. Những trạng thái hay những hình tướng của vạn pháp đã có sẵn gốc rể trong Thức Thể Alaya và chúng phải nhờ đến Kiến Phần Thức Alaya giúp đỡ để hiện ra hình tướng, nên gọi là biến.

TỰ BIẾN: nghĩa là những pháp chỉ do Kiến Phần Thức Alaya riêng mỗi cá nhân của chúng sanh hữu tình tự biến hiện ra để tự hưởng thụ. Những pháp do kiến Phần Thức Alaya riêng mỗi cá nhân tự biến bằng cách xây dựng hệ thống sinh lý riêng biệt cho những pháp đó để tự sử dụng và không quan hệ với nhiều Kiến Phần Thức Alaya khác của nhiều chúng sanh hữu tình chung nhau đóng góp trong sự hợp tác, nên gọi là Tự Biến.

CỘNG BIẾN: nghĩa là những pháp được thành hình phải nhờ đến nhiều Kiến Phần Thức Alaya của các chúng sanh hữu tình liên hệ cùng nhau biến hiện. Nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ biến hiện bằng cách, trước hết kết hợp các yếu tố cần thiết để cùng nhau xây dựng cho những pháp hội đủ điều kiện nhân duyên. Những pháp do nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ hợp tác xây dựng được gọi là Cộng Biến. Các chúng sanh hữu tình nhờ những pháp thuộc loại cộng biến mới có chỗ sinh hoạt và hưởng thụ. Nếu như không có sự đóng góp chung của nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ, những pháp thuộc loại cộng biến nhất định không thể hiện hữu một cách độc lập. Hơn nữa một Kiến Phần Thức Alaya của riêng từng chúng sanh hữu tình cũng không thể tự động xây dựng thành những pháp thuộc loại cộng biến nêu trên. Cho nên những pháp hiện hữu được nhiều Kiến Phần Thức Alaya liên hệ chung nhau xây dựng đều gọi là Cộng Biến.

II.- TÁNH CHẤT VẠN PHÁP:

Đứng trên lập trường nghiệp báo để khảo sát, chúng ta nhận thấy vạn pháp hiện cố mặt trong vũ trụ, mặc dù có hình tướng hay không có hình tướng, mặc dù là sự vật nhỏ nhoi như vi trần, như cát bụi v.v...cho đến sự vật lớn như sông núi, địa cầu, hành tinh v.v... đều là kết quả của những nghiệp tướng do Duy Thức biến hiện. Sự kết quả về nghiệp tướng của vạn pháp nêu trên được gọi là nghiệp báo. Nghiệp báo nghĩa là những nghiệp nhân đã được kết thành quả báo. Vạn pháp thuộc nghiệp báo có hai loại, một loại thuộc chánh báo và một loại thuộc y báo. Những loại thuộc chánh báo là những loại chịu ảnh hưởng trực tiếp của nghiệp nhân, còn những loại thuộc y báo là những loại chịu ảnh hưởng gián tiếp của nghiệp nhân.

Thí dụ, anh A là người thuộc về chánh báo và nhà cửa, cơm ăn, áo mặc v.v... là những sự vật thuộc về y báo để anh A sử dụng. Những sự vật thuộc về y báo chính là những sản phẩm của anh A biến hiện. Anh A tận dụng mọi khả năng biến hiện những sản phẩm trên bằng cách sáng tạo thành vật dụng theo nhu cầu hưởng thụ.

1/- THUỘC VỀ CHÁNH BÁO:

Những chúng sanh thuộc về chánh báo là những loại hữu tìnhthể chất chân thực, nghĩa là những loại có Kiến Phần Thức Alaya ở trong. Kiến Phần Thức Alaya ở trong những chúng sanh hữu anh nối trên bằng cách thể hiện sức sống để duy trì sự có mặt của chúng tồn tại trong thế gian. Quả báo của mỗi chúng sanh hữu tình được gọi là Chánh Báo. Tất cả chúng sanh hữu tình hiện có mặt trong thế gian đều thuộc về chánh báo. Chúng sanh hữu tình là chỉ cho những chúng sanh có tình cảm, có hiểu biết, trong đó gồm có các loài động vật và hẳn nhiên kể cả loài người. Trong tất cả chúng sanh hữu tình, mỗi cá thể đều được xây dựng theo biệt nghiệp để họ tự hưởng thụ quả báo. Tất cả chúng sanh hữu tình thuộc chánh báo đều làm chủ trong mọi sự sinh hoạtcảm thọ quả báo. Những chúng sanh hữu tình này, nếu như Kiến Phần Thức Alaya của mỗi loại không chịu xây dựng và không chịu duy trì sanh mạng thì nhất định không thể nào góp mặt trong thế gian. Nói cách khác, sự có mặt của họ trong thế gian chính là nhờ sự góp phần xây đựng của mỗi Kiến Phần Thức Alaya để duy trì sanh mạng được tồn tại. Nhà Duy Thức cho tất cả chúng sanh hữu tình hiện có mặt trong thế gian đều là thành quả của Duy Thức Biến.

2/- THUỘC VỀ Y BÁO:

Chúng sanh chánh báo thuộc hữu tình đã được xây dựng thì nhất định thế giới y báo thuộc vô tình cũng phải được thành lập để họ nương tựa và sanh trưởng. Những thế giới y báo thuộc vô tình đều là thế giới đối tượng nhằm mục đích làm chỗ nương tựa cho chúng sanh chánh báo thuộc hữu tình sinh hoạt (sở duyên). Từ đó cho thấy, những thế giới y báo đều thuộc về cộng nghiệp của tất cả chúng sanh chánh báo sinh hoạt. Những thế giới cộng nghiệp được thành lập là do biệt nghiệp của tất cả chúng sanh hữu tình hợp tác xây dựng để cùng nhau nương tựa. Sự xây dựng những thế giới y báo thuộc cộng nghiệp được phân làm hai loại:

a/- Loại thứ nhất là do Ý Thức thứ sáu tạo thành. Ý Thức thứ sáu căn cứ theo các duyên hiện có mặt trong thế gian xây dựng thành những hiện tượng hoàn toàn vật chất để làm bối cảnh cần thiết cho những nhu cầu của các chúng sanh hữu ảnh hưởng thụ. Những bối cảnh y báo cần thiết do Thức thứ sáu xây dựng như là, quốc gia, xã hội, chủng tộc luân lý, đạo đức v.v... Những bối cảnh y báo này đều mang tánh chất Biến Kế Sở Chấp Pháp.

b/- Loại thứ hai là do Kiến Phần Thức Alaya xây dựng. Kiến Phần Thức Alaya y cứ theo thế giới hạt giống nghiệp nhân trong Thức Thể Alaya tạo thành hiện tượng y báo.

Hiện tượng y báo đây được xây dựng nhằm mục đích để làm cơ sở nương tựa (sở y) cho việc sinh trưởng và để làm bối cảnh cần thiết cho việc nhận thức (sở duyên) của các chúng sanh chánh báo thuộc hữu tình sinh hoạt. Những hiện tượng y báo do Kiến Phần Thức Alaya xây dựng như là, vũ trụ, núi sông, địa cầu, hành tinh, mặt trời, mặt trăng v.v... Những hiện tượng này chính là những thế giới mang tánh chất Y Tha Khởi pháp.

Sự có mặt của những thế giới y báo vừa giải thích đều tùy thuộc vào sự có mặt của các chúng sanh chánh báo liên hệ thuộc hữu tình làm chủ yếu. Các chúng sanh chánh báo khác nhau hình tướng thì nhất định thế giới y báo của họ nhũng tùy theo đó hình thành những hiện tượng không giống nhau.

Thí dụ 1, bóng đèn điện chánh báo thuộc màu xanh thì biện tượng y báo của bóng đèn chiếu tỏa đều là vũ trụ ánh sáng hoàn toàn màu xanh. Bóng đèn điện chánh báo thuộc màu đỏ thì hiện tượng y báo của bóng đèn chiếu toả đều là vũ trụ ánh sáng hoàn toàn màu đỏ và không thể nào màu xanh được. Bóng đèn điện chánh báo 15wtt thì hiện tượng y báo của bóng đèn chỉ chiếu toả vũ trụ ánh sáng 15wtt và không thể 20wtt được. Đây là giải thích về sự có mặt của hiện tượng y báo quan hệ với sự có mặt chúng sanh chánh báo thuộc hữu tình.

Thí dụ 2, vấn đề khối nước là y báo chung của loài người và loài cá cùng nhau hưởng thụ, nhưng loài người khác với loài cá về chánh báo. Cho nên đối với loài người, khối nước chỉ là nhu cầu cho họ sử dụng vào những việc như, ăn uống, tắm giặt..v..v... Trái lại đối với loài cá, khối nước chính là lâu đài, nhà cửa, không khí v.v... để cho chúng nó sanh tồn. Loài cá cần nước để sống cũng như loài người cần không khí để thở. Đây cũng là trình bày về hiện tượng y báo quan hệ với chúng sanh chánh báo. Chúng sanh chánh báo khác nhau thì thế giới y báo của họ nương tựa cũng không giống nhau về phương diện đời sống cũng như về phương diện công dụng.

 

 

III.- ĐẶC TÁNH BIẾN HIỆN CỦA TÂM THỨC:

Đặc tánh biến hiện của Tâm Thức được nhận định qua hiện tượng của sự vật mà nó sanh khởi. Trong thế giới tánh cảnh (thế giới có tánh chất thực) thuộc y báo do Kiến Phần Thức Alaya biến hiện, một số hiện tượng thì thuần nhất Tự Biến, một số hiện tượng thì hoàn toàn Cộng Biến và một số hiện tượng vừa là Tự Biến mà cũng vừa là Cộng Biến. Thế giới hiện tượng thực tại này, nếu như chỉ có riêng Kiến Phần Thức Alaya của một chúng sanh nào đó tự biến hiện và không quan hệ đến nhiều Kiến Phần Thức Alaya của các chúng sanh khác hỗ trợ thì nhất định sẽ không tồn tại một khi sanh mạng chúng sanh đó bị hoại diệt. Hơn nữa, thế giới hiện tượng thực lại trên giả sử không phải do Kiến Phần Thức Alaya của nhiều chúng sanh chung nhau biến hiện thì ngoài những Thức Alaya này, nhất định phải có thế giới khách quan tồn tại và biệt lập giúp cho Tâm Thức nương tựa để sanh khởi. Nhưng trên thực tế, thế giới tánh cảnh thuộc y báo thì luôn luôn sanh diệtbiến hoại. Điều đó chứng tỏ, thế giới tánh cảnh này nhất định phải do Kiến Phần Thức Alaya của nhiều chúng sanh hữu tình chung nhau xây dựng. Riêng vấn đề vạn pháp trong thế giới tánh cảnh thì được nhận thức trên hai phương diện, một phương diện Tự Biến và một phương diện Cộng Biến. Phương diện Tự Biến và phương diện Cộng Biến của vạn pháp được phân loại như sau:

1/- TỰ BIẾN (BIẾN RIÊNG):

Trên lãnh vực Tự Biến (biến riêng), vạn pháp cũng được phân làm hai hình thức, một hình thức thuộc về loại hoàn toàn Tự Biến và một hình thức thuộc về loại một phần Cộng Biến trong Tự Biến.

a)- Hoàn toàn tự biến:

Những hiện tượng hoàn toàn tự biến là những hệ thống bộ máy sinh lý nằm phía bên trong thân thể nơi mỗi con người, nơi mỗi chúng sanh hữu tình. Những hệ thống bộ máy sinh lý này gồm có năm hệ thống Tịnh Sắc Căn, nghĩa là năm hệ thống thần kinh (Five Nervous Systems) của Mắt, Tai, Mũi, Miệng Lưỡi và toàn bộ Thân Thể hiện đang được an bày nơi phía bên trong thân thể của mỗi cá nhân. Theo nhà Duy Thức, nhũng hệ thống bộ máy sinh lý nói trên sở dĩ được thành lập là do Kiến Phần Thức Alaya của mỗi con người, của mỗi chúng sanh hữu tình tự động xây dựng theo nghiệp riêng để họ sinh hoạt mà không có sự hợp tác của các chúng sanh hữu tình khác. Nguyên vì hệ thống bộ máy sinh lý này chỉ ảnh hưởng riêng cho Kiến Phần Thức Alaya của mỗi con người, của mỗi chúng sanh hữu tình và không ảnh hưởng chút nào đến nhiều Kiến Phần Thức Alaya của các chúng sanh hữu tình khác. Nói rõ hơn, mỗi con người đều có một Kiến Phần Thức Alaya riêng và Kiến Phần Thức Alaya của người nào thì chỉ sinh hoạt trong thân thể của người đó và không thể sinh hoạt trong thân thể của người khác ngoài sự liên hệ với nó. Các chúng sanh hữu tình khác cũng thế. Đây là hiện tượng hoàn toàn tự biến của một pháp trong vạn pháp. Những hiện tượng nào nhận thấy không quan hệ đến và không ảnh hưởng đến nhiều chúng sanh hữu tình thì những. hiện tượng đó đều nằm trong lãnh vực hoàn toàn tự biến cả.

b)- Một phần cộng biến trong tự biến:

Những hiện tượng có một phần cộng biến trong tự biến là những hiện tượng có những nét giống nhau về hình tướng. Chúng sanh trong vũ trụvô số hình tướng khác nhau. Hiện tượng khác nhau về hình tướng của các chúng sanh là do mỗi Tâm Thức của chúng sanh đó tự động biến hiện (tự biến) để hưởng thụ. Nhưng hình tướng trên của mỗi chúng sanh thì lại có một phần ảnh hưởng nghĩa là có một phần nét giống nhau với hình tướng của nhiều chúng sanh. Những nét giống nhau của các hiện tượng vừa trình bày chính là những hình ảnh đã được nhiều Tâm Thức của nhiều chúng sanh chung nhau biến hiện (cộng biến). Hình tướng giống nhau của các chúng sanh được gọi là Thọ Giả Tướng. Thọ Giả Tướng nghĩa là hình tướng có những nét giống nhau vừa kể là do ảnh hưởng đến hình tướng của nhiều chúng sanh đồng loại chung nhau biến hiện qua hình thức cảm thọ tạo nên. Đây là trường hợp chỉ cho sự giống nhau về Ngã TướngPháp Tướng của tất cả chúng sanh.

Mỗi con người, mỗi chúng sanh hữu tình đều có một tướng trạng riêng biệt gọi là Ngã Tướng. Tướng trạng riêng biệt của ngã tướng thì được biểu hiện qua năm giác quan thô thiển bên ngoài (năm Phù Trần Căn) như là, mắt, tai, mũi, miệng lưỡi và toàn bộ thân thể của mỗi con người, của mỗi chúng sanh hữu tình. Năm giác quan của Ngã Tướng được thiết lập không ngoài mục đích là giúp cho sáu Tâm Thức của chính họ nương tựa để nhận thức vạn pháp. Nguồn gốc phát sanh ra Ngã Tướng được nhận định như sau:

a/- Ngã Tướng của một con người, của một chúng sanh hữu tình sở dĩ được phát sanh là do Ý Thức thứ sáu của con người đó, của chúng sanh hữu tình đó tự tạo nên. Ý Thức thứ sáu của họ nương theo Ngã Tướng nơi chúng sanh hữu tìnhkiếp trước chụp lại cho kiếp này. Ngã Tướng của kiếp trước do ý Thức thứ sáu chụp lại đều được tàng trữ trong Thức Thể Alaya với hình thức Lạc Tạ Ảnh Tử. Lạc Tạ Ảnh Tử chỉ là một cuốn films gốc gồm có rất nhiều hình ảnh Ngã Tướng (Forms) của một chúng sanh hữu tìnhkiếp trước nội kết thành hạt giống. Có bao nhiêu chúng sanh hữu ảnh ở kiếp trước thì có bấy nhiêu Ngã Tướng của kiếp này trong Thức Thể Alaya. Tất cả Ngã Tướng trong Thức Thể Alaya đều được Thức Mạt Na thứ bảy quản lý. Nhà Duy Thức định mức giá trị những cuốn Films Ngã Tướng thuộc Lạc Tạ Ảnh Tử trong Thức Thể Alaya với danh nghĩaChủng Tử Căn Bản (hạt giống căn bản). Đơn cử con người, một trong tất cả chúng sanh hữu tình làm thí dụ. Giả sử có một người bị chết, Kiến Phần Thức Alaya của họ được sự hướng dẫn bởi Thức Mạt Na thứ bảy riêng họ, trước hết chọn một Ngã Tướng nào trong cuốn Films gốc nơi Thức Thể Alaya xây dựng thành hình tướng con người cho kiếp sau. Hình tướng con người của kiếp sau được tạo dựng với mục đích làm chỗ nương tựa (sở y) cho sáu Tâm Thức của chúng sanh hữu tìnhkiếp trước tiếp tục sinh hoạt. Ngã Tướng con người của kiếp sau nói trên, nhà Duy Thức cho là Tướng Phần (Image) của Ngã Tướng con ngườikiếp trước. Ngã Tướng kiếp sau này được thành hình con người là nhờ Kiến Phần Thức Alaya xây dựng từ nơi cuốn Films gốc Lạc Tạ Ảnh Tử trong Thức Thể Alaya. Cho đến Ngã Tướng kiếp sau đó lại cũng là hình bóng (Image) được chiếu soi từ nơi cuốn Films gốc Lạc Tạ ảnh Tử trong Thức Thể Alaya. Ngã Tướng kiếp sau vừa kể được gọi là hiện tướng của Films gốc Lạc Tạ Ảnh Tử.

Trường hợp đây cũng giống như những hình ảnh nơi màn ảnh (Cinema Screen) trong Television. Những hình ảnh nơi màn ảnh trong Television chính là những cái Forms được thể hiện từ nơi cuốn Films gốc Video Tape qua ánh sáng điện chiếu soi. Những hình ảnh nơi màn ảnh nếu như bị mất đi là khi nào điện không còn chiếu soi nữa. Nhưng cuốn Films gốc Video Tape đó vẫn còn y nguyên và được cất giữ trong kho. Cũng thế con người, một trong những chúng sanh hữu tình, trên sân khấu trần gian nếu như bị hoại diệt là khi nào Kiến Phần Thức Alaya của họ không còn chiếu soi và không còn duy trì sức sống nữa. Ngã Tướng của họ lúc đó đã bị tan biến. Nhưng cuốn Films gốc Ngã Tướng Lạc Tạ Ảnh Tử của họ vẫn còn y nguyên và vẫn được cất giữ trong kho Thức Thể Alaya. Ánh sáng điện nếu không cố cuốn Films gốc Video Tape thì không thể hiện lên được hình ảnh trên màn ảnh của Television và ngược lại, cuốn Films gốc Video Tape đó nếu như không có ánh sáng điện chiếu soi thì cũng không thể nào tự động hiện lên được những hình ảnh trên màn ảnh nơi Television. Hơn nữa những hình ảnh trên màn ảnh nơi Television không phải là cuốn Films gốc Video Tape và những hình ảnh đó chỉ là hình bóng của cuốn Films gốc hiện ra mà thôi.

Tương tợ như thế, Kiến Phần Thức Alaya nếu như không có cuốn Films gốc Lạc Tạ Ảnh Tử Ngã Pháp (Ngã TướngPháp Tướng) thì không thể tạo thành vạn pháp trên sân khấu trần gian và ngược lại, cuốn Films gốc Lạc Tạ Ảnh Tử Ngã Pháp đó nếu như khôngKiến Phần Thức Alaya chiếu soi và xây dựng thì cũng không thể tự động thành hình vạn pháp trên sân khấu trần gian. Hơn nữa những hình tướng Ngã Pháp của hiện tượng vạn pháp nơi sân khấu trần gian không phải là cuốn Films gốc Lạc Tạ Ảnh Tử Ngã Pháp trong Thức Thể Alaya và những hình tướng Ngã Pháp đó chỉ là hình bóng của cuốn Films gốc Ngã Pháp hiện ra mà thôi.

Có thể xác định rằng, hiện tượng cuốn Films gốc Ngã Pháp thuộc Lạc Tạ Ảnh Tử trong Thức Thể Alaya chính là sản phầm đã được sáng tạo từ nơi ý Thức thứ sáu của mỗi con người, của mỗi chúng sanh hữu tình tự động biến hiện để làm nền tảng cho kiếp sau. Đây là hiện tượng hoàn toàn rự Biến với hình thức tánh cảnh.

b/- Riêng con người, đã sẵn có cuốn Films gốc Ngã Tướng thuộc Lạc Tạ Ảnh Tử trong Thức Thể Alaya và cũng đã sẵn có hạt giống Nghiệp Lực thúc đẩy, Kiến Phần Thức Alaya của họ đầu tiên chọn một Ngã Tướng nào trong tất cả ngã tướng để sinh hoạtcùng lúc biến Ngã Tướng đó thành Thân Trung Ấm qua sự hướng dẫn của Thức Mạt Na thứ bảy. Thân Trung Ấm này gọi là Nhân Dị ThụcKiến Phần Thức Alaya trong Thân Trung Ấm được gọi là Thức Dị Thục. Ngã Tướng sở dĩ được thành Thân Trung Ấm là do Kiến Phần Thức Alaya của chính con người đó riêng biệt tự biến một cách độc lập và không liên hệ chút nào đến nhiều Kiến Phần Thức Alaya của các chúng sanh hữu tình khác. Hình tướng Thân Trung Ấm chỉ sống có giá trị trong bảy ngày và phải trải qua bảy lần biến đổi hình tướng trong thời gian 49 ngày. Trong thời gian 49 ngày, hình tướng Thân Trung Ấm sở dĩ bị biến đồi bảy lần là do sự tranh giành và lôi kéo của các nghiệp lực khác nhau. Nghiệp lực nào mạnh nhất đã chiến thắng những nghiệp lực khác liền lôi kéo hình tướng Thân Trung Ấm cuối cùng an trụ vào nghiệp nhânthúc đẩy nghiệp nhân đó chuyển sang kiếp sau để biến thành nghiệp quả. Ngã Tướng của Thân Trung Ấm cuối cùng vừa kể trên trong mười hai nhân duyên gọi là DANH. DANH là một hình tướng của thân Trung Ấm cuối cùng được thành lập không ngoài mục đích làm Nhân Dị Thục cho kiếp sau. Để hoàn thành Ngã Tướng của thân thể kiếp sau, Kiến Phần Thức Alaya của riêng người đó trước hết nhờ đến Kiến Phần Thức Alaya của cha mẹ liên hệ tiếp tay hổ trợ trong sự kiến tạo con người. Kiến Phần Thức Alaya của cha mẹ tiếp tay bằng cách cung cấp nguyên liệu Tứ Đại để giúp cho Kiến Phần Thức Alaya trong Thân Trung Ấm cuối cùng của Danh tiếp tục xây dựng Ngã Tướng thuộc Nhân Dị Thục sớm hoàn thành thân thể con

người của Quả Dị Thục. Nhờ Kiến Phần Thức Alaya của cha mẹ liên tục yểm trợ suốt thời gian 280 ngày (tức là 9 tháng và 10 ngày), Kiến Phần Thức Alaya trong Thân Trung Ấm cuối cùng mới hoàn thành bộ máy sinh lý của một con ngườikiếp sau. Do nhờ một phần đóng góp của cha mẹ, thành thử Ngã Tướng của con người có một phần giống Ngã Tướng của cha mẹ. Sự giống nhau Ngã Tướng cha mẹ, nhà Duy Thức gọi là Thọ Giả Tướng. Thọ Giả Tướng nghĩa là hình tướng giống nhau được tạo nên là do sự cảm thọ từ nơi Ngã Tướng của cha mẹ. Trường hợp này đã cho chúng ta thấy rằng, tại sao người giống người, voi giống voi, cá giống cá v.v... Sự giống nhau về Ngã Tướng vừa kể trên được gọi là một phần Cộng Biến nơi Tâm Thức của cha mẹ trong sự Tự Biến nơi Tâm Thức của riêng họ.

c/- Còn vấn đề nguyên liệu đầu tiên do cha mẹ cung cấp trong bào thai chính là tinh cha huyết mẹ. Tinh cha huyết mẹ thuộc phần vật chất chỉ trợ duyên cho Kiến Phần Thức Alaya của con người trong thân Trung ấm cuối cùng xây dựng ngã tướng sớm được hoàn thành. Tinh cha huyết mẹ nơi mười hai nhân duyên gọi là Sắc Uẩn, một trong năm Uẩn. Tinh cha huyết mẹ theo nhà Duy Thức cho là Thuận Duyên, gọi cho đủ là Sở Duyên Duyên (huyết mẹ) và Tăng Thượng Duyên (Tinh cha) trong việc xây dựng con người. Sở Duyên Duyên nghĩa là cơ sở hay yếu tố thuộc loại trợ duyên để cho nguyên nhân nương tựa sanh khởi. Còn Tăng Thượng Duyên nghĩa là những nguyên liệu chỉ làm trợ duyên thuận lợi cho việc sanh trưởng của nguyên nhân.

