Tạp Thí Dụ Kinh

05/01/20153:54 CH(Xem: 4264)
Tạp Thí Dụ Kinh

ĐẠI TẠNG KINH VIỆT NAM

Kinh Số 204

 Tạp Thí Dụ Kinh  

Sa môn  Chi Lâu Ca Sấm dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán. Đời Hậu Hán (năm 25 – 220 Sau Công Nguyên)

B.S. Trần Văn Nghĩa Việt dịch và chú giải. Ngày 22/10/2011  

Cư sĩ Phúc Anh và Nguyên Tánh hiệu đính. Ngày 28/12/2014

Thí dụ thứ 1

Ngày xưa có một tỳ kheothông minh và đầy trí tuệ.  Khi thầy lâm trọng bệnh, đệ tử hỏi thầy rằng: Thầy đắc đạo A-la-hán (4) được chưa ? Thầy trả lời: Chưa được.

Đệ tử lại hỏi: Vậy Thầy đắc đạo bất hoàn chứ ? Thầy trả lời: Chưa đâu.

Đệ tử lại thưa rằng: Thầy hành đạo cao và nổi tiếng, như vậy vì sao không thành chánh quả?

Thầy nói rằng: Mới được nhất lai quả vị (5). Còn hai quả vị cao hơn thì chưa được. 

Đệ tử lại hỏi: Đã được nhất lai quả, vậy tại sao không thành A-la-hán ?

Thầy trả lời : Vì muốn được dự tam kỳ Pháp Hội (6) của Đức Phật Di Lặc, gồm có hai trăm tám mươi ức (7) người đắc đạo A-La-Hán và vô số kể người đắc đạo bồ tát, Đức Phật Di Lặcđấng chí tôn, thân thể vĩ đại cao sáu mươi trượng (8). Người ở trong thế giới của ngài hồng hào như hoa đào, nhân dân của ngài đều thọ tám vạn bốn ngàn năm. Đất đai của ngài bằng phẳng, nhân dân tự nhiên ấm no, lãnh thổ Đất Diêm Phù (9) rộng lớn dài ba mươi vạn dặm. Vì muốn được thấy thế giới của ngài nên không muốn làm A la hán vội. Đức Phật Di Lặc có hai đại đệ tử: Một người gọi là Tạp Thi, người kia là Số Số. Ta muốn xem ta có sánh bằng hai đệ tử này không. 

Đệ tử lại hỏi : Làm sao Thầy biết những điều này ? Thầy trả lời: Từ những kinh điển

Đệ tử lại thưa rằng: Sinh tử luân hồi thật là đau khổ, chẳng lẽ Đức Phật Di Lăc có phép lạ gì chăng mà thầy phải chờ đợi ? Thầy bảo rằng: Không có phép lạ gì cả.

Đệ tử lai hỏi rằng: Lục độ, (10) tứ đẳng (11), tứ ân (12) và tứ đế (13) của Đức Phật Di Lặc có khác nhau không? Thầy bảo rằng: Không khác gì cả.

Đệ tử thưa rằng: Nếu không khác thì đợi chờ làm chi ? Nay đã được ơn của Đức Phật lại còn muốn đợi để về với Đức Phật Di Lặc. Sao thầy không chọn đắc đạo ngay bây giờ còn chờ đợi làm gì?

Thầy bảo rằng: Thôi được, trò hãy lui đi để ta suy nghĩ. Đệ tử chưa ra khỏi nhà, Thầy đã thành A la hán.

Đệ tử lại hỏi: Thầy quyết định ra sao ? Thầy bảo rằng : Ta đã thành A-la-hán rồi.

Đệ tử bái lậy thưa rằng: Chỉ trong một thời gian ngắn như một tiếng hắt hơi mà thầy đã thành chánh quả .

 

Thí dụ thứ 2  

Ngày xưa có một tỳ kheo khi nhập định, lửa đốt không cháy. Người ta tưởng là ma, bèn lấy dao chém, dao mẻ mà chém không vào, vì tâm của người thiền định mềm không thể chém vào được. Thân người thiền định mềm dẻo, lửa đốt cũng không cháy. Lại có người khác khi đang thiền định, đệ tử gọi ăn cơm cũng không biết, đệ tử bèn kéo tay thầy thì tay thầy bị kéo dài ra hơn một trượng, đệ tử sợ quá bèn lấy dây trói lại, sau nghĩ không nên trói như vậy, bèn cởi ra. Khi tỉnh ra, thầy thấy tay đau bèn hỏi đệ tử. Đệ tử thưa thật cùng thầy. Thầy bảo rằng: Sao không gọi ta dậy mà làm sái tay ta. Người nhập định, thân thể mềm dẻo như bông, như lúc còn trong bụng mẹ vậy.

 

 Thí dụ thứ 3

Ngày xưa ở nước Kế Tân ( 14 ) có một bồ tát, khi vừa lọt lòng mẹ là cả vùng đất quanh đó rung động mạnh. Cha mẹ kinh sợ, lúc đó có một A-la-hán đến lấy lọng che hài nhi và đỉnh lễ. Sau cậu bé lớn lên đầy trí tuệ, thông minhphóng khoáng. Vì vậy, khi xuất gia không giữ được giới luật, nhưng khi thuyết giảng Phật pháp thì người nghe lại đắc đạo.

Lúc đó có hai vị tỳ kheo đang tu và khép mình trong giới luật của tịnh xá đã nhiều năm, nhưng không hiểu được Phật pháp. Thiên thần bèn đến chỉ cho họ rằng: Ở nước nọ, có một thầy thuyết giảng Phật pháp rất hay và đã hóa độ được nhiều người. Hai người này bèn lên đường đi tìm. Lúc đó thầy đang gian díu với một phụ nữ. Hai vị tỳ kheo từ xa đến xin gặp. Một người vào trước gặp thầy, chào thầy và an tọa, thấy có một phụ nữ thật đẹp nằm ở trong phòng thầy, nhưng người này vì chuyên tâm nghe giảng kinh, không hề nghĩ chuyện bất chánh, nên đắc đạo, bái tạ thầy và ra về.

Đến tỳ kheo thứ hai vào chào thầy và an tọa, thấy người phụ nữ nằm đó bèn nghĩ vị này ô uế dâm đãng, bèn bỏ ra về, buồn và tiếc công khó nhọc của mình từ xa đến. Vị tỳ kheo đầu tiên hỏi vị này sao lại buồn thế, vì biết tỳ kheo này có tà kiến. Vị thứ hai trả lời rằng : Thật xui cho chúng ta, chúng ta khó nhọc từ xa đến tìm thầy học đạo, nhưng không may lại gặp vị thầy ô uế hoang đàng này. Tỳ kheo đầu tiên trả lời rằng: Bạn nghĩ vậy là không đúng tư cách của một người đi tìm đạo. Hãy giữ lòng mình chánh trực và nghe giảng những điều Phật pháp. Chê bai những chuyện thị phi này chỉ làm mình sinh những ác niệm và không được gì cả. Chúng ta hãy cùng vào, giữ lòng đoan chánh và nghe kinh. Làm vậy, hai người đều đắc đạo, đều thành A-la hán. Thầy làm cỗ để khoản đãi và chúc mừng cùng tiễn hai người về nước.

Sau đó, thầy tiêu xài tốn nhiều ngân quỹ của nhà chùa vì hoang chơi vô độ, các sư trong chùa đề nghị trục xuất thầy. Có một a la hán khuyên can rằng : Tuy thầy tiêu dùng khá nhiều ngân quỹ của chùa nhưng cũng độ được nhiều người, nên xin cho thầy khỏi bị trục xuất. Những người thân khuyên thầy nên đi đến những đệ tử cũ của mình, xin các người quyên tặng tài vật để bồi hoàn lại cho chùa. Thầy nghe lời đi đến các nước lân cận xin các đệ tử cũ của mình giúp đỡ tài vật và bồi hoàn đầy đủ cho chùa.

 

Thí dụ thứ 4

 Ngày xưa có một người hiền giữ giới luật và rất tinh tiến, khi bị bệnh gần mất, vợ con khóc than không muốn sống vì thương tiếc. Sau khi hỏa táng và an táng cốt tro xong, gia đình buồn bã bỏ cả hương đèn cúng kiến, nhưng vì khá giả nên mỗi ngày rằm mùng một đều làm cơm đem ra mộ cúng, khóc than thảm thiết.  Linh hồn người chết vì có đức độ nên được lên trời, từ trời thấy người nhà khóc thảm mà phát cười bèn hóa thành một cậu bé chăn trâu. Trâu chết cậu bé chăn trâu khóc sướt mướt, cắt cỏ để trước miệng bảo trâu ăn, vừa khóc vừa vỗ vào trâu gọi trâu dậy ăn cỏ, làm như thế cả ngày. 

Các người thấy, cười và nói rằng : Bé con ơi, trâu đã chết thì về báo cho người nhà biết, khóc có ích gì. Trâu chết có biết gì nữa đâu!

Cậu bé chăn trâu trả lời : Tôi không ngu , trâu chết nhưng còn nằm đây, vẫn thấy được. Còn cha của quý vị chết đã lâu, làm trăm món ăn rồi cúng, còn khóc thì tro cốt đâu có biết gì. Các người nghe không hiểu ý của cậu bé. Cậu trâu đã chết thì về báo cho người nhà biết, khóc có ích gì. Trâu chết có biết gì nữa đâu!

