Phần thứ hai

19/09/20142:17 CH(Xem: 2945)
Phần thứ hai
Phạm Thiên Thư
KINH HIỀN
HỘI HOA ĐÀM
Thi Hóa Tư Tưởng Kinh Hiền Ngu
Cơ sở Văn Chương Sài Gòn xuất bản lần thứ nhất năm 1973
Nhà Xuất Bản Tổng Hợp TP. HCM tái bản năm 2014

11.    Giếng mắt rồng               
12.    Trồng đào cúng Phật               
13.    Lão đánh cá và thần biển               
14.    Tìm duyên giải thoát               
15.    Người con hiếu hạnh               
16.    Thay đổi dung hoa               
17.    Ngọc nở thành sen               
18.    Bắc cầu dâng Phật               
19.    Luyện kiếm độ đời               
20.    Hạnh nhẫn nhục            

11. Giếng mắt rồng

 

Một chiều mây ửng vườn này,
Hoàng hôn nhuộm cánh cò bay chập chờn.
Bướm theo mấy luống hoa vờn,
Đồi thông xa vọng tiếng đờn nao nao.
Bỗng đâu dưới ngõ hoa đào,
Mây năm sắc quyện lối vào nhụy hương.
Hào quang sáng rực non sương,
Như đèn bảy báu dị thường chiếu soi.
Rẽ mây hiện đến hai người,
Trang nghiêm vóc ngọc, tỏa ngời dung hoa.
Gót sen bước đến hiên nhà,
Quì bên thềm cỏ, dưới toà dâng hương.
Chắp tay cầu thỉnh tỏ tường:
”Đại từ bi đấng lòng thương sâu dầy.
con từ cõi nọ qua đây,
Đốt đèn bảy báu, trải mây cúng dường.
Xin ngài chỉ nẻo soi đường,
Tan cơn huyễn mộng lạc thường an vui.”
Phật tùy căn trí mỗi người
Thỉnh chuông diệu pháp ban lời viên âm.
Nhiệm mầu thay! cõi chân tâm
Bừng con mắt khỏi sai lầm vọng mê.
Cúi đầu thi lễ đi về,
Cỏ chen lối biếc hoa kề cổng tươi.
Sáng sau trà nước hầu Người,
Lại thêm hai dĩa dâng mời trái hoa.
Khơi trầm thơm đứng bên tòa,
Hàng hàng Tăng chúng quanh nhà hầu nghe.
Bạch Thầy: “mây cuốn tàn che,
Tối qua hai vị thần về từ đâu?
Hẳn trồng cội đức dầy lâu,
Ngày nay phúc báo thân mầu nhiệm kia?”
Ngài rằng: “nhân thể khôn lìa,
Xưa Phật Ca-diếp chuyển mê độ đời.
Sau khi đã nhập diệt rồi,
Bấy giờ chính pháp vào thời dị không.
Có hai người dòng tịnh môn,
Phát tâm kính giữ lưu tồn phép trai.
Một vị nguyện sinh cõi trời,
Một vị nguyện sẽ trị đời đau thương.
Thụ rồi, lui gót chùa hương,
Về nhà vợ mắng “để cơm ai chờ?”
Người thứ nhất, miệng u ơ,
900.    Rằng thôi quá ngọ bây giờ chẳng ăn.
Sáng nay tôi hứa tu hành,
Vợ chàng nghe nói tam bành nổi lên:
“À này anh chớ cố quên,
Đang theo dòng Phạm chẳng quyền đổi thay.
Nếu anh không bỏ giới trai,
Người ta biết sẽ đuổi ngay anh liền.
Tôi anh là hết nợ duyên,
Mỗi người mỗi ngả cho yên mọi bề.”
ắt sầu ai đốt lòng kia,
Giới trai chi để phải lìa duyên nhau.
Tương thay một giọt lệ châu,
Nhẹ như sương lại đổi màu sắt son!
Gượng dùng đôi bát cơm ngon,
Thế rồi giới nguyện ai còn khói bay.
Tuổi xuân bóng chớp mộng ngày,
rước sau rồi cũng nằm dài dưới hoa.
Người dù ngọc chuốt vàng pha,
Trước sau thôi cũng da ngà tóc sương.
Rồi ra nắm cỏ bên đường,
Đêm nghe tiếng dế đoạn trường tỉ tê.
Người nguyện làm vua trị vì,
Giới trai toàn vẹn nên về trần gian.
Người nguyện sinh cõi thiên đàng,
Giới trai chẳng vẹn, đọa sang loài rồng.
Cũng do nhân thiện gieo trồng,
Nhà vua trị cõi trần hồng tốt tươi.
Lầu vàng gác ngọc nơi nơi,
Bốn phương nhờ vậy nước trời bao dong.
Dưới trên hòa thuận một lòng,
Sức người như thể biển Đông sóng trào.
Kể chi rừng lý, thôn đào,
Đâu đâu dân cũng ra vào bình yên.
Hoàng cung có một hoa viên,
Trồng toàn cây quý khắp miền tiến dâng.
Gió đưa hương đến quanh vùng,
Xa trông như một khu rừng mây che.
Nhà vua cử một họ kia,
Gọi quan Viên giám, chuyên nghề tỉa hoa.
Hai mùa nắng lại mưa qua,
Ngắt bông hái trái gửi ra điện phòng.
Một hôm trên giếng mắt rồng
Nổi lên một trái nhác trông tuyệt vời.
Ánh vàng rực rỡ tỏa ngời,
Mùi thơm dù sánh hương trời cũng thua.
Đem về cung hiến lên vua,
Của tiên nào có ai ngờ được ăn.
Dao vàng dĩa ngọc cắt lần,
Lạ thay trăm mối lụy trần sạch sanh!
Hỏi xem sự việc rõ rành,
950.    Hẳn chim tha đậu trên thành giếng rơi.
Giờ sao dõi vết chim trời,
Sáng rong núi Bắc, chiều rời biển Đông.
Lóng vua còn khát khao trông,
Truyền quan coi giữ giếng rồng đợi chim.
Trở về ngày dõi đêm tìm
Thấy chi đâu giữa im lìm cỏ hoa.
Lần hồi xuân lại đông qua,
Mãi tà dương lại theo tà dương đi.
Thế rồi đến một đêm kia,
Vị quan ngồi lắng sao khuya nghìn hàng.
Dưới lòng giếng ẩn bóng trăng
Bỗng dưng hóa hiện muôn tầng lầu cao.
Xà cừ, mã não, trân châu,
Dặm đường liễu rũ, nhịp cầu cuộn mây.
Còn đang lặng ngắm ngất ngây,
Bỗng xô cửa nguyệt một người hiện ra.
Dáng thần sáng ngọc tươi hoa,
Dâng mâm trái quý chói lòa vườn Đông.
Rằng “tôi là hóa thân rồng,
Với nhà vua trước cũng trong thâm tình.
Cũng dòng Phạm-chí tịnh thanh,
Lại cùng nguyện giữ pháp lành Bát trai.
Vua giới hạnh được làm người,
Tôi không theo trọn đọa nơi cõi rồng.
Giờ thân ở dưới long cung,
Vô minh còn nặng đèo bồng từ xưa.
Lòng tôi tha thiết cầu vua
Giúp cho ánh sáng Phật thừa từ bi.
Bát quan trai pháp tu trì,
Để tôi trai giới cầu về nhân thiên.
Nếu như chẳng thỏa nguyện trên,
Sẽ về gọi nước dâng lên hoàng trào.
Bấy giờ muôn nóc lầu cao,
Cũng theo vương quốc chìm vào biển khơi.”
Nói rồi cung kính nghiêng người,
Trở vào lòng giếng lại ngời trăng trong.
Giám viên xiết đỗi kinh lòng,
Vội lên quì trước sân rồng trình tâu.
Vua nghe thêm mối lo sầu,
Pháp giới trai biết tìm đâu bây giờ.
Sớm chiều ra ngẩn vào ngơ,
Lệnh truyền kiếm khắp đình chùa xưa nay.
Cũng là tìm dấu chim bay,
Đạo xưa ai biết diễn bày ra sao!
Lòng thành cảm đến ngôi cao,
Quán Âm mới trải bông đào thánh kinh.
Sáng ngày vừa rạng bình minh,
Bên thành ai kết muôn hình chữ hoa.
Rõ ràng giới pháp Phật-đà,
Vua truyền sao chép phát ra khắp cùng.
Lại đem thảy dưới giếng rồng,
Bỗng nghe ngàn chiếc trống đồng rình tai.
Nhờ công tu tập pháp trai,
Rồng kia cởi thoát hình hài thành tiên.
Nhà vua cũng giữ đạo hiền,
Đến ngày nghiệp tận cõi thiên hóa về.
Hai người đều trụ cõi kia,
Cùng nhau sám hối tu trì sớm hôm.
Tối qua tìm gặp Thế tôn,
Đến đây cầu đạo chân thường thế gian.
ai vị chứng quả Đà-hoàn,
Lìa ba đường dữ, Niết-bàn là nơi.”
Nghe xong Tăng chúng ngậm ngùi
Lâng lâng, lòng ngập niềm vui trọn lành.