Cũng nhờ thuận duyên, Thân Trung Ấm cuối cùng sớm được hoàn thành thân thể con ngườikiếp sau. Thế nên tinh cha huyết mẹ thực sự không phải là chánh nhân (nguyên nhân chính yếu) trong việc sanh ra con người. Vấn đề này chúng ta có thể nhận định một cách tinh tường qua sự trình bày sau đây:

I) Nguyên nhân để thành hình tướng con người cho kiếp sau như trước đã trình bày chính là Ngã TướngNgã Tướng đó được phát hiện từ nơi cuốn Films gốc Lạc Tạ Ảnh Tử với hình thức hạt giống trong Thức Thể Alaya, còn tinh cha huyết mẹ chỉ là nguyên liệu để làm trợ duyên cho Kiến Phần Thức Alaya trong việc xây dựng con người theo Ngã Tướng đã có sẵn với hình thức Thân Trung Ấm. Giản dị hơn, chúng ta có thể quán sát trường hợp xây dựng một ngôi nhà. Các vật liệu như gỗ, đá, xi măng..v..v.. không phải là nguyên nhân chính cho việc thành hình một ngôi nhà.

Nguyên nhân để thành hình một ngôi nhà thực sự là họa đồ kiểu nhà. Còn những vật liệu xây cất thì chỉ làm trợ duyên để giúp cho ông thợ sớm hoàn thành ngôi nhà theo hoạ đồ đã quy định. Ở đây, chúng ta đồng ý với nhau rằng, bức hoạ đồ nếu như không có những vật liệu xây cất thì không thể nào hoàn thành ngôi nhà. Trường hợp này cũng giống như Ngã Tướng nếu như không có nguyên liệu tinh cha huyết mẹ làm trợ duyên thì không thể thành hình con người. Nhưng dưới cặp mắt của nhà Duy Thức, tinh cha huyết mẹ chỉ là duyên phụ và không phải là nhân chính. Ngã Tướng mới thực sự là nhân chính trong việc hoàn thành hình tướng con người trong thế gian.

Rõ ràng hơn, chúng ta có thể quán sát những hình ảnh trên màn ảnh của Television. Những hình ảnh này theo thông thường là do cả hằng triệu điện tử cùng nhau liên kết để hiện lên. Nhưng chúng ta nhìn kỹ sẽ nhận thấy, hằng triệu điện tử kia nếu như không có những cái Forms nhân vật trong cuốn Film Video Tape để làm mô hình thì nhất định không biết nương tựa vào đâu để phát hiện những hình ảnh con người cũng như những hình ảnh cảnh vật trên màn ảnh. Những hình ảnh con người và những hình ảnh cảnh vật trên màn ảnh Television đều không phải là điện tử liên kết tạo thành, mặc dù không có điện tử thì những hình ảnh đó hoàn toàn không thể tự động hiện lên được trên màn ảnh. Thế nên những ngã tướng hay những pháp tướng trên màn ảnh Television mới thực sự là nhân chính để hiện thành hình tướng con ngườihình tướng cảnh vật, còn cả hằng triệu điện tử kia chỉ làm duyên phụ để giúp cho những ngã tướng con người và những pháp tướng cảnh vật được hiện lên hình tướng trên màn ảnh mà thôi.

Qua những, dữ kiện trên, chúng ta nhận thấy rằng, nguyên nhân để tạo nên con người chính là ngã tướng và những nguyên liệu như tinh cha huyết mẹ v.v... chỉ là duyên phụ trong việc kiến tạo con người theo hình thức nhân duyên. Nhưng trong quá trình nhân duyên của tương duyên tương tức (cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không), nhân chính và duyên phụ đều rất cần thiết cho việc kết hợp tạo hình. Mặc dù phân tích để tìm ra chân giá trị của sự vật, nhưng không có nghĩa là so sánh cho cái này quan trọng hơn cái kia hoặc cái kia quan trọng hơn cái này, nguyên vì cái này không thể hiện thì cái kia cũng không khả năng sanh trưởng. Do đó trong tiến trình khảo nghiệm, chúng ta không thể không nghiệm xét về nguồn gốc sanh ra vạn pháp của các nhân chính và duyên phụ qua nguyên lý mười hai Nhân Duyên. Nguồn gốc sanh ra vạn pháp của các nhân chính và duyên phụ qua nguyên lý mười hai Nhân Duyên được nhận xét như sau:

2)- Noãn Châu của người mẹ sau khi rụng khỏi buồng trứng và rơi vào trong tử cung, nếu như không gặp được duyên để đậu thai thì sẽ bị hư hoại và trở thành kinh nguyệt, nguyên vì Noãn Châu này không còn sức sống ở trong, nghĩa là nó không còn Kiến Phần Thức Alaya của người mẹ nuôi dưỡng nữa. Khác nào quả cam trên cành đã rụng xuống đất thì không còn sức sống ở trong và quả cam đó sẽ bị hư thối, nguyên vì nó không còn Kiến Phần Thức Alaya của cây cam nuôi dưỡng nữa.

Tinh trùng của người cha cũng thế, nếu như bị xuất ra khỏi Dịch Hoàn thì không còn sức sống ở trong và sẽ bị hư thối, nếu như không gặp được duyên để kết thành thai. Tinh cha sở dĩ bị hư thối là nguyên do không còn được sự nuôi dưỡng của Kiến Phần Thức Alaya nơi người cha.

Trong lúc cha mẹ giao hợp, tinh trùng của người cha rơi vào tử cung của người mẹ để kết hợp với noãn châu khi lửa ái dục lóe ra. Tinh trùng của người cha và noãn châu của người mẹ kết hợp lẫn nhau để làm môi trường cho Thân Trung Ấm cuối cùng được gọi là DANH chun vào nương tựa. Thân Trung Ấm là một loại thân bằng Thức Ấm, trong đó có SẮC ẤM, một trong năm âm thể hiện. SẮC ẤM chính là tứ đạitrạng thái thanh khí và được kết hợp vào Thức Thân liền hiện thành Thân Trung Ấm. Thân Trung Ấm là một loại thân ở trạng thái mờ ảo giống như sương khói. Thân Trung Ấm được thành hình là do Thức Ấm hiện thânThức Ấm đây lại nương tựa vào ngã tướng để hiện thành hình tướng. Cho nên trong Thân Trung Ấm, sáu Tâm Thức đã được thể hiện với danh nghĩaLỤC NHẬP để tiếp nhận những cảm giác từ bên ngoài vào, nguyên vì Thân Trung Ấm này không có Nhục Thân (Thân bằng xác thịt). Thân Trung Ấm (Danh) chun vào và tiếp xúc với Tâm Thức của cha mẹ sau khi lửa dục lóe ra nên gọi là XÚC. Thân Trung Ấm tiếp xúc với Tâm Thức của cha mẹ bằng sự luyến ái của lục nhập nên gọi là ÁI hay là ÁI DỤC. Thân Trung Ấm nếu như thuộc nam tính thì luyến ái với người mẹ, còn Thân Trung Ấm nếu như thuộc nữ tính thì lại luyến ái với người cha. Vì sự luyến ái nổi lên, Thân Trung Ấm không còn sáng suốt để phân biệt, liền bị mê vọngchấp nhận tinh cha huyết mẹ trong tử cung làm chỗ nương tựa để sanh tồn lâu dài, nên gọi là THỌ hoặc gọi cho đủ là THỌ THAI. Tinh cha huyết mẹ trong tử cung chính là Sắc Uẩn, một trong năm Uẩn. Sắc Uẩn này tức là tứ đạitrạng thái trước khí để tạo thành thân ô trược, nên được gọi là Trược Thân. Trược Thân là thân thể nhơ nhớp và tanh hôi. Sau khi chấp nhận tinh cha huyết mẹ trong tử cung làm nơi nương tựa, Kiến Phần Thức Alaya của Nhân Dị Thục y cứ

theo ngã tướng của Thân Trung Ấm cuối cùng đã có sẵn bắt đầu xây dựng chúng sanh hữu tìnhkiếp sau nên gọi là THỦ (Thủ nghĩa là xây dựng). Trước hết, Kiến Phần Thức Alaya của Thân Trung Ấm cuối cùng liền sử dụng tinh cha huyết mẹ trong tử cung xây dựng hệ thống tiếp liệu với hình thức nhao bào thai. Nhao bào thai này được Kiến Phần Thức Alaya nối liền từ nơi Huyệt Thần Khuyết (Lổ rốn) của ngã tướng nơi Thân Trung Ấm đứa bé đến các mạch máu trong tử cung của người mẹ. Kiến Phần Thức Alaya của người mẹ nhờ đó mới có thể hỗ trợ đứa con trong bụng bằng cách tiếp tế nguyên liệu liên tục qua hệ thống nhao bào thai với hình thức ăn uống và hít thở. Nhờ người mẹ tiếp tế liên tục, Kiến Phần Thức Alaya của đứa bé mới hội đủ điều kiện cho việc xây dựng bộ máy sinh lý con người theo ngã tướng của Thân Trung Ấm cuối cùng đã được đậu thai. Người mẹ tiếp tế nguyên liệu cho đứa con trong bụng qua sự ăn uống hít thở được trải dài suất thời gian chín tháng và mười ngày. Nhờ sự gián tiếp ủng hộ của người cha và nhờ sự trực tiếp cung cấp nguyên liệu của người mẹ qua nhao bàn thai, Kiến Phần Thức Alaya của đứa bé trong bụng cứ tiếp tục xây dựng để thành hình con người nên gọi là HỮU. Khi đến chín tháng và mười ngày, đứa bé trong bụng người mẹ liền được sanh ra nên gọi là SANH. Sau khi sanh ra, đứa bé không còn thâu nhận nguyên liệu trực tiếp nơi người mẹ cung cấp qua nhao bào thai và nó phải tự ăn uống với hình thức bú sữa để cung cấp nguyên liệu cho Kiến Phần Thức Alaya của chính nó tiếp tục xây dựng để hoàn thành bộ máy sinh lý con người. Kiến Phần Thức Alaya cứ liên tiếp xây dựng con người đứa bé cho đến khi nào thân thể của nó lớn lên đến tột cùng của ngã tướng. Thân thể đứa bé khi lớn lên đến tột cùng của ngã tướng liền đứng trụ lại gọi là Trụ Tướng. Sau khi hình tướng trụ lại, thân thể đứa bé bắt đầu già dần để rồi chết đi gọi là LÃO TỬ.

Điều đặc biệt, trong suốt thời gian thọ thai cho đến khi sanh ra, đứa bé nhờ một phần đóng góp trực tiếp của người mẹ và một phần đóng góp gián tiếp của người cha qua sự yểm trợ nuôi dưỡng, mới hoàn thành được một con ngườikiếp sau. Trường hợp này gọi là Một Phần Cộng Biến Trong Tự Biến.

2/- CỘNG BIẾN (CÙNG NHAU BIẾN HIỆN):

Còn trên lãnh vực Cộng Biến, vạn pháp cũng được phân làm hai hình thức, một hình thức hoàn toàn thuộc Cộng Biến và một hình thức có một phần Tự Biến trong Cộng Biến.

a)- Hoàn Toàn Cộng Biến:

Vạn pháp hoàn toàn thuộc loại cộng biến là chỉ cho những hiện tượng như, vũ trụ, trời đất, núi sông, thời gian, không gian, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, đất, nước, gió, lửa v.v... Những pháp này đều do Kiến Phần Thức Alaya của tất cả chúng sanh hữu tình cùng nhau biến hiện nên gọi là Cộng Biến. Đây là những thế giới y báo của tất cả chúng sanh hữu tình thuộc chánh báo hợp tác xây dựng để sinh hoạt. Những chúng sanh hữu tình có nhiều tánh chất cộng nghiệp và có những ảnh hưởng giống nhau là điều kiện tất yếu cho việc xây dựng thế giới y báo có tánh cách cộng biến, để họ chung nhau hưởng thụ. Trường hợp một con người khi được tiếp nối sanh ra đều chịu ảnh hưởng qua dòng sanh mạng của cha mẹ, của dòng họ, của đồng loại v.v... Những sự kiện ảnh hưởng đó chứng tỏ Kiến Phần Thức Alaya của con người mới sanh, ngoài sự tự biến ngã tướng chánh báo theo biệt nghiệp riêng họ, còn có bổn phận hợp tác với Kiến Phần Thức Alaya của cha mẹ, của dòng họ, của đồng loại v.v... trong việc cộng biến thế giới pháp tướng y báo có tánh cách cộng nghiệp để cùng nhau sinh hoạt. Thế giới pháp tướng y báo ở đây là thế giới có tánh cách cộng đồng qua hình thức phát triển và nẩy nở để lớn lên trong lãnh vực cộng biến.

Có thể xác định, chánh báo có tánh cách cá nhân của từng chúng sanh hữu tình thì thuộc về loại tự biến và chánh báo này không có tánh cách hoà hợp trong tư thế cộng biến. Riêng thế giới y báo như quả địa cầu chẳng hạn thì có tánh cách hoà hợp trong tư thế cộng biến và thế giới này không thể có trong tư thế tự biến. Giả sử một người nào khi đã chấm dứt dòng sanh mạng, nghĩa là họ đã bị chết thì lúc đó thế giới y báo riêng cá nhân họ cũng bị tan biến theo một phần hình tướng và mất đi một phần sức sống trong thế giới y báo cộng đồng có tánh cách cộng biến của tất cả chúng sanh. Nói cách khác, khi một người nào đã chết, thế giới y báo cộng đồng của tất cả chúng sanh cộng biến liền bị hao mòn sức sống và bị giảm bớt một phần hình tướng tự biến của riêng người đó. Nhưng thế giới y báo cộng đồng còn lại thì vẫn tồn tại với những chúng chánh báo đang còn hiện hữu. Nếu như tất cả chúng sanh hữu tình chánh báo đều bị hoại diệt toàn bộ thì thế giới y báo như quả địa cầu của họ nương tựa cũng bị tan rã theo. Trường hợp này gọi là tận thế. Khác nào trong một căn phòng, chúng ta thắp lên năm ngọn đèn điện, mỗi ngọn đèn điện đều có một hệ thống ánh sáng tự biến đang chiếu soi. Năm ngọn đèn điện thì có năm hệ thống ánh sáng tự biến riêng biệt nhau. Nhưng hệ thống lính sáng của năm ngọn đèn điện lại hòa hợp với nhau để cộng biến thành vũ trụ ánh sáng chung, làm sáng cả cái phòng. Lúc đó, chúng ta nếu như thắp thêm một ngọn đèn điện nữa thì nhận thấy căn phòng đây lại càng sáng tỏ hơn trong sự hòa hợp ánh sáng cộng biến của các hệ thống ngọn đền điện. Ngược lại, chúng ta nếu như tắt bớt đi một ngọn đèn điện thì nhận thấy căn phòng đó bị giảm bớt đi một phần ánh sáng lự biến trong vũ trụ ánh sáng cộng biến. Từ đó cho thấy, mỗi người, mỗi chúng sanh hữu tình đều có vũ trụ riêng do chính họ tạo nên bằng cách tự biến và họ một khi bị chết đi liền mang vũ trụ tự biến của họ cũng chết theo. Như vậy, thế giới y báo một khi tăng trưởng là lúc đó có một chúng sanh hữu tình chánh báo sanh ra và thế giới y báo một khi bị giảm thiểu là lúc đó có một chúng sanh hữu tình chánh báo bị hoại diệt.

b)- Một phần tự biến trong cộng biến:

Một phần Tự Biến trong Cộng Biến nghĩa là những hiện tượng mặc dù do Kiến Phần Thức Alaya của tất cả chúng sanh hữu tình chung nhau biến hiện, nhưng trong đó lại có một phần hiện tượng do mỗi Kiến Phần Thức Alaya của mỗi loại chúng sanh hữu tình tự biến tướng riêng theo nghiệp lực từng cá nhân để họ hưởng thụ. Nói cách khác, thế giới y báo, thí dụ như quả địa cầu của chúng ta đang nương tựa là hiện tượng được xây dựng từ nơi Kiến Phần Thức Alaya của tất cả chúng sanh hữu tình chung nhau biến hiện, nhưng trong đó vẫn có một phần hiện tượng thuộc y báo riêng do mỗi Kiến Phần Thức Alaya của họ tự biến theo chánh báo để họ sinh hoạt.

Thí dụ, hiện tượng nước sông vẫn là y báo chung tất cả loài người và loài cá chung nhau biến hiện. Nhưng trong đó, Kiến Phần Thức Alaya của loài người biến ra nước để họ xử dụng vào việc ăn uống, tắm rửa v.v... Trái lại, Kiến Phần Thức Alaya của loài cá biến ra nước để làm chỗ ở, làm môi trường sống cho chúng sinh hoạt. Loài cá cần nước để sống cũng như loài người cần không khí để thở.

Quả địa cầu là thế giới y báo của tất cả loài người và loài động vật nương tựa để sinh hoạt và sống còn trên đó. Quả địa cầu cũng có sức sống, nghĩa là nó cũng được sanh ra, nẩy nở, lớn lên và già chết giống như một con người. Quả địa cầu đã có sức sống nghĩa là nó đã có mặt Kiến Phần Thức Alaya trong đó để duy trì sanh mạng trái đất.

Quả địa cầu này nhất định sẽ bị tan rã để biến thành tro bụi nếu như khôngKiến Phần Thức Alaya hiện diện trong đó cũng như con người nhất định sẽ bị chết mất một khi Kiến Phần Thức Alaya rút lui ra khỏi thân thể của họ. Kiến Phần Thức Alaya của tất cả loài người, của tất cả loài động vật cùng nhau kết hợp nguyên liệu tứ đại trong không gian với hình thức Khí Quyển (Whirl-atmosphere) để xây dựng quả địa cầu thành hình theo Pháp Tướng của trái đất. Quả địa cầu được Kiến Phần Thức Alaya của tất cả chúng sanh chung nhau xây dựng nhằm mục đích làm chỗ nương tựa chung cho mọi loài sanh trưởng và hưởng thụ. Kiến Phần Thức Alaya sanh thêm một con người thuộc loại biệt nghiệp thì quả địa cầu lại cộng thêm một phần cộng nghiệp và tăng thêm một phần sức sống cộng biến ở trong. Nghĩa là quả địa cầu ấy có thêm Kiến Phần Thức Alaya của một con người thể hiện trong đó. Quả địa cầu nếu như có thêm một Kiến Phần Thức Alaya của người nào thể hiện ở trong thì tăng thêm sức bồi dưỡng và sanh mạng được bảo trì bền lâu. Một con người khi đã bị chết thì ngay lúc đó, Kiến Phần Thức Alaya của họ liền rút ra khỏi quả địa cầu một phần sức sống y báo. Hiện tượng quả địa cầu khi bớt đi một phần sức sống y báo của Kiến Phần Thức Alaya ở trong thì tự nó bị hao mòn một phần chất liệu dinh dưỡng. Vì thế hình tướng quả địa cầu trở nên go lại trong sự hao mòn. Một người khác nếu như được sanh ra thì quả địa cầu tăng thêm một phần sức sống trở lại để quân bình chất liệu dinh dưỡng cho trái đất. Hiện tượng này được thấy, lớp đất bao bọc chung quanh quả địa cầu đã trở thành cát bụi, điều đó chứng tỏ sức sống của trái đất do Kiến Phần Thức Alaya bảo trì đã bị giảm lần và thành thử quả địa cầu hiện nay đang ở trong tư thế già yếu. Sự già yếu của quả địa cầu, Phật Giáo gọi là Dị, một trong bốn nghĩa Sanh, Trụ, Dị và Diệt.

Thí dụ, trong một ngôi nhà, chúng ta thắp 100 ngọn đèn điện. Hệ thống ánh sáng của 100 ngọn đèn điện chung nhau hòa hợp chiếu toả sáng rực cả nhà. Nhưng xét cho kỹ trong đó, mỗi bóng đèn điện đều có hệ thống ánh sáng riêng do chính bóng đèn đó tự biến ra. Nếu như chúng ta tắt đi một ngọn đèn điện, ánh sáng trong ngôi nhà chỉ bớt đi một phần sự chiếu toả của điện, nhưng ngôi nhà không phải bị khuyết đi một phần ánh sáng hoặc ánh sáng toàn bộ bị tắt hẳn. Hiện tượng quả địa cầu cũng giống như thế.

Hiện tượng quả địa cầu như trên trình bày đã có sức sống thì nhất định phải có sự ăn uống và hít thở cũng giống như loài người. Do nhờ sức sống nuôi dưỡng cho nên núi non cây cỏ mới có thể mọc lên được từ nơi quả địa cầu. Loài người cũng thế, nghĩa là cũng nhờ sức sống nuôi dưỡng cho nên râu tóc mới mọc lên được từ nơi thân thể con người. Hơn nữa, núi non cũng có sức sống ở trong, nguyên vì đá non nằm phía bên trong chân núi vẫn còn ở trạng thái mềm dẻo để làm chất liệu dinh dưỡng cho núi non. Đá non sở dĩ chưa trở thành rắn chắc như núi là do chúng nó chưa lên khỏi mặt đất. Hiện tượng râu tóc nơi con người thì cũng không khác. Râu tóc cũng có sức sống ở trong, nguyên vì chân của râu tóc ở phía dưới lớp da vẫn còn mềm dẻo để làm chất liệu nuôi dưỡng cho râu tóc. Chân của râu tóc sở dĩ vẫn còn mềm dẻodo bởi chúng nó chưa ra khỏi lớp da. Núi non cây cỏ đã có sức sống thì nhất định phải có sự ăn uống và hít thở. Sự ăn uống và hít thở của núi non, của cây cỏ cũng giống như sự ăn uống và hít thở của quả địa cầu. Núi non, cây cỏ ăn uống và hít thở bằng cách, bên ngoài hít tinh khí tứ đại từ nơi không gian mang vào và bên trong lấy tinh khí tứ đại từ nơi dung nham trong lòng trái đất để nuôi sống. Sự ăn uống và hít thở của râu tóc thì cũng không khác. Râu tóc ăn uống và hít thở bằng cách, bên ngoài hít tinh khí tứ đại từ nơi không gian mang vào và bên trong cũng lấy tinh khí tứ đại từ nơi tế bào trong thân thể con người để nuôi sống. Điều đặc biệt sự ăn uống và hít thở của quả địa cầu thì có hơi khác đôi chút. Quả địa cầu ăn uống và hít thở bằng cách, bên ngoài hít vào tinh khí tứ đại từ nơi các loài động vật, từ nơi các loại cỏ cây hoa lá nhả ra và bên trong Kiến Phần Thức Alaya, lại lấy tinh khí tứ đại từ nơi không gian với hình thức Khí Quyển (Whirl Atmosphere) mang vào để nuôi sống, nhưng phải qua hệ thống Kiến Phần Thức Alaya của tất cả chúng sanh hữu tình. Nguyên do quả địa cầu cũng có không gian riêng của nó (Magnetic Field) và không gian đó do chính quả địa cầu toả ra qua sự bao bọc và che chở bởi Kiến Phần Thức Alaya của tất cả chúng sanh hữu tình.

Mỗi con người, mỗi chúng sanh hữu tình đều có một tiểu vũ trụ riêng biệt (Magnetic Field) do chính người đó, do chính chúng sanh hữu tình đó tự biến ra. Tiểu vũ trụ của tất cả chúng sanh hữu tình cùng nhau hoà hợp để tạo thành đại vũ trụ một thể cộng biến theo công thức nghiệp báo. Đại vũ trụ cộng biến này là nền tảng căn bản cho muôn loài sanh sống. Mặc dù tất cả chúng sanh hữu tình cùng nhau sống chung trong đại vũ trụ cộng biến, nhưng trong đó mỗi cá nhân đều có một sống riêng biệt, có một hoàn cảnh khác nhau tùy theo biệt nghiệp của mỗi loại.