Cậu bé bèn nói rằng ta chính là cha của các người được ơn Phật được sinh vào cõi trời, đến đây nói cho mọi người hiểu, liền biến trở lại thân hình cũ và bảo rằng : Muốn được như ta phải siêng năng học đạo, nói xong bèn biến mất. Vợ conhọ hàng nội ngoại sau đó chuyên cần tu tập, giữ giớ luật, bố thí và cứu giúp người nghèo khó, không còn lo âu sầu muộn nữa. Sau tất cả đắc đạo được về thiên giới.

 

Thí dụ thứ 5

Ngày xưa giữa biển có một quốc gia gọi là Tư Ha Diệp (15). Nước này sản xuất rất nhiều loại báu vật nhưng không có đường phèn, lúc đó có một lái buôn nghĩ nếu đem năm trăm xe đường phèn đến cống hiến cho nhà vua, hy vọng được vua trọng thưởng nhiều hơn là đem bán trên thị trường. Ông bèn đem đường phèn đến cửa hoàng cung và tâu rõ ý định, nhưng trải qua mấy tháng không ai hỏi han gì cả. Ông buồn giận mà nói rằng : Vua là người, ta cũng là người, cũng có mắt, tai, mũi, miệng như nhau. Nhưng ta lại không được vua ngó nhìn một cái, không được hỏi đến một lời. Phài chăng vì vua làm nhiều công đức hơn người ? Như vậy ta cũng phải làm nhiều công đức để sau này vua phải đến gặp ta. Vì vậy ông bỏ đi tu, và lấy đường phèn cúng dường Tam Bảo. Ông tìm nơi thanh tịnh để suy ngẫm về khổ đế, về thuyết không, về phi thân (16)... Số đường phèn nhà chùa dùng chưa hết một nửa thì tâm hồn ông đã không còn vướng mắc gì nữa, ông đã hiểu được lục đạo (17) và đắc đạo A la hán.

Đất cũng phải rung động kính phục. Đế Thích (18) và chư thiên cũng đến chúc mừng. Lúc Thiên Đếchư thiên đến kính lễ và chia vui, tỳ kheo hỏi Thiên Đế rằng : Thiên Đế và các chư thiên ở trên trời thường làm gì? Thiên Đế trả lời rằng : Trên trời có bốn khu vườn du chơi. Ba khu là những nơi về ngũ dục, một khu là nơi về đạo đức, nơi đó để thảo luận Phật pháp kinh điển hay thảo luận về tinh thần tinh tiến, lòng giữ đạo pháp của thiên hạ tứ chúng.

Tỳ Kheo lại hỏi : Bàn về giữ giới luật là chính, có bàn về trình độ giữ giới luật cao thấp hay không? Thiên Đế bảo rằng : Chỉ thảo luận chung chung những người thiện mà thôi. Từ khi Đức Phật nhập Niết bàn đến nay, có ba người mà chư thiên bàn luận vẫn không ngừng.

Tỳ kheo hỏi thêm : Những người đó là ai ? Xin Thiên Đế nói rõ từng người một cho tôi nghe. Thiên Đế nói : Ở nước Ba la nại (19) có một người sa môn tự thề nguyện rằng : mỗi khi kinh hành (20) sẽ học theo những A la hán không ngủ, nghỉ, ngày đêm kinh hành cho đến khichân bị lở loét chẩy máu, chim chóc chạy theo rỉa thịt ăn. Ba năm sau đắc đạo. Chư thiên thấy thế vô cùng khen ngợi.

Có một người khác ở nước La duyệt kì (21) cũng là một sa-môn trải cỏ thành một cái nệm và ngồi trên đó, thề rằng nếu không đắc đạo thì sẽ không đứng dậy. Tối đến, khi buồn ngủ quá , bèn gọi người làm một cây gậy dài tám phân. Khi buồn ngủ bèn lấy cây gậy đâm vào hai đùi, để cho đau đớn không thể ngủ được. Trong một năm tỳ kheo này đắc đạo A la hán. Chư thiên cũng vô cùng thán phục

Lại có một người ở nước Câu đàm ni, cũng là một sa môn, ở trong một hang động trên núi cao hiểm trở, không ai có thể lên được. Lúc đó ma vương (22) thấy lòng tinh tiến của tỳ kheo này thật vững mạnh, bèn hóa thành một con trâu, chạy đến trước tỳ kheo gầm lên và lấy sừng định húc tỳ kheo. Tỳ kheo rất sợ hãi nhưng nghĩ rằng con trâu này làm sao có thể lên được đây. Không thể có chuyện này được, nhất định chỉ là ma thôi, bèn nói rằng : Đây là trò ma đây mà . Ma thấy tỳ kheo đã biết đành hiện nguyên hình ra.

Tỳ kheo hỏi ma rằng : Ngươi dọa ta, vậy muốn cầu xin ta chuyện gì chăng ? Ma nói rằng : Thấy tỳ kheo tinh tiến, sợ tỳ kheo sẽ đắc đạo ra khỏi dục giới bèn đến dọa chơi.

Tỳ kheo trả lời : Ta sở dĩ đi tu là mong cứu độ chúng sinh. Nghe nói Đức Phật có các tướng tốt thật muốn được thấy, nay Đức Phật đã nhập Niết Bàn làm sao thấy được nữa, nghe nói ma có thể hóa thân thành Phật vậy ngươi có thể hóa cho ta xem, nếu thấy được những tướng tốt của đức Phật thì ta mãn nguyện, không tinh tiến nữa. Ma bèn lập tức hóa thân thành Phật trước mặt tỳ kheo. Tỳ kheo suy niệm bèn đắc đạo A la hán. Chư thiên trên trời thán phục vô cùng. Ma cũng hối tiếc bèn biến mất.

Thiên Đế nói với tỳ kheo rằng : đó là ba người mà chư thiên ca ngợi không ngừng. Tỳ kheo thưa với Thiên Đế rằng : Ba người này biết được khổ, không, và cái thân tàn nên đi tu. Tôi vì bị người ta khinh nên đi tu cầu đạo để được ra khỏi tam giới, thật kỳ lạ cũng đắc đạo A la hán. Chư thiên bảo rằng : Hôm nay về trời, ta sẽ tâu là tỳ kheo hạng nhất . Sau đó chư thiên chào và ra về. Quốc vương được tin người chủ của những xe đường phèn , chuyên cần tu tập và đã đắc đạo, bèn đến bái chào, tạ tội và phong tỳ kheo làm quốc sư. Tỳ kheo đã giúp chấn hưng Tam Bảo, quốc thái dân an, số người được phúc, được siêu độ vô số kể .

 

 Thí dụ thứ 6

Trước đây có một người bị một loại bệnh mà tất cả các thầy thuốc đều bó tay. Người bệnh bèn đến cầu cứu vua Tát hòa đàn. Người bệnh gửi thân mình cho vua, nguyện xin lòng từ tâm của vua giúp trị bệnh cho. Vua bèn gọi các thái y đến, ra lệnh trị bệnh cho người này. Các thái y thưa vua rằng: Không tìm được loại thuốc để trị bệnh này. Vua hỏi thái y : Thuốc tên gì? Thái y thưa rằng : Phải lấy thịt của người không có ngũ độc để sắc lên, uống thì sẽ lành bệnh, nhưng ở đời này đâu có người nào không có ngũ độc đâu. Vua hỏi : Cái gì gọi là ngũ độc . Thái y thưa rằng : thứ nhất không có lòng tham dâm, thứ hai không có lòng sân khuê, thứ ba không có lòng ngu si, thứ tư không có lòng nghi kỵ, thứ năm không có lòng ác độc. Nếu có người như vậy thì có thể trị lành bệnh này. Vua bảo thái y rằng : Người này đến cầu cậy ta, tuy ta cũng có ít nhiều những độc tính đó, nhưng cứ lấy thịt ta đem sắc thuốc đi. Người bệnh sau khi uống thuốc, đã khỏi ngay và đắc đạo Đại Thừa.

 

Thí dụ thứ 7

Ngày xưa có một vị cư sĩ (23) thường ước nguyện được gặp Văn-thù-sư-lợi bồ tát. Cư sĩ bèn lập đàn cúng tế, bố thí nhiều và làm một ngai cao. Lúc đó có một cụ lão trông thật xấu xí, mắt thì lồi , mũi thì chẩy, đến ngồi lên ngai đó. Cư sĩ bèn nghĩ rằng hôm nay ta làm ngai cao này là để cho những vị cao tăng ngồi, người này là ai mà dám ngồi lên ngai đó bèn kéo cụ này xuống.

Sau khi cúng lễ xong, Cư sĩ bèn đến chùa đốt đèn hương lên và khấn rằng : Xin đem công đức này van xin được gặp Văn thù sư lợi bồ tát trong đời này. Cư sĩ về nhà mệt mỏi và đi ngủ. Trong giấc mơ nghe có người hỏi ông rằng, ông ước mong gặp Văn sù sư lợi bồ tát, nhưng ông gặp mà không biết. Cụ già ngồi trên ngai cao đó chính là Văn-thù-sư-lợi bồ tát , ông kéo xuông trước sau đến bẩy lần, không biết Văn-thù-sư-lợi bồ tát thì làm sao gặp được Văn-thù-sư-lợi bồ tát. Nếu muốn tu bồ tát đạo, thì đối với mọi người phải bình đẳng. Người tu Bồ Tát đạo , Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát sẽ đến thử lòng của họ như vậy.

 

Thí dụ thứ 8

Thí dụ về chuyện vô thường của một gia đình.