 

12. Trồng đào cúng Phật

 

Ngày xưa nơi Xá-vệ thành,
Có nhà giàu nọ phúc lành dầy lâu.
Thường hay giúp kẻ cơ cầu,
Khiến cho giải oán vơi sầu nhiều nơi.
Cho nên phước báo tuyệt vời,
Sinh được một trẻ khác đời xưa nay.
Vừa ra đã biết hỏi ngay:
”Cha ơi, Phật vẫn trụ đời phải chăng?
các ngài Xá-lợi, A-nan
Hẳn đi hóa độ thế gian chưa về?”
Tin đồn đãi khắp vùng quê,
Ai nghe chẳng muốn tìm về chia vui.
Phú ông thắng kiệu cùng người
Đi hỏi duyên cớ đến nơi vườn hồng
Bạch Phật: “đệ tử sinh con
Biết nói từ lúc lọt lòng, lạ chưa!
Chẳng hay do thiện nghiệp xưa
Hay là oan trái bây giờ báo nhau?”
Phật cười: “tích đức dầy lâu,
Sinh ra phúc quả nhiệm mầu đó thôi.
Trẻ sau trí tuệ tột vời,
Làm cho tôn tộc đời đời quang vinh.
Vẻ vang khắp cõi nhân sinh,
Đó là đất phước, trí minh để đời.”
Nghe như cam lộ tỉnh người,
Cúi đầu lễ tạ, ngựa rời về thôn.
Tới nhà vừa lúc hoàng hôn,
Chim đâu tụ suốt chiều hôm vui vầy.
Vào phòng, trên chiếc nôi mây,
Gặp cha, trẻ lại tỏ bày thiết tha:
”Lòng con muốn thỉnh Phật-đà,
Rước theo Tăng chúng về nhà cúng trai.
cha chìu con thỏa nguyện này,
Vì con thực đã bao ngày ước mong.”
Ông rằng: “sẽ được như lòng
1.050. Để cha sửa lễ cúng dường Như Lai.”
Trẻ thưa “La-nại thành ngoài,
Mẹ xưa còn ngụ xóm chài héo hon.
Đón về cho mẹ nhận con,
Trần gian lưu một nét son nghĩa tình.
Xin bày ba tòa cung nghinh,
Ngồi trên: Tăng, Phật chứng minh lễ đài.
Kế tòa thanh tịnh phạn trai,
Dành mời hiền mẫu xóm ngoài thành La.
Một tòa cung thỉnh mẹ cha,
Trên ơn Tam bảo, dưới nhà thuận vui.”
Hôm sau thiết lễ trai thời,
Hồng tươi hoa điểm, xanh ngời trầm vương.
Ẵm trẻ ra lễ thềm hương,
Thỏa lòng kính ngưỡng, vẹn đường thâm ân.
Cũng nhờ diệu pháp chính chân,
Một nhà tỉnh giấc mộng trần mê si.
Trẻ sau cũng được quy y,
Như chim vỗ cánh xuân thì bay sang.
Chẳng bao lâu chứng đạo vàng,
Quả A-la-hán rõ ràng nhân thiên.
Một hôm hầu Phật bên thềm,
Tôi đem chuyện hỏi: nhân duyên lẽ nào?
Vừa tu đã chứng đạo mầu,
Vừa sinh đã nói làu làu chuyện xưa?
Phật rằng “gió thoảng mây đưa,
Chuyển mê, khai ngộ một bờ chẳng hai.
Tiền thân cậu bé kiếp này
Là con một họ ở ngoài thành La.
Lạc loài từ thuở mất cha,
Đi làm nuôi một mẹ già sớm hôm.
Lần hồi bữa cháo bữa cơm,
Chân mòn cát trắng, áo đơm bụi hường.
Một hôm gặp Phật bên đường,
Lấy chi mà để cúng dường bậc cao?
Lần lưng còn một hạt đào,
Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.
Nguyện sau cây lớn xum xuê,
Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.
Nguyện xin trái thẫm hoa tươi,
Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.
Theo như lời Phật mà nương,
Cứu muôn loài để cúng dường mới cao.
Nhờ công đức cấy hạt đào,
Kiếp này thân được sinh vào giàu sang.
Đường tu chứng ngộ đạo vàng,
Rồi đây muôn cõi cúng dàng kể chi.”
Phật ngồi bên giậu tường vi,
Chùm hoa xanh nở trên y nhuốm vàng.
Một con bướm dại vừa sang,
1.100. Cánh bay lẫn giữa đôi hàng xuân hoa.

 

13. Lão đánh cá và thần biển

 

Ngày xưa dân xóm giang hà,
Trên bờ sông liễu thướt tha mấy hàng.
Một hôm chung tậu thuyền buôn,
Tìm châu ngọc giữa đại dương bềnh bồng.
Dẫn thuyền là lão ngư ông,
Thạo nghề biển, lại giữ lòng giới trai.
Thâm sâu giáo lý Như Lai,
Vượt trên sóng bạc buồm vài cánh trương.
Lênh đênh giữa biển mù sương,
Vời trông xóm nhỏ tà dương phai vàng.
Đêm kia gặp chuyện kinh hoàng,
Thủy thần hiện giữa mênh mang khói mờ.
Quanh mình trăm ngọn sóng xô,
Đeo xâu xương trắng ngang bờ vai cao.
Đôi môi còn đậm máu đào,
Chặn thuyền cất tiếng thét gào bi thương:
“Ta đây ngự trị đại dương,
Trần gian ai đáng sợ hơn thân này?”
Ngư ông đáp “kể xưa nay,
Những người hung tợn hơn ngài thiếu chi!
Đó là những kẻ sân si,
Sát, dâm, trộm, dối, nặng vì lòng tham.
Chết sa ngục khổ vô vàn,
Dao trăm mũi xả, gươm ngàn mũi phanh.
Hoặc xe nghiền nát tan tành,
Hoặc giam cõi ngục đóng đanh lửa hồng.
Nát thân rồi lại liền không,
Trăm nghìn lần sợ, hơn ông kể gì!”
Nghe rồi, thần hóa thân đi,
Hiện ra giữa biển lưu ly một người
Xấu xa hình vóc lạ đời,
Đến bên thuyền hỏi xem nơi trần hoàn:
“Có ai lạ hơn ta chăng?”
Ngư ông cười đáp “thưa rằng quá quen.
Đó là những kẻ bon chen,
Gian tham, nịnh hót, ghét ghen đủ điều.
Cũng vì tà kiến tự kiêu,
Chết đi trả nghiệp trăm điều chưa thôi!
Thân làm ngạ quỉ tanh hôi,
Đói cơm, khát nước, trùn giòi đục thân.
Mồm như lò lửa cháy rần,
Nhọt ung rỉ mủ liếm ăn lần hồi.”
Nghe qua thần cũng rụng rời,
Biến thân đi, lại hiện người đẹp sang.
Tay hoa sáng ngọc tươi vàng,
Tóc mây lả ngọn dịu dàng hương lơi.
Tiếng nghe thánh thót tuyệt vời,
Mắt nhung huyền hoặc nghiêng trời sóng nao.
Nàng cười hỏi “chốn trần lao
Ai nhan sắc kịp má đào này chăng?”
Ông rằng “sánh ngọc đua trăng,
Trần gian đâu thiếu người bằng ngài đây.
Đó là phúc tuệ sâu dầy,
Những ai tu dưỡng tháng ngày tịnh thanh.
Giữ thân, khẩu, ý trọn lành,
Cúng dường nhất thiết chúng sanh nguyện đời.
Mệnh chung sinh hóa cõi trời,
Thân tươi vẻ ngọc, trí ngời ánh gương.
Thần thông biến hóa mười phương,
Hoa lay là vóc, mây vương là người.
Ngài dù trăm tốt ngàn tươi,
Chẳng qua huyễn hóa giữa nơi hồng trần.
Sớm như bọt nổi, phù vân,
Tan theo ngọn nước lênh đênh cuối ngày.”
Thần múc nước biển đầy tay,
Hỏi “nước trong vốc hay ngoài nhiều hơn?”
Ông rằng “biến đổi vô thường,
Nước trong tay nọ nhiều hơn biển ngoài.
Vì, dù nước réo trùng khơi,
Tuy nhiên rồi cũng có thời cạn khô.
Khi hai mặt trời vừa nhô
Thì bao ngòi lạch ao hồ sạch không.
Lại khi ba mặt trời hồng
Thì trăm ngàn vạn dòng sông thành đường.
Lại khi bảy mặt trời hường
Thì khô hết nước trùng dương cõi này.
Kim cương giữa cõi đất dầy
Cũng thành một đám mây bay bụi tàn.
Còn người vượt bến mê sang…
Cứi muôn loài khổ, lên đàng thảnh thơi.
Trải muôn kiếp chẳng đổi dời,
Đó là ví nước tay người nhiều hơn.”
Thần nghe ngộ lẽ chân thường,
Gửi dâng châu ngọc cúng dường Như Lai.
Lại đem bảo vật tặng ai,
Đạo mầu thâm diệu, biện tài mênh mang.
Buồm cao ngóng nẻo ráng vàng,
Một chiều về bến sông hoàng hoa tươi.
Ngọc châu chia khắp người người,
Lão ông lại kịp đến nơi đạo trường.
Quì ngoải lều cỏ dâng hương,
Chúng con nguyện thoát vô thường cầu tu.
Kính xin Phật nhủ lòng từ,
Độ người chìm đắm qua bờ sông mê.
Non cao vân tập chim về,
Tiếng rơi thơm mát bốn bề hoa lay.
Đoàn người kia, bỗng lạ thay,
Trần tâm rũ sạch, tan mây huyễn mờ.
Áo thành vô nhiễm cà-sa.
1.200. Chứng quả La-hán chói lòa thần thông.
Lại thêm trời trải mây hồng,
Như hoa gấm phủ thinh không mấy từng.

