Chương Iii - Vô Thường

01/06/201012:00 SA(Xem: 11038)
Chương Iii - Vô Thường

KINH ĐẠI THỪA NHẬP LĂNG GIÀ
Thích Nữ Trí Hải

Phụng dịch theo bản đời Đường của Ngài Thiệt Xoa Nan Đà.
Chùa Tịnh Luật xuất bản PL. 2546

 

QUTỂN NĂM

CHƯƠNG III

VÔ THƯỜNG

Bấy giờ Đại Huệ Bồ Tát đại hữu tình lại bạch Phật:

Bạch Thế Tôn ! Xin Thế Tôn giảng cho con tính tự giác của Như Lai (Tathàgata), Ứng Chính Đẳng Giác, khiến con cùng các Bồ Tát đại hữu tình hiểu rành rẽ rồi tự giác ngộ, giúp người giác ngộ.

Phật dạy:

Đại Huệ ! Như ông hỏi, ta sẽ nói cho ông.

Đại Huệ nói:

Vâng , bạch Thế Tôn ! Đấng Như Lai, Ứng Cúng Chính Đẳng Giác là được tạo thành hay không được tạo thành, là quả hay nhân, là tướng (predicat- ting) hay sở tướng (predicated), là thuyết hay sở thuyết (an expression or what is expressed), là giác (knowledge) hay sở giác (that which is know-able...) tất cả những điều ấy, Như Lai đều như thế hay đều không như thế?

Phật dạy:

Đại Huệ ! Đấng Như Lai Ứng Chính Đẳng Giác không phải tác (created) cũng không phải phi tác, không phải quả không phải nhân, không phải tướng không phải sở tướng, không phải thuyết không phải sở thuyết, không phải giác không phải sở giác. Vì sao? Vì những điều như thế đều bị mắc vào lỗi nhị nguyên. Này Đại Huệ ! Nếu Như Lai là được tạo thành (tác) tức là vô thường, nếu vô thường thì hết thảy pháp được tạo tác đều là Như Lai cả, điều ấy ta cùng chư Phật không chấp nhận. Nếu Như Lai được tạo tác tức là không có thể tính, thì hóa ra tất cả những phương tiện tu hành (để chứng quả) thành không, vô ích, giống như sừng thỏ, con của thạch nữ, vì không do nhân tạo thành. Nếu không phải nhân không phải quả tức không có không không; nếu khôngkhông không tức vượt ngoài tứ cú. Nói tứ cú nghĩa là chỉ thuận theo thế gian mà có ngôn thuyết. Nếu vượt ngoài tứ cú, chỉ có ngôn thuyết mà thôi thì khác nào con của thạch nữ. Đại Huệ ! Con của thạch nữ chỉ có ngôn thuyết không ở trong tứ cú, vì không ở trong tứ cú nên không thể suy lường. Những người có trí tuệ nên biết như vậy đối với nghĩa của tất cả những lập luận về Như Lai. Này Đại Huệ ! Như Lai có nói “ các pháp là vô ngã” (niràtmànah sarvadharmàh), vì trong các pháp khôngtính ngã nên nói là vô ngã, chứ không phải là không có tự tính các pháp. Nên biết những cú nghĩa về Như Lai cũng thế. Này Đại Huệ ! Thí như trâu không có tính ngựa, ngựa không có tính trâu, chứ không phải là không có tự tính. Hết thảy các pháp cũng vậy; không có tự tướng, không có mà có (phi phi hữu tức hữu ?), không phải là chỗ phàm phu có thể biết. Vì sao không biết? Vì phân biệt vậy. Hết thảy pháp không sinh, hết thảy pháp không tự tính, tất cũng như vậy. Này Đại Huệ ! Như Lai và uẩn không khác, không không khác. Nếu không khác tức vô thường, vì các uẩn là được tạo. Nếu khác thì như hai sừng trâu có chỗ khác và cũng có chỗ không khác vậy. Vì hai sừng trông giống nhau nên không khác, cái ngắn cái dài nên có khác. Như sừng bên phải khác sừng bên trái, sừng trái khác sừng phải, ngắn dài không đồng sắc tướng cũng khác, nhưng cũng không khác.