Ngày xưa có một cây cổ thụ có quả to như cái bình, khi quả gần chín, có con quạ đến làm tổ trên cây. Quả rụng rơi trên đầu con quạ và giết con quạ, thần cây cổ thụ ( the tree deity ) thấy vậy bèn làm bài kệ sau đây :

Quạ đâu muốn đi tìm cái chết,

Quả cũng đâu có muốn giết ai.

Chẳng qua quả chín quả rơi,

Giết lầm mất quạ, duyên trời chi đây.

                                                                                       ( cư sĩ Phúc Anh )

Ở đời họa phúc đến nhanh hay chậm không ai biết trước được . Người khôn ngoan bị họa không oán hận, có phúc không vui mừng. Sau nên tin vào những chân lý của Đức Phật dạy thọ trì đừng quên. Ở trong tam giới này có chín mươi sáu giáo phái. Người đời mỗi người đều thờ phụng những thần thánh mà họ nương tựa vào. Những điều phúc người ta hưởng từ những thần thánh này thật nhỏ nhen, chưa có thể coi là phúc đức được. Vì sao vậy? Vì không biết ánh sáng của Tam Bảo, không giữ được thanh tịnh của ngũ giới, không biết uyên thâm của bát chánh đạo, như vậy chưa phù hộ giúp ích gì cho họ đâu. Vì vậy cái phúc mà họ được chỉ là cái phúc mỏng manh mà thôi.

 

Thí dụ thứ 9

Người biết kính Phật, Pháp, tăng, hiểu tam thế: quá khứ, tương lai và hiện tại, hiểu cái phúc của thiên đường, biết cái tội của địa ngục (24), biết tin kính Tam Bảohy vọng tránh khỏi vào giới tam ác đạo, cố tu tập để tăng cường trí tuệ lên, để phá tan cái nghi hoặc của tam giới, cố tu tập để lục căn được thanh tịnh, để gột rửa cái ô uế của lục trần, vì vậy có thể coi nhẹ tiền bạc, có thể rộng tay bố thí để giảm bớt những tội lỗi của mình, để làm vốn tốt cho kiếp sau, bố thí một phần thì đươc hàng vạn phần ơn phước, kết quả sẽ đến một cách nhanh chóng. Đó chính là cái phúc điền (25) cho tam giới.

Tại sao chúng ta biết được ? Ngày xưa Á Dục Vương lúc còn thiếu thời, trên đường gặp đức Phật, ngài vô cùng hoan hỷ, bèn lấy một nắm đất với tất cả lòng thành cúng dâng Đức Phật, vì vậy mà được bao ơn phước nên sau thành thánh vương, làm vua chúa của một vùng rộng bốn mươi vạn dặm, thống lãnh 16 nước lớn. Với những điều hiển nhiên này, phụng thờ chư Phật là phúc điền tốt nhất. Ngày xưa đệ tử của Đức Phật , thầy Nan đà (26), là người cùng thời với Đức Phật, được phước hơn tất cả các tăng chúng, được công đức là em họ của Đức Phật, thân thể có năm sáu loại tướng tốt, thần sắc sáng láng như vàng. Nhờ các phúc của kiếp trước, được sống cùng thời và tu tập với Đức Phật nên được lục thần thông (27). Người xưa bố thí có một mà đươc ơn phước to lớn, nếu nay các thí chủ có thể bố thí nhiều,những thiện nghiệp này sẽ giúp các thí chủ đạt đến những bậc cao tôn, gia tăng hoan hỉ, quảng độ chúng sinh.

 

Thí dụ thứ 10

Pháp ngôn nói rằng: Nhiễm thần (28) bất tử theo ta, làm khổ ta kiếp này qua kiếp khác đến khi đắc đạo mới thôi. Ngày xưa, sau khi Đức Phật nhập Niết bàn năm trăm mười năm, có một vị quốc vương, tinh tiến dũng mạnh hiếm có trên đời . Có một lần nhà vua cúng dường cho ba vạn sa môn trong ba tháng, đãi những món ăn ngon nhất thế gian . Vị thượng tọa đạo trưởng là vị đã đắc đạo A-la-hán, học hỏi uyên bác, thông cổ biết kim.

Bốn trăm tám mươi dặm về hướng đông của nước này , cũng có một quốc vương khác , cũng cúng dường năm trăm bà-la-môn, với những gì đẹp nhất của thế gian này, nào là làm hàng trăm loại cờ quạt bằng những tơ lụa quý, nào là vàng bạc châu báu đủ loại, một lá cờ phan (29) đáng giá cả năm trăm lượng vàng , nào là đoàn ca nhạc đàn hát giúp vui, tất cả những ai khá về ca nhạc múa hát đều được mời đến. Lúc đó những người nghèo trong nước nghe tin vua có nhiều tài bảo ban phát như vậy, đều từ khắp nơi lên đường tiến về hoàng cung, số người lên đến năm trăm. Ai ai đều đi hoc nghề đàn hát để hy vọng được nhà vua ban thưởng. Những người này tài nghệ học chưa xong, đường còn xa mới tới, lương thực đã cạn hết. Họ bèn cầu thượng tọa đạo trưởng cho làm sa môn, thượng tọa xem ra những người này là những người ở kiếp trước thường giúp việc cho các nhà hiền triết trong thời Đức Phật, đã có lần nấu ăn cho thượng tọa và cũng được nghe Phật pháp trước đây và đã được hưởng rất nhiều phúc trong những kiếp trước . Nay phúc đã hết, nhưng những Phật pháp nghe được trước đây vẫn còn, vì vậy những người này có thể độ được, bèn nhận cho xuống tóc thọ giới qui y.

Một hôm thầy đưa những người này vào trong hoàng cung ăn uống, ra về mọi người rất vui mừng. Thầy biết ý những người học trò này bèn dạy rằng thức ăn này không thể vọng thực (30), nếu người không thành tâm tu hành mà ăn cơm này sẽ tạo ác nghiệp, những kiếp sau sẽ phải làm thân trâu ngựa hay nô tỳ cho nhà vua. Năm trăm tỳ kheo này sợ hãi, quyết chí tinh tiến học đạo trong chín mươi ngày và đều đắc đạo A-la-hán. Những tỳ kheo này sau khi đắc đạo, muốn kể rõ câu chuyện của mình để chia xẻ với mọi người, bèn chạy đi kêu gọi mọi người cùng đến trước cửa hoàng cung, nói cho mọi người biết là tam độc, thập nhị nhân duyên, ngũ uẩn, lục suy (31) đều đã bị đánh bại với một thắng lợi không ai có thể so sánh bằng. Tất cả mọi người nghe xong vô cùng ngạc nhiên vì không hiểu nội dung câu chuyện.

Các Tỳ kheo bèn kể thêm rằng : Chúng tôi lúc đầu muốn học ca hát hy vọng trình diễn trước vua để được tiền thưởng nuôi thân, sau làm sa môn, nay đắc đạo thành A-la-hán. Tất cả tam giới đều ngạc nhiênchúng tôi đã diệt được những tính xấu kể trên để đi đến chính quả, nhờ ơn thầy thượng tọa đạo trưởng mà nay chúng tôi được vô cùng mừng vui.

 

Thí dụ thứ 11

 

Xưa có hai anh em ở chung với nhau, hai người này rất phú quý, có gia tài vô số. Bố mẹ đều đã mất không ai nương tựa. Tuy là anh em nhưng hai người lại có chí hướng khác nhau. Người anh thích học đạo, người em mê quan nghiệp, chức tước, bổng lộc, tham danh vọng thế . Nhà ở gần Ba Lợi Phất (32), cách Kê Minh Tịnh Xá không xa. Người anh chuyên học về đạo lý kinh kệ, không lo gì đến sinh kế. Người em thấy anh mình không lo về sinh kế trong nhà nên rất bất mãn bèn bảo anh rằng : Cùng là anh em, cha mẹ mất sớm, phải vất vả để lo về cuộc sống mới là đúng, nay lại bỏ gia nghiệp sinh kế để đến chùa nghe kinh. Chùa có cho được tiền tài quần áo chăng? Gia đình nghèo khó, tiền tài eo hẹp để người ta chê cười, bảo là chúng ta lười biếng để gia đình bị diệt vong. Phàm làm con cái cũng phải cố gắng báo ơn cha mẹ đã cho kế thừa sự nghiệp , đó mới là hiếu hạnh.

Người anh bảo rằng : Giữ ngũ giới (33) hành thập thiện (34) cúng dường (35) Tam Bảo, tìm lục độ , thiền định để hóa độ thân nhân đó mới là hiếu tử. Đạo đời hai ngả hoàn toàn nghịch nhau. Điều mà đạo thích thì đời ghét, điều mà đời quý trọng thì đạo khinh rẻ, trí tụê và ngu si khác nhau, mưu cầu cũng sáng tối hai ngả . Vì vậy khó mà cộng sự, trí tụê bỏ vô minh để tìm đường đắc đạo. Nay cái mà em thích lại là cái xấu xa đối với tôi. Tất cả là hư vô, là giả tạo, là không thật, vì mê hoặc tưởng là có thật, đâu biết đó là khổ đau. Người em giận, cúi đầu không tin.  

Người anh thấy thế bèn nói rằng : Em lo chuyện nhà lấy tiền tài là chính. Anh thích kinh kệ đạo pháp, lấy trí tụê làm chính, nay muốn bỏ nhà để đi làm những việc phúc thiện. Trên thế gian này như là cát bụi khoảnh khắc bay mất, vô thường sẽ đến, tội lỗi thì trói buộc ta. Vì vậy nên bỏ cái đau khổ của thế tục, để tìm cái an lành trong đạo pháp. Người em thấy anh mình ham mê tìm đạo nên yên lặng không trả lời.