 

14. Tìm duyên giải thoát

 

Ngày xưa có đền Thùy Dương
Ven sông, sớm tối khói hương phụng thờ,
Bốn mùa chim tụ mây đưa,
Hoa dâng nắng sớm, lau thưa khói chiều.
Lại, qua, xe ngựa dập dìu,
Ai không hiến lễ ít nhiều hoa hương.
Một hôm có khách thập phương,
Là quan tể tướng thành vương ghé vào.
Khấn rằng “muôn dặm âm hao,
Nghe thần từng giúp biết bao nhiêu người.
Nay xin quý tử ra đời,
Được như, tôi hiến vàng mười điểm tô.
Bằng không sẽ lấy than tro,
Trát lên thần tượng, miếu thờ đập tan.”
Khấn xong lại trở lên đàng,
Về thành lấp lánh đôi hàng giáo gươm.
Địa thần lên điện Thiên vương,
Quì ngoài sân ngọc tỏ tường trình thưa.
Vương truyền: “ta sẽ tâu vua
Lên cung Đế-thích cho vừa ngày trao.”
Chúa tôi vẫy đám mây đào,
Cõi trời Đao-lợi, thẳng vào quì tâu.
Mây sa rồng cuộn trước lầu,
Rằng “thần có một tôi hầu trước kia.
Quan tể tướng nước Duyệt-kỳ,
Đến xin quý tử sinh về năm nay,
Bằng không, san miếu thẳng tay,
Giờ cầu Thiên đế, việc này quyết xong.”
Nhân khi có một tiên ông
Đến ngày nghiệp tận, bệ rồng vời qua.
“Trẫm nghe nơi cõi trần sa
Có quan thừa tướng là nhà hiền lương.
Thác sinh khanh sớm lên đường,
Đầu thai xuống chốn thành vương dõi truyền.”
Thực lòng ông mới trình lên:
“Vinh hoa là cửa ưu phiền ngục sâu.
Ý tôi chẳng muốn sang giàu,
Nguyện sanh chốn khổ, dễ cầu đạo tu.
Dù nơi dân dã bần ngu,
Còn hơn lầu các giam tù một mai.”
Đế rằng “khanh cứ đầu thai,
Rồi sau ta giúp cho ai toại lòng.”
Cúi đầu lạy ta thềm rồng,
Đôi con hạc đón tiên ông lên đàng.
Một đêm trong giấc mơ màng,
Quan tể tướng thấy hào quang chói lòa.
Sáng sau lại được tin nhà,
1.250. Phu nhân mãn nguyệt khai hoa đêm rồi.
Một trai tướng đức tuyệt vời,
Lâng lâng vẻ ngọc, sáng ngời vóc hoa.
Tin vui truyền khắp gần xa,
Ông đem vàng ngọc dựng tòa miếu thiêng.
Một vị đạo sĩ quanh miền,
Cũng rời trang trại chống thiền trượng qua.
Xem tướng xong, đặt Hằng-gia
Dạy rằng trẻ nối dòng nhà vẻ vang.
Lần hồi Thu lại Đông sang,
Hằng-gia cốt cách phi phàm biết bao.
Tánh ưng nghe thuyết đạo mầu,
Sớm xin cha mẹ cho đầu Phật gia.
Thưa rằng “thấm thoát ngày qua,
Tấm thân ai có biết là khói sương.
Làm người đã khó khôn lường,
Lại còn gặp Phật dẫn đường, vinh thay!
Ngàn năm đâu dễ hội này,
Mở khai chính đạo độ đời tham mê.
Cho con tầm đạo tu trì,
Thoát ra ngoài cõi so bì giả danh.”
Phụ thân nói “muốn tu hành,
Dù nơi lầu các, rừng xanh cũng là.
Cần chi bỏ cửa bỏ nhà,
Đày thân nắng dãi sương pha lần hồi.
Mẹ cha có một con thôi,
Sẵn đầy tài sản, hơn người quyền danh.
Nếu con quyết chí tu hành,
Ra đi cha mẹ cũng đành nhớ thương.
Kể chi đến chuyện tông đường,
Dòng nhà thôi cũng hết phương dõi truyền.
Chi bằng mở rộng đạo duyên,
Con dùng phương tiện chở chuyên giúp đời.”
Lòng cha nào thể đổi dời,
Nói chi, đôi mắt lệ ngời rưng rưng.
Một hôm cưỡi ngựa vào rừng,
Thấy đôi hạc tía trên từng mây trôi.
Hạc bay thăm thẳm chân trời,
Lánh xa mây trắng rạc rời dưới non.
Còn ta danh lợi quay tròn,
Quẩn quanh trăm mối, hao mòn hai vai.
Tốt hơn trút bỏ thân này,
Đành như cởi áo, đổi thay thế tình.
Quyết lòng đỉnh núi gieo mình,
Xuống khe mây ngút như hình lá rơi.
Lạ thay! một dải sương trời
Biến thành võng lụa đỡ người vàng châu.
Hằng-gia mặt héo mày sầu,
Lại tìm ngọn nước dưới cầu gầm reo.
Trông mây man mác qua đèo,
1.300. Nguyện như mây nọ, lìa gieo giữa dòng.
Lạ thay, bọt nước trên sông,
Kết thành một đóa sen hồng đỡ thân.
Làm sao thoát kiếp phù trần,
Mượn liều thuốc độc, thêm lần đổi thay.
Uống vào năm sáu chén đầy,
Mà sao trí vẫn hiện bày như trăng!
Tìm phương tính kế cho bằng,
Xô tan nghiệp lụy xích thằng mà ra.
Một hôm giữa nội cỏ hoa,
Bên dòng suối mát, đàn ca vang ngần.
Bao nhiêu mỹ nữ cung tần
Xuống dòng suối biếc ngâm thân vui vầy.
Áo hồng tía vắt trên cây,
Tóc ai đem xỏa bóng mây giữa dòng.
Ngựa chàng đỉnh núi xa trông,
Tự nhiên nảy kế thoát vòng trần ai.
Nghĩ rồi, quyết thực hành ngay,
Xuống đầu suối mát nằm dài hát ca.
Tiếng nào vọng giữa rừng xa,
Lơ thơ hoa rụng, la đà sóng vang.
Sương thu quyện tiếng ca chàng,
Dòng thu cuộn cánh hoa vàng đến vua.
Gió buồn não trận sầu mưa,
Nói cười im bặt bên bờ cỏ êm.
Đùng đùng vua nổi bão ghen,
Kẻ nào dám tắm trên ghềnh suối ta.
Thét quân gươm giáo sáng lòa,
Lên non tìm bắt để mà khai đao.
Trăm hoa ủ dột má đào,
Lại như dầu nọ thêm vào lửa sân.
Đã nghe ngựa hí vang rần,
Rẽ sương đầu núi ba quân kéo về.
Dẫn theo một gã cuồng kia,
Hoa chen gót tía, mây chia tóc bồng.
Truyền đem trói trước kiệu rồng
Chặt đầu, chuộc tội nghìn hồng mất vui.
Lệnh ban hoa cỏ bùi ngùi,
Gã kia mắt biếc tươi cười tự nhiên.
Gươm vừa chạm đến mình tiên,
Bỗng dưng đao phủ thét lên rụng rời.
Vì gươm báu chợt gãy đôi,
Vua truyền cởi trói run lời hỏi han:
“Hẳn thiên tiên xuống trần gian,
điều chi muốn bảo ban lão thần?”
Hằng-gia quì dưới trình lên:
“Phận hèn muôn đội ơn trên cao dầy.
Là con tể tướng nước này,
Vì không toại nguyện nên đày đọa thân.
Tính nhờ gươm pháp minh quân,
1.350. Xóa đi một kiếp hồng trần cho xong.
Giờ xin vua thỏa nguyện lòng,
Khuyên can nghiêm phụ, dám mong gì nhiều.
Cho thần tìm đạo cao siêu,
Thoát đường danh lợi, là điều thiết tha.
Về nương dưới bóng Phật-đà,
Bước chân quyết vượt ái hà mê tân.”
Lòng vua cảm mến muôn phần,
Truyền sai đón bậc lão thần bảo ban.
Rồi vua lại tự đưa chàng
Đến nơi tịnh xá dưới hàng hoa rơi.
Phật đang dạo ngó mây trời,
Bước chân tuyết rụng xanh ngời cỏ xuân.
Hằng-gia chợt thoát mê tân,
Như chim vượt khỏi lưới trần phiêu bay.
Vua A-xà-thế tỏ bày:
“Nhân chi mà hưởng quả này phúc duyên?
Dù cho gươm giáo cung tên,
Ai kia chạm đến bực hiền được sao.
Lại còn tám vạn trần lao,
Thoát lìa một chớp, ra vào ngại chi?”
Phật rằng “tiền kiếp xưa kia
Có vua nước lớn trị vì muôn dân.
Một hôm cùng các phi tần
Dong xe lên đỉnh non thần đàn ca.
Bỗng nghe vẳng tiếng tiêu hòa,
Khiến bao giọng ngọc khóc hoa lặng chìm.
Thét quân vua bắt đi tìm
Tiếng tiêu thoắt hiện, thoắt im dặt dìu.
Lưng non, gặp một gã tiều
Đang ru mình giữa tiếng tiêu nhịp nhàng.
Lệnh vua tức khắc đem giam,
Chỉ vì một khúc tơ oan tội tình.
Đường về gặp quan giám binh,
Hàng hàng gươm giáo lạnh mình oai nghi.
Động lòng thương xót gã kia,
Chút say nghệ sĩ, can gì đầu rơi!
Đến vua quì gối tâu lời:
”Chấp chi một khúc nhạc rời rã hoa.
Cúi xin ơn rộng hải hà,
Hiếu sinh dung kẻ tài ba một lần.”
Nhà vua nể nghĩa quân thần,
Cũng nguôi nộ khí truyền quân thả người.
Vị quan cứu tử mừng vui,
Cho làm nghĩa tử theo đòi sớm hôm.
Lần hồi xuân hạ thu đông,
Suối xanh rồi cũng nhớ sông cát vàng.
Gã tiều thấm lẽ vô thường,
Tưởng lều cỏ cũ, chán chường phố mây.
Chàng thưa “nguyện có cao dầy,
1.400. Công ơn nghĩa phụ lòng này tạc ghi.
Muốn đền đáp, biết lấy chi,
Con xin về núi tu trì thiện căn.”
Ông rằng “việc chẳng nên ngăn,
Nhớ khi đắc đạo về thành độ cha.”
Tạ từ lui bước chân ra,
Như voi nhớ chốn rừng già kịp đi.
Như sông nhớ biển lần về,
Như ai ngàn dặm nhớ quê võ vàng.
Rừng xưa nơi bãi cỏ hoang,
Dựng lều lau sậy ẩn tàng chí cao.
Sớm hôm suy gẫm tìm cầu,
Phá tan huyễn vọng, nhiệm mầu tâm khai.
Dùng thần thông đạp mây bay
Về thăm nghĩa phụ, hiện bày tâm quang.
Chiếu ra núi biếc trời vàng
Thành hơi gió thoảng chiên đàn lâng lâng.
Thấy con, nghĩa phụ vui mừng,
Nguyện lòng, ngưỡng vọng lên từng mây đưa.
Duyên may được cứu ngài xưa,
Từ lên tu núi khắc giờ thầm trông.
Bây giờ phúc tuệ thần thông,
Xin ngài cứu độ, qua sông mê này.
Rồi nương chính pháp sâu dầy,
Sớm hôm tu dưỡng hầu thầy độ sinh.
Hậu thân của vị giám binh,
Là Hằng-gia đó liều mình cầu tu.
Thân này trong cõi phù du,
Mà luôn thức tỉnh cho dù bến mê.
Cũng nhờ hạnh nghiệp xưa kia,
Kiếp này khai ngộ Bồ-đề tâm không.
Từ đây cởi áo trần hồng,
Như con sáo sậu qua sông trở về.”
Nghe rồi, vua bước lên xe,
Cờ reo dậy đất, tàn che rợp nhà.
Phật kêu Bồ-tát Hằng-gia,
Dạo bên suối lạnh ngó hoa xuôi dòng.
Cát vàng óng ánh đáy trong,
Hoa man mác nổi trên dòng suối lơi.
Hằng-gia hiểu ý Phật rồi,
Chắp tay lễ tạ, kịp dời gót chân.
Một nhà mai trúc đầy sân,
Giúp vua, trị nước, cứu dân thỏa lòng.
Như trăng sáng tỏa hư không,
Ngại chi hiện giữa giọt hồng sương hoa.