Uẩn, giới xứ v.v.. cũng vậy, hết thảy pháp đều như vậy. Đại Huệ ! Như Lai ấy là y chỗ giải thoát mà nói, Như Laigiải thoát không khác cũng không không khác. Nếu khác, thì Như Lai tức tương ưng với sắc tướng, mà tương ưng sắc tướng tức là vô thường. Nếu không khác, thì lẽ ra không thấy các sai biệt trong những người tu hành nhưng thật thì có sai biệt, nên không phải là không khác.

Trí và sở tri (cái biết và pháp được biết) cũng thế, không khác cũng không không khác. Nếu không khác không không khác tức là không phải thường cũng không phải vô thường, không phải tác, không sở tác, không phải hữu vi cũng không phải vô vi, không phải giác không phải sở giác, không phải tướng không phải sở tướng, không phải uẩn không phải khác uẩn, không phải thuyết không phải sở thuyết, không phải một không phải khác, không phải cùng nhau không phải không cùng nhau. Vì nghĩa ấy nên siêu việt hết thảy suy lường. Vì siêu việt suy lường nên chỉ có trên danh tự, vì chỉ có trên danh tự nên không có sinh, vì không có sinh nên không có diệt, vì không có diệt nên như hư không. Này Đại Huệ ! Hư không không phải tác (nhân) cũng không phải sở tác (quả). Vì không phải nhân không phải quả nên xa lìa phan duyên (Niràlambya), vì xa lìa phan duyên nên vượt ra ngoài hết thảy những pháp hí luận. Vượt ngoài hết thảy pháp hí luận ấy là Như Lai. Như Lai chính là thể Chính Đẳng Giác. Chính Đẳng Giác ấy là viễn ly tất cả căn, cảnh giới.

Bấy giờ Thế Tôn lại nói bài tụng:

Vượt ngoài căn suy lường

Không phải quả hay nhân

Tướng hay là sở tướng

Tất cả đều xa lìa

Uẩn, duyên, cùng chính giác

Một, khác, không ai thấy

Đã không có ai thấy

Sao còn sinh phân biệt

Không phải tác, sở tác

Không nhân, không không nhân

Không uẩn, không lìa uẩn

Cũng không lìa các vật

Không phải có pháp thể

Như phân biệt kia thấy

Lại không phải là không

Các pháp tính như vậy

Đối có thành ra không

Đối với “không” nên có

Không đã không thể giữ

Có cũng không nên nói

Không rõ ngã vô ngã

Chỉ chấp nơi danh từ

Kẻ kia chìm nhị biên

Hoại mình, hoại thế gian

Nếu hay thấy pháp này

Liền lìa hết các lỗi

Đó gọi là chính quán

Không hủy báng Đạo Sư

Đại Huệ Bồ Tát đại hữu tình lại bạch Phật:

Bạch Thế Tôn ! Như trong kinh Phật dạy đức Như Lai không phải chịu sự sinh, diệt, và Thế Tôn lại dạy Bất sinh bất diệt ấy cũng là một tên gọi khác để chỉ Như Lai. Bạch Thế Tôn ! Xin Thế Tôn chỉ dạy. Cái lẽ bất sinh bất diệt ấy tức là vô pháp (non-entity), sao lại nói đấy là tên khác của Như Lai. Như Thế Tôn dạy: “Hết thảy pháp không sinh không diệt”, nên biết đó tức là sa vào các kiến chấp hữu, vô. Nếu pháp không sinh tức không thể giữ, không có một chút pháp nào cả thì ai là Như Lai? Xin Thế Tôn giảng rõ.

Phật dạy:

- hãy lắng nghe, ta sẽ nói. Này Đại Huệ ! Ta nói Như Lai không phải là vô pháp, lại không phải là thâu nhận (nhiếp thủ) các pháp bất sinh bất diệt, cũng không đối đãi nhân duyên (để xuất hiện), cũng không phải là vô nghĩa. Ta nói vô sinh tức là một tên khác cho “pháp thân do ý sinh” (mano- mayadharmakàya) của Như Lai. Hết thảy ngoại đạo Thanh Văn Duyên Giác, Bồ Tát thất địa không rõ ý ấy. Đại Huệ ! Thí như Đế Thích (sakra), đất, hư không, cho đến chân tay, tùy theo mỗi vật, mỗi thứ đều có nhiều tên. Không phải vì có nhiều tên mà thành ra có nhiều thể, hay thành vô thể. Đại Huệ ! Ta cũng như thế, ở nơi thế giới Ta Bà này, có ba a tăng kỳ trăm ngàn danh hiệu, những kẻ phàm ngu tuy nghe tuy nói mà không biết đấy là tên khác của Như Lai. Trong số ấy có người hoặc nhận Ta là Như Lai, có người cho Ta là bậc Vô Sư (Svayambhù), hay đấng Đạo Sư (Nàyaka), hay đấng Thắng Đạo (Vinàyaka), Phổ Đạo (Parinàyaka), hay Phật, hay Ngưu Vương hay Phạm Vương (Brahman), hay Tùy Hữu (Visnu), hay Tự Tại (Isvara), hay đấng Thắng Giả (Pradhàna), hay đấng Ca Tỳ La (Kapila), hay đấng Chân Thật Biên (Bhùtànta), đấng Vô Tận (Ariskta?), đấng Đoan Tướng (Nemina?); hoặc có kẻ cho Ta như thần gió, thần lửa, hay đấng Câu Tỳ La, hay mặt trăng, hay mặt trời, hay như vì vua, hay như tiên nhân, hay như đấng Thức Ca (Suka), hay như Nhân Đà La (Indra), như sao, như sức mạnh lớn, như nước, như cái vô diệt, như cái không sinh, như Tính không, như Chân Như (Tathatà), như Đế (Satyatà), Thật tính (Bhùtatà), Thật Tế (Shùtakoti), Pháp giới (Dharmadhàtu), Niết Bàn, Thường Trụ, Bình Đẳng, Vô nhị, Vô Tướng, Tịch Diệt, Cụ Tướng, Nhân Duyên, Phật Tính, Giáo Đạo, Đạo Lộ, Nhất Thế Trí, Đấng Tối Thắng (Jina), đấng Ý Thành Thân... hết thảy những tên như thế, đầy ba a tăng kỳ trăm ngàn danh hiệu, không tăng không giảm. Trong thế giới này cùng các thế giới khác, có những kẻ biết Ta như trăng trong nước không vào không ra, nhưng hạng phàm ngu tâm bị chìm đắm nơi nhị biên không thể hiểu thấu, mà cũng tôn trọng cúng dường thừa sự, không khéo giải danh tự cú nghĩa, chấp ngôn giáo, mê muội đối với lẽ chân thật, cho rằng vô sinh vô diệt tức là không thể tính, mà không biết đấy là một danh hiệu khác của Phật như Nhân Đà La, Đế Kiệt La v.v.. Vì tin nơi ngôn giáo, mê muội chân thật, ở hết thảy pháp đều y theo lời (bhùta) mà nắm lấy nghĩa (atrha), nên những kẻ phàm ngu kia nói: “Nghĩa chính là lời, nghĩa và lời không khác. Vì sao? Vì nghĩa không thể tính (nên không khác với lời. Suz. 166)”. Kẻ ấy không hiểu rõ tự tính của ngôn âm; cho rằng ngôn tức là nghĩa, không có thể tính riêng biệt cho nghĩa. Đại Huệ ! Kẻ kia ngu si không biết rằng ngôn thuyết thì có sinh diệt, còn nghĩa thì không sinh diệt. Đại Huệ! Hết thảy ngôn thuyết đều sa vào văn tự, còn nghĩa thì không (sa vào), vì lìa có và không, không sinh, không thể tính. Đại Huệ ! Như Lai không nói pháp sa vào văn tự, vì hữu và vô của văn tự đều bất khả đắc. Đại Huệ ! Nếu có người nói những pháp sa vào văn tự, ấy là pháp hư dối. Vì sao? Vì tự tính của các pháp lìa văn