Người anh bỏ nhà đi tu làm sa môn. Ngày đêm chăm chỉ đọc kinh cầu đạo, chuyên tâm thiền định, tư duy chánh pháp quên cả nghỉ ngơi. Sau hoàn tất ba mươi bẩy đạo phẩm (36), tu tập chính phápthành chánh quả. Người anh gặp người em và khuyên em phải theo đạo pháp, giữ ngũ giới, làm thập thiện để làm vốn trong đời này, năng bố thì vì đó là căn cơ của tu tập, đạo lýtrí tuệ. Người em nghe những lời này lại càng giận dữ và bảo anh rằng : Anh đã bỏ bê gia nghiệp, làm mất danh giá của gia đình, anh cứ một mình làm đi đừng dạy em nữa, hãy ra khỏi nhà này mau đi, đừng lý đến những chuyện của em nữa.

Người anh bèn bỏ ra đi. Người em say mê gia nghiệp không ngừng, không bao giờ nghĩ đến đạo pháp. Sau khi chết người em đầu thai làm con trâu mập mạp to lớn, có người lái buôn mua về để dùng vào việc chuyên chở muối. Chuyên chở vài lần, trâu đã mệt đừ không còn đi được nữa, trâu nằm xuống nghỉ và không đứng dậy được, người chủ lấy roi đánh, lay đầu trâu, trâu mới chuyển động. Lúc đó người anh đang du hành ở trên hư không, bay qua thấy vậy, bèn tìm hiểu xem con trâu này từ đâu đến , xem kỹ thì biết nó là người em của mình, bèn nói với trâu rằng : Em trước đây ở nhà chỉ vui với những tài sản, nhà cửa, ruộng đất, ... nay tất cả tài sản đâu? Thân em thì phải đầu thai làm trâu, làm ngựa. Người anh lại lấy phép thần thông để người em thấy được những gì mình đã làm trong kiếp người, người em hối tiếc và khóc, tự trách mình làm những điều bất thiện, keo kiệt, ghen tỵ, không tin Phật pháp, khinh bỉ chư thánh, vui chơi thỏa ý, không nghe lời anh, còn chê bai thánh giáo, nên bị đầu thai làm con trâu, mệt mỏi khổ sở hối hận không kịp.

Người anh vô cùng thương xót. Bèn kể hết đầu đuôi câu chuyện cho người chủ trâu nghe, cho biết con trâu này chính là người em của mình trong kiếp trước. Vì không tin Tam Bảo, bỏ những điều phải theo những điều trái, keo kiệt, ghen tỵ , tự ty, tham lam, không bố thí, nên nay bị đầu thai làm con trâu, đau ốm thật đáng thương. Nay đã già yếu, không còn dùng vào việc gì được nữa, xin ông cho tôi để tôi giúp cái thân tàn của nó. Người lái buôn nghe vậy bèn bố thí con trâu cho người anh.

Người anh đưa con trâu về chùa, dạy niệm Tam Bảo, cho ăn uống nghỉ ngơi. Sau khi trâu chết được tái sinh về cõi trời Đạo lợi. Lúc đó các lái buôn cũng nghĩ rằng mình chỉ lo buôn bán cầu lợi không ngừng, không chịu bố thí, không giữ và không biết đạo pháp, sợ mai kia chết đi lại cũng đầu thai làm thú vật thôi.  Bèn bỏ nhà cửa, bỏ vợ con, bỏ những trò chơi vui thú, đi làm sa môn, tinh tiến chuyên cần, sau đều đắc đạo. Hãy xem những truyện này, tài vật của thế gian này không giúp ích cho người ta đâu. Cúng dường Tam Bảo, tu thân học đạo, tìm hiểu chánh pháp sẽ giúp đời đời được an lạc.

 

Thí dụ thứ 12

Ngày xưa ở nước Xá Vệ (37) có một nhà nghèo.  Trong vườn có một cây roi (38). Trên cây có vài chùm roi, bà chủ nhà muốn lấy roi để cung dường mấy vị tu hành. Lúc đó nhà vua đòi phái lấy roi một tháng cho vua ăn, vì nhà nghèo không có thế lực gì nên đành chịu. Đã đến tháng vua đòi lấy roi thì có một vị tu sĩ đến thăm, bà cư sĩ bèn lấy roi để cúng dường thầy, và nói với thầy rằng, mong cúng dường cho quý thầy cả tháng nay, nay mới được toại nguyện, thầy tu bảo với nữ cư sĩ (39) rằng : Bà đã cúng dường cả tháng nay rồi. Bà cư sĩ nói rằng : Tôi chỉ cúng dường có một chùm roi hôm nay mà thôi, đâu có cúng dường một tháng nay đâu. Thầy tu nói rằng : Một tháng nay bà đã nghĩ đến cúng dường là bà đã cúng dường một tháng rồi.

 Ở đời này có mười tám chuyện khó xảy đến :

Thứ nhất: Được sống cùng thời với Đức Phật là khó.

Thứ hai: Dù được sống cùng thời với Đức Phật mà được đầu thai làm người cũng là khó.

Thứ ba: Dù được đầu thai làm người mà được sống tại Trung Quốc là khó.

Thứ tư: Dù được sống tại Trung Quốc mà được làm con cái của những gia đình dòng dõi là khó. 

Thứ năm: dù được làm con cái của những gia đình dòng dõi mà được chân tay lành lặn, lục tình bình thường là khó.

Thứ sáu: Dù được chân tay lành lặn, lục tình bình thường mà có sản nghiệp to lớn là khó.

Thứ bẩy: Dù có được sản nghiệp to lớn, mà lại có những kiến thức cao là khó.

Thứ tám: Dù có kiến thức cao, mà lại có được sự hiểu biết về đạo pháp là khó.

Thứ chín: Dù có được sự hiểu biết về đạo pháp mà lại có lòng thiện tâm là khó.

Thứ mười: Dù có lòng thiện tâm mà cũng có lòng bố thí là khó.

Thứ mười một: Dù có lòng bố thí mà tìm được những người hiền đức để học hỏi là khó.

Thứ 12: Dù tìm được những người hiền đức để học hỏi, mà được đến nhà họ để thọ giáo là khó. 

Thứ 13: Dù được đến nhà của người hiền đức để thọ giáo, mà được những cơ hội thích nghi để học hỏi với họ là khó.  

Thứ 14: Dù được những cơ hội thích nghi để học hỏi với họ mà tiếp thu được cái hay của những lời bàn luận một cách chính xác, trung thực là khó.

Thứ 16: Dù tiếp thu được cái hay của những lời bàn luận một cách chính xác, trung thực mà ngộ được cái thâm thúy của những lời bàn luận đó là khó.  

Thứ 17 : Dù ngộ được cái thâm thúy của những lời bàn luận đó, mà hiểu thấu được những uyên thâm của các kinh Thứ 17 : Dù ngộ được cái thâm thúy của những lời bàn luận đó, mà hiểu thấu được những uyên thâm của các kinh điển là khó.

điển là khó.

Đó là 18 sự (40).

Tạp Thí Dụ kinh.

 

CHÚ GIẢI

 

1-) Thí Dụ Kinh譬喩經 : Kinh điển trong Hán Tạng đã được chia làm 12 loại theo căn bản nội dung hoặc hình thức, gọi là十二部經 thập nhị bộ kinh. Mười hai loại kinh đó là:

1-1) Sutra (Hán văn phiên âm 修多羅 Tu-đa-la), dịch nghĩa là 契經 khế kinh; khế ở đây có nghĩa khế ước, án văn, thường gọi tắt là kinh. Đây là những bài giảng về triết lý của đạo Phật.

1-2) Geya (Hán văn phiên âm 祇夜 Kỳ dạ), dịch nghĩa là ứng-tụng應頌 : Có nghĩa hưởng ứng lại bài kinh hay trùng tụng重頌 : Trùng là chữ tắt của chữ trùng phục, nghĩa lập lại ý của bài kinh. Đây là những thơ ca, đi theo sau một bài kinhtóm tắt những ý chính của bài kinh.

1-3) Gatha (Hán văn phiên âm 偈他 Kệ-tha ), viết tắt là Kệ 偈. Chữ này được dịch nghĩa sang Hán văn là tụng 頌, có nghĩa tán tụng, ca tụng. Chữ gatha còn được phiên âm qua Hán văn là ca-đà tụng 伽陀頌 trong những kinh điển khác nhau. Đó là những bài thơ dùng để tán tụng, ca ngợi công đức của chư Phật, chư thánh...hay dùng để tóm tắt những giáo lý để dễ nhớ. Nó khác geya là những bài kệ này đơn độc một mình, không đi theo sau những bài kinh nào cả, vì vậy còn gọi là Cô khởi tụng 孤起頌, phúng tụng 諷頌 hay trực tụng 直 頌.

1-4) Nidana (Hán văn phiên âm 尼陀那 Ni-đà-na), dịch nghĩa là nhân-duyên 因緣. Đó là những bài kinh nói về bối cảnh, nguyên nhân của một câu chuyện hay của một bài kinh ( historical narratives ), thường là những tựa phẩm 序品 ( foreword, introduction, preface ) của một quyển kinh.