 

15. Người con hiếu hạnh

 

Ngày xưa Phật ở đất La,
Trong vườn lục trúc nơi nhà cỏ tranh.
Ngày ngày hóa độ trong thành
Như chim Thu tự cõi thanh tịnh về.
A-nan hiền giả hầu kề,
1.450. Bước chân theo nở đóa lê đậm đà.
Cổng Đông có một túp nhà,
Ông thường thấy vợ chồng già què đui,
Và con trai mới lên mười,
Nó đi khắp phố đông người xin ăn.
Cơm ngon trái ngọt để dành
Về nuôi cha mẹ, lòng thành tự nhiên.
Đã lưu tâm đến trẻ hiền,
Một hôm hầu Phật, ông liền trình thưa:
 “Từ ngày thỏa gót mây đưa,
Con thường qua mái tranh thưa bên thành.
Thấy một đứa bé hiền ngoan,
Kiếm nuôi cha mẹ cơ hàn một thân.
Thôi thì nắng hạ mưa xuân,
Thời gian nứt nẻ gót chân đọa đày.”
Phật dạy “phúc đức sâu dầy,
Kẻ nào hiếu thuận vui vầy mẹ cha.
Tiền thân nhớ một đời ta
Nguyện đem cái chết cứu cha mẹ hiền.
Nên chi hưởng quả nhân thiên,
Trên trời: tiên đế, dưới trần: thánh vương.
Đời nay thành Phật Thế tôn,
Cũng nhờ cội phúc lưu tồn xa xưa.”
A-nan hầu chắp tay thưa:
“Xin thầy dạy nghiệp xưa như thế nào?”
Phật rằng “trong cõi mộng đào
Có vua Đỗ Bá, hoàng trào oai danh.
Được mười hoàng tử tinh anh,
Mỗi người giữ một tiểu thành chăn dân.
Người con út hiệu Thiện Thân,
Lòng từ tế thế, tài thần an bang.
Bỗng đâu nghiêng ngửa triều đàng,
Tướng quân soán đoạt ngai vàng ai hay.
Đất bằng sóng nổi cát bay,
Voi xô cửa ải, ngựa dầy xác dân.
Kéo về vây bắt Thiện Thân,
Thế cô chẳng thể chống quân bạo tàn.
Ngài cùng vợ dắt con ngoan,
Nửa đêm cải dạng lên đàng lưu vong.
Tháng ngày vượt núi băng sông,
Chân xa cố quốc, lòng trông đất nhà.
Lần hồi đói khát cả ba,
Phu nhân lo lắng biết là cậy đâu.
Thương chồng con, dạ quặn đau,
Chẳng đành chết đói nhìn nhau một bầy.
Chi bằng ta lóc thịt tay,
Nuôi chồng con sống qua ngày còn mong.
Thân ta sao cũng cam lòng,
Còn hơn chết hết chẳng công ích gì.
Phu nhân mắt lệ đầm đìa,
1.500. Quyết lòng toan tính xa lìa trần lao.
Người con giằng được lưỡi dao,
Tự đâm vào ngực, máu đào vọt tuôn.
Hai thân xiết đỗi kinh hồn,
Thều thào con trẻ thở dồn thưa qua:
 “Lòng con muốn cứu mẹ cha,
Xin dùng thịt nọ để mà cầm hơi.
Hồn con vương vất chân trời,
Mừng cha mẹ sống, ngậm cười mà đi.
Nếu song thân chẳng dùng thì…
Hồn con mãi mãi sầu bi dưới mồ.”
Thưa rồi khép mắt hư vô,
Mẹ cha khóc ngất lệ khô tuôn dòng.
Bỗng nghe văng vẳng thinh không,
Chim đâu thả xuống trái hồng trái lê.
Lại thêm bầy thỏ kéo về,
Thi nhau dâng mạng bên khe lách vàng.
Tưởng như trong giấc mơ màng,
Lần ăn, hai tấm thân tàn cầm hơi.
Đáy mồ lót nắm cỏ tươi,
Nóc trồng hoa trắng cho người con ngoan.
Thương thay, dế khóc trùng than,
Bên rừng gửi nắm xương tàn bụi sương.
Sáng sau tiếp tục lên đường,
Chân qua cuối thác hồn vương đỉnh triền.
Hai năm ở nước láng giềng,
Mài gươm sửa giáp chiêu hiền dấy quân.
Kéo binh về dẹp loạn thần,
Qua rừng xưa vẫn xanh ngần mộ hoa.
Não lòng ai chẳng lệ sa,
Tạc bia dựng miếu mấy tòa khói nhang.
Rồi sau thâu đoạt thành vàng,
Dựng lên triều đại huy hoàng muôn thu.
Đó là duyên nghiệp ta xưa,
Thiện Thân ngày trước, bây giờ Tịnh vương.
Phu nhân một thuở toan đường
Hủy thân, giờ hiện mẫu hoàng Ma-gia.


Trẻ hiền trước bỏ thân hoa,
Nhờ công đức lớn, bây giờ là đây.”
Nghe xong diệu pháp khai bày,
Trong lòng ghi nhớ lời thầy từng câu.
Bao đời hiếu hạnh cao sâu,
Kết nên ánh sáng nhiệm mầu Như Lai.
Quanh thềm phơ phất hoa lay,
Mỗi nhành lá mỗi búp tay cúng dường.