Thí dụ, mặc dù sống chung trong một quốc gia chiến tranh nghèo đói, mỗi người vẫn có một hoàn cảnh sướng khổ hoặc may rủi khác nhau trong cuộc đời hoạn nạn.

Tóm lại, vạn pháp trong vũ trụ sở dĩ được tạo thành hình tướng là hoàn toàn do Duy Thức biến hiện theo mô hình ngã tướngpháp tướng của mỗi loại. Vạn pháp do Duy Thức biến hiện gồm có hai loại: một loại do ý Thức biến hiện và một loại do Thức Alaya biến hiện. Những pháp do ý Thức biến hiện thì không có sức sống ở trong, còn những pháp do Thức Alaya biến hiện thì trong đó có sức sống và có sự tăng trưởng.

Vạn pháp do Thức Alaya biến hiện thì cũng có hai loại: một loại thuộc về Tự Biến trong Cộng Biến và một loại thuộc về Cộng Biến trong Tự Biến.

Một loại thuộc về Tự Biến trong Cộng Biến nghĩa là những pháp do mỗi Tâm Thức của cá nhân tự biến ra, nhưng trong đó cũng có một phần đóng góp của các Tâm Thức liên hệ chung nhau biến hiện, còn một loại thuộc về Cộng Biến trong Tự Biến nghĩa là những pháp được thành hình đều do nhiều Tâm Thức của tất cả chúng sanh chung nhau biến hiện, nhưng trong đó cũng có một phần riêng biệt của mỗi Tâm Thức tự biến để họ tự hưởng thụ. Mặc dù Cộng Biến hay Tự Biến của các Tâm Thức, vạn pháp vẫn được xây dựng theo tình tự Cộng Nghiệp và Biệt Nghiệp của chúng sanh. Cộng Nghiệp là nguyên nhân khiến cho các Tâm Thức Alaya cộng biến những thế giới y báo có tánh cách cộng đồng để cho tất cả chúng sanh cùng nhau sinh hoạt và hưởng thụ. Biệt Nghiệpnguyên nhân khiến cho mỗi Tâm Thức Alaya tự biến từng chúng sanh chánh báo để họ tự sinh hoạt riêng. Như vậy, mỗi chúng sanh hữu tình đều có một vũ trụ riêng biệt thuộc Tự Biến nằm trong vũ trụ chung thuộc Cộng Biến. Thế nên mới có câu Ca Dao:

"Người vui thấy cảnh cũng vui, người buồn thấy cảnh cũng xuôi lòng buồn "

D.- VẤN ĐẾ LƯỢNG VÀ CẢNH:

Vấn đề Lượng và Cảnh được thành lập là căn cứ nơi vấn đề Năng Phân Biệt và Sở Phân Biệt của Tâm Thứcđịnh danh. Năng Phân Biệt của Tâm Thức nghĩa là Tâm Thức có khả năng phân biệt vạn pháp để hiểu biết. Sở Phân Biệt của Tâm Thức nghĩa là nơi chốn để cho Tâm Thức phân biệt.

LƯỢNG: là lượng tính, là tính toán và so lường. Sự phân biệt vạn pháp của Tâm Thức có tánh cách so lường, cân nhắc, tính toán để hiểu biết. Đây là chỉ cho Tâm Thức có khả năng phân biệt để hiểu biết. Lượng còn được gọi là Năng Phân Biệt. Năng Phân Biệt nghĩa là Tâm Thức có khả năng phân biệt vạn pháp.

CẢNH: là bối cảnh, là nơi chốn, là vị trí, là cơ sở để cho Tâm Thức phân biệt. Tâm Thức phân biệt bối cảnh đây để hiểu biết. Bối cảnh còn được gọi là Sở Phân Biệt. Sở Phân Biệt nghĩa là nơi chốn là vạn pháp để cho Tâm Thức phân biệt.

Nói cách khác, Lượng (năng phân biệt) ở đây tức là chỉ cho Tâm Thức thuộc về chủ thể (Subject), có khả năng phân biệt vạn phápTâm Thức phân biệt có tánh cách so lường thiệt hơn, cân nhắc lợi hại, phân tích đúng sai để chọn lựa tinh tường, sâu sắc cho sự hiểu biết. Tâm Thức nhờ phân biệt mới có thể hiểu biết rõ tánh chất, giá trịý nghĩa của mọi sự vật nên gọi là Lượng, còn Cảnh (sở phân biệt) ở đây tức là chỉ cho vạn vật trong thế gianvạn vật trong thế gian luôn luôn làm bối cảnh (Object) giao duyên để cho Tâm Thức phân biệt. Nhờ nương tựa các bối cảnh, Tâm Thức mới có thể phân biệt để hiểu biết vạn pháp. Sự phân biệt về lượng tính của Tâm Thức thì có nhiều trạng thái khác nhau. Trạng thái khác nhau về lượng tính của Tâm Thức, nhà Duy Thức phân làm ba loại, gọi là ba Lượng (Tam Lượng). Ba Lượng gồm có: Hiện Lượng, Tỷ LượngPhi Lượng.

Còn bối cảnh (sở phân biệt) nơi vạn pháp thì cũng có nhiều tánh chất khác nhau. Cho nên Tâm Thức nương tựa theo những bối cảnh đó để hiểu biết thì cũng có nhiều hình thái không giống nhau. Nơi vạn pháp, sự khác nhau về bối cảnh nhà Duy Thức cũng phân làm ba loại, gọi là ba Cảnh (Tam Cảnh). Ba Cảnh gồm có: Tánh Cảnh, Đới Chất Cảnh và Độc Ảnh Cảnh. Tánh chất khác nhau của ba Lượng và của ba Cảnh được nhận định như sau:

I.- BA LƯỢNG (TAM LƯỢNG):

Lượng nghĩa là sự hiểu biết của Tâm Thức có tánh cách cân nhắc, so lường và tính toán. Nói cách khác, Tâm Thức hiểu biết vạn pháp với tánh cách phân tích để cân nhắc, so sánh để chọn lựa qua hình thức gián tiếp hoặc hình thức trực tiếp để cho sự nhận định đạt được chân giá trị của mọi sự vật nên gọi là Lượng. Tâm Thức phân biệt vạn pháp với tánh cách lượng tính thì hiểu biết không được đồng nhất về phương diện nhận định. Sự sai khác về lượng tính của Tâm Thức gồm có ba loại, gọi là ba Lượng: Hiện Lượng, Tỷ LượngPhi Lượng.

A.- HIỆN LƯỢNG (TRỰC GIÁC):

Hiện Lượng nghĩa là hiểu biết trực tiếp những cảnh vật đối tượng đã được hiện bày đầu tiên và sự hiểu biết hiện lượng hoàn toàn không có ý niệm diễn dịchsuy luận.

Năm Tâm ThứcTâm Thức Alaya thứ tám là hai loại tâm thức luôn luôn hiểu biết bằng hiện lượng. Sự hiểu biết của năm Tâm Thức và của Tâm Thức Alaya thứ tám được phân định như sau:

1/- Năm tâm thức hiểu biết hiện lượng:

Năm Tâm Thức gồm có: Nhãn thức, Nhĩ Thức, Tỷ Thức Thiệt ThứcThân Thức. Năm Tâm Thức hiểu biết hiện lượng nghĩa là khả năng của năm Tâm Thức chỉ hiểu biết được những cảnh vật có thể chất và những cảnh vật không có thể chất đang hiện hữu trong thế gian. Trái lại năm Tâm Thức không thể hiểu biết những cảnh vật thuộc tiềm năng (Memories) với hình thức hạt giống nằm phía bên trong Thức Thể Alaya. Năm Tâm Thức hiểu biết hiện lượng có tánh cách độc lập, nghĩa là không có sự cộng tác của ý Thức thứ sáu và cũng như không có sự so đo chấp trước của Thức Mạt Na thứ bảy điều khiển. Năm Tâm Thức thường hiểu biết trực tiếp nơi cảnh vật đối tượng không có sự suy luậndiễn dịch. Trong lúc hiểu biết vạn pháp, năm Tâm Thức không có phân biệtchấp trước về danh xưng về ý nghĩa và về tướng trạng của mỗi pháp. Nói cách khác, đối với vạn pháp, năm Tâm Thức hiểu biết không có so lường thiệt hơn, không có phân biệt phải quấy, tốt xấu, không có căn nhắc đúng sai v.v... Sự hiểu biết này của năm Tâm Thức là sự hiểu biết thuộc loại Hiện Lượng.

Thí dụ, mẹ của cháu Chương bắt buộc cháu đọc truyện cổ tích cho bà nghe. Cháu không thích đọc vì có hẹn đi chơi với người bạn. Nhưng mẹ của cháu ra lệnh bắt cháu phải đọc Cháu cố đọc cho mau hết câu truyện để kịp giờ đi chơi. Trong lúc đọc truyện, Nhãn Thức của cháu vẫn thấy chữ để đọc và cháu đọc một cách tự nhiên, rõ ràng không chút sai lầm. Khi đọc xong, cháu Chương hoàn toàn không biết trong sách đó nói chi và nếu như có ai hỏi, cháu cũng không thể thuật lại cho người khác nghe những gì trong sách đó nói. Nguyên do trong lúc đọc truyện cổ tích, cháu không để ý vào để nhận định, mặc dù cháu quả quyết đọc không sai một chữ nào của câu truyện. Đây là hiện tượng Nhãn Thức của cháu Chương hiểu biết trực tiếp những hàng chữ trong câu truyện để đọc cho đúng và ngay lúc đó Ý Thức thứ sáu của cháu không có hợp tác để phân biệt tánh chất, giá trịý nghĩa của cất truyện. Cho nên cháu không thể nào tường thuật lại được câu truyện cổ tích nói trên cho người khác nghe.

Sự hiểu biết trực tiếp của năm Tâm Thức cũng được gọi là Tự Tánh Phân Biệt. Tự Tánh Phân Biệt nghĩa là trong năm Tâm Thức nói trên, mỗi Tâm Thức đều có sẵn bản tánh phân biệt riêng và nhờ bản tánh phân biệt riêng đó mỗi Tâm Thức mới có thể hiểu biết sự vật một cách tự nhiên, vô tưhiểu biết không có vấn đề so sánh hay cân nhắc giống như sự hiểu biết của Ý Thức thứ sáu. Có thể nói, năm Tâm Thức này hiểu biết vạn pháp không phải thuộc loại Tùy Niệm Phân Biệt và cũng không phải thuộc loại Kế Đạt Phân Biệt. Tùy Niệm Phân Biệt nghĩa là sự hiểu biết vạn pháp luôn luôn đặt trên quan niệm thương ghét, khen chê và chấp trước về vấn đề tốt xấu, phải quấy, thiệt hơn, lợi hại của sự việc. Tùy Niệm Phân Biệt là chỉ cho sự hiểu biết của Thức Mạt Na thứ bảy. Năm Tâm Thức hiểu biết vạn pháp thì không nằm trong lãnh vực Tùy Niệm Phân Biệt của Thức Mạt Na thứ bảy chấp trước, còn Kế Đạt Phân Biệt nghĩa là sự hiểu biết vạn pháp mang tánh chất phân biệt phải quấy, tính toán thiệt hơn, cân nhắc lợi hại để nhận thức. Đây là sự hiểu biết của ý Thức thứ sáu. Năm Tâm Thức hiểu biết vạn pháp không nằm trong lãnh vực Kế Đạt Phân Biệt của Ý Thức thứ sáu nhận thức. Sự hiểu biết của năm Tâm Thức đối với vạn pháp chính là sự cảm giác trực

tiếp bằng Hiện Lượng.

2/ Thức Alaya hiểu biết hiện lượng:

Hiện tượng vạn pháp trong thế gian đều là tướng phần của Kiến Phần Thức Alaya xây dựng, mặc dù hiện tượng đó đang đứng địa vị đối tượng cần thiết cho sáu Tâm Thức hiểu biết. Tướng phần của hiện tượng vạn pháp đã được phát sanh từ nơi thế giới hạt giống trong Thức Thể Alaya, nhưng bản chất của thế giới hạt giống thì thuộc loại nghiệp lựcnghiệp tướng kết thành. Cho nên hiện tượng vạn pháp trong thế gian cũng được thể hiện tướng phần của nghiệp tướng mang tánh chất nghiệp báo của nghiệp lực, nguyên vì vạn pháp nói trên tất cả đều là thành quả của thế giới hạt giống do Kiến Phần Thức Alaya xây dựng. Điều đáng chú ý, thế giới hạt giống nghiệp lựcnghiệp tướng trong Thức Thể Alaya chỉ làm kiểu mẫu căn bản để cho Kiến Phần Thức Alaya xây dựng vạn pháp. Trong giai đoạn xây dựng vạn pháp, Kiến Phần Thức Alaya tự mình trực iếp lấy kiểu mẫu nơi thế giới hạt giống không qua trung gian của các Tâm Thức khác, nghĩa là Kiến Phần Thức Alaya không nhờ đến các Tâm Thức khác tiếp tay hổ trợ. Như vây, hiện tượng vạn pháp trong thế gian chính là Hiện Lượng của Kiến Phần Thức Alaya xây dựngbảo trì. Hơn nữa, Kiến Phần Thức Alaya hoàn toàn vô tư trong việc chọn lựa những hạt giống thiện ác để xây dựng. Kiến Phần Thức Alaya y cứ nơi luật nhân quả thiện ác để xây dựng vạn pháp một cách công bằngvô tư. Kiến Phần Thức Alaya xây dựng vạn pháp không có thái độ phân biệt, khen chê hoặc chọn lựa những hạt giống tốt xấu theo sở thích của mình. Chẳng những thế, sự hiểu biết của Kiến Phần Thức Alaya rất chính xác, không sai lầm những hạt giống thiện ác để xây dựng đúng theo nghiệp lực quy định. Vì lý do đó, nhà Duy Thức cho sự hiểu biết của Kiến Phần Thức Alaya có tánh cách vô ký, nghĩa là sự hiểu biết này không phải thiện và cũng không phải ác. Nói cách khác, Kiến Phần Thức Alaya luôn luôn chọn đúng những hạt giống thiện ác hội đủ điều kiện để xây dựng và không loại bỏ bất cứ hạt giống nào. Đây là sự hiểu biết trực tiếp của Kiến Phần Thức Alaya nơi thế giới hạt giống trong Thức Thể Alaya. Nhà Duy Thức cho sự hiểu biết của Kiến Phần Thức Alaya là thuộc về Hiện Lượng.

B.- TỶ LƯỢNG (SO SÁNH PHÂN BIỆT):

Tỷ Lượng nghĩa là xét đoán, tính toán theo sự so sánh đúng sai, cân nhắc lợi hại, phân biệt phải quấy, chọn lựa hơn kém V.v... của Tâm Thức để hiểu biết, nên gọi là Tỷ Lượng. Đây là sự hiểu biết của Ý Thức thứ sáu. Ý Thức thứ sáu hiểu biết vạn pháp qua ảnh tử do năm Tâm Thức cung cấp. Không giống như sự hiểu biết của năm Tâm Thức ở trước Ý Thức thứ sáu hiểu biết vạn pháp qua sự suy luậndiễn dịch, nghĩa là Ý Thức thứ sáu luôn luôn phân biệt danh xưng, ý nghĩa và tướng trạng từng sự vật một để nhận thức tánh chất cũng như giá trị của mỗi loại.

Thí dụ, chúng ta nhìn thấy đám khói ở xa bay lên từng cuộn, liền khởi lên Ý Thức so sánh cho đám khói đó thuộc loại gì và hiểu biết ngay là khói của lửa cháy. Người học Duy Thức nhờ Ý Thức so sánh những lời thí dụ, liền hiểu biết được nghĩa lý một cách rõ ràng. Ông quan toà cũng nhờ Ý Thức so sánh những nhân chứng và những dữ kiện, liền hiểu biết được người bị càng có tội hay là không có tội.

Vì mang tánh chất suy luậndiễn dịch, Ý Thức thứ sáu luôn luôn sinh hoạt trên hai lãnh vực Tỷ Lượng để hiểu biết vạn pháp. Hai lãnh vực Tỷ Lượng của Ý Thức thứ sáu hiểu biết gồm có, Chân Tỷ Lượng và Tợ Tỷ Lượng.

1/- Chân tỷ lượng:

Ý Thức thứ sáu hiểu biết chính xác về tánh chất, giá trịý nghĩa của vạn pháp hiện có mặt trong thế gian bằng sự suy luậndiễn dịch, nghĩa là Ý Thức thứ sáu phân biệt danh .xưng, nghĩa lý và tướng trạng của mỗi pháp để hiểu biết. Sự hiểu biết này của Ý Thức thứ sáu được gọi là Chân Tỷ Lượng, mặc dù những hiện tượng đó đều thuộc về ảnh tử do năm Tâm Thức cung cấp. Những hiện tượng ảnh tử nói trên đều phát sanh từ nơi những sự vật có thực chất trong thế gian, nên gọi là Chân và Ý Thức thứ sáu hiểu biết đúng những hiện tượng ảnh tử đó bằng sự suy luậndiễn dịch nên gọi là Tỷ Lượng. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu lựa theo những hiện tượng ảnh tử do năm Tâm Thức cung cấp để hiểu biết vạn pháp trong thế gian qua hình thức suy luậndiễn dịch, nên gọi là Chân Tỷ Lượng.

Thí dụ, con người khi muốn muốn hiểu một vấn đề nào thường hay lấy những kinh nghiệm của nhà tư tưởng này đem so sánh những kinh nghiệm của nhà tư tưởng kia, nhằm mục đích làm sáng tỏ những gì mà mình muốn hiểu biết. Trường hợp khác, con người khi muốn trình bày một vấn đềthường hay mượn những thí dụ này hoặc những thí dụ khác để làm sáng tỏ lập trường mà mình muốn nói lên cho người khác hiểu biết sự thật.

2/- Tợ tỷ lượng:

Ý Thức thứ sáu nhớ lại (hồi tưởng) và so sánh những quá trình kinh nghiệm sống của mình để hiểu biết tánh chất, ý nghĩagiá trị từng loại một trong cuộc đời. Những quá trình kinh nghiệm sống nói trên đã được đúc kết thành những hạt giống và cũng đã được tàng trữ trong Thức Thể Alaya. Khi muốn nhớ lại, Ý Thức thứ sáu phải nhờ đến Thức Mạt Na thứ bảy mang hình ảnh của những hạt giống này từ trong Thức Thể Alaya đưa lên trình diện cho ÝThức thứ sáu so sánh. Sự so sánh của ÝThức thứ sáu để hiểu biết được gọi là Tợ Tỷ Lượng. Nguyên vì những quá trình kinh nghiệm sống mà Ý Thức thứ sáu hiểu biết đều là hình ảnh tương tợ của những hạt giống trong Thức Thể Alaya. Những hình ảnh tương tợ này hoàn toàn không thực chất và cũng không giống những sự vật hiện có mặt trong thế gian. Ý Thức thứ sáu nhớ lại những hình ảnh năm xưa của quá trình kinh nghiệm sống nhằm mục đích rút ưu khuyết điểm cho việc xây dựng cuộc sống sớm đạt được nhiều thuận lợi hơn, mặc dù những hình ảnh đó thực sự là Tợ Tỷ Lượng.

Thí dụ, khi bước chân vào đời, anh A liền áp dụng số vốn đã học được ở nhà trường suất thời gian mười năm đèn sách. Khi còn là sinh viên, anh A chỉ học mớ lý thuyết trong cuộc sống của các bậc tiền nhân đã trải qua nhiều giai đoạn kinh nghiệm. Mớ lý thuyết này đều là những hình ảnh có tánh cách tương tợ của các sự việc trong quá trình kinh nghiệm sống. Chúng hoàn toàn không thực tế và đã được tàng trữ trong Thức Thể Alaya. Giờ đây anh A mang chúng nó ra sử dụng để so sánh với cuộc đời. Nhờ đó anh rút tỉa được nhiều kinh nghiệm mới hơn. Những mớ lý thuyết này cũng gọi là Tợ Tỷ Lượng của Ý Thức thứ sáu và anh A lấy chúng nó từ trong hạt giống nơi Thức Thể Alaya mang ra so sánh.

C.- PHI LƯỢNG (SO SÁNH SAI LẦM):

Phi Lượng nghĩa là sự xét đoán của Tỷ Lượng đã nêu ở trên hoàn toàn sai lầmxét đoán không đúng với sự thật, nên gọi là Phi Lượng. Đây là sự hiểu biết của Thức Mạt Na thứ bảy. Thức Mạt Na thứ bảy thì thường hiểu biết sự vật bằng cách tưởng tượng, hiểu biết mang tánh chất so đo chấp trước. Nói rõ hơn, Thức Mạt Na thứ bảy phải nhờ những dữ kiện của ý Thức thứ sáu cung cấp mới có thể xét đoán và so lường sự vật trên quan niệm thương ghét, khen chê. Sự xét đoán so lường của Thức Mạt Na thứ bảy thường hay sai lầm, chấp trước những điều không đúng chân giá trị của hiện tượng thực tại nên gọi là Phi Lượng. Thức Mạt Na thứ bảy luôn luôn khống chế và điều khiển Ý Thức thứ sáu nhận xét mọi việc thường hay bóp méo sự thật. Thế nên sự hiểu biết vạn pháp của Thức Mạt Na thứ bảy không được vô tư trong sự nhận thức nên gọi là Phi Lượng.

Thí dụ, những người ở Việt Nam chưa từng đến nước Hoa Kỳ lần nào. Họ chỉ dựa theo các dữ kiện, nào phim ảnh nào tin tức và các thư từ của thân nhân tại hải ngoại gởi về v.v... rồi xét đoán theo quan niệm của mình, tưởng tượng sai lầm cho rằng, những người sống trong nước Hoa Kỳ vô cùng sung sướng. Một vấn đề khác, con người mỗi khi thương ai thì thương cả đường đi nước bước và mỗi khi ghét ai thì ghét cả tông chi họ hàng. Đây là hiện tượng so lường của Thức Mạt Na thứ bảy qua Ý Thức thứ sáu phân biệt.

D.- THÁNH NGÔN LƯỢNG:

Ngoài ba Lượng vừa nêu ở trên, chúng ta còn có một loại lượng tính nữa là Thánh Ngôn Lượng. Thánh Ngôn Lượng nghĩa là chỉ cho những lời dạy của các đức Phật. Những lời của các đức Phật dạy đều là những lượng xét về chân lý và những lượng xét này có công năng giúp cho chúng sanh tin tưởng để tu hành, nên gọi là Thánh Ngôn Lượng. Thánh Ngôn Lượng của các đức Phật chỉ dạy có tánh cách phương tiện trong việc tu tập để đạt đạo cho chúng sanh. Thánh Ngôn Lượng đối với bản thể Chân Như mới là ngón tay chỉ mặt trăng, là chiếc thuyền qua bể khổ và nó thực sự không phải nguyên lý cứu cánh. Thánh Ngôn Lượng chỉ trợ duyên cho chúng sanh nương tựa để được giác ngộgiải thoát, nên gọi là Thánh Ngôn Lượng.

Tóm lại, năm Tâm Thức hiểu biết vạn pháp bằng lối trực giác, nghĩa là hiểu biết trực tiếp vấn đề, hiểu biết sự việc không qua sự so sánh, sự phân biệt lớn nhỏ, dài ngắn, vuông tròn và cũng không phân biệt rằng, cái này hay cái kia dỡ v.v... Hơn nữa năm Tâm Thức chỉ duyên thẳng nơi cảnh vật đối tượng hiện có mặt trong thế gian để hiểu biết, nên gọi là Hiện Lượng.

Ý Thức thứ sáu thì luôn luôn hiểu biết vạn pháp qua sự diễn dịchsuy luận. Nhờ bản chất diễn dịchsuy luận của Ý Thức thứ sáu, tánh chất, giá trịý nghĩa của mỗi sự vật mới được hiện bày cụ thể ra ngoài. Vì có tánh cách phân biệtso sánh các sự việc, cho nên sự hiểu biết vạn pháp của Ý Thức thứ sáu được gọi là Tỷ Lượng.