1-5) Itivrttak (Hán văn phiên âm 伊帝目多Y-đế-mục-đa), dịch nghĩa là bản sự 本事, cũng dịch nghĩa là như thị ngữ 如是語, hay như thị thuyết 如是說 trong những kinh điển khác nhau. Đó là những bài kinh do Đức Phật nói về cuộc đời trong những kiếp trước của các bồ tát, thanh văn, hay a-la-hán. Hiển Dương Luân viết : Bản sựđức Như Lai nói về kiếp trước của các thánh đệ tử. (Hiển Dương Luân viết : Bản sự hữu vi Như Lai thuyết thánh đệ tử tiền thế đẳng sự. 顯揚論曰 : 本事有謂如來說聖弟子前世等事).

1-6) Jataka (Hán văn phiên âm 闍多伽 Đồ-đa-gia) , dịch nghĩa là bản sinh 本生. Đó là những bài kinh nói về cuộc đời của Đức Phật trong những kiếp trước.

1-7) Adbhuta-dharma (Hán văn phiên âm 阿毘達磨 A-phù-đạt –ma), dịch nghĩa là vị tăng hữu 未曾有có nghĩa chưa từng có , hay hy pháp 希法. Đó là những bài kinh nói về những phép lạ của Đức Phật, của các bồ tát hay các thánh.

1-8) Avadana (Hán văn phiên âm 阿波陀那 A-ba-đà-na , dịch nghĩa là thí dụ 譬喩. Đó là những quyển kinh chỉ gồm những mẫu truyện nhỏ, có hoặc không có những lời kinh đi theo.

1-9) Upadesa (Hán văn phiên âm 優婆提舍 Ưu bà đề xá, dịch nghĩa là nghị luận 論義. Đó là những bài kinh giảng giải Phật pháp ( didactic lessons).

1-10) Udana (Hán văn phiên âm 優陀那 Ưu đà na), dịch nghĩa là tự thuyết自說, cũng có thể dịch là vô vấn tự thuyết 無問自說. Đó là những bài kinh không ai hỏi cả mà đức Phật tự ý đưa ra diễn giảng, như khi Ngài giảng kinh A Di Đà.

1-11) Vaipulya (Hán văn phiên âm 毗佛略 Bì-Phật-lược), dịch nghĩa là phương quản 方廣. Đó là những bài kinh bổ sung những lời diễn giảng và ý nghĩa của những kinh điển khác (expanded teachings ).

1-12) Wyakarana (Hán văn phiên âm 和伽羅 Hòa-gia-la, dịch nghĩa là thọ ký 授記. Đó là những kinh điển trong đó Đức Phật hứa với những chúng sinh nếu phát nguyện tu tập thì sẽ được ghi nhận những ơn phước xứng đáng trong kiếp tới (guarantees of future attainment).

 

 THÍ DỤ KINH 譬喩經 : Đây là một trong 12 loại kinh của Đạo Phật Đại Thừa. Chữ Phạn là Avadana, Hán văn phiên âm 阿波陀那 A-ba-đà-na, dịch nghĩa là thí dụ 譬喩. Đó là những bài kinh gồm những mẫu truyện nhỏ, có hay không có những lời kinh đi theo. Có thể chia làm hai loại :

a-) Kinh gồm những mẫu truyện ngắn, như những truyện cổ tích, huyền thoại, ngụ ngôn, truyện giả tưởng, hay những truyện thật trong dân gian,.... (parable, metaphor, legends, fable, myth, anecdote) Những truyện này không liên quan với nhau, không có những lời kinh đi kèm, chẳng hạn trong Việt Tạng, có kinh số 204, 205, 206, 207, 208, 209. Những mẫu truyện kể trên có thể đã được trích lục từ những bài giảng của Đức Phật hay các đại đệ tử trong những kinh khác, nhưng cũng có thể từ những bài giảng hoặc truyện của các luận sưdịch kinh sư ở Trung Quốc về sau, chẳng hạn như thí dụ số 12 của kinh số 204. Chính vì những thí dụ này không hoàn toàn do Đức Phật giảng , nên kinh đã không bắt đầu bằng câu " Tôi nghe như vậy " ( như thị ngã văn 如是我聞 ) và cũng không kết thúc bằng câu : Phật giảng kinh Thí Dụ kinh ( Phật thuyết Thí Dụ Kinh 佛說 譬喩 經 ).

b-) Kinh gồm những mẫu truyện ngắn như loại truyện kể trên nhưng có kèm theo một đoạn kinh ngắn, có thể do Đức Phật giảng, chẳng hạn kinh số 105, 106, 211, 215, 217, 219 trong Việt Tạng.

Kinh Niết Bàn, chương 29 涅槃經二十九: những thí dụ trong kinh này được chia làm 8 loại : 1-) 順喻 Thuần dụ, 2-) 逆喻 Nghịch dụ 3-) 現喻 Hiện dụ : lấy những truyện hiện tại để làm thí dụ. 4-) 非喻 Phi dụ : Câu truyên của thí dụ hoàn toàn giả tạo, không có thật. 5-) 先喻 Tiên dụ : thí dụ đi trước bài kinh. 6-) 後喻 Hậu dụ : thí dụ đi sau bài kinh. 7-) 先後喻 Tiên hậu dụ : thí dụ có cả ở trước và sau bài kinh. 8-) 徧喻 Phiến dụ : Thí dụ từ đầu đến đuôi giả tạo, như truyện ngụ ngôn (fable). Sách Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận Bản 因明正理門論本 lại nói có hai loại thí dụ khác; đó là : Đồng dụ 同喩 : Anh văn dịch là an example using similarity và dị dụ 異喩 Anh văn dịch là negative example.

Dựa vào bút pháp (stylistics), thí dụ trong Hán văn được chia là 13 loại, vì nó không liên quan trực tiếp đến kinh Phật nên không đi vào chi tiết.

 2-) Nước Nguyệt Chi 月支 : Dân tộc Nguyệt Chi là một dân tộc du mục, sinh sống ở vùng đất nay là tỉnh Tân Cương , Trung Quốc, từ đời nhà Châu đến 176 TCN, gọi là nước Ngu Thị 禺氏 hay Ngưu Thị 牛 trong sử Chiến Quốc , và nước Nguyệt Chi 月支 hay Nguyệt Thị月氏 trong sử Nhà Hán. Vào năm 177 TCN - 176 TCN, nước Nguyệt Chi bị nước Hung Nô tiêu diệt. Dân tộc Nguyệt Chi chia làm hai nhóm, một nhóm nhỏ tỵ nạn về hướng đông, định cư tại những vùng Cam Túc甘肅, Thanh Hải青海, và Kỳ Liên Sơn 祁连山,sau này tạo ra vương quốc Bắc Lương北涼. Sử nhà Hán gọi nhóm này là Tiểu Nguyệt Chi. Nhóm lớn của Nước Nguyệt Chi chạy về hướng tây bắc, định cư ở vùng đất nay là nước Afghanistan, lập nên nước Quý Sương 貴霜 Kushan, thiết lập hoàng triều thứ nhì của Afghanistan. Sử nhà Hán không dùng tên Quý Sương mà lại gọi là nước Đại Nguyệt Chi hay là nước Nguyệt Chi.

Dân Afghanistan theo đạo Phật rất sớm. Bảy tuần sau khi đức Phật thành đạo năm 537 BCE, hai anh em lái buôn tên là Tapussa và Bhallika , đi buôn từ Miến Điện ( Burma ) về quê của mình là Balkh nay là thành phố Mazar-i-Sharif của Afghanistan, qua vùng bắc Ấn Độ, gặp đức Phậttrở thành những người cư sĩ đầu tiên của đức Phật. Hai anh em khi từ giã đức Phật về nước đã xin đức Phật 8 sợi tóc để về thờ cúng. Sau đó, khi hai anh em đi buôn trở lại Burma đã đem tặng mấy sơi tóc cho Burma và truyền bá Phật giáo cho nước này. Mấy sợi tóc của Đức Phật nay để tại Kyaiktiyo Pagoda ở Mon State, Burma. Hai anh em này là những người đầu tiên lập ra giáo hội Phật giáo ở Afghanistan. Tất cả những dịch kinh sư đến Trung Quốc từ nước Nguyệt Chi đều từ Afghanistan ngày nay.

 3-) Chi Lâu Ca Sấm 支娄迦谶 có tên tiếng Phạn Lokaksema, còn gọi là Chi Sâm, người nước Nguyệt Chi,đến Lạc Dương , Trung Quốc, vào năm 150 SCN (?) đời vua Hán Hằng Đế 汉桓帝 ( 147 SCN - 167 SCN ) , làm dịch kinhtrong đời vua Hán Linh Đế 汉灵帝 (168-189). Thầy đã dịch rất nhiều kinh điển Phật giáo Đại Thừa từ chữ Phạn sang Hán văn, nay còn lại những bộ kinh trong Hán Tạng : Đạo Hành Bát Nhã Kinh 道行般若經, Bát Châu Tam Muội Kinh 般舟三昧經, A Nậu Thế Vương Kinh 阿闍世王經, Tạp Thí Dụ Kinh 雜譬喩經, Thủ Lăng Nghiêm Kinh首楞嚴經, Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh 無量淸淨平等覺經, Bảo Tích Kinh 寶積經. Còn bốn bộ kinh thầy dịch có tên nhưng nay thất truyền.