 

16. Thay đổi dung hoa

 

Ngày xưa, trong một vườn hương,
Mái lầu trời lợp, nẻo đường mây sa.
Điện son gác tía đôi tòa,
Là nơi công chúa xấu xa lạ đời.
Vừa trông ai chẳng rụng rời,
1.500. Trần gian nào thể có người dị hơn.
Tên nàng vua đặt Kim Cương,
Riêng xanh ngại liễu, riêng hường thẹn ai.
Cuối xuân nhặt xác hoa phai,
Chớm thu đứng vịn cành dài rạc sương.
Con uyên nó hót trên tường,
Tiếng kêu như rụng bên giường ngẩn ngơ.
Má hồng lại ửng trái tơ,
Mà phòng riêng chỉ hững hờ gió thôi.
Đêm đông lệ nóng bồi hồi,
Tiếng hoa ngoài rụng ngỡ người thầm trông.
Ngán thay riêng nguyệt lẻ hồng,
Chẳng như đôi nhạn ngoài đồng tuyết rơi.
Vua cha dạ rối bời bời
Tìm phương tính kế an bài duyên con.
Mong gì danh tộc vương tôn,
Thì thôi tìm chốn xóm thôn nghèo nàn.
Việc giao cho một huyện quan
Dạo xem cuối núi đầu làng được ai.
Ngày kia gặp một chàng trai,
Cũng dòng thư kiếm tuổi ngoài đôi mươi.
Tóc xanh như cuộn tơ trời,
Dáng đi tưởng thoáng hạc rời non hoa.
Nắng sương nuôi một mẹ già,
Sóm mai đốn củi, trăng tà đọc thư.
Tháng ngày bữa cháo bữa dưa,
Chỉ vui hoa cỏ, chẳng ưa lợi quyền.
Huyện quan viết sớ tâu lên,
Vua liền lo liệu định duyên ngọc vàng.
Họ kia nghĩ cũng thương nàng,
Còn thôi, quyền tước giàu sang nghĩa gì.
Âm thầm hoa kết rèm che
Về thôn, ngựa cuốn đôi xe ngọc ngà.
Dựng lên lầu các nguy nga
Giữa vườn mai trúc một nhà an vui.
Vợ chàng sầu vẫn chưa nguôi,
Nghĩ mình nào xứng với người được sao.
Một hôm dưới cổng băng đào,
Có sư hóa độ ghé vào trang nghiêm.
Rằng đây gặp đại nhân duyên,
Đến ngày Phật độ người nên lạy mời.
Kim Cương lấy trái hoa tươi
Đem ra cung kính dâng người xuất gia
Rằng “con thể vóc xấu xa,
Dám đâu đến trước Phật-đà dâng hương.”
Bỗng trời lãng đãng mây vương,
Hóa thân Phật đẹp dị thường dưới hoa.
Áo như ráng đỏ la đà,
Tay như hoa giữa chiều tà đơm tươi.
Lòng trần như rũ sạch ngời,
Thân xưa, giờ đẹp tuyệt vời lạ thay!
Nhà sư hóa cánh hạc bay
Lẫn trong mây trắng giăng đầy thướt tha.
Nàng lên lầu ngắm gương ngà,
Thấy mình thay đổi khác xưa thực rồi.
Da như hồng ửng mơ tươi,
Mắt như trầm nguyệt giữa trời mây tơ.
Còn đang lặng ngắm ngẩn ngơ,
Từ đâu chàng đến sững sờ trước gương:
“Em đây phải chính Kim Cương,
Mà sao nhan sắc khác thường thế em?”
Nàng thưa: “tiền kiếp nhân duyên,
Vừa rồi gặp Phật hóa thân ngọc vàng.
Cổng hoa rực rỡ hào quang,
Tự nhiên em thấy bàng hoàng tâm thân.
Rồi tay như búp hoa ngần,
Rối thân như liễu, gót chân như đào.”
Vợ chồng mừng rỡ xiết bao,
Bâng khuâng hai bước, nao nao một lòng.
Liền tìm mẹ dưới vườn hồng,
Nghe hai con kể, ròng ròng lệ vui.
Thắng xe ngựa bạch kịp dời,
Bõ khi phố núi chân trời một thân.
Bây giờ gió cuộn phù vân,
Về thăm viếng bực song thân tại trào.
Nhà vua tuởng giấc chiêm bao,
Biết đâu rồi chẳng mộng đào qua nhanh.
Tin vui truyền khắp hoàng thành,
Cung tần mỹ nữ vân hành đến thăm.
Người đâu tuấn tử giai nhân,
Nào hay tiên động non thần lạc đây.
Cơ duyên như thực tỏ bày,
Vua cha hoàng hậu chọn ngày dâng hoa.
Ngựa hồng kéo cỗ xe ra,
Dừng bên tinh xá mấy nhà trầm vương.
Phật ngồi trên nệm cỏ hương,
Nhà vua đem chuyện lạ thường hỏi thưa.
Phật rằng “tiền kiếp xa xưa,
Nơi thành La-nại có nhà giàu sang
Phát tâm thanh tịnh cúng dàng
Vị Phật Độc giác trú hang Nguyệt Tà.
Dị hình cổ quái xấu xa,
Những khi ngài ghé qua nhà hóa trai,
Phú ông có gái trang đài,
Then niêm cổng nguyệt hoa gài rèm châu.
Mỗi khi thấy Phật ngang lầu,
Dung hoa lại thoảng nét sầu kém vui.
Một hôm sắp nhập diệt rồi,
Thần thông hiển tướng độ người trần lao.
Thinh không có tán mây đào,
1.650. Kết thành võng gấm cáng vào nhà trai.
Phật ngồi như tuyết như mai,
Môi tươi nét ngọc, tay dài búp tơ.
Tiểu thư quì lạy sững sờ,
Khóc xin sám hối tội xưa chết người.
Rằng “con có mắt không ngươi,
Chấp vào hình tướng buông lời khinh chê.
Giờ xin ơn Phật chở che,
Nguyện theo ánh sáng Bồ-đề quy nương.”
Nay là công chúa Kim Cương,
Cũng vì nhân trước khinh thường thánh Tăng.
Lại nhờ sám hối ăn năn,
Sớm hôm tu đạo phước căn để đời.
Nhờ kiếp trước cúng dường Người,
Sinh ra đều được vào nơi sang giàu.
Gieo nhân ác, thiện từ lâu,
Quả nay xấu, tốt theo nhau hiện về.
Chúng sinh đắm mãi tham mê
Nên thân, khẩu, ý: ba bề sóng xô.
Một khi thoát chốn mê đồ,
Quả nhân như thoảng giấc hồ phủi xong.
Kìa ai nhân quả xoay vòng,
Hãy coi như bọt trên sông rì rào.
Có, không: chỉ giấc mơ đào,
Cứu người cõi lửa ra vào ngại chi.”
Nghe qua như tỉnh mê si,
Người trong pháp hội bốn bề lặng yên.
Như vừng đông thoắt hiện lên
Bao nhiêu sương bụi quanh miền vừa tan.
Dường trong ánh mắt dịu dàng
Là triêu dương dục trăm đàng nở hoa.

 

