Iv. Bố-tát Tụng Giới

19/06/201012:00 SA(Xem: 10290)
Iv. Bố-tát Tụng Giới

Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
LUẬT HỌC TINH YẾU

Hòa Thượng Thích Phước Sơn
Nhà xuất bản Phương Đơng 2006 – PL 2550

Chương 2
CÁC PHÁP YẾT-MA

IV. BỐ-TÁT TỤNG GIỚI

1. Duyên khởi về sự Bố-tát.

Theo truyền thống Ấn Độ, vào thời đức Phật (cũng như trước đĩ), tu sĩ của các tơn giáo thường tập họp sinh hoạt hằng tháng vào các ngày 8, 14, 15, 23, 2930 để học tập kinh luật và sách tấn nhau tu học. Vua Tần-bà-sa-la trơng thấy khơng khí sinh hoạt của họ cĩ nhiều ý nghĩa nên suy nghĩ: “Nếu chúng Tỳ-kheo đệ tử của Phật cũng sinh hoạt như thế thì sẽ đem lại nhiều lợi ích cho các Phật tử tại gia.” Do đĩ, ơng đích thân đến trình bày với Phật, và Phật chấp nhận ý kiến của ơng. Thế rối, Phật tập họp các Tỳ-kheo, quy định cứ mỗi tháng chúng Tỳ-kheo phải thực hành lễ Bố-tát hai lần vào ngày 1530 hoặc 29 nếu tháng thiếu.

Bố-tát là từ dịch âm khơng đầy đủ của tiếng phạn Uposatha, cĩ nghĩa là “ngày trai”, ngày phụng sự, ngày kiêng cữ v. v…; nĩi cách khác, là thực hành sự “trưởng tịnh” hay “trưởng thiện”, nghĩa là nuơi lớn sự thanh tịnh hay nuơi lớn thiện pháp.

Ban đầu, khi Bố-tát chỉ đọc tụng giới bổn một cách tổng quát, nội dung ấy được tĩm lược bằng bài kệ: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo”. Sau đĩ, mỗi lần Bố-tát, tụng lại đầy đủ các giới mà Phật đã chế. Các giới này dần dần được kết tập hồn chỉnh gồm 5 thiên và 7 tụ như hiện nay. Cụ thể, Tỳ-kheo Nam tơng gồm cĩ 227 giới, Tỳ-kheo-ni Nam tơng gồm 311 giới. Tỳ-kheo Bắc tơng gồm cĩ 250 giới và Tỳ-kheo-ni Bắc tơng gồm 348 giới.

2. Vấn đề sám hối trước khi Bố-tát.

Luật định việc sám hối được tiến hành trước định kỳ thuyết giới 1 ngày (tức ngày: 14, 29 hoặc 28 tháng thiếu). Tỳ-kheo nào phạm tội, phải sám hối cho thanh tịnh trước khi Bố-tát. Vì khi Bố-tát những Tỳ-kheo phạm tội mà chưa sám hối thì khơng được tụng giới, cũng khơng được nghe tụng giới. Người phạm tội phải hướng đến 1 người thanh tịnh nĩi rõ tội danh mình phạm mà xin sám hối. Trong một trú xứ, nếu tồn thể Tăng chúng đều phạm tội, thì phải thỉnh một Tỳ-kheo thanh tịnhmột trú xứ khác đến tác pháp sám hối giúp. Nếu khơng thỉnh được, Tăng sai 2 hay 3 Tỳ-kheo sang một trú xứ khác cĩ Tỳ-kheo thanh tịnh xin tác pháp sám hối. Sau khi sám hối các Tỳ-kheo ấy được xem là người thanh tịnh, sẽ trở về tác pháp sám hối cho các Tỳ-kheo khác. Trường hợp khơng thỉnh được, cũng khơng sai đi sám hối được, thì Tăng chúng tại trú xứ ấy phải tác pháp sám hối tập thể, sau đĩ mới Bố-tát.