Bản tánh của Thức Mạt Na thứ bảy thì so đo và chấp trước Thức Mạt Na Thứ bảy có nhiệm vụ quản lý tất cả hạt giống của vạn pháp, nhưng Thức Mạt Na thứ bảy khi hiểu biết vạn pháp thì thường đặt trên quan niệm tính toán thiệt hơn, thường ý niệm méo mó sự việc và thường nhận định lệch lạc vấn đề. Cho nên sự hiểu biết vạn pháp của Thức Mạt Na thứ bảy được gọi là Phi Lượng.

Các chúng sanh hữu tình, vì mãi sống trong Tỷ LượngPhi Lượng cho nên cứ chuốc lấy đau khổ triền miên và cứ lầm lỡ gây tạo lắm điều tội ác để rồi phải bị thảm cảnh luân hồi muôn kiếp trong sáu nẻo. Ngược lại, các bậc Thánh Nhân luôn luôn an trú trong Hiện Lượng và nhờ đó cuộc sống của họ được tự tại, an lạcgiải thoát mọi đau khổ trầm luân.

II.- BA CẢNH (TAM CẢNH):

Cảnh, gọi cho đủ là cảnh giới, thuộc đối diện của giác quan (căn) và cũng thuộc đối tượng của Tâm Thức. Tâm Thức thường duyên nơi những cảnh giới nói trên để hiểu biết vạn pháp. Tâm Thức nếu như không có những cảnh giới làm đối tượng thì không biết nương vào đâu để sinh hoạt. Vì thế nhà Duy Thức gọi những cảnh giới nói trên là Cảnh Sở Duyên, còn Kiến Phần là phần sinh hoạt của Tâm Thức. Kiến Phần chỉ có khả năng duyên đến phần hình tướng của cảnh giới để hiểu biết vạn pháp. Thế nên nhà Duy Thức đặt cho Kiến Phần một danh nghĩaKiến Phần Năng Duyên của Tâm Thức. Riêng phần hình tướng của cảnh giới được gọi là Tướng Phần Sở Duyên. Kiến Phần Năng Duyên của Tâm Thức có nhiều loại khác nhau thì Tướng Phần Sở Duyên của cảnh giới cũng có nhiều thứ không giống nhau. Sự khác nhau về Tướng Phần Sở Duyên của cảnh giới tổng quát được phân làm ba loại, gọi là ba Cảnh (Tam Cảnh). Ba Cảnh gồm có:

A/- TÁNH CẢNH :

Tánh là thể tánh hay tánh chất chân thật của sự vật. Cảnh là cảnh giới, là phần hình tướng của sự vật. Tánh Cảnh nghĩa là cảnh giới có tánh chất chân thật do Duy Thức biến hiện và trong những cảnh giới đó có sự góp mặt của Duy Thức, nên gọi là Tánh Cảnh. Vị trí của Tánh Cảnh thì thuộc về Tướng Phần Sở Duyên (phần hình tướng để duyên) của Tâm Thứchình tướng của Tánh Cảnh do Kiến Phần Thức Alaya xây dựng. Tánh Cảnh gồm có hai loại: Vô Chất Tánh Cảnh và Hữu Chất Tánh Cảnh.

1/- Vô chất tánh cảnh:

Vô Chất Tánh Cảnh nghĩa là những cảnh giới không có tánh chất chân thật. Những cảnh giới đây chỉ toàn là ảnh tử và tập khí của tất cả pháp ở trạng thái hạt giống trong Thức Thể Alaya. Chúng nó hoàn toàn không có tánh chất chân thật nên gọi là Vô Chất Tánh Cảnh. Những hạt giống cảnh giới không tánh chất chân thật (Vô Chất Tánh Cảnh) trong Thức Thể Alaya thảy đều bình đẳngvắng lặng, thường gọi là Nhứt Thiết Chủng Tử. Nhứt Thiết Chủng Tử nghĩa là tất cả hạt giống cảnh giới không có tánh chất chân thật đều được tàng trữ trong Thức Thể Alaya. Trong tất cả hạt giống nói trên, có hai loại tập khí, một loại thuộc Danh Xưng (thuộc tên gọi) và một loại thuộc Ngã Pháp (thuộc Ngã TướngPháp Tướng). Hai loại tập khí này được gọi chung là Nhị Thủ Tập Khí (hai loại Tập Khí). Nhị Thủ Tập Khí cũng đã được nội kết thành hạt giống nằm trong Thức Thể Alaya. Khi gặp đủ duyên, tất cả hạt giống cảnh gởi không có tánh chất chân thật liền bị chuyển biến để trở thành Nhân Dị Thục. Nhân Dị Thụchạt giống đã có tánh chất chân thật, đã có mầm sống làm nhân ở trong. Nhân Dị Thục thuộc về nhân tố sanh khởi để thành hình những cảnh giới thuộc Quả Dị Thục trong thế gian. Những cảnh giới thuộc Quả Dị Thục chính là tên khác của những cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) vừa trình bày trên.

Tất cả hạt giống (Nhứt Thiết Chủng Tử) khi chưa tác dụng thì vẫn tồn tại trong Thức Thể Alaya với trạng thái tiềm năng không có hình tướng. Trạng thái tiềm năng của hạt giống thường gọi là trạng thái Như Như. Nguyên vì chưa tác dụng để hiện khởi, tất cả hạt giốngtrạng thái như như trong Thức Thể Alaya thì đều hoàn toàn bình đẳng, không có tướng sai biệt. Chúng nó vẫn nằm yên một chỗ tĩnh lặng (tịch tĩnh) trong Thức Thể Alaya. Nói cách khác, tất cả hạt giống nằm yên trong Thức Thể Alaya với hình thức tiềm năng đều thuộc về Vô Chất Tánh Cảnh (cảnh gởi không có tánh chất chân thật) ở trạng thái như như, bình đẳngtịch tĩnh. Mặc dù không có tánh chất chân thật, tất cả hạt giống cảnh giới nói trên cũng vẫn đứng địa vị nguồn gốc không thể thiếu mặt trong việc phát sanh ra cảnh giới có tánh chất chân thật về sau trong thế gian. Có thể nói, tất cả hạt giống cảnh giới với hình thức tiềm năng trong Thức Thể Alaya đều được gọi là Vô Chất Tánh Cảnh.

2/- Hữu chất tánh cảnh:

Hữu Chất Tánh Cảnh là những cảnh giới có tánh chất chân thật, nghĩa là có sức sống ở trong do Kiến Phần Thức Alaya nương theo các duyên xây dựng nên. Nhưng trong thế giới Hữu Chất Tánh Cảnh, pháp nào cũng đều an trụ nơi tướng riêng (tự tướng) của pháp ấy và chúng hoàn toàn không có sự phân biệtchấp trước. Những pháp có tánh chất chân thật gồm có: sắc, thinh, hương, vị và xúc, gọi chung là Hữu Chất Tánh Cảnh. Nói rõ hơn, vạn pháp có sức sống trong thế gian đều thuộc về Hữu Chất Tánh Cảnh và chúng nó luôn luôn đứng địa vị đối tượng cần thiết để cho sáu Tâm Thức nương tựa và sinh hoạt. Sáu Tâm Thức nhờ nương nơi vạn pháp Hữu Chất Tánh Cảnh nói trên mới có hiểu biết.

B/-ĐỚI CHẤT CẢNH:

Đới là nương theo.

Chất là có thể chất chân thật.

Đới Chất Cảnh nghĩa là những hiện tượng được xây dựng từ nơi cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) trong thế gian. Nói cách khác, những hiện tượng do Tâm Thức mê vọng nương theo hình tướng của cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) trong thế gian xây dựng nên, gọi là Đới Chất Cảnh. Hình tướng của những hiện tượng đới chất cảnh đều thuộc về loại ảo ảnh (Illusions) và chúng nó chỉ giống tương tợ hình tướng của những cảnh giới có tánh chất chân thật nói trên. Hiện tượng đới chất cảnh gồm có hai loại: Chân Đới Chất Cảnh và Tợ Đới Chất Cảnh.

1/- Chân Đới Chất cảnh:

Chân Đới Chất Cảnh nghĩa là những hiện tượng do Tâm Thức nương theo các cảnh giới hiện có mặt trong thế gian xây dựng thành hình tướng. Những hiện tượng này so với các cảnh giới hiện có mặt trong thế gian rất giống nhau hình tướng, nên gọi là Chân Đới Chất Cảnh.

Sự xây dựng những hiện tượng Chân Đới Chất Cảnh của Tâm Thức được phân thành ba lãnh vực sau đây:

1)- Kiến Phần của năm Tâm Thức nương nơi các cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) hiện có mặt trong thế gian, trước hết biến ra tướng phần (Images) và sau đó duyên trở lại tướng phần trên để hiểu biết vạn pháp. Tướng Phần là phần hình tướng của các cảnh giới có tánh chất chân thật do Kiến Phần của năm Tâm Thức hiện ra. Tướng phần vừa trình bày thì rất giống hình tướng của các cảnh giới có tánh chất chân thật. Tướng phần này được gọi là Chân Đới Chất Cảnh.

2)- Kiến Phần Ý Thức thứ sáu nương nơi các cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) hiện có mặt trong thế gian xây dựng thành những sự vật thuộc Chân Đới Chất Cảnh. Những sự vật chân đới chất cảnh do Ý Thức thứ sáu xây dựng thì hoàn toàn không có sinh động, không có sức sống ở trong và chúng được gọi là Vô Thể Chất Pháp (những pháp không có tánh chất chân thật). Những sự vật chân đới chất cảnh vừa trình bày còn có tên là Biến Kế Sở Chấp Pháp. Biến Kế Sở Chấp Pháp là những pháp do sự chấp trước của Ý Thức tính toán biến hiện nên. Bất cứ sự vật nào nếu do Kiến Phần Ý Thức thứ sáu căn cứ theo những cảnh giới có tánh chất chân thật trong thế gian tạo nên đều thuộc về Chân Đới Chất Cảnh.

Thí dụ, hoa hồng thiệt thì có sức sống ở trong và nó thuộc về loại cảnh giới có tánh chất chân thật, còn hoa hồng giả bằng chất Ni Lông (bằng chất hoá học) thì không có sức sống ở trong và nó đều do Ý Thức thứ sáu mượn các duyên của hoa hồng thiệt tạo nên, được gọi là Chân Đới Chất Cảnh.

3)- Kiến Phần Thức Alaya thứ tám nương nơi hạt giống của nhũng cảnh giới không có tánh chất chân thật (vô chất tánh cảnh) trong Thức Thể Alaya để xây dựng thành những cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) trong thế gian. Những cảnh giới có tánh chất chân thật trong thế gian do Kiến Phần Thức Alaya thứ tám xây dựng nhằm mục đích làm đối tượng cho sáu Tâm Thức sinh hoạt để có hiểu biết. Cũng vì Kiến Phần Thức Alaya thứ tám xây dựng cho nên tất cả cảnh giới có tánh chất chân thật trong thế gian đều là Chân Đới Chất Cảnh của những hạt giống cảnh giới trong Thức Thể Alaya biến hiện.

2/- Tợ đới chất cảnh:

Tợ Đới Chất Cảnh nghĩa là những cảnh giới do nghiệp duyên mê lầm của chúng sanh hữu tình tạo nên. Tợ Đới Chất Cảnh này mới xem thì giống như những cảnh giới có tánh chất chân thật trong thế gian. Nhưng nhìn cho kỹ, chúng nó hoàn toàn không giống như những cảnh giới có tánh chất chân thật nói trên. Tợ Đới Chất Cảnh thể hiện có hai trường hợp:

l)- Kiến Phần Thức thứ sáu liên hệ và nương tựa nơi Tướng Phần riêng của năm Tâm Thức để tạo thành Tướng Phần chung (tổng tướng) cho sự hiểu biết. Tướng Phần riêng của năm Tâm Thức là năm ảnh tử thuộc Sắc, Thinh, Hương, Vị và Xúc và năm ảnh tử này được phát sanh từ nơi năm trần cảnh của một sự vật có thể chất trong thế gian. Do đó Tướng Phần chung được gọi là Pháp TrầnPháp Trần này thì thuộc về đối tượng của Ý Thức thứ sáu hiểu biết. Ý Thức thứ sáu nương nơi Pháp Trần đó để hiểu biết tánh chất giá trịý nghĩa của một pháp trong vạn pháp, nhưng Pháp Trần này lại cũng là hình bóng của năm ảnh tử nơi Sắc, Thinh, Hương, Vị và Xúc. Từ đó cho thấy pháp Trần hay Tướng Phần chung đều thuộc về Tợ Đới Chất Cảnh của năm trần cảnh nơi một sự vật có thể chất trong thế gian. Kiến Phần Ý Thức thứ sáu nương nơi Tợ Đới Chất Cảnh nói trên để hiểu biết vạn pháp.

2)- Ý Thức thứ sáu và năm Tâm Thức lại nương tựa nơi những pháp thuộc biến kế sở chấp (những pháp do sự chấp trước của Ý Thức thứ sáu tính toán biến hiện) không thể chất hiện có mặt trong thế gian cùng nhau sáng tạo vô số những pháp tương tợ theo nhu cầu hưởng thụ của loài người. Những pháp biến kế sở chấp đã không thực thể thì những pháp tương tợ lại càng xa thực thể hơn. Những pháp tương tợ được phát minh nhằm mục đích cung ứng nhu cầu cho đời sống loài người. Những pháp tương tợ này cũng được gọi là Tợ Đới Chất Cảnh.

Thí dụ, Tây Du Ký là một sử liệu có thật trong đời nhà Đường. Tây Du Ký là pháp thuộc loại không có thể chất hiện có mặt trong thế gian nhằm mục đích ghi lại công trình du học của ngài Huyền Trang tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VII Tây lịch. Các nhà viết truyện của Trung Hoa dựa theo sử liệu Tây Du Ký này viết thành cốt truyện hoang đường gọi là Truyện Tây Du. Truyện Tây Du trong đó có đề cập đến những nhân vật như Tề Thiên, Bát Giái, Sa Tăng v.v... bằng sự tưởng tượng phóng đại không thực gọi là Truyện Giả Sử. Truyện Tây Du thì thuộc về loại Tợ Đới Chất Cảnh và được phát xuất từ nơi Tây Du Ký. Nguyên do nội dung của Truyện Tây Du thì tương tợ như Tây Du Ký và được sáng tác từ noi Tây Du Ký. Cho nên truyện Tây Du được gọi là Tợ Đới Chất Cảnh của Tây Du Ký.

C/- ĐỘC ẢNH CẢNH:

Độc ảnh Cảnh nghĩa là những cảnh tượng chỉ có trong tư tưởng của con người và trên thực tế chúng nó không bao giờ có mặt trong thế gian. Những cảnh tượng này gọi là Độc Ảnh Cảnh. Độc Ảnh Cảnh chính là những hình ảnh tưởng tượng của Ý Thức thứ sáu. Ý Thức thứ sáu vọng tưởng điên đảo tạo nên độc ảnh cảnh. Những hình ảnh đây thì hoàn toàn thuộc Phi Lượng. Chúng nó không có bản chất chân thật nơi chân lý và chỉ có mặt đối với Ý Thức thứ sáu qua sự tưởng tượng mà thôi. Cho nên những hình ảnh tưởng tượng không có bản chất này được gọi là Vô Chất Độc Ảnh Cảnh.

Thí dụ, những cảnh tượng như, thế giới Thiên Đường, thế giới Địa Ngục, Thổ Địa, Táo Quân, câu chuyện Thằng Cuội và Chị Hằng v.v... Những cảnh tượng này chỉ có trong sự tưởng tượng vùa Ý Thức thứ sáu, nên gọi là Độc Ảnh Cảnh.

Tóm lại, năm Tâm Thức nương tựa nơi những cảnh giới có tánh chất chân thật (hữu chất tánh cảnh) trong thế gian do Thức Alaya thứ tám sáng tạo để hiểu biết. Ý Thức thứ sáu nương nơi những cảnh giới đới chất (đới chất cảnh của năm Tâm Thức biến hiện và nương nơi những cảnh giới đới chất của Thức Mạt Na thứ bảy cung cấp để hiểu biết. Thức Mạt Na thứ bảy nương nơi những cảnh giới đới chất của Kiến Phần Thức Alaya thứ tám xây dựng và nương nơi những cảnh giới đới chất của Ý Thức thứ sáu phân biệt để hiểu biết, còn Kiến Phần Thức Alaya thứ tám thì lại nương nơi những cảnh giới không có tánh chất chân thật (vô chất tánh cảnh) của tiềm năng được tàng trữ trong Thức Thể Alaya hiểu biết.

 

 

E.- BA LOẠI KHÔNG CÓ THẬT TÁNH: (Tam Vô Tánh)

Như trước đã trình bày, nhà Duy Thức dựa theo ba nguyên tắc chính gọi là Tam Tánh (ba tánh chất) để phân vạn pháp thành ba nhóm khác nhau. Sự phân loại vạn pháp theo ba nguyên tắc nói trên của nhà Duy Thức nhằm mục đích giúp cho những người tu theo Duy Thức Quán nhận thức đễ dàng về tánh chất chân thật của hiện tượng trong thế gian qua nguyên lý Duy Thức. Nhưng sợ kẻ phàm phu và hàng nhị thừa lầm tưởng và chấp trước cho ba tánh chất của vạn pháp là nguyên lý chân thậttồn tại ngoài thế giới Tâm Thức, nhà Duy Thức liền thành lập ba nguyên lý khác gọi là Tam Vô Tánh (ba loại không có thật tánh) để minh định lại giá trị ba tánh chất của vạn pháp ở trên, ngỏ hầu giúp cho người khảo sát khỏi bị lầm lạc. Thế nào là ba loại không có thật tánh (Tam Vô Tánh)?

1/ HÌNH TƯỚNG KHÔNG CÓ THẬT TÁNH: (Tướng Vô Tánh)

Tướng Vô Tánh nghĩa là hình tướng của vạn pháp hoàn toàn không có thể tánh chân thật. Hình tướng ở đây tức là chỉ cho Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp. Vạn pháp trong vũ trụ, mỗi sự vật đêu có một hình tướng riêng biệt và một ý nghĩa riêng biệt. Một hình tướng riêng biệt của từng cá nhân gọi là Tự Tướng và một ý nghĩa riêng biệt của từng chủng loại gọi là Cộng Tướng. Tự Tướng nghĩa là hình tướng riêng của một sự vật, của một chúng sanh, còn Cộng Tướng nghĩa là hình tướng giống nhau của riêng từng chủng loại, của riêng từng thế giới. Tướng riêng (tự tướng) hay tướng chung (cộng tướng) đều có hai loại: một loại thuộc về chánh báo và một loại thuộc về y báo. Những hình tướng thuộc về chánh báo gọi là Ngã Tướng và những hình tướng thuộc về y báo gọi là Pháp Tướng. Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp nói chung đều không có thật tánh, chỉ do Tâm Thức của chúng sanh mê vọngchấp trước sáng tạo. Những chúng sanh mê lầm, thường vọng chấp Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp cho là thế giới chân thật rồi lại khởi tâm tham ái, đắm nhiễm và gây tạo biết bao nghiệp báo tội ác. Thật ra những Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp đều do nghiệp tướng biến hiện. Ngã TướngPháp Tướng đây đích thực hoàn toàn không phải hình tướng chân thật và cũng không bao giờ có mặt trong thế giới Chân Như của chư Phật. Nói cách khác, đứng về phương diện thể tánh để nhận xét, vạn pháp chỉ có hình tướng giả tạo (giả tướng) của Ngã Pháp (Ngã TướngPháp Tướng) do Ý Thức thứ sáu vọng chấp (biến kế sở chấp) sanh ra trong thế gian. Những hình tướng giả tạo này thì không bao giờ có thể tánh chân thật của thế giới Chân Như nên gọi là Tướng Vô Tánh.

2/- NHÂN DUYÊN SANH KHÔNG CÓ THẬT TÁNH: (Sanh Vô Tánh)

Sanh Vô Tánh nghĩa là vạn pháp đều do nhân duyên ra và chúng nó hoàn toàn không có thể tánh chân thật. Vạn pháp không có tánh tự nhiên sanh ra như thế gian thường chấp trướcchúng nó chỉ do nhiều yếu tố kết hợp tạo thành nên gọi là Nhân Duyên Sanh. Thế gian lầm nhận cho rằng, vạn pháp có một Biệt Tánh Tự Nhiên sanh ra. Biệt Tánh Tự Nhiên nghĩa là thể tánh riêng biệt của vạn pháp đã có sẵn trong trời đất (Tự Nhiên) và Biệt Tánh tự nhiên sanh ra mà thôi. Như Đạo Lão nói: "Muôn vật do lý tánh Vô Cực Tự Nhiên sanh ra Đạo". Nho Giáo nói: "Vạn pháp do Lý Tánh Thái Cực Tự Nhiên sanh ra". Các Luận Sư Ấn Độ nói: "Vạn pháp do Thật Tánh Thần Ngã Phạm Thiên sanh ra".

Theo nhà Duy Thức, vạn pháp đều do Nhân Duyên sanh. Những nhân Duyên sanh ra vạn pháp gồm bảy yếu tố, gọi là bảy nguyên nhân. Bảy nguyên nhân gồm có: Bốn Đại (Đất, Nước, Gió, Lửa), Nghiệp Lực, Ngã Pháp (Ngã và Pháp Tướng) và Thức Alaya. Trong bảy yếu tố nằy, sáu yếu tố trước đều nương tựa nơi yếu tố thứ bảy là Thức Alaya để sanh ra vạn pháp. Nếu như không có Thức Alaya làm điểm tựa, sáu yếu tố kia cũng không thể tự động kết hợp với nhau để sanh khởi vạn pháp. Tánh chất Nhân Duyên Sanh của vạn pháp đều nương tựa nơi Thức Alaya để sanh khởitồn tại, nên gọi là Y Tha Khởi Tánh (tánh chất của vạn pháp đều nương nơi Thức Alaya để sanh ra). Đã là do Nhân Duyên sanh với tánh chất Y Tha Khởi, vạn pháp hoàn toàn không có thể tánh chân thật (Thật Tánh), nên gọi là Sanh Vô Tánh.

3/- THẮNG NGHĨA KHÔNG THẬT TÁNH: (Thắng Nghĩa Vô Tánh)

Thắng Nghĩadanh nghĩa của vạn pháp đến rốt ráo thì rất thù thắng. Thù Thắng nghĩa là vô cùng đặc biệt và vượt bực hơn tất cả mọi pháp. Danh Nghĩa Thù Thắng ở đây tức là chỉ cho các nguyên nhân sanh ra vạn pháp. Các nguyên nhân này khi ở trạng thái chưa tác dụng chỉ là những năng lực nguyên thể khônghình tướng. Chúng ta chỉ biết những năng lực nguyên thể đó trên danh nghĩa và không thể thấy chúng nó trên hình tướng. Đối với việc sanh khởi vạn pháp, những năng lực nguyên thể nói trên vô cùng quan yếu vô cùng thù thắngchúng nó không thể thiếu mặt trong bất cứ nơi nào để xây dựng vạn pháp, nên gọi là Thắng Nghĩa.

Thắng Nghĩa Vô Tánh nghĩa là vạn pháp thuộc danh nghĩa thù thắng cũng không có thể tánh chân thậtchúng nó chỉ có trên giả danh, nên gọi là Vô Tánh. Vạn pháp thuộc danh nghĩa thù thắng là chỉ cho những năng lực nguyên thể sanh ra vạn pháp và những năng lực đây chỉ có thù thắng trên danh nghĩa, không có hình tướng cũng như không mang tánh chất của vạn pháp, nên gọi là Thắng Nghĩa Vô Tánh. Thắng Nghĩa Vô Tánh gồm có hai loại: Thế Gian Thắng Nghĩa Vô TánhThắng Nghĩa Thắng Nghĩa Vô Tánh.

a/- Thế gian thắng nghĩa vô tánh:

Thế Gian Thắng Nghĩa, như trên đã trình bày là những nguyên nhân sanh ra vạn pháp trong thế gian và những nguyên nhân này chỉ có trên danh nghĩa thù thắng mà thôi. Những nguyên nhân thế gian thắng nghĩa chính là nguồn gốc của vạn pháp trong thế gian. Vạn pháp trong thế gian nếu như không có những nguồn gốc này làm căn bản thì nhất định không thể sanh thành trong thế gian. Vạn pháp trong thế gian là kết quả của những nguyên nhân nói trên.