tự. Cho nên, này Đại Huệ ! Trong kinh Ta nói: “Ta cùng chư Phật và Bồ Tát không nói một chữ không đáp một tiếng nào”. Vì sao? Vì hết thảy pháp lìa văn tự. Nhưng không phải là ta không thuận theo nghĩa mà phân biệt nói. Đại Huệ ! Nếu không nói thì giáo pháp phải đứt đoạn, giáo pháp đoạn đứt thì không có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chư Phật. Nếu tất cả đều không thì ai nói pháp và nói cho ai? Bởi thế, Đại Huệ này, Bồ Tát đại hữu tình không nên chấp trước nơi văn tự, mà phải tùy nghi thuyết pháp. Ta cùng chư Phật đều tùy những thứ phiền não, ưa muốn và hiểu biết không đồng của chúng sinhkhai diễn cho chúng, khiến chúng biết các pháp đều do tâm hiện, không có cảnh ngoài, xả bỏ hai phân biệt, chuyển hóa tâm, ý thức; chứ không phải vì chúng mà nói pháp do Thánh Trí Tự Chứng (Su. có thêm một đoạn). Đại Huệ ! Bồ Tát đại hữu tình nên theo nghĩa, chớ theo văn tự, theo văn tự thì đọa vào ác kiến; chấp trước chủ trương của mình mà khởi ngôn thuyết, không thể hiểu rõ các pháp tướng văn từ chương cú, đã tự hại còn hại người, không thể khiến tâm người giải ngộ. Nếu khéo biết rõ hết thảy pháp tướng, văn từ cú nghĩa đều thông, thì có thể khiến tự mình thọ cái vui vô tướng, mà còn giúp người an trú đại thừa. Nếu khiến được người an trú đại thừa thì liền được hết thảy chư Phật Thanh Văn Duyên Giác cùng chư Bồ Tát thâu nhận. Nếu được chư Phật, Thanh Văn... thâu nhận thì có thể thâu nhận hết thảy chúng sinh, có thể thâu nhận hết thảy chính pháp. Nếu nhiếp thọ được hết thảy chính pháp thì không làm đứt đoạn hạt giống Phật (Budhavamsa). Nếu không đoạn giống Phật thì được chỗ thù thắng tốt đẹp. Đại Huệ ! Bồ Tát đại hữu tình sinh chỗ tốt đẹp thù thắng, muốn chúng sinh an trú đại thừa, dùng mười lực tự tại hiện các hình tướng, tùy căn cơ của họ mà nói pháp chân thật. Chân thật pháp ấy là không hai, không phân biệt, không đến không đi, hết thảy hí luận đều bặt dứt. Cho nên, này Đại Huệ ! Thiện nam, thiện nữ không nên y lời mà chấp nghĩa. Vì sao? Vì pháp chân thật lìa văn tự. Đại huệ ! Thí dụ có người dùng ngón tay chỉ sự vật, đứa bé con chỉ nhìn ngón tay không nhìn vật. Kẻ phàm phu ngu si cũng vậy, theo nơi ngón tay ngôn thuyết mà sinh chấp trước, thậm chí đến chết cũng không xả bỏ được ngón tay văn tự để nắm đệ nhất nghĩa. Đại Huệ ! Thí như con nít mới sinh đáng phải ăn đồ chín; có người không biết rành cách nấu chín, mà cho nó ăn đồ sống tất phát cuồng loạn. Bất sinh bất diệt cũng thế, không tu phương tiện tất là không tốt. Vì thế hãy nên khéo tu phương tiện, chớ theo ngôn thuyết như nhìn đầu ngón tay. Đại Huệ ! Nghĩa chân thật vốn vi diệu tịch tịnh, ấy là nhân của Niết Bàn. Ngôn thuyết thì cùng với vọng tưởng mà khiến người trôi lăn trong sinh tử. Đại Huệ ! Thật nghĩa là do nghe nhiều mà được, nghe nhiều là rành nghĩa không phải rành lời. Người rành nghĩa không theo ác kiến ngoại đạo, tự mình không theo, cũng khiến người không theo. Ấy gọi là nghe nhiều nơi nghĩa, kẻ muốn cầu nghĩa nên gần gũi hạng người này và xa lìa những kẻ chấp trước văn tự.