3. Triển hạn thuyết giới.

Nếu vào những ngày thuyết giới định kỳ (tức 15 và 30 hoặc 29 nếu tháng thiếu) mà gặp những sự bất trắc khơng thể thuyết giới được, thì Tăng cĩ thể dời lại những ngày sau, từ ngày mồng 1 đến ngày 13, và 16 đến 28 hay 27 tháng thiếu (cách ngày thuyết giới kỳ sau 1 ngày). Thời gian này gọi là trung gian thuyết giới. Trong một trường hợp khác, Tăng chúng tại một trú xứ cĩ định kỳ thuyết giới vào ngày 15, nhưng nếu hay tin cĩ một nhĩm Tỳ-kheo khách đang cĩ sự bất hịa muốn đến đĩ Bố-tát, thì các Tỳ-kheo chủ cĩ thể Bố-tát trước một ngày, tức ngày 14. Nếu chưa chuẩn bị kịp mà các Tỳ-kheo khách đã đến, thì Tăng thường trú nên dời ngày Bố-tát để tránh sự lục đục cĩ thể xảy ra. Luật cho phép cĩ thể dời ngày Bố-tát tối đa đến hai lần. Nếu đến hạn chĩt lần triển hạn thứ hai mà nhĩm khách Tăng kia vẫn chưa chịu ra đi, thì Tăng thường trú cần áp dụng luật cưỡng bức nhĩm khách Tăng ấy cùng hịa hợp thuyết giới.

4. Những quy định liên quan đến Tỳ-kheo khách.

Tại một trú xứ, trong một ngày khơng được Bố-tát hai lần. Các Tỳ-kheo thường trú sau khi Bố-tát xong, nếu cĩ việc cần rời khỏi trú xứ, phải làm dấu, hoặc dặn người ở lại tin cho khách Tăng biết là nơi đây đã Bố-tát rồi, để tránh trường hợp Tỳ-kheo khách đến đây Bố-tát một lần nữa.

Khi hai nhĩm Tỳ-kheo dự định cùng Bố-tát tại một chỗ, Tỳ-kheo chủ định Bố-tát ngày 14, Tỳ-kheo khách muốn Bố-tát ngày 15, thì sẽ giải quyết theo phương thức: chủ đơng, khách ít, thì khách tùy chủ; khách đơng, chủ ít thì chủ tuỳ khách.

Trong trường hợp nhĩm Tỳ-kheo khách vừa đến một trú xứ mà nhĩm Tỳ-kheo chủ đã Bố-tát xong, thì các Tỳ-kheo khách phải bạch với Tỳ-kheo chủ rằng mình thanh tịnh, nếu nhĩm khách ít hơn chủ. Trái lại, nếu nhĩm khách Tăng đơng hơn, hoặc bằng nhĩm Tỳ-kheo chủ thì họ cĩ quyền yêu cầu thuyết lại từ bài tựa giới kinh đến hết. Nhưng chỉ tụng giới chứ khơng tác pháp Yết-ma.

5. Thuyết giới cho Sa-di.

Sa-di tuy chưa phải là một thành viên chính thức của Tăng đồn, nhưng vì đã là người xuất gia nên các phận sự như thuyết giới, an cư, Tự tứ, Sa-di cần phải chấp hành nghiêm túc. Khi nghe hiệu kiền chùy họp Tăng thuyết giới, các Sa-di cũng phải vân tập tại giới trường. Sau khi đảnh lễ chúng Tăng ba lạy, họ được vị Thượng tọa nhắc nhở, khích lệ, và hỏi kiểm tra 10 giới Sa-di. Khi hỏi, nếu ai vi phạm, phải thành tâm sám hối cho thanh tịnh.

Cuối cùng, Thượng tọa giáo giới: “Này các Sa-di, thân người khĩ được, giới pháp khĩ gặp, thời giờ qua mau, đạo nghiệp khĩ thành tựu. Các ngươi phải giữ gìn thân, khẩu, ý thanh tịnh, siêng học hỏi Kinh, Luật, Luận, cẩn thận chớ buơng lung.” Dạy rồi bảo họ lui ra khỏi giới trường, đến trước điện Phật hoặc một nơi nào thuận tiện, cùng nhau đọc tụng giới kinh của Sa-di.