Vạn pháp trong thế gian đều mang tánh chất duyên sanh và mang tánh chất nghiệp báo khổ đau thì những nguyên nhân sanh ra chúng chứng tỏ cũng thuộc loại tánh chất giả danh, biến độngô nhiễm bởi Vô Minh Nghiệp Tướng. Do đó, những nguyên nhân này thì hoàn toàn không có thể tánh chân thật, nên gọi là Vô Tánh.

Hơn nữa, nguồn gốc sanh ra vạn pháp trong thế gian gồm có bảy yếu tố như là, Đất, Nước, Gió, Lửa, Nghiệp Lực, Ngã Pháp và Thức Alaya. Bảy yếu tố này, mặc dù ở trạng thái năng lực nguyên thể, mỗi loại không phải là vạn pháp, nguyên vì chúng không mang tánh chất của vạn pháp. Bảy yếu tố nói trên khi kết hợp nhau lại thì mới thành hình vạn pháp. Vạn pháp trong thế gian. Bảy yếu tố này nếu như bị tách rời riêng biệt nhau thì mỗi loại cũng không thể tự động thành hình vạn pháp. Bởi thế, đứng về mặt thể tánh để nhận xét, hình tướng của bảy yếu tố đều thuộc về hạt giống giả tướng, biến động, không có thể tánh chân thật trong Thức Thể Alaya. Nhưng ngược lại, những nguyên nhân đó lại rất thù thắng cho việc sanh khởi vạn pháp trong thế gian. Vì lý do trên, bảy yếu tố đây được gọi là Thế Gian Thắng Nghĩa Vô Tánh.

b/- Thắng nghĩa thắng nghĩa vô tánh:

Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa Vô Tánh nghĩa là danh nghĩa thù thắng của Thắng Nghĩa Vô Tánh. Danh nghĩa thù thắng của Thắng Nghĩa Vô Tánh ở đây không ngoài Trí Tuệ Đại Viên Cảnh. Trí Tuệ Đại Viên Cảnh là một loại thật thể rất thù thắng và không bao giờ bị biến hoại .Thật thể của Trí Tuệ Đại Viên Cảnh bao trùm cả van pháp và nằm trong mỗi loại pháp. Trí Tuệ Đại Viên Cảnh thì thuộc về chất liệu sống của vạn pháp, nhưng trí luệ này hoàn toàn không phải vạn pháp và nó cũng không phải là những yếu tố (Thắng Nghĩa Vô Tánh) sanh ra vạn pháp. Trí Tuệ Đại Viên Cảnh được chuyển hoá từ nơi Thức Thể Alaya. Thức Thể Alaya muốn chuyển hoá thành Trí Đại Viên Cảnh là khi nào thoát ly hẳn vạn pháp Biến Kế Sở Chấp (vạn pháp do sự chấp trước của Ý Thức thứ sáu tính toán biến hiện) và vạn pháp Y Tha Khởi (vạn pháp nương nơi Thức Thể Alaya sanh khởi): Trí tuệ Đại Viên Cảnh không khác gì tánh Viên Thành Thật của vạn pháp. Nguyên vì Tánh Viên Thành Thật của vạn phápbiến tướng của Thức Thể Alaya. Tánh Viên Thành Thật đúng ra không đứng ngoài tánh Y Tha Khởi của vạn pháp. Lý do Thức Thể Alaya lại thuộc về tánh Y Tha Khởi của vạn phápvạn pháp nương nơi Thức Thể Alaya để sanh khởi: Thức Thể Alaya khi được chuyển thành Trí tuệ Đại Viên Cảnh thì vạn pháp thuộc tánh Y Tha Khởi lên biến thành tánh Viên Thành Thật nên gọi là Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa Vô Tánh.

Nói cách khác, tánh Viên Thành Thật tức là tánh Y Tha Khởi, một khi tánh Y Tha Khởi thoát ly hẳn tánh Biến Kế Sở Chấp và được chuyển thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh của Chân Như. Đó là thể tánh của Duy Thứcthể tánh này rất chân thật thù thắng, nên gọi là Thắng Nghĩa Thắng Nghĩa Vô Tánh.

Trong ba vô tánh này, riêng vạn pháp thuộc tánh Biến Kế Sở Chấp cố thể nói là hoàn toàn không có thật tánh, còn vạn pháp thuộc tánh Y Tha Khởi, một phần có thật tánh và một phần không có thật tánh. Riêng vạn pháp thuộc tánh viên Thành Thật, vì mục đích phá chấp của chúng sanh nên nói không có thật tánh, nhưng đúng ra, vạn pháp thuộc tánh Viên Thành Thật thì hoàn toànthật tánh, nguyên vì nó chính là Phật Tánh của tất cả chúng sanh.

Bởi thế đức Phật nói ra ba loại vô tánh đây (Tam Vô Tánh) có nghĩa là "Chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải chẳng có, chẳng phải chẳng không, cũng có cũng không và cũng chẳng phải chẳng có chẳng không". Đây là lý Trung Đạo Nhứt Như" của Duy Thức.

F.- VẤN ĐỀ CÓ VÀ KHÔNG, ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG:

(Hữu Thỉ, Hữu Chung và Vô Thỉ, Vô Chung)

Vấn đề có đầu tiên (hữu thỉ) và cố cuối cùng (hữu chung) cũng như không có đầu tiên (Vô thỉ) và không có cuối cùng (vô chung) được thành lập là bắt đầu từ nơi vấn đềsống chết (sanh diệt) hay không có sống chết của các pháp trong thế gian. Vấn đềsống chết hay không có sống chết của vạn pháp đã gây nhiều thắc mắc cho con người, mỗi khi họ muốn tìm hiểu nguồn gốc sanh ra vạn pháp cũng như nhận diện nguyên nhân sau cùng của những pháp ấy hoại diệt.

Xưa kia có người hỏi đức Phật: "con người từ đâu sanh ra và vũ trụ do ai tạo?"

Đức Phật không trả lời, chỉ khuyên họ cố gắng tu hành để cầu giải thoát khổ đau hơn là đi tìm hiểu nguyên nhân đầu tiên của vạn pháp, còn ở mặt khác, đức Phật lại trả lời rằng: "Vạn pháp trong vũ trụ không có nguyên nhân đầu tiên và cũng không có kết thúc cuối cùng (vô thỉ và vô chung)".

Sự không trả lời cũng như sự trả lời của đức Phật về vấn đề trên, nhà Duy Thức nhận thấy có nhiêu nguyên nhân:

I.- ĐỊNH NGHĨA:

Trước hết thế nào là có đầu tiên hay không có đầu tiên và có cuối cùng hay không có cuối cùng?

1/- CÓ ĐẦU TIÊN VÀ CÓ CUỐI CÙNG: (Hữu Thỉ, Hữu Chung)

Có đầu tiên và có cuối cùng, nghĩa là loài ngườivạn pháp trong thế gian phải có nguyên nhân đầu tiên sanh ra dòng thác sanh mạng đã được khởi điểm từ nơi quá khứ và cũng phải có điểm cuối cùng của dòng thác sanh mạng đó sau khi bị hoại diệt để chuyển sang dòng thác sanh mạng khác trong vị lai. Nói cách khác, vạn pháp trong thế gian kể cả loài người phải có sự giao điểm (điểm tiếp nối) giữa hai dòng thác sanh mạng ở hai vị trí khác nhau trong quá trình biến thiên liên tục không ngừng của muôn vật theo thời gianchúng nó đã được bắt nguồn từ quá khứtiếp nối chuyển sang mãi cho đến vị lai.

2/- KHÔNG CÓ ĐẦU TIÊN VÀ KHÔNG CÓ CUỐI CÙNG: (Vô Thỉ và Vô Chung)

Không có đầu tiên và không có cuối cùng, nghĩa là không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra dòng thác sanh mạng của vạn pháp mà trong đó gồm có dòng thác sanh mạng của loài người đã được bắt nguồn từ quá khứ và cũng không có điển cuối cùng để chấm dứt dòng thác sanh mạng đó trong thời gian vị lai sau khi bị hoại diệt. Nói cách khác, sự sanh mạng của vạn pháp thì có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng như có điểm cuối cùng để chấm dút sau khi bị hoại diệt, nhưng dòng thác sanh mạng của thế gian thì không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng không có điểm cuối cùng để chấm dứt.

Thí dụ, làn sóng sanh diệt thì có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và có điểm cuối cùng để chấm dứt. Nhưng biển nước mênh mông thì không có vấn đề nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng không có vấn đề điểm cuối cùng của sự sống chết.

II.- GIÁ TRỊ CỦA SỰ NHẬN THỨC:

Trên thực tế, ý Thức thứ sáu của con người chính là nền tảng của sự nhận thức. Không có Ý Thức thứ sáu, con người không có nhận thức. Con người nếu như không có sự nhận thức thì cuộc đời của họ không có giá trị và sự sống của họ không có ý nghĩa. Sự sống của con người nếu như khôngÝ Thức thứ sáu hiện hữu thì khác nào như cỏ cây, chỉ sinh hoạt theo bản năng mà không có chút hiểu biết và sự sống của họ cũng không có sự thăng tiến. Ý Thức thứ sáu của con người lại còn là một động lực tất nhiên và rất cần thiết cho sự tạo nghiệp. Ý Thức thứ sáu lại còn có quyền năng chi phối, có hiệu lực điều khiển các Tâm Thức khác (năm Tâm Thức) trong mọi sự sinh hoạt và cũng có khả năng sáng tạo, cũng có thể biến đổi mọi nếp sống cá nhân theo nhu cầu sự sống cho con người hưởng thụ.

Nhưng theo Phật Giáo, sự nhận thức của con người dựa trên Ý Thức thứ sáu để từn hiểu nguyên lý sanh khởi vạn pháp bang phương pháp luận lý là một điều sai lầm không nhỏ, nguyên vì ý Thức thứ sáu thuộc về phàm trí (trí thức của chúng sanh thuộc hạng phàm phu thế gian). Phàm trí mang theo bản chất vô minh không thể hiểu thấu một cách tận cùng chân lý của vạn pháp trong thế gian qua sự suy luậndiễn dịch. Nhiều khi Ý Thức thứ sáu còn đánh lừa con người một cách dễ dàng. Con người chỉ có phương pháp chuyển hoá Tâm Thức biến thành trí tuệ bằng cách thực nghiệm qua sự tu chứng giống như đức Phật Thích Ca thì mới có khả năng nhận thức được chân lý, mới xác định được một cách cụ thể, thế nào là nguyên nhân đầu tiên sanh ra vạn pháploài người trong thế gian. Sự khuyết điểm của sự nhận thức dựa trên Ý Thức thứ sáu được minh định qua những khía cạnh sau đây:

1/- GIỚI HẠN BỞI HỆ THỐNG THẦN KINH:

Môi trường cho Ý Thức thứ sáu sinh hoạt để nhận thức chính là Căn (giác quan). Ý Thức thứ sáu nếu như khônggiác quan để trợ duyên cho sự nhận thức thì không thể hiểu biết vạn pháp. Giác quan giúp cho Ý Thức thứ sáu sinh hoạt để nhận thức đích thực là Thức Mạt Na thứ bảy mà nhà Duy Thức gọi là Thắng Nghĩa Căn (giác quan chỉ biết trên danh nghĩa thù thắng của nó mà thôi). Thắng Nghĩa Căn nếu như thanh tịnh sáng suốt thì giúp cho Ý Thức thứ sáu nhận thức vạn pháp được nhạy bén, được linh hoạtthông minh hơn. Ngược lại, Thắng Nghĩa Căn mang tánh chất ngu si, chấp trước thì khiến cho Ý Thức thứ sáu nhận thức vạn pháp có tánh chất đam mê, đần độn, tính toán ngạo mạn.

Còn đối tượng của Ý Thức thứ sáu nhận thức đều là những Ảnh Tử của các pháp trong thế gian do năm Tâm Thức cung cấp. Hơn nữa, trong năm Tâm Thức, mỗi Tâm Thức phải có hệ thống thần kinh riêng để làm điểm tựa cho sự hiểu biết vạn pháp trong thế gian. Năm Tâm Thức đó, nếu như khônghệ thống thần kinh riêng của mỗi thức thì không có môi trường hiểu biết vạn pháp, đồng thời không có những dữ kiện cần thiết để cung cấp cho ý Thức thứ sáu nhận thức, mặc dù những dữ kiện đó đều là những ảnh tử của vạn pháp. Ý Thức thứ sáu nhờ nương nơi những dữ kiện vừa kể trên do năm Tâm Thức cung cấp mới có thể nhận thức tánh chất, ý nghĩagiá trị của vạn pháp trong thế gian.

Hệ thống thần kinh của năm Tâm Thức đều là những giác quan thuộc về vật chất, gọi là Tịnh Sắc Căn (giác quan tinh tế nhạy bén). Những hệ thống thần kinh thuộc vật chất này, nếu như được xây dựng một cách tinh tế sắc xảo thì giúp cho năm Tâm Thức thâu ảnh của một sự vật rất trong sáng và rõ nét. Nhờ những ảnh tượng trong sáng và rõ nét của một sự vật nói trên do năm Tâm Thức cung cấp, Ý Thức thứ sáu mới có thể hiểu biết vạn pháp một cách chính xáccụ thể. Ngược lại, những hệ thống thần kinh thuộc vật chất này, nếu như được xây dựng một cách thô sơ, không sắc xảo thì khiến cho năm Tâm Thức thâu ảnh của một sự vật trở nên mờ đục, không trong sáng và không rõ nét. Vì ảnh tượng mờ đục, không trong sáng và không rõ nét của một sự vật nói trên do năm Tâm Thức cung cấp, Ý Thức thứ sáu hiểu biết vạn pháp trở nên thiển cậnđần độn, hiểu biết có tánh cách khái lược và không có chiều sâu. Những hệ thống Thần Kinh thuộc vật chất này, nếu như bị bệnh hoạn và bị hư hoại thì khiến cho năm Tâm Thức thâu ảnh của một sự vật trở nên méo mó, mờ ảo. Vì những ảnh tượng méo mó, mờ ảo của một sự vật nói trên do năm Tâm Thức cung cấp, Ý Thức thứ sáu hiểu biết vạn pháp trở nên điên loạn, lệch lạc và điên đảo.

Hơn nữa, tầm nhận thức của ý Thức thứ sáu thì hoàn toàn lệ thuộc vào bộ máy sinh lý nơi thân thể của mỗi loại chúng sanh. Bộ máy sinh lý nơi thân thể của mỗi loại chúng sanh khác nhau thì khiến cho ý Thức thứ sáu của những loại chúng sanh đó nhận thức vạn pháp hoàn toàn không giống nhau.

Thí dụ, như Ý Thức thứ sáu của một con kiến không thể hiểu biết sâu rộng so với sự hiểu biết nơi Ý Thức thứ sáu của một con mèo. Ý Thức thứ sáu của một con cá không thể hiểu biết sâu rộng so với sự hiểu biết nơi Ý Thức thứ sáu của một con người. Cũng thế, con người không thể hiểu biết những gì bao la sâu rộng như vũ trụ quá tầm nhận thức của mình. Tầm soi sáng của dòng điện qua bóng đèn 5 watts không thể so sánh bằng tầm soi sáng của dòng điện qua bóng đèn 100 watts. Vì thế, con người không thể nào hiểu biết được nguồn gốc của thế gian và của loài người thật bao la sâu rộng quá tầm nhận thức của mình.

2/- NGĂN CÁCH BỞI HỆ THỐNG THẦN KINH:

Như trên đã trình bày, ý Thức thứ sáu tự nó không có khả năng tiếp xúc thẳng (Thân duyên, nghĩa là trực tiếp duyên thẳng) nơi vạn phápthực chất trong thế gian để hiểu biết mà không cần phải qua trung gian của năm Tâm Thức cung cấp những ảnh tử. Đồng thời ý Thức thứ sáu cũng không thể hiểu biết vạn phápthực chất trong thế gian mà không cần đến hệ thống thần kinh năm giác quan thuộc vật chất của thân thể chúng sanh hữu ảnh (của thân thể con người) làm trợ duyên. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu một khi hiểu biết vạn phápthực chất trong thế gian thì phải cần đến sự yểm trợ của năm Tâm Thức và ngược lại năm Tâm Thức nếu như không yểm trợ những ảnh tử của những sự vật vừa trình bày thì Ý Thức thứ sáu hoàn toàn bất lực, không hiểu chút gì về vạn pháp trong thế gian. Cho đến năm Tâm Thức mỗi khi sinh hoạt thì cũng phải lệ thuộc một cách mật thiết vào năm hệ thống Thần Kinh thuộc vật chất nơi thân thể của mỗi chúng sanh hữu tình (của mỗi con người) để có hiểu biết.

Thí dụ, ý Thức thứ sáu không thể hiểu biết những sự vật mỗi khi Nhãn Thức ngủ gục và Ý Thức thứ sáu cũng không thể nhìn thấy những sự vật nếu như hệ thống thần kinh con mắt (Nhãn Căn) bị hư hoại, mặc dù trong lúc đó những sự vật vẫn có mặt trong thế gian.

Còn những đối tượng để cho ý Thức thứ sáu hiểu biết đều là ảnh tử của những sự vật có thể chất trong thế gian do năm Tâm Thức cung cấp qua năm hệ thống thần kinh thuộc vật chất chuyển đạt. Những ảnh tử đối tượng này đều là hình bóng của vạn pháp và những ảnh tử này thì hoàn toàn không có thực thể.

Sâu hơn nữa, Ý Thức thứ sáu nếu như khôngTâm Thức Mạt Na thứ bảy làm Căn (giác quan) thì không thể sinh hoạt để có hiểu biết và chẳng những thế Ý Thức thứ sáu nếu như không nhờ đến Tâm Thức Mạt Na thứ bảy cung cấp tài liệu nơi trong Thức Thể Alaya thì cũng không thể hiểu biết hạt giống vạn pháp với hình thức hồi tưởng. Ý Thức thứ sáu thì hoàn toàn lệ thuộc nơi Tâm Thức Mạt Na thứ bảy trong sự hiểu biết hạt giống vạn pháp trong Thức Thể Alaya. Riêng những hạt giống của vạn pháp trong Thức Thể Alaya đều là thế giới nghiệp duyên đã được nội kết từ nơi thế giới hiện tượngthể chất trong thế gian. Muốn nhớ lại thế giới nghiệp duyên này từ trong Thức Thể Alaya, Ý Thức thứ sáu của con người phải nhờ đến Tâm Thức Mạt Na thứ bảy cung cấp tài liệu. Ý Thức thứ sáu không thể hiểu biết trực tiếp nếu như không được sự yểm trợ của Tâm Thức Mạt Na thứ bảy và ngược lại, Tâm Thức Mạt Na thứ bảy cứ tiếp tục cung cấp hình ảnh của thế giới nghiệp duyên nói trên thì Ý Thức thứ sáu nhất định phải hiểu biết và không thể từ chối.

Thí dụ, ý Thức thứ sáu muốn nhớ lại hình ảnh của một người thân nào đã hiểu biết trong quá khứ. Hình ảnh người thân ấy vẫn còn có mặt trong Thức Thể Alaya với hình thức hạt giống, nhưng trong lúc đó Tâm Thức Mạt Na thứ bảy không chịu cung cấpchuyển đạt hình ảnh người thân nói trên đến cho ý Thức thứ sáu hiểu biết. Thành thử ý Thức thứ sáu cố gắng suy nghĩ mãi mà vẫn không nhớ được. Đến khi ý Thức thứ sáu vì lo công việc khác cần thiết hơn nên không quan tâm nữa, nhưng trong lúc đó Tâm Thức Mạt Na thứ bảy vẫn tiếp tục đưa hình ảnh người thân nói trên bắt buộc ý Thức thứ sáu phải nhớ mãi và không thể từ chối.

Thí dụ trên cho chúng ta nhận thức được giá trị của Ý Thức thức sáu. Ý Thức thứ sáu một khi sinh hoạt để hiểu biết vạn pháp thì gặp phải hai trở ngại lớn nhất ràng buộc, trở ngại thứ nhất là các hệ thống thần kinh thuộc vật chất hạn chế và trở ngại thứ hai là giác quan nhận thức thuộc Tâm Thức Mạt Na thứ bảy ngăn cách. Cho nên ý Thức thứ sáu không thể trực tiếp duyên đến thế giới ngoại giới và cũng không thể trực tiếp duyên đến thế giới nội tâm trong Thức Thể Alaya để hiểu biết chân thật. Ý Thức thứ sáu chỉ có khả năng nhận thức vạn pháp bên ngoài cũng như bên trong qua ảnh tử của hai thế giới nói trên.

3/- XUẤT HIỆN SAU KHI GIÁC QUAN ĐƯỢC THIẾT LẬP:

Sự có mặt của Ý Thức thứ sáu trong thân thể con người cũng như trong thân thể của các loài động vật khác để sinh hoạt sau khi những hệ thống thần kinh nơi thân thể của con người đó cũng như nơi thân thể các loài động vật đó được xây dựng hoàn thành. Riêng về con người, Ý Thức thứ sáu không thể sinh hoạt một khi bộ máy sinh lý nơi thân thể của họ chưa được xây dựng và những hệ thống thần kinh trong thân thể của họ chưa được thiết lập. Hơn nữa, Ý Thức thứ sáu của con người đó sinh hoạt còn bị hạn chế bởi hệ thống thần kinh. Ý Thức thứ sáu của họ hiểu biết còn yếu kémsinh hoạt chưa được nhạy bén là khi nào hệ thống thần kinh trong thân thể của họ xây dựng chưa được hoàn thành.

Ý Thức thứ sáu bất đầu xuất hiện sinh hoạt trong thân thể con người kể từ khoảng bốn tháng sau khi dòng sanh mạng của con người đó đã được tượng hình và Ý Thức thứ sáu sẽ bị chấm dút sinh hoạt trước khi dòng sanh mạng của con người đó sắp chết. Nói cách khác, Ý Thức thứ sáu của con người hoàn toàn bất lực trong sự hiểu biết vạn pháp khi dòng sanh mạng chuyển tiếp của họ ở kiếp vị lai chưa được thành hình hệ thống sinh lý. Bộ máy sinh lý của một con người ở kiếp vị lai khi được xây dựng thành hình thì lúc đó Ý Thức thứ sáu của họ mới bắt đầu xuất hiện sinh hoạt để hiểu biết những gì kế tiếp. Ngoại trừ trường hợp những kẻ tu tập đã chuyển đổi Ý Thức thứ sáu thành Trí Tuệ Diệu Quan Sát thì lúc đó, Ý Thức thứ sáu của họ mới có khả năng hiểu biết những gì chuyển tiếp sanh khởi giữa hai dòng sanh mạng của quá khứvị lai.

Thí dụ, sự chuyển tiếp giữa hai dòng sanh mạng của con người hiện thực và của con người trong giấc mơ (Dream), Ý Thức thứ sáu của con người hiện thực thì hoàn toàn bất lực trong sự hiểu biết, nghĩa là Ý Thức thứ sáu của họ không biết mình chun vào trong giấc mơ lúc nào. Cho đến khi con ngườithế giới trong giấc mơ đã được phát hiện thì lúc đó, Ý Thức thứ sáu của con người hiện thực mới biết mình hiện có mặt trong mơ để sinh hoạt thế giới mộng mơ.

Những sự kiện trên cũng đủ chứng minh được giá trị về sự hiểu biết của Ý Thức thứ sáu. Ý Thức thứ sáu hiểu biết vạn pháp luôn luôn bị giới hạn, bị ràng buộc, bị ngăn cách bởi cái Ngã Tướng. Cho nên chúng sanh hữu tình không thể hiểu biết một cách chân thật những gì về nguyên lý của vũ trụ và nhân sanh quá tầm nhận thức của mình. Bởi thế đức Phật đành phải im lặng, không trả lời trước con người đặt vấn đề mà Ngài biết rằng họ không đủ khả năng nhận thức. Đức Phật nếu như giải đáp thì chỉ gây cho họ thêm nhiều nghi vấn khác và những điều nghi vấn đó không đem lại lợi ích chút nào cho họ trong sự tu tập.