Đại Huệ Bồ Tát đại hữu tình nương thần lực Phật mà bạch:

Bạch Thế Tôn ! Như Lai diễn nói bất sinh bất diệt không có gì là kỳ lạ đặc biệt. Vì sao? Hết thảy ngoại đạo cũng nói đấng “Tạo tác tác giả” không sinh không diệt; Thế Tôn cũng nói hư không Niết Bàn cùng phi sát diệt (Amatisamkhyànirodha) là bất sinh bất diệt. Ngoại đạo nói đấng tác giả làm nhân duyên sinh ra thế gian, Thế Tôn cũng nói vô minh ái nghiệp sinh ra các thế gian. Cả hai thuyết đều nói nhân duyên sinh, chỉ khác trên danh từ. Vì nhân duyên của các vật bên ngoài cũng thế. Cho nên thuyết của Phật và của ngoại đạo không có sai biệt. Ngoại đạo nói: “Vi trần, thắng diệu (pradhàna), Tự tại (Isvara), Sinh chủ (Prajàpati) v.v.. 9 thứ (Navadra- vya) như vậy là bất sinh bất diệt. Thế Tôn cũng nói hết thảy pháp không sinh không diệt; có hay không đều bất khả đắc. Bạch Thế Tôn ! Các đại chủng không hoại, vì tự tính của chúng không sinh không diệt, lan khắp các cõi mà vẫn không mất tự tính. Bạch Thế Tôn ! Tuy phân biệt thì có biến đổi chút ít, song hết thảy những điều Như Lai dạy không có gì là ngoại đạo không đã nói rồi. Cho nên Phật pháp cũng giống như ngoại đạo. Nếu không giống thì xin Phật diễn bày cho con thuyết của Phật hơn ngoại đạo ở chỗ nào. Nếu khôngsai biệt thì ngoại đạo tức là Phật; vì họ cũng nói bất sinh bất diệt vậy. Thế Tôn thường dạy trong một thế giới không có nhiều Phật, nhưng theo đây thì có.

Phật dạy:

Đại Huệ ! Chỗ Ta nói không sinh không diệt không đồng với bất sinh bất diệt của ngoại đạo, cũng không đồng với luận của họ về sinh và vô thường (dịch theo Sz.). Vì sao? Thuyết của ngoại đạo là có thật tính không sinh không biến đổi. Ta không sa vào hữu, vô như vậy. Pháp Ta nói không hữu không vô, lìa sinh lìa diệt. Sao là phi vô? Vì như thấy các hình sắc huyễn mộng. Sao gọi là phi hữu? Vì tự tính của sắc tướng không phải có, nhưng nó đồng thời vừa được thấy vừa không được thấy, vừa được nắm giữ vừa không được nắm giữ. Cho nên Ta nói hết thảy pháp không phải có không phải không. Nếu biết rõ tất cả chỉ do tự tâm thấy, thì liền an trú tự tính, không sinh phân biệt, các việc tạo tác ở thế gian sẽ đều chấm dứt. Phân biệt ấy là việc của phàm phu, không phải hiền thánh. Đại Huệ ! Vọng tâm phân biệt cảnh giới không thật, như người huyễn cùng người huyễn buôn bán ra vào trong thành Càn thát bà, tâm mê phân biệt cho là có thật. Những chuyện kẻ phàm ngu thấy như sinh bất sinh, hữu vi vô vi cũng thế, như người huyễn sinh, người huyễn diệt. Người huyễn thật ra không sinh không diệt. Các pháp cũng vậy, lìa sinh diệt. Này Đại Huệ ! Kẻ phàm phu hư vọng khởi quan niệm sinh diệt, thánh nhân không vậy. Nói hư vọng nghĩa là không như pháp tính. Khởi kiến chấp điên đảo. Điên đảo kiến là chấp phápthể tính. Không thấy được chỗ vắng lặng. Vì không thấy vắng lặng nên không thể xa lìa hư vọng phân biệt. Cho nên, này Đại Huệ ! Cái thấy vô tướngthù thắng, không phải cái thấy có tướng. Tướng là nhân của sinh, nếu không có tướng tất không có phân biệt. Không sinh không diệt ấy là Niết Bàn. Đại Huệ ! Nói Niết Bàn ấy nghĩa là thấy chỗ “như thật” xa lìa các pháp tâm và tâm sở phân biệt, được thánh trí nội chứng của Như Lai. Ta nói đấy là Niết Bàn tịch tịnh.

Bấy giờ Thế Tôn lại nói bài tụng:

Để trừ chấp có sinh

Thành lập nghĩa không sinh

Ta nói luận vô nhân

Kẻ ngu không hiểu được

Hết thảy pháp không sinh

Cũng không là vô pháp

Như Càn thành, huyễn mộng

Tuy có mà không nhân

Không, vô sinh, vô tính

Có gì mà Ta nói?