 4-) A-La-hán : Trong bản kinh Hán văn dùng chữ 應真 Ứng Chân. Chữ Phạn là arhat, chữ Pali là arahant có nghĩa là người xứng đáng được thờ lậy ( The worthy true one ), vì vậy Hán văn đã dịch nghĩa là Ứng chân, ứng là chữ viết tắt của chữ ứng-cai 應该nghĩa là đáng phải, chân là chữ viết tắt của chữ chân-nhân 真人, đây là danh từ mượn từ Đạo giáo, có nghĩa là người đắc đạo trong Đạo giáo. Ứng chân có nghĩa là người đắc đạo đáng phải thờ lậy. Một đôi khi còn dịch nghĩa là ứng nghi 應儀, nghi ở đây có nghĩa là nghi lễ. Những kinh điển sau này thường dùng chữ phiên âm a-la-hán từ chữ Pali.

 5-) Nhất lai quả 一來果 : Trong bản kinh Hán văn dùng chữ Tần lai quả 頻來果. Tần có nghĩa là nhiều lần, Tần lai quả có nghĩa là phải trở lại nhiều lần, chữ này dịch không đúng nghĩa với chữ Phạn Sakrdagami, có nghĩa đến lại một lần thế gian này mà thôi ( once returner ). Vì vây chữ Tần lai quả đã ít được dùng . Những kinh điển sau này dùng chữ nhất lai quả 一來果, hay nhất hoàn quả 一还果 có nghĩa người tu đắc đạo quả vị này chỉ cần đầu thai làm người một lần nữa thì sẽ được vào sắc giới hay vô sắc giới, hay Niết Bàn. Có khi còn phiên âm của chữ Phạn Sakrdagami thành Tư đà hàm quả 斯陀含果. Tu theo Đạo Phật Nguyên Thủy có bốn cấp gọi là tứ quả. Tư đà hàm quả là cấp thứ hai.

 6-) Tam hội三會 : Theo kinh Di Lạc Đại Thành Phật Kinh 彌勒大成佛經, Đức Phật Di Lạc Maitreya khi thành Phật có ba cuộc pháp hội tại Vườn Hoa Lâm華林園, dưới Cây Long Hoa 龍華樹, tiếng Phạn là cây puspanaga. Trong ba kỳ pháp hội này có vô số chúng sinh đắc đạo A-la-hán và đắc đạo bồ tát .

7-) Ức億 : Chữ ức trong Hán văn có nhiều định nghĩa khác nhau. Một ức có thể chỉ con sồ :100,000 , có thể chỉ con số 1,000,000 , có thể chỉ con số 10,000,000 , hay có thể chỉ con số 100,000,000.

 8-) Một trượng 丈 : bằng 10 thước tây (meters), hay một decameter .

 9-) Đất Diêm Phù 閻浮土: Đây là một châu ( continent ) ở phía nam của núi Tu Di 須彌山, tên tiếng Phạn là Jambudvipa, Hán văn phiên âm là Diêm phù đề ty ba 閻浮提鞞波, gọi tắt là Diêm Phù thổ.

 10-) Lục độ 六度: Còn gọi là lục độ ba la mật 六度波羅蜜. Chữ độ có nghĩa là đưa qua sông , Anh văn dịch là ferry. Đó là sáu điều giúp chúng ta đi qua bể khổ của luân hồi để đến bờ giác là Niết Bàn : Bố thí 布施, Trì giới 持戒, Nhẫn nhục 忍辱, Tinh tiến 精進, Thiền định 禪定, Trí tuệ 智慧.

 11-) Tứ đẳng 四等: Còn gọi là tứ đẳng tâm 四等心hay còn gọi là tứ vô lượng tâm 四無量心. Đó là : 1) 慈 Từ, chữ Phạn maitri, Anh văn là loving kindness, 2) 悲 Bi, chữ Phạn karuna, Anh văn là compassion, 3) 喜 Hỷ, chữ Phạn mudita, Anh văn là sympathetic joy, 4) 舍 Xả, chữ Phạn upeksa, Anh văn là equanimity .

 12-) Tứ ân 四恩 : 1-) Ơn bố mẹ, 2-) Ơn chúng sinh, 3-) Ơn của các vua, các chánh quyền, 4-) Ơn Tam Bảo.

 13-) Tứ Đế 四諦: Tứ diệu đế.

 14-) Nước Kế Tân 罽賓國 : Tiếng Phạn là nước Kubha hay Kubhana , hay Kapsia, nay thủ đô là Kabul.

 15-) Tư Ha Diệp 私訶疊: Còn gọi là Tư Ha Điều 私訶條, có lẽ là nước Tích Lan, Sri Lanka ngày nay.

 16-) Phi Thân 非身 : Tiếng Phạn là anatman, tiếng Pali là anatta, còn gọi là vô ngã 無我, hay phi ngã 非我 , tiếng Anh là non-self. Theo quan niệm của đạo Phật thì ý tưởng về sự hiện hữu của linh hồn hay là Ngã của con người không có thật. Thực ra chỉ có một dòng tâm thức luôn thay đổi biến thiên không ngừng. Vì vậy không có một linh hồn vình cửu như quan niệm của các tôn giáo khác. ( Tham khảo y kiến với B. S. Nguyễn Trần Hàn )

 17-) Lục đạo 六道: Còn gọi là 六趣 lục thúy. Đó là sáu con đường mà khi con người đi tái sinh (rebirth ) phải đi vào tùy theo những nghiệp quả của mình. 1-) 地獄 Địa ngục (Skt. narakagati, Anh văn hell) , 2-) 餓鬼 Ma đói , Skt.pretagati, Anh văn hungry ghost, 3-) 畜生 Súc sinh, Skt. tiryagyonigati, anh văn animal, 4-) 阿修羅 A-tu-la, Skt.asura-gati, Anh văn demi-god, 5-) 人道 Nhân đạo, Skt.manusya-gati, Anh văn human world, 6-) 天道 thiên đạo hay cõi tiên giới, Skt.deva-gati, Anh văn celestial heaven.

 Lục đạo lại được chia làm hai nhóm :1-) Hạ tam đạo còn gọi là tam ác thúy 三惡趣, tam ác đạo 三惡道, hay hạ tam đồ 下三途 , gồm có địa ngục còn gọi là hỏa đồ, ma đói còn gọi là đao đồsúc sinh còn gọi là huyết đồ. 2-) Thượng tam đạo còn gọi là thượng tam đồ, gồm có : A-tu-la, nhân đạotiên giới.

 18-) Đế Thích Thiên Chủ 帝釋天主 tiếng Phạn tên là Sakra devanam Indra, ngài ở trên cõi trời Đạo Lợi (Tusita heaven ). Vợ ngài là Indrani. Ngài vẫn thấp hơn tất cả những vị đắc đạo giác ngộ như chư Phật, chư bồ tát và chư a-la-hán.

 19-) Nước Ba la nại 波羅柰國: Tên tiếng Phạn là Varanasi, một nước nằm ở phía tây của nước Magadha thời xưa.

 20-) Kinh hành : Đi bộ đọc kinh.

 21-) Nước La duyệt kì 羅閱祇國: Tên tiếng Phạn là Rajagrha, dịch nghĩa là thành Vương Xá , thủ đô của nước Magadha.

 22-)Ma vương : Bản kinh Hán văn dùng chữ 魔波旬 Ma ba tuần, chữ phiên âm của chữ Phạn Mara papiyan nghĩa là ma vương.

 23-) Cư sĩ : Trong bài kinh Hán văn dùng chữ 迦羅越 Ca la việt , chữ phiên âm của tiếng Phạn kulapti có nghĩa là tộc trưởng của một dòng họ hay một gia đình, trong đạo Phật nghĩa là cư sĩ.

24-) Địa ngục : Trong bài kinh chữ Hán dùng chữ 太山 Thái Sơn để chỉ địa ngục, đây là chữ viết tắt của chữ 太山 府君 Thái Sơn Phủ Quân, một thần của Đạo giáo, giữ cửa địa ngục thứ bẩy. Hệ thống địa ngục của Đạo giáo gồm 10 cửa địa ngục gọi là 十殿 thập điện, mỗi cửa ngục có môt vị vương chủ trì. Đến đời nhà Đường, Đạo giáo lại nói là Ngọc Hoàng sắc phong Diêm La Vương 閻羅王 Yama, gọi tắt là Diêm Vương làm thống lãnh của thập điện. Yama là thần giữ cửa địa ngục của Ấn Độ giáoPhật giáo.

 Địa ngục trong Phật giáo, chữ Phạn gọi là naraka, phiên âm Hán văn là 那落迦 na-lạc-gia, chữ Pali là niraga, phiên âm Hán văn là 泥黎 ni-lê, nghĩa là nơi không vui, nơi khổ. Theo 俱舍頌疏世間品一 Câu Xá Tụng Sớ Thế Gian Phẩm chương một thì có ba loại địa ngục, gôm 18 cửa địa ngục :

24-I-) Căn bản địa ngục 根本地獄 (central hell): gồm 16 cửa địa ngục chia làm 2 nhóm.

A-) Tám nhiệt địa ngục đó là : 1) Đẳng hoạt 等活, simjava, 2-) Hắc thằng 黑繩, kaslasutra, 3-) Tuyến hợp 線合, samghata, 4-) Hiệu khiếu 號叫, raurava,5-) Đại hô 大呼, maharaurava, 6-) Diệm nhiệt 炎熱, tapana,7-) Đại nhiệt 大熱, pratapana, 8-) A tì 阿鼻, avici.