III.- GIÁ TRỊ CỦA CÁC PHÁP:

Thật sự, vạn pháp hiện có mặt trong thế gian thì luôn luôn bị biến động liên tục không ngừng trong vòng sanh diệt và không một pháp nào tồn tại vĩnh viễn ở một vị trí cố định. Vạn pháp do vì biến động liên tục không ngừng cho nên bị lưu chuyển từ trạng thất nguyên thể khônghình tướng bước sang trạng thái tác dụnghình tướng và cũng vì sự biến động đó, vạn pháp từ nơi trạng thái tác dụnghình tướng lại bị hoại diệt để trở về trạng thái nguyên thể khônghình tướng. Cứ như thế, vạn pháp cứ bị xoay vần mãi trong vòng sanh tử lưu chuyển không bao giờ chấm dút. Để định giá trị CÓ và KHÔNG, SANH và DIỆT của vạn pháp, nhà Duy Thức phân loại thành ba nhóm: nhóm thứ nhất: "Có đầu tiên và có cuối cùng" (hữu thỉ, hữu chung), nhóm thứ hai: "Không có đầu tiên, nhưng có cuối cùng" (vô thỉ, hữu chung) và nhóm thứ ba: "Không có đầu tiên và cũng không có cuối cùng" (vô thỉ, vô chung).

1/- CÓ ĐẦU TIÊN VÀ CÓ CUỐI CÙNG: (hữu thỉ, hữu chung)

Những loại có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và có điểm cuối cùng để chấm dứt, theo nhà Duy Thức gồm có các pháp như: Ngã Tướng, Pháp TướngNghiệp Lực.

a/- Ngã tướngpháp tướng:

Đề cập đến vạn pháp hiện có mặt trong thế gian, chúng ta liền nghĩ ngay đến Ngã TướngPháp Tướng của những pháp đó. Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp như trước đã trình bày, chính là Nghiệp Tướng trong Thức Thể Alaya. Ngã TướngPháp Tướng là những mô hình cần thiết giúp cho Kiến Phần Thức Alaya xây dựng thành hiện tượng vạn pháp với tánh cách duyên sanh. Như chúng ta đã biết, hiện tượng vạn pháp trong thế gian có nhiều hình tướng khác nhau. Hình tướng khác nhau của vạn pháp thật sự không phải do vật chất (Tứ Đại) và Tâm Thức tạo nên. Những hình tướng khác nhau của vạn pháp chính là do Ngã TướngPháp Tướng của những pháp đó sanh khởi, mặc dù Ngã TướngPháp Tướng nói trên nếu như không có các yếu tố vật chấtTâm Thức thì cũng không thể thành hình.

Thí dụ, đề cập đến kiểu nhà, chúng ta liền nghĩ ngay đến họa đồ mô hình. Hoạ đồ mô hình chính là.nguyên nhân tạo thành hình tướng của cái nhà, còn những vật liệu xây cất chỉ làm trợ duyên giúp cho hoạ đồ mô hình kiểu nhà được thành hình. Tuy cùng vật liệu xây cất, kiểu nhà này không giống kiểu nhà kia là tại hoạ đồ mô hình đẹp và xấu khác nhau mà ở đây không phải tại những vật liệu xây cất.

Con người cũng thế, tuy cùng một huyết thống cha mẹ, người này không giống người kia, nam giới không giống nữ giới, anh em không giống nhau, con cái không giống cha mẹ đều là do sự khác biệt Ngã Tướng và ở đây họ không phải do Tứ Đại hay Kiến Phần Thức Alaya xây dựng không tốt, mặc dù Ngã Tướng nói trên cũng phải nhờ đến Tứ ĐạiKiến Phần Thức Alaya trợ giúp thì mới thành hình con người.

Thí dụ, Vô Tuyến Truyền Hình có rất nhiều hình ảnhchúng ta xem thấy, nào là con người gồm cả nam phái lẫn nữ phái, nào là nhà cửa, xe cộ, thành phố, núi sông, cây cỏ v.v... đều hiện bày một cách linh hoạtsống động. Những hình ảnh đó, chúng ta nếu như nhìn kỹ thì không phải do điện tử tạo nên, và ở đây chúng nó chính là do những cái Fomls Ngã TướngPháp Tướng tạo thành, mặc dù những cái Forms đó nếu như không có điện tử thì cũng không thể hiện bày. Điện tử thì không có vấn đề nam nữ, nhà cửa, thành phố v.v... Vấn đề nam nữ, nhà cửa, thành phố v.v... sở dĩ được hiện bày trong vô tuyến truyền hình đều là do những cái Forms Ngã Tướng nam nữ và những cái Forms Pháp Tướng nhà cửa, thành phố v.v... tạo thành.

Như vậy qua những dữ kiện trên, chúng ta nhận thấy rằng, vấn đề "Con người từ đâu sanh ra và vạn vật do ai tạo dựng" là một câu hỏi được đặt ra không đúng cách. Chúng ta nên hỏi như thế này thì phải lẽ hơn: "Ngã Tướng con người từ đâu sanh ra và Pháp Tướng vạn vật do ai tạo dựng" thì đúng cách hơn.

Thật ra, Ngã TướngPháp Tướngchúng ta đã biết đều thuộc về ảnh tử của vạn pháp. Những Ngã TướngPháp Tướng này do ý Thức thứ sáu của chúng sanh hữu tìnhkiếp trước tạo nên. Ý Thức thứ sáu căn cứ theo vạn phápkiếp trước tạo thành những hạt giống ảnh tử Ngã TướngPháp Tướng cho thế giới kiếp này và chúng được cất giữ trong Thức Thể Alaya. Những hạt giống ảnh tử Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp nơi kiếp trước trong Thức Thể Alaya chính là nguyên nhân để tạo thành vạn pháp trong thế giới hiện tại của kiếp này. Tánh chất những Ngã TướngPháp Tướng nói trên đều không có thể chất chân thật, nên gọi là Nghiệp Tướng. Những Ngã TướngPháp Tướng với hình thức Nghiệp Tướng sẽ bị hoại diệt theo sau sự hoại diệt của vạn pháp. Vạn pháp một khi bị tiêu diệt thì những Ngã TướngPháp Tướng đó cũng sẽ bị tiêu diệt theo. Chính xác hơn, vạn pháp chỉ bị tiêu diệt cái Ngã TướngPháp Tướng của chúng, nhưng không phải bị tiêu diệt những nguyên liệu vật chất và những yếu tố Tâm Thức xây dựng nên chúng. Cũng vì Ngã TướngPháp Tướngsanh diệt, có hạn định, nhà Duy Thức xếp chúng vào loại: "Có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng có điểm cuối cùng để chấm dứt" (Đây là thuộc về loại hữu thỉ và hữu chung).

b/ - Nghiệp Lực:

Như trước đã trình bày, Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp trong thế gian đều do Ý Thức thứ sáu của những chúng sanh hữu tình sáng tạo thành nguyên nhân. Những nguyên nhân Ngã TướngPháp Tướng này muốn thành kết quả phải nhờ đến Kiến Phần Thức Alaya xây dựng. Kiến Phần Thức Alaya muốn xây dựng những Ngã TướngPháp Tướng nói trên để thành vạn pháp thì cũng phải nhờ đến nguyên liệu Tứ Đại cho việc kiến tạo. Ngoài nguyên liệu Tứ Đại ra, Nghiệp Lực cũng là một trong những động lực không kém phần quan trọng cho việc xây dựng vạn pháp trong thế gian. Nhiệm vụ của nghiệp lực là hướng dẫn và bắt buộc Kiến Phần Thức Alaya phải xây dựng những Ngã Tướng cũng như những Pháp Tướng của vạn pháp nói trên đã hội đủ điều kiện. Kiến Phần Thức Alaya theo Nghiệp Lực quyết định xây dựng Ngã TướngPháp Tướng từ trạng thái nhân tướng đi đến trạng thái quả tướng để thành muôn sự muôn vật trong thế gian. Nếu như khôngNghiệp Lực thúc đẩydẫn đạo, Kiến Phần Thức Alaya không thể nào xây dựng vạn pháp theo mô hình Ngã TướngPháp Tướng đã có sẵn. Nếu như không gặp được duyên để thành hình vạn pháp, những Ngã TướngPháp Tướng này sẽ bị hủy diệt toàn bộ một khi Thức Thể Alaya được chuyển thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh. Vì thế Nghiệp Lực mới chính là nghiệp nhân quan trọng để chuyển biến những Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp hiện thành hình tướng nghiệp quả trong thế gian. Nghiệp Lực có hai loại: Biệt Nghiệp (nghiệp riêng) và Cộng Nghiệp (nghiệp chung).

BIỆT NGHIỆP: (nghiệp riêng)

Mỗi chúng sanh hữu tình đều có nghiệp riêng để hưởng thụ gọi là Biệt Nghiệp. Nghiệp riêng của mỗi chúng sanh hữu tình chỉ là một năng lực với nhiệm vụ thúc đẩy Kiến Phần Thức Alaya chun vào Ngã Tướng hội đủ điều kiện, từ hình thức hạt giống trong Thức Thể Alaya để tạo thành một sanh mạng gọi là Sanh Nghiệp. Nghiệp Lực dẫn đạo Kiến Phần Thức Alaya trong công việc xây dựng, khiến cho Ngã Tướng của sanh mạng đó mỗi ngày mỗi tăng trưởng để hiện thành hình tướng gọi là Tăng Nghiệp. Nghiệp Lực nếu như bị giảm thiểu (bị hao mòn) liền lôi kéo Kiến Phần Thức Alaya tuần tự rút lui và khiến cho Ngã Tướng của sanh mạng đó dần dần bị già yếu gọi là Giảm Nghiệp. Nghiệp Lực một khi không còn tồn tại thì lúc đó Kiến Phần Thức Alaya ra đi vĩnh viễn và khiến cho Ngã Tướng của sanh mạng đố hoàn toàn bị tiêu diệt gọi là Mãn Nghiệp. Nghiệp nhân tốt là yếu tố tạo thành sanh mạng tốt để họ hưởng quả tốt và ngược lại, nghiệp nhân xấu là yếu tố tạo thành sanh mạng xấu để họ hưởng quả xấu.

Động lực của sự tạo nghiệp chính là Ý Thức thứ sáu. Ý Thức thứ sáu của một chúng sanh hữu tình làm chủ tạo nghiệp qua hành động gọi là Thân Nghiệp, làm chủ tạo nghiệp qua lời nói gọi là Khẩu Nghiệp và làm chủ tạo nghiệp qua ý tưởng gọi là Ý Nghiệp. Những Nghiệp Lực do Ý Thức thứ sáu tạo nên, được nội kết thành tiềm năng và được tàng trữ trong Thức Thể Alaya gọi là Nghiệp Chủng Tử (hạt giống nghiệp). Nghiệp Chủng Tử thuộc về nghiệp nhân chỉ là một loại tập khí (Fetter of Kanna) nội kết không cố thực thể và sẽ bị tiêu diệt khi nghiệp lực đó đã mãn. Sự sanh khởi Nghiệp Lực thì cùng lúc với sự sanh khởi Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp. Sự hoại diệt của Nghiệp Lực thì lại cũng cùng chung một thời với sự hoại diệt Ngã TướngPháp Tướng của vạn pháp. Cho nên nhà Duy Thức xếp Nghiệp Lực này cũng thuộc về loại "Có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng có điểm cuối cùng để chấm dứt" (Đây cũng thuộc về loại hữu thỉ và hữu chung).

CỘNG NGHIỆP: (nghiệp chung)

Cộng Nghiệp là năng lực của các đơn vị biệt nghiệp dược nội kết thành hạt giống. Các đơn vị biệt nghiệp nếu như không có mặt để làm nhân thì Cộng Nghiệp cũng không thể thành lập và các đơn vị biệt nghiệp nếu như bị tiêu diệt toàn bộ thì Cộng Nghiệp cũng sẽ bị tiêu diệt theo. Ngược lại, Cộng Nghiệp nếu như không được thành lập thì các đơn vị biệt nghiệp lại không có môi trường để phát khởi.

Thí dụ, dòng nước chính là do những đơn vị hạt nước liên kết tạo thành và ngoài những đơn vị hạt nước ra, dòng nước không thể có mặt. Năng lực của những đơn vị hạt nước tác dụng lẫn nhau biến thành một dòng nước chảy và cũng chính nhờ năng lực của dòng nước chảy thúc đẩy, những đơn vị hạt nước mới có môi trường sống còn và tồn tại. Dòng nước nếu như không chảy thì khiến cho những đơn vị hạt nước sẽ bị chết đi và tạo thành dòng nước trở nên hư thối.

Môi trường kết hợp các đơn vị biệt nghiệp để tạo thành Cộng Nghiệp chính là Năng Lực Dẫn Nạp (Attractive Force) của căn bản Vô Minh Nghiệp Tướng. Các hạt giống biệt nghiệp sau khi rơi vào trong Thức Thể Alaya liền bị năng lực dẫn nạp của căn bản vô minh kết hợp vào Vô Minh Nghiệp Tướng để trở thành khối Cộng Nghiệp và khối Cộng Nghiệp này bám lấy căn bản Vô Minh Nghiệp Tướng làm nghiệp nhân.

Biệt nghiệpnguyên nhân cho việc sanh khởi sự sanh mạng của mỗi chúng sanh thuộc loại hữu tình, còn Cộng Nghiệp là nguyên nhân cho việc sanh khởi dòng sanh mạng tập thể của thế giới đồng nghiệp chung sống trong thế gian. Biệt nghiệp nếu như không được thành lập thì sanh mạng của mỗi chúng sanh hữu tình không thể sanh khởi và Cộng Nghiệp nếu như không được kết hợp thì vạn pháp trong thế gian cũng không thể thành hình.

Như vậy Cộng Nghiệp được phát sanh từ nơi các đơn vị biệt nghiệp. Nhưng các đơn vị biệt nghiệp luôn luôn bị sanh diệt biến hoại, do đó Cộng Nghiệp cũng phải bị sanh diệt biến hoại theo. Cộng Nghiệp vì có sự sanh diệt biến hoại giống như biệt nghiệp, cho nên nhà Duy Thức ghép vào loại: "Có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng có điểm cuối cùng để chấm dứt" (Đây cũng thuộc về loại hữu thỉ và hữu chung).

2/- KHÔNG CÓ ĐẦU TIÊN NHƯNG CÓ ĐIỂM CUỐI CÙNG: (vô thỉ, hữu chung)

Những pháp khôngnguyên nhân đầu tiên sanh ra nhưng lại có điểm cuối cùng để chấm dứt, theo nhà Duy Thức thì gồm có hai loại: Thứ nhất là Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng và thứ hai là Tứ Đại, tức là chỉ cho Đất, Nước, Gió và Lửa.

a/- Căn bản vô minh nghiệp tướng:

Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng tự nó có một năng lực tác dụng gọi là Hành. Hành của Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng tác dụng hai chiều: Chiều Dẫn Phát (Sức đẩy: Repulsive Force) và Chiều Dẫn Nạp (Sức hút: Attractive Force).

Hành tác dụng theo chiều Dẫn Nạp là kết hợp tất cả hạt giống biệt nghiệp của vô lượng chúng sanh nội kết vào nơi Vô Minh Nghiệp Tướng để biến thành khối cộng nghiệp, còn Hành tác dụng theo chiều Dẫn Phát là thúc đẩy cộng nghiệp phát khởi dòng sanh mạng tập thể của thế giới đồng nghiệp chung sống trong thế gian. Năng lực của Hành càng thêm tăng trưởng và tầm hoạt động của Hành càng thêm rộng lớn là khi nào khối cộng nghiệp càng thêm phát triển. Ngược lại, năng lực của Hành càng .bị giảm thiểu và tầm hoạt động của Hành càng bị thu hẹp là khi nào khối cộng nghiệp càng bị hao mòn.

Riêng chiều Dẫn Phát, Hành của Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng thúc đẩy Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt để xây dựng dòng sanh mạng của thế giới cộng nghiệp. Đồng thời Hành còn kích thích năng lực của những hạt giống biệt nghiệp nương nơi đà sống dòng sanh mạng của thế giới cộng nghiệp để tự động phát khởithúc đẩy Kiến Phần Thức Alaya xây dựng sanh mạng các chúng sanh hữu tình theo từng loại biệt nghiệp. Do đó, sanh mạng của mỗi chúng sanh hữu tình luôn luôn bị sanh diệt trong dòng thác sanh mạng của thế giới cộng nghiệp đang liên tục biến chuyển không ngừng.

Như trên đã trình bày, năng lực của Hành tác dụng mọi chiều của vòng tròn và phát xuất từ tâm điểm của Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng. Tầm hoạt động của Hành chiếm một khoảng không gian rộng lớn gồm cả ba cõi (tam giới). Đức Phật biểu thị sự tác dụng khắp vòng tròn ba cõi của Hành với hình thức là bánh xe luân hồi mà tâm điểm của bánh xe đó chính là trục Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng. Các điểm sanh mạng từng loại biệt nghiệp của mỗi chúng sanh đều bị sanh diệt trên cái vòng tròn bánh xe luân hồi của dòng thác sanh mạng thế giới cộng nghiệp do năng của Hành quay lăn mãi vô định. Nhưng điểm khởi đầu của Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng, những kẻ phàm phu và hàng nhị thừa không thể nào biết được. Đối Với những hạng này, đức Phật chỉ trả lời:

"Vô minh có từ vô thỉ". Theo đức Phật, vấn đề xuất xứ của Căn bản Vô Minh Nghiệp Tướng thì chỉ những bậc đại giác ngộ mới có khả năng hiểu biết, còn điểm cuối cùng của Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng, đức Phật dạy rằng: "Các con đến khi nào giác ngộ thành phật thì Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng tự động tiêu diệt". Điều này cũng giống như người đang nằm mơ, họ không thể biết được điểm khởi đầu của giấc mơ (Chi Mạt Vô Minh) và giấc mơ đó sẽ chấm dứt k hinào người nằm mơ tỉnh thức giấc mơ (giác ngộ). Theo nhà Duy Thức Căn bản Vô Minh Nghiệp Tướng sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn là khi nào chúng ta chuyển hóa Thức Thể Alaya biến thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh.

Điều này cũng giống như chúng ta đi học để được thông minh. Chúng ta đi học cũng là hình thức chuyển hoá Tâm ngu si dốt nát biến thành trí tuệ thông minhchúng ta một khi đã có có trí tuệ thông minh thì không thể nào nguyện si dốt nát trở lại như thuở ban đầu lúc chưa đi học. Vì thế nhà Duy Thức xếp Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng thuộc loại "Không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra, nhưng có điểm cuối cùng để chấm dứt. (Đây là thuộc về loại vô thỉ nhưng hữu chung).

b/- Tứ đại:

Tứ Đại là bốn nguyên lý kết hợp lẫn nhau để tạo thành hiện tượng vạn pháp thuộc về vật chất. Bốn nguyên lý này khi chưa tác dụng chỉ là bốn năng lực nguyên thể và biến khắp cả không gian ba cõi, nên gọi là bốn Đại. Bốn Đại này gồm có: năng lực chướng ngại, năng lực lưu nhuận, năng lực viêm nhiệt và năng lực phiêu động.

Năng Lực Chướng Ngại:

Năng Lực Chướng Ngạinăng lực cứng rắn có tánh cách ngăn ngại, khiến phát sanh chất ngại và rắn chắc như đất nên gọi là Địa Đại.

Năng Lực Lưu Nhuận:

Năng Lực Lưu Nhuận là năng lực tươi nhuận và kết hợp những chất ngại của năng lực chướng ngại không đồng đều nhau tạo thành nhiều nguyên chất khác nhau, như nước dung hóa và tươi nhuận trong mọi sự vật, nên gọi 1à Thủy Đại.

Năng Lực Viêm Nhiệt:

Năng Lực Viêm Nhiệt là sức nóng hàm tàng trong vạn vật như lửa nên gọi là Hỏa Đại. Năng lực nay khiến cho hiện tượng sanh trưởng trong thế gian.

Năng Lực Phiêu Động:

Năng Lực Phiêu Động là năng lực di động biến dịch, khiến cho các hiện tượng sanh diệt biến hoá như gió, nên gọi là Phong Đại.

Bốn năng lực của đất, nước, gió và lửa nói trên là nguyên nhân của vật chất và nhờ sự kết hợp lẫn nhau của bốn năng lực này mà có vật chất. Thiếu một trong bốn năng lực này, hiện tượng vật chất không thể nào có mặt trong thế gian, Bốn năng lực này thuộc về Thể Động có tánh cách năng lực nằm trong Thức Thể Alaya lấy không gian của Thức Thể Alaya trong ba cõi làm không gian cho chính mình. Không gian ba cõi của Thức Alaya cũng là không gian của năng lực Tứ Đại, nghĩa là Tứ Đạitrạng thái năng lực thì có mặt khắp ba cõi và an trụ trong không gian của Thức Thể Alaya. Không gian của Thức Thể Alaya thì bao trùm lấy không gian của bốn nguyên lý này ở trong.

Các hiện tượng vật chất, những vật lớn như địa cầu, hành tinh v.v... và những vật nhỏ như vi trần, cát bụi v.v... đều là hình tướng tổng hợp của bốn năng lực Tứ Đại thể hiện. Các hiện tượng vật chất đó hiện có mặt thế gian chỉ là một điểm nhỏ nằm phía trong không gian của bốn năng lực Tứ Đại. Trường hợp đây cũng giống như điện sấm chớp phát sanh từ điện thể trong không giantác dụng hiện tướng ở phía trong không gian của điện thể.

Nguồn gốc phát sanh ra bốn năng lực Tứ Đại chính là Thức Thể Alaya, nguyên vì Thức Thể Alaya này cũng là một năng lực. Thức Thể Alaya bị hành nghiệp làm biến động, lập tức sinh hoạt và trước hết liên hệ với cộng nghiệp thuộc phiền não khách trần qua lăng kính Vô Minh Nghiệp Tướng, liền biến thành bốn năng lực nguyên thể của Tứ Đại. Trường hợp này cũng giống như dòng điện tác dụng qua bóng đèn màu liền tạo thành ánh sáng màu sắc. Kiến Phần Thức Alaya khi xây dựng vạn pháp liền mang theo bốn năng lực Tứ Đại nguyên thể nói trên để làm nguyên liệu cho việc kiến tạo vạn pháp về vật chất. Thức Thể Alaya nếu như không còn hiện hữu nữa và được chuyển thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh thì lúc đó bốn năng lực Tứ Đại nguyên thể sẽ không còn tồn tại, nghĩa là chúng cũng bị chuyển biến theo để trở về với năng lực của Trí Tuệ.

Còn đứng về phương diện hiện tượng vạn pháp trong thế gian để khảo sát, chúng ta nhận thấy mỗi sanh mạng của một pháp đều bao gồm cả bốn yếu tố Tứ Đại và cả Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt ở trong. Kiến Phần Thức Alaya mỗi khi rút lui ra khỏi sanh mạng của một pháp nào thì bốn yếu tố Tứ Đại nơi trong sanh mạng của pháp đó lần hồi bị tan rã theo và khiến cho những pháp nói trên không thể tồn tại trong thế gian. Trường hợp này cũng giống như một thân cây đã chết, bốn yếu tố Tứ Đại trong đó lần hồi bị hư mục và bị tan rã.

Qua sự trình bày trên, bốn năng lực Tứ Đại rất quan hệ mật thiết với Tâm Thức Alaya, phát sanh từ Tâm Thức Alaya và tăng trưởng để thành hình vạn pháp về vật chất cũng từ Tâm Thức Alaya. Tâm Thức Alaya không còn sinh hoạt thì bốn năng lực Tứ Đại cũng không còn tồn tại. Điểm khởi đầu của bốn năng lực Tứ Đại đều tùy thuộc vào điểm tác dụng của Tâm Thức Alaya, nhưng Tâm Thức Alaya có từ vô thỉ (không có điểm khởi đầu) cho nên bốn năng lực Tứ Đại cũng phát sanh từ vô thỉ. Vì lý do đó, nhà Duy Thức xếp bốn năng lực Tứ Đại này thuộc về loại: "Không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra, nhưng có điểm cuối cùng để chấm dứt (Đây cũng thuộc về loại vô thỉ nhưng hữu chung).