Lìa các duyên hòa hợp

Kẻ trí không hay thấy

Vì thế nên ta nói

Không vô sinh vô tính

Mỗi mỗi duyên hòa hợp

Chỉ hiện chứ không có

Phân tích không hòa hợp

Không như ngoại đạo thấy

Như mộng và tóc rũ ? (thùy phát)

Huyễn sự cùng Càn thành

Không nhân mà vọng thấy

Thế sự cũng như vậy

Chiết phục luận hữu nhân

Bày rõ lý vô sinh

Nghĩa vô sinh nếu còn

Pháp nhãn thường không diệt

Ta nói luận vô nhân

Ngoại đạo đều sợ hãi

Làm sao, và nhân đâu

Lại vì sao mà sinh

Hòa hiệp ở chỗ nào

Mà lập vô nhân luận?

Quán sát pháp hữu vi

Không nhân không vô nhân

Nên luận sinh diệt kia

Do đó mà bị phá

Vì vô nên không sinh

Hay vì đổi các duyên?

Hay có tên không nghĩa

Nguyện Phật vì con nói

Vô pháp không bất sinh

Cũng không phải chờ duyên

Không phải tên của vật

Cũng không tên, không nghĩa

Không thuộc của ngoại đạo

Thanh Văn cùng Duyên Giác

Cùng Bồ Tát thập trụ

Ấy là vô sinh tướng

Xa lìa các nhân duyên

Không có người năng tác

Chỉ do tâm kiến lập

Ta nói là vô sinh

Các pháp không nhân sinh

Không không cũng không có

Lìa năng sở, phân biệt

Ta nói là vô sinh

Ngoài tâm không có gì

Lại lìa nơi hai tính

Y tha và vọng kế

(paratantra, parikalpita)

Như thế chuyển sở y

Đấy Ta nói vô sinh

Ngoại vật có cùng không

Tâm không sở thủ

Tất cả kiến đều đoạn

Ta gọi là vô sinh

Cú nghĩa “không, vô tính”

Nghĩa nó đều như vậy

Không vì không nói không

Vô sinh nên nói không

Nhân duyên cùng tụ hội

Cho nên có sinh diệt

Nếu nhân duyên phân tán

Sinh diệt tất không có

Nếu lìa các nhân duyên

Thì tuyệt không có pháp

Tính một cùng tính khác

Do phàm ngu phân biệt

(Vô hữu bất sinh pháp)

Hữu, vô không sinh pháp

Câu, phi cũng như vậy

Chỉ trừ khi duyên hợp

Trong ấy thấy khởi diệt

Theo tục giả ngôn thuyết

Nói vòng móc nhân duyên

Nếu lìa vòng nhân duyên

Nghĩa “sinh” (samkalà) bất khả đắc

Ta nói chỉ vòng câu

Không sinh nói bất sinh

Lìa các lỗi ngoại đạo

Phàm ngu không thể hiểu

Lìa vòng xích nhân duyên

Mà riêng có pháp sinh

Ấy là luận vô nhân

Phá hoại nghĩa câu tỏa

Như đèn hay chiếu vật

Vòng xích nếu như thế

Đấy tức lìa vòng xích

Mà riêng có các pháp

Vô sinh tức vô tính

Thể tính như hư không

Lìa duyên sinh tìm pháp

Là kẻ ngu phân biệt

Lại có loại vô sinh

Do bậc thánh chứng được

Sinh kia không phải sinh

Ấy là vô sinh nhẫn

Nếu biết cả thế gian

Đều chỉ là vòng xích

Và không gì khác hơn

Kẻ ấy tâm được định.

Vô minh cùng ái nghiệp

Là kềm tỏa bên trong

Các đại, bùn, bánh xe

Là câu tỏa bên ngoài.

Nếu nói có pháp khác

Cũng do nhân duyên sinh

Ngoài nghĩa vòng xích này

Đây không phải giáo lý.

Sinh pháp nếu phi hữu

Ai nhận ra nhân duyên?

Vì các pháp sinh nhau

Nên gọi là nhân duyên

Tính cứng, ướt, ấm, động

Do phàm ngu phân biệt

Chỉ có duyên, không pháp

Nên nói vô tự tính

Như lương y trị bệnh

Nguyên tắc không sai khác

Nhưng vì bệnh không đồng

Liều thuốc có khác nhau

Ta vì các chúng sinh

Diệt trừ bệnh phiền não

Biết căn cơ mạnh yếu

Diễn nói các pháp môn

Phiền não không phải khác

Mà sinh ra các pháp

Chỉ có một đại thừa

Bát chính đạo trong mát.