B-) Tám hàn địa ngục : 1) An phù đà 頞浮陀, arbuda 2) Ni thích bộ đa 尼剌部陀, niarbuda 3) A trá trá 阿吒吒, atala 4) A ba ba 阿波波, Hapapa 5) Hổ hổ bà 虎虎婆, huhuva 6) Ưu bát la 優缽羅, utpala 7) Bát đặc ma 缽特摩, padma 8) Ma ha bát đặc ma 摩訶缽特摩, mahapadma. 

24- II-) Cận biên địa ngục 近邊地獄 ( secondary hells ): Còn gọi là thập lục du tăng địa ngục 十六遊增地獄. Tăng là thêm, du là du hành , vì tội nhân được du hành thêm từ ngục này đến ngục khác , Anh văn dịch là sixteen itinerant hells. Mỗi cửa ngục căn bản lại có 4 cửa ngục phụ ở 4 hướng, những cửa ngục phụ đó là : 1) Hắc sa địa ngục 黑沙地獄, the hell of black sands, 2) Phí phân địa ngục 沸屎地獄, the hell of boiling shit , 3) Thiết Đinh địa ngục 鐵釘地獄, the hell of iron nails, 4) Cơ ngạ địa ngục 饑餓地獄, the hell of starvation , 5) Khác địa ngục 渴地獄, the hell of thirst, 6) Nhất đồng vạc địa ngục 一銅鑊地獄, the hell of one bronze cauldron , 7) Đa đồng vạc địa ngục 多銅鑊地獄, the hell of many bronze cauldrons, 8) Thạch Ma địa ngục 石磨地獄, the hell of grinding stone, 9) Nùng huyết địa ngục 膿血地獄, the hell of pus and blood, 10) Lượng hỏa địa ngục 量火地獄, the hell of fire, 11) Hôi hà địa ngục 灰河地獄, the hell of ashen rivers, 12) Thiết hoàn địa ngục 鐵丸地獄, the hell of iron rings, 13) Cân phủ địa ngục 釿斧地獄, the hell of axes and hatchets,  14) Sài lang địa ngục 豺狼地獄, the hell of wolves,  15) Kiếm thụ địa ngục 劍樹地獄, the hell of sword-trees, 16) Băng thủy địa ngục 寒水地獄, the hell of ice-water.

24-III-) Cô độc địa ngục 孤獨地獄: Tiếng Phạn là Lokantarika, Anh văn là isolated hells in the mountains or in the deserts.

25) Lương điền 良田 hay phúc điền 福田 : điền là ruộng. Mảnh ruộng, nơi có thể giúp con người gây dựng công đức, tạo những phúc đức để lại sau này.

26) Nan đà 難陀: Ananda, em họ của Đức Phật, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật.

 27-) Lục thần thông 六神通: Hay gọi tắt là lục thông : Tiếng Phạn gọi là sad-abhijna. 1-) Thần túc thông 神足通 : có thể biến hóa đi bất cức nơi nào trong trời đất. 2-) Thiên nhãn thông 天眼通 có thể thấy được tất cả sắc giới, dục giới. 3-) Thiên nhĩ thông 天耳通 có thể nghe được mọi chuyện trong trời đất. 4-) Tha tâm thông 他心通 có thể biết được lòng người khác đang nghĩ gì. 5-) Túc mệnh thông 宿命通: Có thể biết được chuyện kiếp trướckiếp sau của mình và của người khác. 6-) 漏盡通 Lậu tận thông : Có thể diệt tuyệt tất cả những dục vọng của tam giới đến với mình, tiếng Phạn asrava-ksaya-saksatkarabhijna, Anh văn dịch là supernormal power of the complete extinction of afflictions.

28-) Nhiễm thần 染神: Nhiễm là ô nhiễm, tiếng Phạn là klista , tiếng Pali là Kilesa, tiếng Anh là defilement, đó là những thói xấu.

29-) Tràng phan 幢幡 : Xưa trong đạo Phật có hai loại cờ : cờ tràng và  cờ phan. Cờ tràng tiếng Phạn là Dhvaja hay ketu, đó là những lá cờ , hay những băng ( ribbon ) bằng lụa ngũ sắc, tiếng Anh dịch là flag, pennant hay streamer . Cờ phan tiếng Phạn là pataka, đó là những lá cờ ngũ sắc , có hình chữ nhật (rectangular), treo theo chiều dài, tiếng Anh gọi là banner, trên cờ thường vẽ hình hay viết tên của chư Phật, chư bồ tát, chư thiên vương, ... hay những khẩu hiệu, như " Nam Mô A Di Đà Phât ", "Pháp luân thường chuyển" ....

30-) Vọng thực 妄食: Vọng là giả. Đây là những người giả dạng những người tu hành để đi khất thực, quyên tiền.

31-) Lục suy 六衰: còn gọi là Lục trần 六塵 : Đó là những gì chúng ta nhìn thấy , nghe thấy, ngửi thấy, nếm thấy, sờ thấy, nghĩ đến từ hoàn cảnh chung quanh đưa đến, nên gọi là : Sắc trần, thanh trần, hương trần, vị trần, xúc trần, pháp trần. Lục suy còn gọi là: 六賊 lục tặc, lục nhập 六入, lục cảnh六境, hay lục ngoại trần 六外塵 trong những kinh điển khác nhau.

32-)Ba Lợi Phất 波利弗 : Có lẽ là Ba Lợi Phất Đa 波利弗多, tiếng Phạn là Pataliputra, cựu thủ đô của vương quốc Magadha. Nay là thành phố Patna.

33-) Ngũ giới 五戒  : Tiếng Phạn là panca-sila, Anh văn là the five precepts. Đó là năm điều mà tất cả các Phật tử phải cố giữ : 1-Không sát sinh, 2-không trộm cắp, 3-không tà dâm, 4-không nói điêu, nói dối, 5-không rượu chè.

34-)Thập thiện 十善 : 1) Không sát sinh, 2) Không trộm cắp, 3) Không tà dâm, 4) Không vọng ngữ, 5) Không ác khẩu, 6) Không lưỡng thiệt, nói những lời ly gián 7) Không kỳ ngữ , ăn nói tục tằn, 8)Không tham lam 9) Không sân khuê, không nóng giận 10) Không tà kiến,

35-) Cúng dường 供養 : Theo Tự Điển Hán Việt thì hai chữ供養 phải dịch là cúng dưỡng mới đúng. Chữ Phạn là puja , Anh văn dịch nghĩa chữ puja là to honour, to worship gods. Như vậy nguyên nghĩa của chữ puja chỉ có nghĩa thờ lậy, cúng lễ, không có nghĩa nuôi dưỡng. Cái nghĩa nuôi dưỡng là khi dịch từ chữ Phạn qua chữ Hán thêm vào. Chữ 供養 cúng dưỡng đã có trong chữ Hán từ đời nhà Châu (1066 AD - 256 AD ), đã được dùng trong Kinh Thi chương Liệu Nga Tiên 詩經蓼莪箋 ( 551 AD - 479 AD ), câu : " Cúng dưỡng nhật quả hĩ, nhi ngã bất đắc chung dưỡng 供養日寡矣,而我不得終養 ". Theo Tư điển Hán Văn sở dĩ dùng chữ " cúng dưỡng Tam Bảo " là vì các tăng ni không nấu ăn, đi khất thực nên Phật tử ngoài việc thờ cúng Tam Bảo, còn phải phụng dưỡng chư tăng ni. Khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc thì vân đề khất thực phải bỏ vì Nho giáo cho là khất thực, ăn xin là làm hổ nhục tổ tiên dòng họ.

Chữ 供養 cúng dưỡng khi dịch từ Hán văn qua Việt văn thành " cúng dường ". Chữ DƯỜNG 羕 là một chữ nôm, theo Đại Tư Điển Chữ Nôm thì có 5 chữ có phát âm là dường, bốn chữ, có dạng khác nhau, nhưng chỉ có một nghĩa, dùng trong chữ " dường như ", một chữ thứ năm là một dành từ (noun) chỉ cái giường dùng để ngủ, nghỉ. Chữ DƯỜNG nếu giải thích theo chữ nôm thì không đúng nghĩa với chữ Hán văn và chữ Phạn.

Từ chữ Hán chuyển qua chữ Hán Việt mà phiên âm lệch (trại) giọng có nhiều nguyên nhân: 1) Để tạo ra một chữ nôm mới cạnh chư Hán Việt, thí dụ : Chữ 凶 (xiong) khi chuyển qua chữ Việt phiên âm là hung 凶, là một chữ Hán Việt, như trong những chữ : hung thủ, hung tin...Một chữ khác phiên âm là huông 凶 là chữ nôm, có nghĩa là xui xẻo như trong chữ huông miệng. 2) Vì các vùng phát âm khác nhau, như chữ 義 (yi), Ở miền Bắc đọc là nghĩa 義, ở miền nam đọc là ngãi 義 như chữ : Quảng Ngãi 廣義. 3) Kỵ húy các vua và các hoàng tộc . Như chữ 任 (ren) : Trước thời vua Tự Đức đọc là nhậm , như nhậm vụ 任 務, nhậm kỳ 任期... Vì vua Tự Đức tên là Hồng Nhậm 洪任, để kỵ húy nhà vua, nên đổi là nhiệm, vì vậy nay ta dùng chữ nhiệm vụ 任 務, nhiệm kỳ 任期...4) Để tỏ lòng kính trọng : Chữ 養dưỡng : như dưỡng dục chỉ dùng cho những người bề dưới mình như dưỡng dục con cái, đối với người bề trên mình như cha mẹ để tỏ lòng kính trọng không dùng chữ dưỡng mà dùng chữ dượng như : phụng dượng cha mẹ. Có lẽ cũng trong ý kính trọng Tam Bảo mà không dùng chữ " cúng dưỡng Tam Bảo " mà đổi thành chữ " cúng dường Tam Bảo ". Vậy chữ dường trong chữ " cúng dường " không phải là chữ nôm mà là chữ Hán Việt đọc trại giọng, có nghĩa là cúng dưỡng.