6. Người chưa thọ Cụ túc khơng được nghe tụng giớùi

Lúc các Tỳ-kheo Bố-tát thuyết giới những người chưa thọ giới Cụ túc (kể cả Sa-di) phải ra khỏi giới trường, khơng được phép tham dự. Vì bấy giờ là lúc tụng giới Tỳ-kheo tụng những điều chỉ liên quan đến các Tỳ-kheo, các chúng khác khơng cĩ trách nhiệm phải gìn giữ. Do đĩ họ khơng được tham dự. Sự kiện này cĩ liên quan đến một câu trong luật Sa-di là “Bất đắc đạo thính Đại Sa-mơn thuyết giới” (khơng được nghe lén Đại Sa-mơn thuyết giới). Việc cấm Sa-di nghe lén khi Tỳ-kheo thuyết giới là điều cần thiết và rất chính đáng. Nhưng điều đáng tiếc là xưa nay cĩ một số ít người ngộ nhận, rồi suy diễn rằng luật cấm Sa-di (và các chúng khác) xem giới bổn của Tỳ-kheo. Thậm chí cịn bảo rằng những người chưa thọ giới Cụ-túc nếu đọc hoặc tìm hiểu giới bổn của Tỳ-kheo thì sau này sẽ khơng được thọ giới Cụ túc. Đĩ là sự hiểu lầm rất trái với tinh thần của đạo trí tuệ, chân chính và cơng truyền. Mục đích giới luật của Phật chế là nhằm ngăn điều ác, phát triển thiện hạnh, dắt dẫn chúng sinh đến bến bờ giải thốt. Thế nên, bất cứ ai muốn tìm hiểu bất cứ loại giới luật nào, với mục đích hướng thượng, cầu giải thốt, thì khơng những khơng được ngăn cấm, mà cịn phải khuyến khích và cổ vũ nữa là khác. Chính trong luật Sa-di đã nĩi rõ điểm này: “Nếu muốn biết rộng phải xem tồn bộ Luật tạng” (Nhược nhạo quảng lãm, tự đương duyệt Luật tạng tồn thư).

7. Trường hợp Ni chúng cầu thầy Giáo thọ.

Khi Phật cịn tại thế, việc giáo huấn Tỳ-kheo-ni là trách nhiệm Phật giao cho các Tỳ-kheo. Và việc Ni chúng sai người sang Tỳ-kheo Tăng cầu thỉnh thầy giáo thọ cũng là một trong tám Kính pháp mà Phật chế cho các Tỳ-kheo-ni phải tuân hành.

Sắp đến ngày Bố-tát, Ni chúng nên tác pháp bạch nhị Yết-ma sai một Tỳ-kheo-ni, đồng thời sai riêng 1 hay 2 cơ nữa, cùng sang chùa Tăng cầu thầy giáo thọ. Các cơ cĩ thể đến chùa Tăng nhờ thầy chấp sự thỉnh giúp hoặc thân hành đến cầu thỉnh vào giờ chúng Tăng Bố-tát. Tăng sẽ cứu xét, nếu trước đĩ đã cĩ Tỳ-kheo thường sang giáo thọ Ni chúng, thì Tăng nên sai vị ấy đi. Hoặc là Ni chúng cầu thỉnh đích danh Tỳ-kheo nào, thì Tăng nên đề cử vị ấy, nếu đủ điều kiện. Nếu khơng thuộc trong hai trường hợp này, thầy Yết-ma phải hỏi trong Tăng chúng, xem ai cĩ thể đảm trách cơng tác ấy, để cử đi. Người được Tăng đề cử giáo thọ Ni phải đủ 10 điều kiện: 1. Đủ 20 tuổi hạ; 2. Giới luật vẹn tồn; 3. Kiến thức rộng rãi; 4. Thơng suốt hai bộ Luật (Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni); 5. Quyết đốn rành mạch các vấn đề liên quan đến giới luật; 6. Xuất thân từ một gia đình nề nếp; 7. Dung nghi đoan chính; 8. Thuyết pháp giỏi; 9. Cĩ khả năng thuyết pháp khiến mọi người hoan hỷ; 10. Chưa từng phạm các giới quan trọng.

Sau khi hỏi, nếu trong Tăng chúng khơng ai cĩ thể đảm trách việc ấy, thì Thượng tọa Yết-ma sẽ tĩm tắt truyền dạy vị sứ giả Ni như sau: Trong Tăng đây khơng ai cĩ thể sang trực tiếp giáo giới Ni chúng, nhưng Tăng cĩ lời nhắc nhở Ni chúng là hãy siêng năng hành đạo, cùng nhau hịa hợp, thanh tịnh, y theo giới luậthành trì. Cẩn thận chớ buơng lung.

Ngày xưa việc giáo dục Tăng Ni chưa được tổ chức, nên mỗi kỳ Bố-tát, Ni chúng sai người sang đại Tăng thỉnh cầu giáo thọ là điều tất nhiên. Nhưng ngày nay cơng tác giáo dục Tăng Ni được tổ chức tương đối chặt chẽ, và Ni chúng thường xuyên học tập kinh luật; do đĩ việc Ni chúng cầu thầy giáo thọ khơng cịn cĩ tính chất thực tiễn, mà chỉ là một nghi thức truyền thống theo Luật định. Tuy nhiên, đây là một trong tám Kính pháp mà Phật đã chế định rất cĩ ý nghĩa, thiết tưởng Ni chúng nên vâng hành thánh giáo, cố gắng duy trì truyền thống tốt đẹp này để chánh pháp càng ngày càng được xương minh.