17. Ngọc nở thành sen

Ngày xưa, một sớm hồng pha
Áo bầy thôn nữ tỉa hoa ngoại thành.
Truyền nhau tin miệng loan nhanh
Rằng có một trẻ vừa sanh tuyệt vời.
Trang nghiêm tướng mạo khác đời,
Lòng tay như ngọc tỏa ngời hào quang.
Ai nghe chẳng ghé mai trang,
Đòi xem tận mắt rõ ràng mới thôi.
Thu, Đông tuần tự lần hồi,
Bé trai lớn dậy như chồi tầm xuân.
Tên chàng là Lý Thiện Nhân,
Họ nhà hoan hỉ, hương lân vui vầy.
Chẳng bao trăng khuyết trăng đầy,
Thiện Nhân khôn lớn theo thầy học xa.
Sách kinh chỉ lướt xem qua,
Chàng đem cất sách như là thuộc xong.
Thánh hiền muôn tạng làu thông,
Lại thêm binh lược kiếm cung thạo tài.
Hai viên ngọc ẩn lòng tay,
1.700. Từ lâu ánh sáng cọ hoài chẳng ra.
Nhân thường thăm viếng Phật-đà,
Mang theo y, thực, trầm, hoa cúng dường.
Đêm kia dạo nguyệt trong vườn
Cùng cha, dưới khóm dạ hương tỏ mờ
Nghe trong thoang thoảng hương đưa,
Dường như hương khiến người tơ tưởng sầu.
Chàng rằng “nay bể mai dâu,
Khác chi hương thoảng qua mau dưới thềm.
Mấy người thức ngó trăng lên,
Hay còn chìm ngủ giữa đêm đoạn trường.
Bao nhiêu giả tướng vô thường
Kết nên ảo giác muôn đường nổi nênh.
Trò đời quán chợ phù vân,
Lợi danh hồ dễ chỉ ngần ấy sao?
Tham si mãi buộc thân vào,
Rồi đây chọn nắm cỏ nào gửi xương.
Chí con muốn thoát vô thường,
Cầu đạo giải thoát nơi vườn trúc xanh.
Trước là tỉnh giấc vô minh,
Sau là hóa độ chúng sinh mọi bề.”
Ông rằng: “cánh hạc bay đi,
Dù non mây thẳm ngại gì chẳng qua.
Nghe con tâm nguyện xuất gia,
Bước chân theo dấu Phật-đà tịnh tu.
Đó là hiếu hạnh đền bù,
Lấy chi sánh được cho dù non cao.
Lòng cha mẹ có thế nào,
Nỡ đâu như mảnh mây đào lấp trăng.”
Nhân nghe xiết đỗi vui mừng,
Cảm lòng cha mẹ đôi dòng lệ quanh.
Hành trang sắp sửa bộ hành,
Suốt đêm ngó mảnh trăng thanh trước lầu.
Sáng ngày mây trắng phau phau,
Giục đôi cò đậu cành cau cất mình
Bay lên chót vót trời xanh,
Cánh tung như thể mấy cành hoa vương.
Con xe băng vút cầu sương,
Mẹ cha tiễn đến bên vườn trúc kia.
Một vùng cỏ mướt mây kề,
Hoa năm sắc nở bên khe lý đào.
Suối mừng cất tiếng nao nao,
Sương mừng sương rớt hạt nào long lanh.
Dưới bờ dương liễu rờn xanh
Chúng Tăng tịch mặc kinh hành đạp hoa.
Y vàng như lớp giang hà
Trong rừng liễu rũ mấy nhà cỏ thơm.
Theo vào trước Phật, dâng hương,
Chàng xin tu học tỏ tường trình thưa.
Bỗng dưng đôi ngọc năm xưa
Ẩn lòng tay nọ bây giờ tỏa quang.
Rực lên ánh sáng dị thường,
Biến thành hai đóa sen hường bay lên.
Ngó xanh như ngọc quỳnh tiên,
Lại thêm nghìn cánh mây viền uốn quanh.
Hoa dâng lên đấng cha lành,
Trông như hai đóa mây xanh dịu dàng.
Ngẩn ngơ khắp cả đạo tràng,
Việc chưa từng thấy nơi hàng thế gian.
Hẳn người chín cõi tiên san,
Nay nơi động phủ mây vàng tịnh tu.
A-nan hiền giả liền thưa:
“Chuyện này phúc tuệ duyên xưa lẽ nào?
Hẳn gieo đức nghiệp dầy lâu
Nên hoa sen bỗng từ đâu hóa về.
Xin ngài ân chỉ con nghe,
Vén màn tăm tối kết bè tuệ tâm.”
Phật rằng “tứ chúng yên lòng,
Chín mươi mốt kiếp trần hồng cách đây.
Tỳ-bà-thi Phật ra đời,
Như hoa sen nở mấy trời ngát hương.
Phật hiền giáo hóa thế gian,
Chúng sinh vô lượng Niết-bàn an vui.
Thôn kia mới có một người
Nhà nghèo khó trải bao đời lang thang.
Nuôi thân củi nhánh rau nhành,
Bốn mùa sương gió che manh áo tàn.
Một hôm gặp Phật đăng đàn,
Chuyển kinh diệu nghĩa bên ngàn hoa tươi.
Đạo nghe như tỉnh sầu người,
Thành phiền não dựng bao đời xô tan.
Anh kia phát nguyện cúng dàng,
Mà thân còn mảnh áo tàn tính sao?
Chợt nhìn bên lộ dưới ao,
Có bông sen trắng gió nào đưa hương.
Thế là thỏa nguyện cúng dường,
Ven ao lội xuống tìm đường ngắt hoa
Dâng lên cung kính dưới tòa.
Phật cầm giơ một cánh hoa mỉm cười.
Lòng vui lạy tạ chân rời,
Tìm thêm hoa khác bên người mang theo.
Lang thang chợ sớm sông chiều,
Búp sen cùng với thân tiều tụy kia.
Gặp ai anh cũng đưa hoa,
Rằng: hương sen ngát đây là Phật thân.
Người vì thương cõi hồng trần,
Lênh đênh biển khổ muôn phần nổi trôi.
Như hoa thơm giữa bùn hôi,
Hiện ra giải thoát bao người lầm mê.
Tỉnh thôi vào cửa Bồ-đề,
1.800. Chúng sinh, Phật cũng quy về một tâm.
Anh gieo huệ nghiệp cao thâm,
Tuyên dương chánh pháp cúng dường chúng sinh.
Trải bao bến mộng phù trần
Trầm luân kể biết bao lần nổi trôi.
Cái thân mây hợp đổi dời,
Duy còn tuệ nghiệp đời đời truyền đăng.
Nguyện lòng ròi rõi tâm trăng,
Kết thành ngọc quý hào quanh chiếu ngời.
Đi lên trí huệ tuyệt vời,
Cũng là đi xuống thương người trần lao.
Một thân ba cõi ra vào,
Mười phương hóa hiện mây đào hợp tan.
Bây giờ bi trí vẹn toàn,
Tâm như sen nở vô vàn hào quang.
Dù nơi động biếc sương lam,
Dù nơi ngục tối cơ hàn khổ đau.
Huệ hương thoảng đến đâu đâu,
Là trăng giới định nhiệm mầu hóa khai.”
Nghe xong pháp hội người người
Phát tâm bất thoái độ đời chuyển mê.
 
 

18. Bắc cầu dâng Phật

Rằng xưa có một nhà kia,
Bên bờ suối liễu bốn bề tùng reo.
Mây bay nườm nượp sớm chiều,
Tiếng chim ăn trái buông đều nhạc rơi.
Ngày kia sinh hạ một trai,
Sương thành hoa gấm bay lơi xuống thềm.
Hương dâng ngát thoảng quanh miền,
Nhân đây mới đặt Hoa Tiên tên người.
Lớn lên phúc huệ tuyệt vời,
Dáng như mai hạc, tính trời từ bi.
Mắt ngời là giếng lưu ly,
Môi là đào mận xuân thì đơm hoa.
Tóc dường suối cẩm vừa sa,
Tiếng như khánh ngọc gương ngà ném tan.
Dựng lầu bên suối họp văn,
Thơ ngâm rặng liễu dạo đàn canh sương.
Nếp nhà cốt cách thư hương,
Kinh Hiền ba tạng lầu thông nghĩa mầu.
Một đêm ruổi ngựa qua cầu,
Ôm đàn dạo nguyệt, nghiêng bầu rượu hoa.
Tìm lên ngọn suối vừa sa,
Nghe chim họp bạn trên bờ cỏ tươi.
Bỗng đâu đôi bóng hạc trời,
Thinh không đáp xuống bên người thiết tha.
Cánh dường mây trắng vờn xa,
Tiếng như tay chạm phím ngà nên thanh.
Ngậm hoa về phía rừng xanh,
Trải lên vườn trúc, đượm cành trăng sao.
Hoa Tiên thấy chuyện lạ đâu,
Dõi theo ngựa xoải vó câu dặm vàng.
Dừng yên ngoài cổng đạo tràng,
Thấy trên thảm cỏ hàng hàng tỳ-kheo.
Vây quanh ngọn lửa hồng reo,
Hướng vào đức Phật y điều nghiêm trang.
Vừa trông thấy ánh từ quang,
Lòng Hoa Tiên chợt bàng hoàng chuyển y.
Não phiền theo gió tan đi,
Đứng trong sương lạnh dưới vì sao mai.
Sáng ra trở ngựa dặm dài,
Về thăm cha mẹ xin nài xuất gia.
Tin đâu truyền khắp thôn nhà,
Khách vào thăm hỏi, người ra lễ mừng.
Song thân rằng: “Dẫu nhớ mong,
Cũng xin để cánh chim hồng tung bay.
Một đi chí nguyện cao dầy,
Thoát nơi phiền não, lòng này ngưỡng mong.
Dám đâu cạn ý hẹp lòng,
Giam chân tiên hạc trong lồng vàng châu.
Còn như uẩn khúc vì đâu,
Tình duyên oan trái, nên cầu xuất gia?
Lòng con cứ thực tỏ ra,
Trăm muôn nghìn khó mẹ cha nào từ.”
Tiên rằng: “con đã tỏ thưa,
Tự dưng lòng lại mến ưa đạo mầu.
Chẳng vì mục đích tham cầu,
Dù là quả thánh, phép mầu thần thông.
Chẳng vì chán cảnh trần hồng,
Chẳng vì một giấc mơ mòng dở dang.
Lòng con siêu thoát mang mang,
Như sông nhớ biển lên đàng giục xuôi.”
Thế rồi cha mẹ thuận lời,
Hôm sau đàn sách chậm rời thôn hoa.
Xuôi đường mấy dặm chim ca,
Đến vườn lục trúc nơi nhà tịnh thanh.
Phật vừa hóa độ trong thành,
Về qua cầu bẻ một cành bạch mai.
Gặp Hoa Tiên đợi sân ngoài,
Người cầm hoa đặt lên vai chàng cười.
Bàng hoàng thốt chẳng nên lời,
Hoa Tiên đôi mắt rạng ngời tinh châu.
Lòng chàng vừa chứng đạo mầu,
Hào quang như kết quanh đầu vòng bông.
Phật hay bốn chúng nghi lòng,
Đến ngồi ngay dưới giàn trồng đậu dưa.
Ngài rằng: “Tiền kiếp xa xưa,
Tỳ-bà-thi Phật nhất thừa pháp khai.
Một hôm qua ấp thụ trai,
Giữa đường Ngài gặp một người thôn dân.
Dưới đầm hoa đứng nhìn lên,
1.900. Nhà nghèo nên áo che thân cũng tàn.
Biết lòng ai muốn cúng dàng,
Phật dừng chân chỉ con đàng uốn quanh:
”Đắp đường lợi lạc chúng sanh,
Cúng dường chính pháp trọn lành biết bao!”
Người kia ngộ lý nhiệm mầu,
Nguyện ra công sửa đường, cầu nơi nơi.
Mặc cho chúng bạn chê cười,
Dần dần anh khiến bao người góp tay.
Cũng nhờ cội phước xưa nay,
Phát tâm bố thí, kiếp này giàu sang.
Vừa sinh, muôn đám sương vàng,
Kết thành hoa trải thôn làng hương đưa.
Bây giờ gặp đạo đại thừa,
Trải cơn mưa lớn, lượng vừa cỏ cây.
Như lòng hạc nhớ non mây,
Như chim bể Bắc họp bầy sang Nam.
Hoa Tiên đã xả bụi vàng,
Hư không vô tướng đâu hàng vết chim.”
Nghe xong người khởi lòng tin,
Nguyện đem nhân quý gieo lên hồng trần.