Đại Huệ Bồ Tát đại hữu tình bạch Phật:

Bạch Thế Tôn ! Hết thảy ngoại đạo vọng nói vô thường; Thế Tôn cũng nói các hành là vô thường, là pháp phải chịu sinh diệt. Thuyết ấy con không hiểu là tà hay chính? Vô thường có mấy thứ?

Phật dạy:

Đại Huệ ! Ngoại đạo nói có 7 thứ vô thường, không phải pháp của Ta. Bảy thứ ấy là: 1. Có người cho rằng có sinh khởi rồi xả bỏ, gọi là vô thường, vì sinh rồi bất sinh nên nói là tính vô thường. 2. Lại có kẻ nói hình biến hoạivô thường. 3. Có kẻ nói sắc là vô thường. 4. Có kẻ nói cái biến dị của sắc là vô thường. Hết thảy các pháp nối nhau không dứt, khiến cái thể tự nhiên biến đổi và diệt; như trước là sữa sau biến thành gia ua, sự biến dịch ấy tuy không thấy được song nó chính là yếu tố hủy diệt nằm ngay trong mọi sự vật. 5. Có kẻ nói các vật có ra là vô thường. 6. Có kẻ cho hữu phi hữu (existence, non existence) là vô thường. 7. Có kẻ nói bất sinhvô thường ở khắp trong mọi pháp. Trong số những quan điểm ấy, hữu phi hữu vô thường (Bhàvàbhàvànityatà), nghĩa là các tướng năng tạo sở tạo đều hoại diệt, còn tự tính của đại chủng thì bản lai không khởi. Bất sinh vô thường (Anutpàdànityatà) là các pháp thường, vô thường v.v.. đều không có. Như thế hết thảy đều không có gì sinh; cho đến phân tách thành vi trần cũng không thấy gì. Vì không sinh khởi nên nói là vô sinh. Đây gọi là “bất sinh vô thường”. Nếu không hiểu nghĩa ấy tức sa vào nghĩa “sinh vô thường” của ngoại đạo, nghĩa là ở chỗ không phải thường không phải vô thường mà tự sinh ra phân biệt. Nghĩa ấy thế nào? Nghĩa là có một vật gọi là vô thường tự nó không bị hoại diệt, nhưng có thể hoại các pháp. Nếu không có cái vô thường hoại hết các pháp, thì rốt cuộc pháp sẽ bất diệt, thành không có (vô hữu) (như chiếc gậy hay hòn đá, hay như một cái búa đập nát mọi vật khác mà tự nó thì không hoại, ở đây cũng vậy). Đại Huệ ! (đây là nghĩa của ngoại đạo nhưng) Vô thường và hết thảy các pháp ta thấy trước mắt thì không thấy đâu là sai biệt năng tác sở tác, để nói được rằng đây là vô thường, còn đây là cái bị vô thườnghoại diệt. Vậy thành ra năng tác sở tác đều thường cả mới phải, vì không thấy cái nhân khiến cho các pháp thành ra phi hữu. Đại Huệ ! Về các pháp bị hoại diệt thật ra có nhân, nhưng phiền một nỗi là không phải chỗ phàm ngu hiểu được. Đại Huệ, nhân khác không thể sinh ra quả khác, nếu sinh được, thì hết thảy các pháp đều sinh lẫn nhau, pháp này pháp kia năng sinh sở sinh đều không khác nhau gì cả. Nhưng hiện thấy có khác. Làm sao dị nhân sinh dị quả? Đại Huệ ! Nếu có một pháp (objective existence) gọi là vô thường thì cũng đồng với cái sở tác (kết quả) và thành ra tự nó cũng vô thường, vì vô thường cho nên các pháp vô thường đây đều là thường cả. Đại Huệ ! Nếu tính vô thường ở trong các pháp, thì đáng cùng các pháp sa vào ba giai đoạn quá khứ, hiện tại, vị lai, cùng với sắc quá khứ mà diệt, cùng vị lai không sinh, hiện tại cùng hoại.