KHÔNG CÓ ĐẦU TIÊN VÀ CŨNG KHÔNG CÓ CUỐI CÙNG: (vô thỉ, vô chung)

Theo nhà Duy Thức, Tâm Thức Alaya là thể của vạn pháp có khả năng tàng trữ, phát sanh và duy trì sanh của vạn pháp. Tâm Thức Alaya nếu như khônghiện hữu thì vạn pháp không thể góp mặt trong thế gian. Vạn pháp thì bị sanh diệt trong Thức Thể Alaya không bị sanh diệt. Thức Thể Alaya mỗi khi sinh hoạt thì vạn pháp được sanh ra và Thức Thể Alaya nếu như không sinh hoạt thì vạn pháp bị tiêu diệt. Khi vạn pháp bị hoại diệt, Kiến Phần Thức Alaya chỉ thiếu duyên để sinh hoạt đấy thôi và nó không có nghĩa là bị tiêu diệt theo. Lúc đó Kiến Phần Thức Aalaya chỉ trở về với thể tĩnh lặng của nó trong Thức Alaya. Do đó, Thức Thể Alaya không có vấn đề tăng hay giảm và chỉ có Kiến Phần Thức Alaya sinh hoạt hay không sinh hoạt mà thôi.

Thí dụ, khi con người ngủ mê, Nhãn Thức của họ không còn nhìn thấy sự vật. Mặc dù không còn nhìn thấy sự vật, Nhãn Thức của họ không có nghĩa là đã bị tiêu diệt. Lúc đó Nhãn Thức người ngủ mê chỉ trở về với thể của nó trong Thức Thể Alaya. Nhãn Thức nếu như bị hoại diệt thì nhất định không còn nhìn thấy được sự vật nữa, một khi con người đó thức giấc. Nhưng khi con người thức giấc, họ vẫn thấy được sự vật như thường, chứng tỏ Nhãn Thức của họ không bao giờ bị hoại diệt. Cái nhìn thấy của Nhãn Thức trước khi đi ngủ và cái nhìn thấy của Nhãn Thức sau khi thức giấc vẫn giống nhau như lúc nào và không cảm thấy có tăng hay giảm, trừ trường hợp hệ thống thần kinh con mắt của người đó bị yếu đi.

Tâm Thức Alaya cũng thế, không có vấn đề sanh diệt tăng giảm và chỉ có vấn đề sinh hoạt để vạn pháp được xây dựng hoặc không sinh hoạt để khiến vạn pháp bị tiêu diệt mà thôi. Tâm Thức Alaya thuộc về thể tánh của vạn pháp thì nhất định không bao giờ bị vấn đề sanh diệt và tăng giảm chi phối. Tâm Thức Alaya nếu như bị vấn đề sanh diệt và tăng giảm chi phối thì vạn pháp không có chỗ nương tựa vững chắc để góp mặt trong thế gian. Tâm Thức Alaya cũng giống như miếng đất phì nhiêu và các hạt giống vạn pháp nương nơi đó để sanh trưởng, nên gọi Tâm Thức Alaya là Tâm Địa. Bởi thế, nhà Duy Thức xếp Tâm Thức Alaya thuộc loại: "Không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng không có điểm cuối cùng để chấm dứt". (Đây thuộc về loại vô thỉ và vô chung).

Tóm lại, vạn pháp hiện có mặt trong thế gian đều do Tâm Thức sanh ra, cho nên vạn pháp phải bị lưu chuyển trong vòng sanh diệt. Do bị lưu chuyển trong vòng sanh diệt, vạn pháp đều được đặt trong vấn đề: "Có nguyên nhân đầu tiên hay không có nguyên nhân đầu tiên và có điểm cuối cùng hay không có điểm cuối cùng". Trong vạn pháp, những loại như: Ngã Tướng, Pháp TướngNghiệp Lực đều do ý Thức thứ sáu sáng tạo, cho nên chúng thuộc về loại: "Có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cố điểm cuối cùng để chấm dứt" (hữu thỉ và hữu chung), còn những pháp như, Tứ ĐạiCăn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng, với hai loại này, Ý Thức thứ sáu chỉ có khả năng hiểu biết được chúng trên lãnh vực tác dụng cũng như trên lãnh vực hoại diệt và không thể hiếu biết nguyên nhân đầu tiên sanh ra chúng. Do đó, Tứ ĐạiCăn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng được nhà Duy Thức ghép vào loại: "Không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra, nhưng có điểm cuối cùng để chấm dứt" (vô thỉ nhưng hữu chung).

Riêng Tâm Thức Alaya là thể chung của vạn pháp trong thế gianTâm Thức này không bị vấn đề sanh diệt, có và không chi phối. Vạn pháp sở dĩ được sanh khởi là do Tâm Thức Alaya xây dựng. Vạn pháp chỉ hiện hữu phía bên trong của Tâm Thức này và lấy không gian của Tâm Thức này làm không gian cho chính mình sinh hoạt. Trường hợp đây cũng giống như các loài cá sanh ra phía trong của khối nước và lấy không gian của khối nước làm không gian cho chúng sinh hoạt. Sự sanh khởi của vạn pháp do Tâm Thức Alaya xây dựng bằng cách khiến cho thể tánh của mỗi pháp từ nơi hạt giống sẵn có trong Thức Thể Alaya tự động thể hiện để thành hình tướng và chúng nó không phải do Tâm Thức Alaya sanh ra trong thế gian. Cho nên các tướng của vạn pháp biến hiện thì có sanh diệt, nhưng thể tánh của mỗi pháp trong vạn pháp thì vẫn tồn tại và không bị sanh diệt biến hoại. Thể tánh mỗi pháp của vạn pháp vẫn được Thức Thể Alaya tàng trữ và bảo trì. Vì thế, Tâm Thức Alaya mới chính là loại: "Không có nguyên nhân đầu tiên sanh ra và cũng không có điểm cuối cùng để chấm dút" (vô thỉ và vô chung).

G.- QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI CỦA PHẬT GIÁO:

Quan niệm về thế giới, Phật Giáo đứng trên lập trường thiền định để quán sát và được phân làm hai loại: thứ nhất là thế giới lý tưởng và thứ hai là thế giới hiện tượng. Đây là kết quả của thiên quánPhật Giáo đã thành lập. Như vậy, thế nào là thế giới lý tưởng và thế nào là thế giới hiện tượng?

I- QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI LÝ TƯỞNG: (Lý tưởng thế giới quan)

Thế giới lý tưởngthế giới thuộc loại chân thật, thường trụ, an lạc, không hư vọng, không sanh diệt và không biến hoại, nên gọi là Thế Giới Chân Như. Thế giới này cũng gọi là Thế Giới Niết Bàn tịch tịnh. Theo Phật Giáo, tất cả chúng sanh cần phải tu tập mong đạt đến cho kỳ được thế giới lý tưởng, để được thoát khỏi vòng đai luân hồi sanh tử trong ba cõi. Thế giới lý tưởng thuộc về thế giới y báo của chư Phật trong mười phương an trụ và sinh hoạt. Thế giới lý tưởng hẳn nhiên không phải thế giới mê vọng và cũng không phải thế giới nghiệp duyên của chúng sanh đang sống. Thế giới mê vọng cũng như thế giới nghiệp duyên trong ba cõi đều thuộc về thế giới đại mộng và những thế giới này đều được phát sanh từ nơi thế giới Chân Như. Vấn đề đây thì cũng giống như thế giới trong mơ. Thế giới trong mơ là thế giới thuộc về tiểu mộng và được phát sanh từ nơi thế giới ta bà của chúng ta đang sống. Thế giới Chân Như giả sử không hiện hữu thì ba cõi đại mộng vừa nêu trên cũng không thể thành lập. Khác nào thế giới ta bàchúng ta đang sống nếu như không có mặt trong thế gian thì thế giới tiểu mộng trong mơ nhất định không thể phát sanh. Thế giới Chân Như, Phật Giáo gọi là thế giới Vô Dư Niết Bàn. Vô Dư Niết Bàn nghĩa là thế giới niết bàn hoàn toàn thanh tịnhan lạc, không còn chút nào nghiệp thừa của thế giới sanh tử lưu chuyển trong ba cõi. Do đó thế giới Chân Như được gọi là thế giới lý tưởng.

II.- QUAN NIỆM VỀ THẾ GIỚI HIỆN TƯỢNG: (hiện tượng thế giới quan)

Thế giới hiện tượng là những cảnh giới giả huyền, vô thường sanh diệtbiến hoá liên tục không ngừng nghỉ.

Chúng sanh sống trong thế giới đó đều bị sanh tử lưu chuyển, mê vọng và khổ đau. Theo Phật Giáo, thế giới hiện tượng gồm có hai loại: một loại thuộc về thế giới Vọng và một loại thuộc về thế giới Nghiệp Duyên. Thế giới Vọng Hiện là những cảnh giới thuộc về mê vọng, thuộc về bóng ảo giác và được phát sanh từ nơi thế giới Chân Như, những thế giới Vọng Hiện phần lớn thuộc về thế giới Vô Sắc, một cõi trong ba cõi.

Còn thế giới Nghiệp Duyên là những cảnh giới thuộc loại duyên sanh mà trong đó nghiệp lực quyết định mọi sự cấu tạo vạn pháp. Những cảnh giới Nghiệp Duyên đều được phát sinh từ nơi thế giới Vọng Hiện do chúng sanh gây nghiệp tạo thành. Thế giới Vọng Hiện hay thế giới Nghiệp Duyên đều gọi là thế giới đại mộng đối với thế giới Chân Như. Thế giới Nghiệp Duyên gồm có các cõi thuộc về Sắc Giới và các cõi thuộc về Dục Giới.

Riêng hiện tượng vạn pháp trong thế giới vọng hiện và thế giới nghiệp duyên, Phật Giáo lại còn chia thành hai loại: một loại gọi là Hữu Tình Thế Gian và một loại gọi là Khí Thế Gian.

Hữu Tình Thế Gian:

Hữu Tình Thế Gian nghĩa là chúng sanh hữu tình hiện có mặt trong thế gian. Chúng sanh hữu tình là những chúng sanh có tình cảm và có hiểu biết, hiện đang cư ngụsinh hoạt trong ba cõi. Đứng trên lập trường quả báo để nhận xét, tất cả chúng sanh hữu tình nói trên đều thuộc về chánh báo và được xây dựng từ nơi nghiệp báo. Trong ba cõi, mỗi chúng sanh hữu tình đều có nghiệp riêng của họ tự tạo nên và để cho họ tự hưởng thụ. Thân thể chúng sanh hữu tình trong ba cõi, có loại được xây dựng bởi các chất liệu trược khí của tứ đại (Trước khí là khí huyết nhơ nhớp, nặng nề và ngăn ngại), có loại được xây dựng bởi các chất liệu thanh khí của tứ đại (Thanh Khí là loại khí chất trong sạch của tứ đại) và có loại được xây dựng bằng chất liệu Thức Ấm. Tứ Đại trược khí trong thân thể của các chúng sanh hữu tình được gọi là Sắc Uẩn. Tứ Đại thanh khí trong thân thể của các chúng sanh hữu tình được gọi là Sắc Ấm. Tâm Thức nơi thân thể của các chúng sanh hữu tình được gọi là Thức Ấm. Thân thể trược khí của các chúng sanh hữu tình gọi là Trược Thân, thân thể thanh khí của các chúng sanh hữu tình gọi là Thanh Thân và thân thể bằng tâm thức của các chúng sanh hữu tình gọi là Trung Ấm Thân. Chúng ta có thể nhìn thấy những chúng sanh hữu tình thuộc trược thân. Ngoài ra, chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc nhìn thấy hình tướng của các chúng sanh hữu tình thuộc Thanh Thân và và Trung Ấm Thân.

Thí dụ, những người trong mơ, chúng ta không thể nhìn thấy hình tướng của họ, nhưng chúng vẫn có mặt trong nội tâm. Chỉ những người đang mơ mới nhìn thấy những chúng sanh sống trong mộng.

Khí Thế Gian (Thế giới):

Khí Thế Gian nghĩa là những thế giới thuộc về y báo của các chúng sanh hữu tình sanh sống. Khí Thế Gian gồm những cõi như, địa cầu, hành tinh v.v... là những nơi để cho các chúng sanh hữu tình cư ngụsinh hoạt. Khí thế gian, có loại được xây dựng bằng chất liệu khí quyển (Atmosphere) trong không gian, có loại được xây dựng bằng chất liệu ngũ ấm và có loại được xây dựng bằng chất liệu vọng thức.

Khí Thế Gian được xây dựng bằng chất liệu khí quyển. Trước hết, khí quyển trong không gian bị cọ xát (Friction) bởi năng lực chuyển động của Phong Luân (bánh xe gió) quay xoáy ốc (Whirl Atmosphere), đồng thời bị sức hút của Cộng Nghiệp qua hệ thống Kiến Phần Thức Alaya rơi vào trong Pháp Tướng. Ngay lúc đó, Kiến Phần Thức Alaya lấy nguyên liệu khí quyển trên xây dựng thành hình tướng vật chất của Khí Thế Gian. Quả địa cầu của chúng ta đang cư ngụ là một trong những Khí Thế Gian được xây dựng bằng chất liệu Khí Quyển.

Khí Thế Gian được xây dựng bằng chất liệu ngũ ấm. Kiến Phần Thức Alaya lấy chất liệu thuộc ngũ ấm tạo thành cảnh giới để cho các chúng sanh cư ngụ gồm các cõi như cõi ngạ quỷ và các cõi trời Lục Dục. Theo Câu Xá Luận, quyển 11, Đại Tỳ Bà Sa Luận, quyển 134, A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý Luận, quyển 31, chư Thiên trong các cõi trời Dạ Ma, Đâu Xuất, Hoá Lạc, Tha Hoá Tự Tại trong Dục Giới và các chư Thiên trong Sắc Giới đều cư ngụ trong không giới được xây dựng bằng chất liệu ngũ ấm. Phật giáo thường gọi chúng sanh hữu tình sống trong các cõi này là Hữu tình Không Cư.

Khí Thế Gian được xây dựng bằng chất liệu Vọng Hiện gồm có các cõi trong Vô Sắc Giới. Các cõi này do Kiến Phần Thức Alaya vọng hiện thành cảnh giới. Các cảnh giới vọng hiện giống như các cảnh giới vọng hiện trong mộng mơ mà con người thường nằm mơ.

Khí Thế Gian, Phật Giáo dựa trên thiền định và căn cứ nơi trung tâm Hữu Tình Thế Gian, phân chia thành ba cõi: cõi Dục (Dục giới), cõi Sắc (Sắc giới) và cõi Vô Sắc (Vô Sắc giới).

* CÕI DỤC (Dục giới):

Cõi Dục là những cõi thuộc ái dục. Những cõi này được xây dựng bằng chất liệu Ái Dục cực thịnh và trong đó có một số cõi được cộng thêm những nguyên liệu vật chất trọng trược tạo nên. Có những cõi lại được xây dựng bởi chất liệu khinh ái (ái dục nhẹ hơn) và nguyên liệu vật chất thuộc thanh khí. Tất cả cảnh giới nói trên đều được gọi chung là Dục Giới.

Những chúng sanh hữu tình trong các cõi Dục, có loại sanh ra từ bào thai gọi là Thai Sanh, có loại sanh ra từ quả trứng gọi là Noãn Sanh, có loại sanh ra từ nơi chỗ ẩm thấp gọi là Thấp Sanh và có loại sanh ra từ hình thức chuyển hoá gọi là Hóa Sanh.

Những chúng sanh hữu tình như, loài người, loài trâu bò, loài chó v.v... đều được sanh ra từ bào thai. Những chúng sanh hữu tình như, loài gà, loài chim v.v... đều được sanh ra từ quả trứng. Những chúng sanh hữu tình như loại Côn Trùng (Insect), Con Rận (Bug), con Bọ Hung (Beetle) v.v... đều được sanh ra từ nơi chỗ ẩm thấp. Những chúng sanh hữu tình như, con Nhộng (Chrysalis) được chuyển hoá thành con Bươm Bướm (Butterfly), con Lăng Quăng (Mosquito Larva) được chuyển hoá thành con Muỗi (Mosquito) v.v... Phật Giáo gọi chung những loại này một danh từ là Tứ Sanh. Tứ Sanh nghĩa là có bốn loài sanh ra bằng thai, bằng trứng, bằng ẩm thấp và bằng sự chuyển hoá.

Dục Giới gồm có:

NGŨ THÚ TẠP CƯ ĐỊA:

Ngũ Thú: là năm cõi.

Tạp Cư: là ở chung lộn với nhau.

Địa: là nơi chốn, là thế giới.

Ngũ Thú Tạp Cư Địa: nghĩa là năm cõi ái dục gồm có năm loại chúng sanh hữu tình sống chung lộn với nhau. Trong năm loại chúng sanh hữu tình tạp tư, mỗi loại tự sống thế giới riêng theo nghiệp lực của họ. Năm cõi ái dục gồm có: cõi Người, cõi Trời (Atula), cõi Địa Ngục, cõi Ngạ Quỷ và cõi Súc Sanh.

l)- CÕI ĐỊA NGỤC:

Địa Ngục là cõi tận cùng của Dục Giớivị trí của cõi Địa Ngục thì ở khắp nơi trong các cõi của Dục Giới. Cõi Địa Ngục thường ở những chỗ không có ánh sáng mặt trời và ánh sáng mặt trăng soi đến. Như Cô Địa Ngục thì ở rải rác khắp trên mặt đất của chúng ta đang sống. Trong cõi Cô Địa Ngục, các chúng sanh hữu tình và các cảnh giới đều được xây dựng bởi chất liệu Ngũ ấm. Cảnh giớithân thể của họ giống như sương khói, do ái dục cực thịnh trói buộc. Thân thể của họ cũng được xây dựng theo hệ thống sinh lý nam nữ. Những cõi Cô Địa Ngục thì không ảnh hưởng đến ánh sáng mặt trời, cũng như không ảnh hưởng đến ánh sáng mặt trăng và nhất là tối kỵ ánh sáng mặt trời. Trường hợp này cũng giống như ánh sáng ban ngày chỉ ảnh hưởng với loài người, nhưng không ảnh hưởng với những loại sống về bóng tối như, loài dơi, loài chim quốc loài cú mèo v.v... Ban ngày của loài người là ban đêm của các loại sống trong bóng tối. Ban ngày của các loài sống trong bóng tối là ban đêm của loài người. Có thể nói, Địa Ngục là những cõi mà các chúng sanh hữu tình sống trong đó đều bị trói buộc bởi si mê, dục vọng cực thịnh tạo nên.

2)- CÕI NGẠ QUỶ:

Ngạ Quỷ là những cảnh giới do nghiệp báo tham lam, ích kỷ, bỏn xẻn, keo kiết cực thịnh trói buộc tạo nên. Vị trí của cảnh giới Ngạ Quỷ rất rộng lớn trải khắp nhân gian.

Cảnh giới Nga Quỷ và những chúng sanh sống trong đó đều do ngũ ấm kết hợp tạo thành. Chúng sanh Nga Quỷ có nhiều loại: Vô Tài, Thiển Tài và Đa Tài.

- Quỷ Vô Tài:

Vô Tài nghĩa là những loài quỷ, có loại miệng đầy lửa, có loại miệng nhỏ như kim và có loại miệng bay ra mùi hôi thúi. Những loại quỷ có miệng lửa thì quá đau khổ vì thường bị lửa đốt cháy nên ăn uống không được. Những loại quỷ có miệng kim, nghĩa là miệng của chúng nhỏ như cây kim nên ăn không được và họ quá đau khổđói khát. Những loại có miệng hôi thì thường bay ra mùi hôi thúi khó chịu.

Quỷ Thiển Tài:

Thiển Tài nghĩa là những loài quỷ có lông kim, lông hôi và lông bệnh trong người. Lông kim nghĩa là lông cứng và nhọn như mũi kim. Những loài quỷ có lông kim thì thường đau khổ vì bị lông này đâm vào thân người và họ cảm thấy nhức nhối khó chịu. Những loài quỷ có lông hôi trong người thì lông này thường tiết ra mùi hôi thúi khó chịu. Những loài quỷ có lông bệnh và lông này thường khiến con người của họ cứ mãi bị bệnh hoạn yếu đuối mà không được chút an lành.

Quỷ Đa Tài:

Đa Tài nghĩa là những loài quỷ chuyên môn đi góp nhặt và tích lũy tài vật cho nhiều bằng mọi hình thức. Loài Quỷ này cũng chia làm ba loại:

+ Khí Quỷ:

Khí Quỷ nghĩa là những loài quỷ chuyên môn đi nhận tài vật cúng bái của người đời. Những loài quỷ này mà người đời thường gọi là Ma và chúng nó thường thân cận với người đời để kiếm ăn.

+ Thất Quỷ:

Thất Quỷ nghĩa là những loài quỷ chuyên môn đi lấy những tài vật bị thất lạc của loài người bỏ quên và khiến cho loài người không thể tìm lại được.

+ Đại Khí Quỷ:

Đại Khí Quỷ nghĩa là những loài quỷ chuyên môn đi cướp đoạt tài vật của người đời bằng cách giết hại. Những loài quỷ này rất hung bạo có khi đi bắt người chết theo để làm nô lệphục dịch cho chúng nó. Những loài Đại Khí Quỷ gồm có: Quỷ Dạ Xoa, Quỷ La Sát, Quỷ Tỳ Xá v.v.v... (theo Thuận Chánh Lý Luận, quyển 21).

3)- SÚC SANH:

Súc Sanh là chỉ cho những loài súc vật, như: heo, gà, chó v.v... Những loài súc sanh khác hơn loài người ở chỗ đi đứng thường đưa lưng lên trời. còn loài người thì đi đứng thường đưa đầu lên trời. Những loài súc sanh cũng có tên khác nữa là loài Bàng Sanh. Bàng Sanh nghĩa là những loài chúng sanh đi đứng thường đưa lưng nằm ngang. Những loài chúng sanh này đều do nghiệp lực sát hại cực thịnh tạo nên và thân thể cũng được xây dựng bằng chất liệu ngũ uẩn.

4)- CÕI NGƯỜI:

Cõi người và những chúng sanh sống trong đó đều do ái dục trọng trược và cực thịnh tạo nên. Cảnh giớichúng sanh trong cõi người cũng được xây đựng bằng chất liệu ngũ uẩn. Chúng sanh trong cõi này thường say đắmham thích chạy theo năm dục lạc giả tạo của thế gian. Do đó họ gây tạo rất nhiều nghiệp tội tử sanh. Loài người thường đi đứng bằng hai chân xuống đất và đưa đầu lên trời. Theo Phật Giáo, cõi ngườitrung tâm giao điểm giữa hai con đường, con đường giác ngộ đi đến cõi Phậtcon đường đọa lạc sanh tử trong ba cõi. Cõi người có đủ điều kiện đi lên để thành Phật và cũng có đủ điều kiện đi xuống tận cùng của khổ đau.

Trong năm cõi nói trên, các chúng sanh hữu tình đều có án uống, có ngủ nghỉ, có dâm dục. Cho nên chúng có đầy đủ năm Tâm Thức và năm Giác Quan (năm Căn). Hơn nữa, các cõi Dục này cũng có đủ bốn loài sanh sản, như loài sanh ra từ bào thai (thai sanh), loài sanh ra từ quả trứng (noãn sanh), loài sanh ra từ nơi chỗ ẩm thấp (thấp sanh) và loài sanh ra từ hình thức chuyển hoá (hoá sanh). Những chúng sanh hữu tình trong các cõi Dục đều lấy chất đất làm nơi cư trú để sanh sống nên gọi là "Hữu Tình Địa Cư". Hữu Tình Địa Cư nghĩa là những loài hữu tình đều lấy chất đất để xây dựng nơi cư trú. Năm cõi này thường sống chung lộn với nhau, cụ thể như, heo, gà, ngựa, chó v.v... đều sống chung lộn với loài người, nên gọi là "Ngũ Thú Tạp Cư Địa".

5)- CÕI TRỜI:

Thiên là cõi trời. Đây là danh từ chung dùng để chỉ cho các cõi như: cõi Tứ Thiên Vương, cõi Đao Lợi Thiên (Cõi này gồm cố 33 cõi trời phụ bao bọc chung quanh), cõi Dạ Ma Thiên, cõi Đâu Suất Đà Thiên, cõi Hoá Lạc Thiên, cõi Tha Hoá Tự Tại Thiên. Chúng sanh hữu tình trong các cõi này cũng giống như Ngũ Thú Tạp Cư Địa của chúng ta. Họ cũng ăn uống, ngủ nghỉ, ái dục để tồn tại cũng giống như loài người. Họ cũng có nam giới và nữ giới, cũng đầy đủ tâm Thức và năm Giác Quan giống như loài người. Hơn. nữa, họ cũng nương tựa nơi vật chất thuộc loại sắc ấm làm chỗ cư trú. Cho nên cõi này cũng gọi là Dục Giới.