8. Vấn đề gởi dục và thuyết tịnh.

Tinh thần cơ bản của Tăng là thanh tịnh và hịa hợp. Do đĩ, vào ngày Bố-tát, tồn thể Tăng chúng tại một trú xứ phải tập họp đầy đủ để tránh tình trạng biệt chúngphá Tăng. Nhưng nếu cĩ Tỳ-kheo nào vì duyên sự đặc biệt như duyên sự bị bệnh hoặc đang chăm sĩc người bệnh… khơng thể đến dự được, thì cĩ quyền gởi dục và thuyết tịnh. Gởi dục nghĩa là gởi ý muốn của mình đến Tăng, tức là bày tỏ rằng mình sẽ chấp hành mọi quyết định của Tăng trong ngày Bố-tát. Thuyết tịnh là nhờ người trình lên Tăng rằng mình thanh tịnh, khơng phạm lỗi, cĩ đủ tư cách pháp nhân là một thành viên của Tăng đồn. Hàng Thượng tọa cĩ thể nhận dục, hoặc khơng nhận nếu mình khơng muốn. Nhưng các Tỳ-kheo khác khơng được quyền từ chối sự gởi dục của những Tỳ-kheo vắng mặtlý do chính đáng. Một người cĩ thể nhận dục từ một người cho đến nhiều người, khơng hạn chế số lượng. Sau khi nhận dục, người nhận dục nếu cĩ duyên sự phải ra khỏi trú xứ, cĩ thể chuyển sự gởi dục ấy cho một Tỳ-kheo khác.

Gởi dục khi Bố-tát thì nĩi: “Gởi dục và thanh tịnh”. Gởi dục khi Tự tứ thì nĩi: “Gởi dục tự tứ”. Gởi dục khi làm các Tăng sự khác thì nĩi: “ Gởi dục Yết-ma”.

9. Trường hợp Tỳ-kheo mắc bệnh cuồng si

Nếu cĩ Tỳ-kheo nào mắc bệnh cuồng si, khi Tăng Bố-tát hoặc nhớ và đến dự, hoặc khơng nhớ và khơng đến dự, thì Tăng phải tác pháp Yết-ma xác nhận vị ấy mắc bệnh cuồng si. Khi Tăng đã tác Yết-ma cơng nhận bệnh cuồng si rồi, thì lúc Bốá-tát vị ấy đến dự hay khơng đến dự đều khơng phạm tội biệt chúng. Đến khi nào lành bệnh, Tăng sẽ tác pháp cơng nhận vị ấy hết bệnh cuồng si, để vị ấy trở lại sinh hoạt bình thường như các Tỳ-kheo khác.

10. Linh động thuyết giới khi gặp nạn duyên.

Trong trường hợp đến ngày Bố- tát mà gặp những sự bất trắc xảy ra, như bị 8 nạn: 1. Do vua chúa; 2. Do giặc cướp, 3. Do nước, 4. Do lửa; 5. Do bệnh; 6. Do người; 7. Do ma quỷ hay do ác thú; 8. Hoặc Tăng chúng cĩ sự tranh chấp, hoặc đang gặp lúc cơng việc nhọc nhằn, nơi Bố-tát chật chội khơng đủ chỗ, bị mưa bão làm trở ngại... thì Phật cho phép thuyết giới tĩm lược.

Sau đây là năm thể thức thuyết giới:

1. Thuyết giới đầy đủ từ đầu đến cuối.

2. Thuyết giới tĩm lược từ bài tựa giới kinh đến 2 pháp Bất định rồi kết thúc.

3. Thuyết từ bài tựa đến pháp Tăng tàn rồi kết thúc.

4. Thuyết từ bài tựa đến pháp Ba-la-di rồi kết thúc.

5. Chỉ nĩi bài tựa giới kinh rồi kết thúc.

Ngồi ra, Luật Ma-ha-tăng-kỳ cịn cho phép, nếu nạn duyên đến quá gấp, lược thuyết cũng khơng đủ thì giờ, thì cĩ thể nĩi: Bạch chư Đại đức, hơm nay là ngày rằm, Bố-tát, mỗi người nên giữ gìn thân khẩu ý thanh tịnh, cẩn thận chớ buơng lung. Rồi tự ý giải tán.

Tạo bài viết
01/07/2010(Xem: 46044)
29/06/2010(Xem: 42213)
Ngày 9/12/2018 vừa qua Câu lạc bộ Nhân Sinh đã tổ chức Khóa tu “Tuổi trẻ có gì vui” tại Tu viện Khánh An 2, xã Tân An, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai với sự tham gia của hơn 250 bạn trẻ. Khóa tu diễn ra dưới sự hướng dẫn của sư Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng các vị Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.