19. Luyện kiếm độ đời

 

Thời xưa ở trại phù vân,
Có giàn thiên lý thơm ngần đơm hoa.
Bốn mùa thu lại xuân qua,
Chim về ăn trái quanh nhà hồng mai.
Chủ nhân sinh được một trai,
Trong ngày sương kết thành đài hoa rơi.
Lại thêm mấy cánh hạc trời,
Múa kêu đôi tiếng tuyệt vời rồi đi.
Mưa hồng ngọc, bụi lưu ly
Trải quanh nhà cỏ lạ kỳ ai hay.
Trẻ kia mắt phượng mày ngài,
Vẻ đem so khắp, trần ai khó bằng.
Đón thầy thường trụ Chùa Tăng
Xuống xem tướng, đặt tên chàng Bảo Thiên.
Thầy rằng: “tích đức tu hiền,
Trẻ này hẳn có phúc duyên tột vời,
Làm cho gia thế rạng ngời.”
Dạy rồi chống gậy, chân rời thôn hoa.
Vèo thôi đông tới thu qua,
Bảo Thiên khôn lớn, một nhà mừng vui.
Mắt như kiếm ảnh sáng ngời,
Mũi cao ống trúc, môi cười ngậm hoa.
Tính hiền ái ngữ nhan hòa,
Hết vào binh lược, lại ra thơ đề.
Danh thơm truyền khắp sơn khê,
Bao nhiêu danh sĩ tìm về kết giao.
Làng thôn nổi tiếng kiệt hào,
Cứu người thương vật, xá nào lụy thân.
Một ngày nhân hội nghinh xuân,
1.950. Anh em mới rủ vào thành dạo hoa.
Lầu cao vàng thếp muôn tòa,
Võng điều, ngựa tía lại qua dập dìu.
Vui chân tới một xóm nghèo,
Cảnh đâu có cảnh đìu hiu thế này.
Nhà xiêu lụp sụp tanh hôi,
Cả bầy con trẻ nằm ngồi trơ xương.
Khóc quanh một xác sình trương,
Hỏi ra mới biết người phường tiện nhân.
Góa chồng từ độ thanh xuân,
Tháng ngày làm mướn kiếm ăn lần hồi.
Lại còn nuôi lũ con côi,
Rau thiu, gạo hẩm, cơm ôi cũng là.
Hôm kia làm mướn một nhà,
Bị vu đánh cắp mấy tà áo phơi.
Trói ghì tra khảo một hơi,
Người đâu lại có giống người sói lang.
Thân khô da bọc xương tàn,
Chịu sao khỏi trận đòn oan hỡi trời.
Lòng u uất chẳng nên lời,
Thả ra, xác nọ còn hơi thở tàn.
Khiêng về nào được thuốc thang,
Bỏ bầy con dại cơ hàn chết đi.
Cái thân hạ liệt kể gì,
Trăm oan nghìn khổ cũng vì cái thân.
Xóm này toàn lũ hạ nhân,
Dù ai chết rữa ai cần chôn ai.
Chuyện nghe giận bốc dựng mày,
Đổi viên ngọc quý, thuê người liệm chôn.
Lại lần hỏi chốn quan môn,
Anh em tìm đến một đường kêu oan.
Quan nào lại nỡ xử quan,
Cũng phường hút máu tham tàn như ai.
Phán rằng: “bằng cớ chi đây,
Ai xui mi đến làm rầy cửa công?”
Giận bừng như lửa dầu xông,
Thẳng tìm nhà nọ quyết lòng ra tay.
Rằng: “quân cậy thế hại người,
Qua đây thấy chuyện ngược đời chẳng dung.”
Thế là quyền cước vẫy vùng,
Chợt nghe tướng mạnh quân hùng bổ vây.
Sức nào đọ được muôn người,
Mở đường sống vượt ra ngoài thoát thân.
Tìm về đóng chặt phòng văn,
Rồi đem kinh điển thánh hiền đốt chơi.
Người đâu người lại thịt người,
Thánh thần chỉ để che lời bất nhân.
Thế rồi từ biệt phòng văn,
Bỏ đi khắp chốn xa gần quan chiêm.
Tội tình chỉ bọn dân đen,
Còng lưng nuôi lũ quan trên đè đầu.
Cùng là một bọn sang giàu,
Thêm hàng giáo sĩ hùa nhau lột người.
Thần linh mấy đỉnh từng trời,
Sách kinh chỉ tổ cho đời lận nhau.
Cũng cùng một giọt máu đào,
Cũng cùng kiếp sống ai nào khác ai.
Thế mà nuốt sống ăn tươi,
Thế mà kẻ khóc người cười sao đang.
Nhà nghèo thì khổ cơ hàn,
Nhà thì cẩn ngọc giát vàng làm chơi.
Giàu nghèo đâu tự số trời,
Chia phân lại tự lòng người hiện ra.
Một hôm qua suối giang hà,
Tìm vào gặp Phật nơi nhà tịnh thanh.
Bào Thiên nhác thấy y vàng,
Bao nhiêu vấn nạn lòng chàng tự khai.
Cũng vì tà kiến thương thay,
Biển oan vô thủy chứa đầy lệ thương.
Khổ vui một cuộc vô thường,
Tham mê là nghiệp y nương sâu dầy.
Ngoài thềm lãng đãng hoa rơi,
Bảo Thiên thân bổng tỏ ngời ánh quang.
Thần thông trí lự vô vàn,
Người người trong khắp đạo tràng đều hay.
A-nan cung kính chắp tay
Vội thưa: “cội phúc cao dầy, lẽ sao?”
Phật rằng: “nhân trước duyên sau,
Xả mê khởi ngộ pháp mầu là đây.
Cách vô lượng kiếp cõi này,
Tỳ-bà-thi Phật hiện bày pháp thân.
Độ người vô lượng vi trần,
Nhân gian nào thấy lệ ngần thương đau.
Thị khai diệu pháp sâu mầu,
Cõi trần biển oán non sầu sạch không.
Một hôm hóa độ qua sông,
Gặp người thao luyện kiếm cung trên bờ.
Hàn quang rụng tuyết sa mù,
Ào ào bão nổi, vụt vù mây bay.
Phật qua anh nọ dừng tay,
Bên đường thi lễ, vái dài kính thưa
Rằng: “con luyện kiếm từ xưa,
Cách dùng cho đúng thì chưa biết gì.
Ngưỡng mong ơn Phật từ bi,
Dạy cho tiện sĩ cách chi giúp đời?”
Phật rằng: “kiếm cũng như lời,
Một câu một nhát hại người như chơi.
Kiếm thì hủy một thân thôi,
Lời sai hại đến muôn đời mai sau.
Trí bi là cách nhiệm mầu,
Tùy duyên bất biến có đâu ngại ngần.
2.050. Kiếm dùng ngăn ác phù chân,
Lời dùng giải oán chúng nhân mọi đường.
Kiếm hùng giữ vững kỷ cương,
Lời chân hóa chuyển bốn phương thái hòa.
Tránh cho nước nước nhà nhà,
Khỏi lo hiểm hoa can qua bồi hồi.
Cũng tùy phương tiện mà thôi,
Ngăn duyên mê ác, dựng đời hiền lương.
Kìa phòng văn, nọ chiến trường,
Trợ duyên chính đạo y nương chẳng dời.
Cùng khai tánh trí tuyệt vời,
Tâm từ bi trải muôn loài chúng sinh.
Kiếm thần chặt đứt vô minh,
Ý thần giáo hóa nhân quần tan mê.”
Thế rồi từ đó người kia,
Nguyện theo lời Phật tu trì kiếm tâm.
Dù người tỉnh thức, mê lầm,
Dù nơi thành thị xuyên sơn chẳng nề.
Giúp đời lợi lạc muôn bề,
Một thân đại nguyện đi về thênh thang.
Trải bao kiếp mộng trần hoàn,
Đời này phúc huệ đôi đàng vẹn đôi.
Thần thông trí đức tuyệt vời,
Như viên bội ngọc chiếu ngời cõi mê.
Một thân an trụ Bồ-đề,
Muôn thân hóa hiện đi về mười phương.”
Nghe xong người khắp đạo trường
Phát tâm quét sạch tai ương mọi miền.
Phá bờ nhân, ngã, dưới, trên…
Muôn loài như thể một thân, khác gì.
Sạch lòng tà kiến mạn si,
Chung xây quốc độ trí bi đại hòa.