* CÕI SẮC:

Sắc Giới là những cảnh giới như quốc độ, cung điện thân thể đều được xây dựng bởi những nguyên liệu vật chấthình sắc rất tinh sảo, rất trong suất, rất thù thắng. Những nguyên liệu vật chất này đều thuộc về thể tánh của Tứ Đại cho nên không ô trược, không nhơ nhớp, không tanh hôi và tinh sạch như pha lê. Chúng sanh hữu tình sống trong những cõi Sắc Giới vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của ái dục, của vật chất. Nhưng sự ái dục của họ không tác dụng mạnh và không thô tục giống như sự ái dục của các chúng sanh trong cõi Dục. Vì chưa lìa khỏi sự ràng buộc của vật chất, chúng sanh hữu tình và những cảnh giới của cõi sắc được gọi là Sắc Giới. Những cõi Sắc gồm có:

1/ SƠ THIỀN LY, SANH HỶ LẠC ĐỊA:

Sơ Thiền nghĩa là bậc thiền định thứ nhất. Ly nghĩa là lìa khỏi sanh từ lưu chuyển. Sanh Hỷ Lạc nghĩa là phát sanh sự vui mừngsung sướng. Địa nghĩa là cõi, là thế giới.

Sơ Thiền Ly, Sanh Hỷ Lạc Địa nghĩa là cõi Thiền Định thuộc về bậc thứ nhất. Chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó thì rất an ổn, sung sướngvui mừng cho mình đã được lìa khỏi vòng sanh tử lưu chuyển của Dục Giới để sống trong cõi Sắc Giới. Những chúng sanh hữu tình trong cõi này tuy có thân thể, nhưng họ không dâm dục thô tục. Họ được sanh ra bằng cách hoá sanh. Họ luôn luôn sống trong thiền định. Họ không có ăn uống (không đoạn thực), nghĩa là họ không ăn đồ ăn vào bụng như những chúng sanh hữu tình ở các cõi Dục Giới. Cho nên họ chỉ có sáu Tâm Thức sinh hoạt là: Nhãn Thức, Nhĩ Thức, Thân Thức, Ý Thức, Mạt Na Thức và Alaya Thức. Thiệt ThứcTỷ Thức thì không còn sinh hoạt trong con người họ giống như đã từng sinh hoạt trong chúng sanh hữu tình ở các cõi Dục Giới.

Vì mãi sống trong thiền định, Tâm Thức của những chúng sanh trong cõi này cứ liên tục tìm cầu và suy nghiệm chân lý giác ngộ, còn về phương diện tình cảm, họ cảm thấy vui vẻ, an lạc trong trạng thái bình đằng và không chấp trước bất cứ cảnh sở quán nào.

2/- NHỊ THIỀN ĐỊNH, SANH HỶ LẠC ĐỊA:

Nhị Thiền nghĩa là bậc thiền định thứ hai. Định nghĩa là tập trung tâm ý chuyên nhất vào một vấn đề không cho loạn động để quán chiếu. Sanh Hỷ Lạc nghĩa là phát sanh sự vui mừng trong trạng thái không chấp trước. Địa nghĩa là cõi, là thế giới.

Nhị Thiền Định, Sanh Hỷ Lạc Địa nghĩa là cõi Thiền định thuộc về bậc thứ hai. Những chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó nhờ thiền định mà lìa được trạng thái Tầm Tư, chỉ còn cảm giác về sự vui vẻan lạc trong trạng thái không chấp trước (trạng thái xả). Họ xa lìa được trạng thái Tầm Tư, nghĩa là họ tu thiền định đã được thuần thục trong sự quán chiếu, cho nên họ không cần phải chứng minh mới giác ngộ (Tầm) và họ cũng không cần phải dụng tâm phân tích để xét đoán mới trực diện được sự kiện (Từ). Những người tu thiền định ở cõi này mỗi lần quán chiếu vấn đề nào là họ liền giác ngộ ngay và không cần phải sử dụng lý trí để xét đoán.

3/- TAM THIỀN LY HỶ, DIỆU LẠC ĐỊA:

Tam Thiền nghĩa là bậc thiền định thứ ba. Ly Hỷ nghĩa là lìa khỏi sự vui mừng. Diệu Lạc nghĩa là sự an lạc một cách mầu nhiệm. Địa nghĩa là cõi, là thế giới.

Tam Thiền Ly Hỷ, Diệu Lạc Địa nghĩa là cõi thiền định thuộc về bậc thứ ba. Những chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó nhờ thiền định xa lìa được trạng thái hỷ và chỉ còn cảm giác về sự an lạc một cách mầu nhiệm trong trạng thái không chấp trước (trạng thái xả). Người tu thiền định cõi này thì luôn luôn giữ Tâm Thức được tĩnh lặng một cách tự tại, nghĩa là họ không bao giờ bị rung động trước bất cứ sự cảm xúc nào của khổ, vui trong cuộc. đời và trong lúc đó chính họ đã đạt đến một sự an lạc đặc biệt mầu nhiệm của bậc thiền định thứ ba này là Thiền Định Ly Hỷ Diệu Lạc Địa.

4/- TỨ THIỀN XẢ NIỆM THANH TINH ĐỊA:

Tứ Thiền nghĩa là bậc thiền định thứ tư. Xả nghĩa là bỏ, không chấp trước. Niệm nghĩa là nhớ nghĩ, phân biệt. Xả Niệm nghĩa là không còn nhớ nghĩ, không còn dụng tâm phân biệt để được giác ngộ chân lý. Thanh Tịnh nghĩa là trạng thái trong sạch và tĩnh lặng. Địa nghĩa là cõi, là thế giới.

Tứ Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa nghĩa là cõi thiền định thuộc về bậc thứ tư. Những chúng sanh hữu tình sống trong cõi đó nhờ thực tập thiền định đến mức thuần thục đã xa lìa hẳn trạng thái an lạc và khiến cho thân tâm trở nên thanh tịnh trong tĩnh lặng. Lúc đó, họ chỉ còn lại sự cảm giác về trạng thái không chấp trước (trạng thái xả). Người tu thiền định còn cảm giác về sự an lạc tức là người còn dụng tâm để niệm niệm phân biệt, còn chọn lựa những điều an lạc để hưởng thụ và còn phân biệt những điều không an lạc để tránh né, để đào thải, thế là người chưa đạt đến Tứ Thiền Xả Niệm Thanh Tịnh Địa. Người tu thiền định thuộc bậc thứ tư này không phải tìm sự an lạc từ bên ngoài mang vào, mà ở đây họ phát hiện sự an lạc từ trong tâm khơi nguồn tuôn chảy ra. Nguồn an lạc thật sự đó chỉ có thể hiện là khi nào tâm họ hoàn toàn thanh tịnh trong trạng thái tĩnh lặng và ngay lúc đó, tâm họ không còn bợn chút nào ô nhiễm bởi niệm niệm phân biệt chấp trước. Người tu thiền định đạt đến mức độ nói trên tức là người đã chứng được Địa Vị Thiền Định Xả Niệm Thanh Tinh một cách viên mãn.

Thí dụ, nguồn vui của kẻ vừa mới gặp được người thân từ việt Nam sang và nguồn vui khi người thân đó đang sống chung với họ trong một nhà đều khác nhau giá trị.

Nguồn vui của kẻ vừa mới gặp được người thân là nguồn vui rung động của Tâm Ý qua sự xúc cảm và được biểu lộ qua hình thức niềm nở. Nguồn vui đó từ bên ngoài do người thân đem đến và sẽ chấm dứt khi Tâm Ý của họ không còn rung động nữa. Trái lại nguồn vui khi được người thân sống chung trong một gia đình chính là nguồn vui trầm lặng, từ nội tâm âm thầm đến với họ hàng ngày trong tư thế không xúc động, không lo lắng, không để ý phân biệt mất hay còn. Nguồn vui đó mới thật sự lâu bền. Người tu thiền định cũng thế. Nguồn vui của kẻ vừa mới đạt đạo, vừa giác ngộ được chân lý thì khác nhau xa so với nguồn vui của kẻ đã sống thật sự trong đạo và đã an trụ một cách tự tại trong chân lý. Nguồn vui của kẻ vừa mới đạt đạo, vừa giác ngộ được chân lý là nguồn vui rung động do bởi tâm ý xúc động. Nguyên do nguồn vui đó đến một cách đột ngột, kích động tâm ý một cách bất ngờ và khiến cho tâm ý bị cảm xúc một cách bất an qua sự niệm niệm phân biệt (Hỷ). Đó là nguồn vui từ bên ngoài mang đến và không phải là nguồn vui thật sự được phát sanh từ trong tâm tuôn chảy, còn nguồn vui của kẻ sống trong đạo, của kẻ đang an trụ trong chân lý thì mới thật sự là nguồn vui chân chánh, thanh tịnh và lâu bền của trạng thái xả niệm.

Những chúng sanh hữu tình trong bốn cõi Thiền Định vừa trình bày vẫn còn mang chút thân thể vật chất của Sắc Ấm và cũng còn bị bản chất ái dục khởi động. Cho nên họ chưa thoát khỏi sự ràng buộc của vật chất và họ chọn lấy thanh khí trong không gian làm cảnh giới để cư trú và sinh hoạt. Do đó bốn cõi Thiền Định đây được gọi là Hữu Tình Không Cư, cũng giống như loài các chọn lấy khối nước sông biển làm cảnh giới để cư trú và sinh hoạt. Đây là hiện tượng bốn cõi Thiên Định của Sắc Giới.

* CÕI VÔ SẮC:

Vô Sắc Giới là những cõi hoàn toàn thoát ly hẳn vật chất, chỉ còn lại Tâm Thức tồn tại mà thôi. Những thế giới Vô Sắc phần nhiều là cảnh giới vọng hiện của thế giới Chân Như lưu xuất và cũng là nền tảng của thế giới Nghiệp Duyên sanh khởi. Thế Giới Nghiệp Duyên chính là những thế giới Sắc Giớinhân thế giới này được phát sanh do chúng sanh hữu tình trong các thế giới Vọng Hiện của Vô Sắc tạo nghiệp kết thành, còn những thế giới Dục Giới cũng là loại thế giới Nghiệp Duyên và những thế giới này được phát sanh là do chúng sanh hữu tình trong các thế giới Sắc Giới tạo nghiệp xây dựng thành. Nghiệp duyên của chúng sanh hữu tình gây tạo từ nơi các cõi Sắc Giới cô đọng Sắc Uẩn, một trong năm Uẩn tạo thành những thế giới của Dục Giới về vật chất. Sắc Uẩn của Dục Giới là những chất liệu trọng trược, cho nên chúng sanh hữu tìnhcảnh giới của các cõi Dục Giới đêu bị ngăn ngại bởi chất ngại. Riêng Vô Sắc Giới là những thế giới hoàn toàn do Thức Ấm tạo thành, cho nên chúng nó không bị ngăn ngại với nhau bởi vật chất. Vô Sắc Giới gồm có:

1/- KHÔNG VÔ BIÊN XỨ ĐỊA:

Không nghĩa là không tướng, tức là nguồn thể vừa vạn pháp đều ở trạng thái không có hình tướng. Đây là trạng thái thể tánh của vạn pháp. Vô Biên nghĩa là không có biên giới, không có bờ mé. Xứ Địa nghĩa là nơi chốn, bờ cõi có ranh giới.

Không Vô Biên Xứ Địa nghĩa là những chúng sanh hữu tình ở cõi này đã xa lìa phần sắc tướng thô trược tạp nhiễm của nghiệp duyên nơi các cõi Sắc Giới. Sắc tướng Nghiệp Duyên ở đây đều là Nghiệp Tướng thành hình. Nhưng Nghiệp Tướng thì không phải Nghiệp Lực. Sắc Tướng Nghiệp Duyên chỉ có trong Sắc GiớiDục Giớichúng nó không thể có trong Vô Sắc Giới. Những chúng sanh ở cõi không Vô Biên Xứ Địa chỉ do Sắc tướng tinh tế vọng hiện của thế giới Chân Như kết thành. Những chúng sanh hữu tình trong thế giới này đều ở trạng thái không, nghĩa là chúng nó chỉ có Tướng Thể mà không có Tướng Hiện như các cõi Sắc Giới. Tướng Thể là những hình tướng nguyên thể của các pháp chưa bị biến tướng, còn Tướng Hiện là những hìnhh tướng đã bị tác dụng biến thể, đã trở thành hình dạng lớn nhỏ, tốt xấu v..v... khác biệt nhau và chúng nó cũng không còn giữ được trạng thái nguyên thể giống như xưa nữa. Thế giới của họ cư trú là Hư Không bao la không có biên giới ngăn cách. Những chúng sanh hữu tình ở cõi này nhờ tu Thiền Quán nên giác ngộ được thể tánh của vạn pháp đều nằm trong trạng thái hư không bao la không có bờ mé. Cho nên thế giới đây được gọi là Không Vô Biên Địa.

2/- THỨC VÔ BIÊN XỨ ĐỊA: .

Thức là thức tướng, là hình tướng của thức thể và nó không phải thức tác dụng. Thức Tướng ở đây là chỉ cho Thức Thể Alaya.

Thức Vô Biên Xứ Địa nghĩa là những chúng sanh hữu tình ở cõi này không còn dùng sắc tướng tinh tế của thế giới ngoại cảnh thuộc vọng hiện để làm thân thể, để làm cải giới cho việc an trú của họ giống như Không Vô Biên Xứ Địa nói trên, mặc dù sắc tướng của thế giới ngoại cảnh đều là vọng hiện của thế giới Chân Như. Ở đây, họ chỉ dùng Thức Tướng của cảnh giới nội Tâm làm thân thể và làm cảnh giới để an trụ. Nói cách khác, họ chỉ dùng Thức Thân (thân thể bằng Tâm Thức) trong nội Tâm làm thân thể thay vì sử dụng những Ngã Tướng vọng hiện thuộc ngoại cảnh của thế giới Chân Như làm thân thể. Đồng thời họ chỉ dùng Thức Cảnh (cảnh giới bằng Tâm Thức) trong nội Tâm làm cảnh giới an trụ thay vì sử dụng những Pháp Tướng vọng hiện thuộc ngoại cảnh của thế giới Chân Như làm cảnh giới nương tựa giống như Không Vô Biên Xứ Địa nêu trên. Thức Cảnh của những chúng sanh hữu tình ở cõi này an trụ tức là Thức Thể Alaya bao la không biên giới. Cho nên cảnh giới Thức Thể Alaya này được gọi là Thức Vô Biên Xứ Địa.

3/- VÔ SỞ HỮU XỨ ĐỊA:

Vô nghĩa là không, hoàn toàn không, không còn chi cả. Sở Hữu nghĩa là những gì mình có, tức là những sự vật mà mình đã có bên cạnh để sử dụng.

Vô Sở Hữu Xứ Địa nghĩa là những chúng sanh hữu tình ở cõi này đã lìa được trạng thái Không Quán, tức là họ đang sống trong thế giới Không Tánh (Thể Tánh vạn pháp đều không), cho nên họ không còn sử dụng Thiền Quán để nhận chân Thể Không của vạn pháp thuộc ngoại cảnh. Họ cũng không còn sử dụng Tâm Thức để quán chiếu nữa mà ở đây, họ chỉ sử dụng Trí Tuệ để trực tiếp giác ngộ Thiền Cảnh không qua Thiền Quán. Họ cũng đã lìa được trạng thái ràng buộc của các Tâm Sở điều khiển, nghĩa là ở đây họ luôn luôn sống trong Thiền Đinh bằng cách trực giác mà không phải quán chiếu để hiểu biết. Cho nên họ không bị chi phối bởi các Tâm Sở, nhứt là các Tâm Sở Biến Hành cũng như các Tâm Sở Biệt Cảnh. Họ chỉ lìa khỏi sự ràng buộc của các Tâm Sở Biến Hành và các Tâm Sở Biệt Cảnh liên hệ, nhưng họ chưa hóa giải được những hạt giống các Tâm nói trên. Những chúng sanh hữu tình trong cõi này thì không chi để sử dụng (vô sở dụng) và cũng không cần chi để hưởng thụ (vô sở hữu). Chẳng những thế, họ cũng không cần đến những pháp môn để chứng đắc (vô sở đắc), nhưng họ còn vướng mắc bởi Tâm Sở Tưởng điều khiển, cho nên họ còn bị suy tưởng bởi vọng tưởng về tướng sai không bình đẳng của thế giới Chân Như. Ở đây họ còn tiếp tục sử dụng Trí Tuệ quán chiếu để hoá giải tận gốc rễ Tâm Sở Tưởng, không cho nó còn chút nào dấu vết trong Tâm Thức nữa. Nhờ đó họ mới trực diện được thể tánh bình đằng không sai biệt của thế giới Chân Như.

4/- PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ ĐỊA:

Phi Tưởng nghĩa là chẳng phải sống bằng Ý Tưởng. Ý Tưởng nghĩa là con người luôn luôn sống bằng sự tưởng tượng. Sự tưởng tượng của con người gồm có ba hình thứchồi tưởng, suy tưởng và mơ tưởng.

Hồi Tưởng nghĩa là luôn luôn tưởng nhớ những quá trình sinh hoạt thăng trầm của mình với sự tiếc nuối nhân danh phận hão huyền hoặc thù ghét cho kiếp sống đau thương của mình trong quá khứ. Suy Tưởng nghĩa là suy luận hay diễn dịch những điều tưởng tượng không đúng sự thật mà những điều đó chưa bao giờ xuất hiện trước mặt để hiểu biết, còn Mơ Tưởng nghĩa là mơ ước những điều mình mong muốn. Mình cứ mãi chạy theo những điều đã ước mơhy vọng đạt được mục đích một cách vẻ vang những điều mình mơ tưởng. Hồi Tưởng, Suy Tưởng hay Mơ Tưởng đều là vọng tưởng điên đảo của Ý Tưởng. Ý Tưởng đây tức là chỉ cho Tâm Thức Mạt Na thứ bảy thường Tâm Sở Tưởng trực tiếp sai sử và điều khiển. Những chúng sanh hữu tình nơi các cõi Sắc GiớiDục Giới đều sống trong vọng tưởng điên đảo của Tâm Sở Tưởng. Những chúng sanh hữu tình ở cõi Vô Sở Hữu Xứ Địa mặc dù tẩy sạch các hạt giống của các Tâm Sở Biến Hành và các Tâm Sở Biệt Cảnh khác, nhưng còn bị ràng buộc bởi Tâm Sở Tưởng khống chế. Ở cõi Vô Sở Hữu Xứ Địa này, họ còn phải tiếp tục tu tập thiền định Vô Tưởng để hoá giải tận gốc rễ hạt giống Tâm Sở Tưởng trong Tâm Thức của họ. Họ tu tập đến khi nào thoát khỏi sự ràng buộc của Tâm Sở Tưởng nên gọi là Phi Tưởng.

Phi Phi Tưởng nghĩa là chẳng còn trạng thái Phi Tưởng trong Tâm Thức. Những chúng sanh tu thiền định Vô Tưởng ở cõi Vô Sở Hữu Xứ Địa, tuy đã đạt đến trạng thái Phi Tưởng vừa kể, nhưng họ chưa hoá giải hạt giống Tâm Sở Tưởng trong Tâm Thức. Bởi thế, ở giai đoạn hai, họ phải tiếp tục tu tập thiền định Vô Tưởng cho đến khi hoá giải hết dấu Vết hạt giống Tâm Sở Tưởng không còn trong Tâm Thức của họ. Chừng đó họ mới thật sự giải thoáthoàn toàn sống trọn vẹn trong trạng thái Phi Phi Tưởng.

Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa, nghĩa là thế giới hoàn toàn không còn trạng thái Phi Phi Tưởng. Những chúng sanh hữu tình ở cõi này thì mới thật sự sống trọn vẹn trong thế giới tĩnh lặng, sau khi họ hóa giải xong dấu vết hạt giống Tâm Sở Tưởng. Họ sử dụng thiền định Vô Tưởng nhằm mục đích hoá giải hạt giống Tâm Sở Tưởng và nhờ đó, họ đạt đến trạng thái Phi Phi Tưởng. Sau khi đạt đến trạng thái Phi Phi Tưởng, họ không còn sử dụng thiền định Vô Tưởng nữa, nguyên vì hạt giống Tâm Sở Tưởng không còn dấu vết trong Tâm Thức của họ. Lúc đó họ hoàn toàn sống trọn vẹn trong thế giới tĩnh lặng của Thể Tánh chân thật. Thế giới Thể Tánh chân thật được gọi là thế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa.

Những chúng sanh hữu tìnhthế giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Địa chỉ trực diện được thế giới Chân Như, nhưng họ chưa có thể bước vào thế giới Chân Như, nguyên họ còn bị vướng mắc bởi Vô Minh Nghiệp Tướng mà trong lúc đó họ chưa hóa giải được. Ở đây họ còn phải tiếp tục phát huy Trí Tuệ Diệu Quan Sát và Trí Tuệ Bình Đẳng Tánh để nhờ hai trí tuệ này hoá giải Căn Bản Vô Minh Nghiệp Tướng trong mỗi Tâm Thức của họ. Họ hoá giải đến khi nào ra khỏi vòng đai năng lực Tổng Thể của Vô Minh Nghiệp Tướng. Đồng thời họ chuyển để biến thành Trí Tuệ Đại Viên Cảnh. Trí Tuệ Đại Viên Cảnh lúc đó lại thể nhập vào Tạng Như Lai để an trụ. Thế là họ thật sự bước vào và an trụ nơi thế giới Chân Như một cách tự tạigiải thoát.

Điều đặc biệt, riêng bảy thế giới ở sau, kể từ Sơ Thiền Ly Sanh Hỷ Lạc Địa cho đến Vô Sở Hữu Xứ Địa, những chúng sanh hữu tình trong các cõi đó đều sống trọn vẹn trong cảnh Thiền Định và chọn lấy cảnh Thiền Định làm đối tượng để quán chiếu. Cho nên năm Tâm Thức của họ không còn sinh hoạt nữa và nhất là những chúng sanh hữu tình ở cõi Vô Sở Hữu Xứ Địa nói trên đã chuyển hóa xong năm Tâm Thức này biến thành Trí Tuệ gọi là Trí Thành Sở Tác. Trí Thành Sở Tác để dùng vào Thân Ứng Hoá sau này cho việc hoá độ chúng sanh. Bởi thế, từ cõi Sơ Thiền Ly Sanh Hỷ Lạc Địa trở lên, họ chỉ sống bằng Thiền Duyệt Thực nghĩa là họ luôn luôn lấy sự an vui trong thiền định làm món ăn để sống, nên gọi là Thiền Duyệt Thực. Ở đây, họ không còn dùng phương pháp Đoạn Thực như con ngườicõi Ta Bà, nguyên vì họ không còn năm Tâm Thức sinh hoạt. Riêng bốn Vô Sắc là những thế giới mà người phàm chúng ta không thể thấy, không thể nghe và cũng không thể hiểu biết đến. Nguyên vì người phàm chúng ta chỉ hiểu biết mọi vật bằng Ảnh Tử. Cho nên mình đây không thể nào và cũng không có khả năng nhận biết những gì về các loài hữu tình đang sống tại đó. Chỉ những người tu tập Thiền Quán thuộc hạng siêu đẳng thì mới có khả năng nhìn thấy và hiểu biết được những chúng sanh hữu tình trong các cõi Vô Sắc sinh hoạt.

Tám phương pháp Thiền Định trong các cõi vừa nêu ở trên không ngoài mục đích giải thoát các căn nguyên mê vọng của chúng sanh và giúp cho chúng sanh lìa hẳn quan niệm tương đối về vấn đề có và không, sanh và diệt của thế gian, đồng thời đưa Tâm Thức chúng sanh đạt đến trạng thái tĩnh lặng tột đỉnh của sự an lạc. Ngoài ra Tám phương pháp Thiền Định này còn có khả năng chuyển hóa tám Thức Tâm Vương biến thành bốn Trí tuệ để được chứng ngộgiải thích sinh tử lưu chuyển trong ba cõi. Lúc đó chúng sanh mới thật sự đã được thành bậc Đại Giác vô thượng.

Tạo bài viết
07/11/2010(Xem: 128770)
16/11/2010(Xem: 23695)
30/10/2010(Xem: 42707)
16/11/2010(Xem: 25815)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.