Các ngoại đạo cho rằng thể tính của bốn đại là không hoại, tức là bốn đại khác với sắc do bốn đại tạo, vì lìa khác với không khác; tự tính của nó cũng không hoại diệt. Đại Huệ ! Những pháp năng tạo, sở tạo trong ba cõi không có gì là không phải tướng sinh, trụ, diệt, làm sao có riêng một tính vô thường có thể sinh ra các vật mà tự nó không diệt? Thuyết cho rằng đầu tạo sau diệt nên gọi là vô thường (pràrambhavinivttryanityatà) cũng không vững, vì các đại chủng khác nhau không thể tạo lẫn nhau; không phải mỗi đại tự tạo, vì không có cái khác ở trong nó; cũng không cùng tạo vì trái nhau. Cho nên biết không phải “thủy – tạo vô thường” hình trạng hoại vô thường (tribhavacittamàtra) ấy là không phải hoại năng tạo cùng sở tạo nhưng hình trạng hoại. Nghĩa ấy thế nào? Ấy là chẻ tách “sắc” cho tới vi trần, chỉ diệt cái hình trạng dài ngắn v.v.. đã thấy. Chứ không diệt cái sắc thế năng tạo sở tạo. Kiến này sa vào số luận (Sàmkhyavadà) “Sắc tức là vô thường” (Rùpam evànityam) ấy có nghĩa hình trạng là vô thường, không phải tính tứ đạivô thường. Nếu tính đại chủng cũng vô thường thì tất là không có thế giới. Không có thế giới nên biết ấy là sa vào kiến chấp của Thế luận thấy hết thảy pháp do tự tướng sinh chỉ có trên ngôn thuyết. Chuyển biến vô thường (Vikàràityatà) ấy là sắc chủng (rùpa) (hay hình thức) biến đổi chứ không phải đại chủng (tứ đại) biến đổi. Thí như lấy vàng làm các món trang sức, các món này có biến đổi nhưng vàng thì không. Đây cũng vậy. Đại Huệ ! Các kiến ngoại đạo như thế hư vọng phân biệt về vô thường. Họ nói như vầy: “Lửa không thể đốt cháy tự tướng của nó, mà chỉ phân tán ra. Nếu nó có thể thiêu đốt được, tức thì năng tạo sở tạo đều đoạn diệt.” Vì sao? Vì không chấp pháp ngoài, vì ba cõi chỉ là tâm (Tribhavacittamàtra), vì không nói tới các tướng, vì các sai biệt của đại chủng tính đều không sinh không diệt, không có năng tạo sở tạo, vì năng thủ sở thủ đều do phân biệt khởi, vì biết hai tính thủ (năng sở) đúng như thật, vì hiểu rõ duy tâm hiện, vì lìa hai kiến chấp hữu vô của ngoại đạo, lìa kiến hữu vô nên không phân biệt năng tạo sở tạo. Đại Huệ ! Các pháp thế gian, xuất thế gian, và xuất thế gian thượng thượng chỉ là tự tâm, không thường, không vô thường; không hiểu rõ như thế sẽ sa vào hai biên kiến ngoại đạo. Đại Huệ ! Ngoại đạo không rõ biết ba pháp ấy do phân biệt nên khởi ngôn thuyết chấp trước tính vô thường. Đại Huệ ! Cảnh giới ngữ ngôn phân biệt của ba pháp này không phải chỗ phàm phu biết được.

Thế Tôn lại nói bài tụng:

Trước tạo rồi sau xả

Hình trạng có chuyển biến

Các sắc vật vô thường

Ngoại đạo vọng phân biệt

Các pháp không hoại diệt

Tự tính đại thường trú

Các kiến chấp ngoại đạo

Nói thế là vô thường

Các chúng ngoại đạo kia

Đều nói: “Không sinh diệt”

“Các tính đại tự thường

Cái gì là vô thường?”

Năng thủsở thủ

Hết thảy đều là tâm

Hai thứ do tâm hiện

Không có ngã, ngã sở

Các pháp như Phạm Thiên

Ta nói chỉ là tâm

Nếu lìa xa nơi tâm

Hết thảy không có được.

Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 114104)
“… sự dối trá đã phổ biến tới mức nhiều người không còn nhận ra là mình đang nói dối, thậm chí một cách vô thức, người ta còn vô tình cổ xúy cho sự giả dối. Nói năng giả dối thì được khen là khéo léo”…
Xin giới thiệu video ngày lễ Vu Lan (ngày 2.9.2018) tại thiền viện Đạo Viên, đây là thiền viện duy nhất tại Canada thuộc hệ phái Thiền Trúc Lâm của HT. Thích Thanh Từ, hoạt động đã trên 10 năm.