 

20. Hạnh nhẫn nhục

Nhớ hồi Phật tại thành La,
Trong vườn lục trúc ngự nhà dải vân.
Với năm La-hán Kiều-trần,
Lại thêm Ca-diếp và ngàn Tỷ-khiêu.
Vượt qua bến mộng phù kiều,
Như bầy tiên hạc dập dìu cánh bay.
Sớm dời thành Bắc sông Tây,
Chiều sang Nam hải vui vầy chờ Đông.
Chẳng lưu vết tích trần hồng,
Một đi biền biệt muôn trùng mây đưa.
Bấy giờ dân nước Duyệt-kỳ
Ngợi khen huệ đức một vì thánh vương.
Như bè chính pháp y nương,
Như đêm tối hiện chân thường vừng trăng.
Độ người tà kiến mê lầm,
Qua sông huyễn dục vượt hầm lửa sân.
Giục nhau vượt cõi mê tân,
Dù là cao, hạ, sang, bần mặc ai.
Chuyển cơn mưa pháp người, trời…
Trăm đào nghìn tía xanh ngời trái hoa.
Tâm từ trải khắp trần sa,
Nơi nơi thịnh trị, nhà nhà thuận vui.
Lại khen đệ tử muôn người,
Duyên chi mà sớm quy hồi đạo chân.
Một đêm Tăng chúng quây quần,
Dưới hoa, quanh bậc cha hiền thưởng nhang
Trầm thơm phảng phất đạo tràng,
Phật ngồi trên chõng tre vàng ánh trăng.
Một Tỳ-khưu đứng bạch rằng:
”Nhân chi tiền kiếp nay quần tụ đây?
Như trăng hiện giữa đài mây,
Như xuân nở trắng một ngày hoa lê.”
Phật rằng: “ta có lời thề
Viên thành Phật đạo nguyện về độ tha.
Kể trong vô lượng đời qua,
Cõi này có một vua là Lợi vương.
Bên thành có núi ùn sương,
Có hoa vàng động, có nương thẫm đào.
Có vị tiên lão hạnh cao,
Năm trăm đệ tử ẩn vào động tu.
Một hôm cùng với nhà vua,
Cung phi ngọc nữ viễn du chốn này.
Nhạc ca, yến tiệc vui vầy,
Kiệu vàng ẩn dưới tàng cây trải hồng.
Rượu tàn trầm cũng ngưng xông,
Trên giường còn lại mình rồng ngủ say.
Cung tần mỹ nữ dạo chơi,
Tìm qua hang động viếng người thanh tu.
Một vùng cây cỏ thâm u,
Suối reo biêng biếc, chim gù hắt hiu.
Hoa theo bướm lượn dập dìu,
Sườn non ai bắc nhịp kiều uốn quanh.
Đỉnh non mây kết tàn xanh,
Lối vào sương động lả nhành hoàng mai.
Bước chân lạc nẻo thiên thai,
Áo xanh điệp thúy, dầu hài đạp hương.
Rẽ hoa gặp khách dị thường,
Đặt hai bồ thuốc trên đường nghỉ yên.
Dung nhan lắng sạch ưu phiền,
Khách ngồi bó gối nhìn triền vách mây.
Hỏi ra, chính lão tiên đây,
Cung tần mỹ nữ dâng thầy trầm hoa.
Vây quanh bãi cỏ yên hà,
Lắng nghe thầy dạy, trần sa sạch lòng.
Bỗng đâu hiện cỗ kiệu rồng,
Giáo gươm tỏa sáng, tàn hồng nghiêng che.
Kể từ vua tỉnh giấc hoè,
2.150. Trầm hương sáo nhạc bốn bề bặt yên.
Thét quân thẳng đến động tiên,
Dưới chân mây biếc, bên triền chim ca.
Đến nơi vách núi chiều tà,
Lão tiên ngồi giữa ngàn hoa xum vầy.
Rượu còn phảng phất hương say,
Lòng nghe như thể muôn ngày cuồng phong.
Thất kinh nét tía vẻ hồng.
Nhà vua vừa xuống kiệu rồng oai nghi,
Hạch rằng: “người giữ hạnh chi,
Ngồi cùng ngọc nữ tần phi giữa rừng?”
Lão cười nói: “bẩm đại vương,
Theo hạnh nhẫn nhục lão thường luyện tu.”
Vua gầm: “thật nhẫn nhục ư?”
Rút thanh bảo kiếm chặt lìa đôi tay.
Máu hồng như suối tuôn ngay,
Lão ngồi điềm tĩnh rạng ngời dung nhan.
Vua cười: “còn nhẫn nữa chăng?”
Lão thưa: “hạnh vững ví bằng núi kia.”
Khua thanh kiếm báu chớp lìa,
Chặt đôi chân, máu đầm đìa đổ văng.
Cười gằn: “lão nhẫn nữa chăng?”
Thưa: “đời tham giận kiêu căng đọa đày.
Muốn qua bốn vọng mê này,
Chỉ còn nhẫn nhục làm thầy y vương.”
Lạ thay kinh động mình rồng,
Vứt thanh kiếm báu tỉnh lòng trần sa.
Hào quang chớp loé sáng lòa,
Sen đâu kết lại một tòa trăm bông.
Lão tiên bay giữa hư không,
Nghìn con nhạn kết tàn hồng nghiêng che.
Lòng vua hối hận sắt se,
Quỳ bên bãi cỏ đầm đìa lệ vương.
Tiên rằng: “tan hợp vô thường,
Nhẫn như tích trượng kim cương chẳng dời.
Nghiệp duyên như sóng trùng khơi,
Tánh không, vằng vặc lưng trời như trăng.”
Nhà vua cung kính xin rằng:
”Dạy cho đệ tử pháp hiền nhẫn tu.”
Lão truyền: “do Phật tâm từ,
Yêu thương vô lượng diệt trừ huyễn sanh.
Chẳng vì tha, ngã cách ngăn,
Ngại chi giả tướng muôn thành khói mây.”
Trên đài sen thoảng hương bay,
Lão tiên vóc thể nguyện đầy vàng châu:
Tay hoa mười búp nhiệm mầu,
Chân tươi vẻ ngọc dáng đâu tuyệt vời.
Nhà vua sám hối, nghẹn lời,
Nguyện dùng gươm diệt ba đời vọng căn.
Nguyện khi đắc đạo chí chân,
Sẽ vào cứu độ hồng trần tham mê.
Bỗng dưng mây kéo ập về,
Sấm gầm gió thét, bốn bề chớp giăng.
Số là thần, quỉ, Long vương,
Giận vua Ca-lợi, nổi cơn lôi đình.
Tham tàn sát hại thánh nhân,
Quyết mang búa sét diệt quân bạo tàn.
Đánh cho ngọc nát vàng tan,
Lửa trời phóng đốt muôn đoàn ngựa xe.
Vua quan vía khiếp hồn ghê,
Tiên sai hạc kết tàn che khắp trời.
Lại khuyên rồng, quỉ, hờn nguôi,
Từ bi tha kẻ quy hồi lẽ công.
Tự nhiên trời tạnh trăng trong,
Cúi đầu lễ tạ, mình rồng lên xe.
Một đoàn cờ dựng tàn che,
Thớt voi bành ngọc trẩy về thành hoa.
Bấy giờ có bọn pháp gia
Thấy vua cung kính đạo mà ghét ghen.
Thuê người đồn đãi phao truyền
Đặt điều nói xấu lão tiên khắp vùng.
Ngày kia chuyện lọt hoàng cung,
Vua truyền quân lính truy lùng khảo tra.
Mới hay mưu bọn pháp gia,
Một đêm nhốt hết ngàn nhà chủ trương.
Tin vừa đưa đến non sương,
Lão tiên hóa hiện thần thông về thành.
Xin vua mở đức hiếu sinh,
Rộng tha cả bọn vô minh sâu dầy.
Để gieo ân đức kiếp này,
Hướng về Phật quả tròn đầy mai sau.
Tẩy trừ nghiệp thức mê sầu,
Độ cho ngoại đạo qua cầu chấp nê.
Kiếp xưa tiên lão Sàn-đề,
Tiền thân ta lại hiện về hôm nay.
Vua Ca-lợi trước là đây,
Kiều-trần-như nghiệp sâu dầy sạch tan.
Đại thần bốn vị lão quan,
Đời này cũng khoác y vàng Tỳ-khưu.
Vượt qua ải mộng oan cừu,
Bây giờ năm vị còn lưu vườn này.
Cầm đầu ngoại đạo là đây,
Hiện thân Ca-diếp ngày rày về theo.
Lại thêm ngàn vị Tỳ-khiêu
Cũng từ kiếp nọ đặt điều mê sân.
Đổi thay theo xác hồng trần,
Trước sau rồi lại quay quần chung nhau.
Sóng tàn, nước có hao đâu,
Mây tan, lại sáng làu làu viền trăng.”
Nghe xong Tăng chúng bàng hoàng,
2.250. Trông ra thấp thoáng y vàng dấu sương.
Chẳng còn mê sợ vô thường,
Tâm cùng trời đất, trăm đường hóa sinh.
Như mầm xuyên đất vô minh,
Nở hoa kết trái an bình thiên thu.

Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 114426)
Trong bài nói chuyện đăng trên youtube của Hòa thượng Thích Thông Lai có nói sẽ ngăn chặn việc xây chùa Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ tuyên chiến với thầy. Thầy nghĩ sao về việc này?
Khoá tu lần này thu hút sự tham gia của hơn 500 bạn trẻ từ mọi miền đất nước, dưới sự hướng dẫn của Đại Đức Giác Minh Luật – Trưởng Ban Tổ Chức cùng gần 30 Chư Tôn Đức Tăng – Ni trẻ.
Penang - hòn đảo xinh đẹp đậm đà nét văn hóa độc đáo của đất nước Malaysia ( Mã Lai), một trong những điểm đến lý tưởng nhất trên thế giới trong những ngày này đã đón tiếp hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử từ các châu lục gồm 30 quốc gia về tham dự Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Thế Giới (The World Buddhist Sangha Council - WBSC) lần thứ 10. Khách sạn Equatorial là địa điểm chính, nơi diễn ra suốt kỳ đại hội lần này từ ngày 10 đến 15.11.2018.