Các loại cúng dường trong Phật giáo: Đối với chư tăng ni, theo A Nan Tứ Sự Kinh 阿難四事經 thì có tứ sự cúng dường đó là : Thức ăn, quần áo, nơi cư ngụ (shelter), thuốc men. Đối với Phật Pháp : Pháp cúng dường, hành cúng dường, in kinh, giảng kinh, phát nguyện làm những việc tốt ...Đối với chư Phật : Ngũ chủng cúng dường 五種供養để cúng Phật : Hương, hoa, thực phẩm, đèn, dầu hương để thoa lên tượng Phật, cung kính cúng dường : tán tụng chư Phật qua thờ lậy, ca hát, kinh kệ, thơ văn, xây chùa, xây tháp, đúc tượng...

 36-) 37 đạo phẩm 三十七品: Đó là 37 điều phải làm để đi đến giác ngộ, tiếng Pali gọi là bodhipakkhiya-dhamma. Gồm có : 四念處 Tứ niệm xứ ( the four foundations of mindfulness ), 四正勤 tứ chánh cần ( the four right efforts ), 四神足 tứ thần túc ( the four roads to power ), 五根 ngũ căn ( the five spiritual faculties ), 五力 ngũ lực ( the five spiritual powers ), 七覺支 thất giác chi ( the seven factors of enlightenment ), 八聖道 bát thánh đạo ( the noble eightfold path).

 37-) Nước Xá Vệ 舍衛國 tên tiếng Phạn là Sravasti hay Savatthi, một thành phố ở phía bắc Ấn Độ, nằm trên bờ sông Rapti. Trong thời Đức Phật, thành phố này là thủ đô của vương quốc Kosala với vị vua Pasenadi, một đệ tử của Đức Phật. Đây là một trong tám thánh địa của đạo Phật. Ở đây có hai tịnh xá nổi tiếng của Đức Phật : Jetavana do Anathapindika trưởng lão xây tặng và Pubbarama do nữ cư sĩ Visakha xây tặng. Đức Phật đã ghé lại thành phố này trong 19 mùa mưa ( rainy season retreat ), giảng 871 bài kinh tại thành phố này. 844 bài tại Jetavana, 23 bài tại Pubbarama, 4 bài tại ngoại thành Savatthi.

38-) Cây roi : Bản Hán văn dùng chữ 蒲桃樹 bồ đào thụ, tên khoa học là Syzygium jambos, tên Việt ở miền Bắc là cây roi, ở miền Nam là cây mận.

 39-) Nữ cư sĩ : Trong bản kinh Hán văn dùng chữ 優婆夷 ưu-bà-di, đây là chữ phiên âm của chữ Phạn upasika, có nghĩa là những nữ Phật tử chịu tam quy ngũ giới, luôn gần và cúng dường Tam Bảo. Upasika dịch nghĩa qua Hán văn là thanh tịnh nữ 清淨女, thanh tín nữ 清信女, cận thiện nữ 近善女, cận sự nữ 近事女 trong các kinh điển khác nhau. Nếu là phái nam thì gọi là ưu-bà-tắc 優婆塞 là chữ phiên âm của chữ Phạn Upasaka, Ưu-bà-tắc còn được dich nghĩa ra Hán văn là thanh tin sĩ 清信士, cận sự nam 近事男, thiện túc nam 善宿男. Upasika và upasaka là chỉ những người thường dân, không có địa vị quan trọng trong xã hội , theo đạo Phật tu tại gia.

Chữ cư sĩ 居士 là chữ dịch nghĩa của tiếng Phạn kulapati có nghĩa là người trưởng giả của một gia đìnhđịa vị, theo đạo Phật tu tại gia, như vua Pasenadi. Theo Thập Tụng Luật chương sau : Cư sĩ là những người thân thuộc của những người cận thần của vua hay của những bà la môn, tu tại gia thì gọi là cư sĩ. ( Thập Tụng Luật lục viết : Cư sĩ giả, tùy vương,vương thần cập bà la môn chủng, dư tại gia bạch y, thị danh cư sĩ. 十誦律六曰:「居士者,除王王臣及婆羅門種。餘在家白衣,是名居士.). Sau này chữ cư sĩ đã được dùng cho tất cả những người quy y Tam Bảo, tu tại gia không kể giai cấp.

 40-) 18 sự 十八事: Trong bản kinh Hán văn của Việt Tạng chỉ có 16 sự mà thôi. Thiếu sự thứ 15 và sự thứ 18. Theo quyển Tạp Thí Dụ Kinh xuất bản tai Trung Quốc thì sự thư 16 trong Tạp Dụ Kinh của Việt Tạng chính là sự thứ 15, sự thứ 17 trong Tạp Dụ Kinh của Việt Tạng chính là sự thư 16. Như vậy thì bản Tạp Dụ Kinh của Việt Tạng thiếu sự thứ 17 và sự thứ 18. Trong quyển Tạp Thí Dụ Kinh xuất bản tại Trung Quốc có sự thứ 17, không có sự thứ 18, nên đã đổ là " 17 sự " ( thập thất sự 十七事). Nay tôi xin lấy sự thứ 17 của bản Tạp Thí Dụ Kinh xuất bản tại Trung Quốc bổ túc tại đây :

 十七者正使能受深經, 依行得道難.

Thập thất giả chánh sử năng thọ thâm kinh, y hành đắc đạo nan.

Thứ 17:  dù hiểu thấu được những uyên thâm của các kinh điển, nhưng đem được cái uyên thâm này áp dụng vào đời để đi đến đắc đạo thì lại rất khó.

 

BẢN HÁN VIỆT ĐỐI CHIẾU

 ______________________________________________________________________________________

 

TUỆ QUANG 慧光 FOUNDATION    http://www.daitangvietnam.com

Nguyên Tánh Trần Tiễn Khanh & Nguyên Hiển Trần Tiễn Huyến

Phiên Âm Wed Oct  1 17:24:25 2008

 

No. 204

 

雜譬喻經

tạp   Thí dụ kinh

Tạp Thí Dụ (1) Kinh

 

後漢月支沙門支婁迦讖譯

Hậu Hán Nguyệt Chi Sa Môn Chi-lâu-ca-sấm  dịch  

Đời Hậu Hán, người nước Nguyệt Chi (2), sa môn Chi Lâu Ca Sấm (3)   dịch từ tiếng Phạn qua tiếng Hán

 

(一) 昔有比丘聰明智慧。時病危頓。弟子問曰。

(nhất   ) tích   hữu  Tỳ-kheo thông minh  trí tuệ  。thời bệnh   nguy   đốn   。đệ-tử vấn   viết   。

Thí dụ 1 :  Ngày xưa có một tỳ kheothông minh và đầy trí tuệ.  Khi thầy lâm trọng bệnh, đệ tử hỏi thầy rằng:

 

成應真未。答曰未得。不還未也。

thành  ưng  chân   vị  。đáp   viết   vị đắc  。Bất hoàn  vị  dã  。

 Thầy đắc đạo A-la-hán (4) được chưa ? Thầy trả lời: Chưa được. Đệ tử lại hỏi: Vậy Thầy đắc đạo bất hoàn chứ ? Thầy trả lời: Chưa đâu.

 

問曰和上道高名遠。何以不至乎。和上告白。

vấn   viết   hòa thượng  đạo  cao   danh   viễn  。hà dĩ bất chí   hồ  。hòa thượng  cáo  bạch   。

 Đệ tử lại thưa rằng: Thầy hành đạo cao và nổi tiếng, như vậy vì sao không thành chánh quả? Thầy nói rằng:

 

已得頻來。二果未通。問之。

dĩ đắc  tần   lai  。nhị quả  vị  thông   。vấn   chi 。

 Mới được nhất lai quả vị(5). Còn hai quả vị cao hơn thì chưa được.  Đệ tử lại hỏi:

 

已得頻來礙何等事不至真人。答曰。

dĩ đắc  tần   lai  ngại   hà đẳng  sự   bất chí   chân   nhân   。đáp   viết   。

 Đã được nhất lai quả, vậy tại sao không thành A-la-hán ? Thầy trả lời :

 

欲覩彌勒佛時三會二百八十億人得真人時。及諸菩薩不可限載。

dục   đổ   Di Lặc Phật  thời  tam  hội  nhị bách bát thập  ức   nhân   đắc   chân   nhân   thời  。cập chư Bồ-tát  bất khả hạn   tái  。

 Vì muốn được dự tam kỳ Pháp Hội (6) của Đức Phật Di Lặc, gồm có hai trăm tám mươi ức (7) người đắc đạo A-La-Hán và vô số kể người đắc đạo bồ tát.

 

彌勒如來巨身至尊長百六十丈。

Di lặc  Như Lai  cự  thân  chí   tôn   trường/trưởng  bách  lục thập  trượng   。

Đức Phật Di Lặcđấng chí tôn, thân thể vĩ đại cao sáu mươi trượng (8).

 

其土人民皆桃華色。人民皆壽八萬四千歲。

kỳ độ nhân dân  giai   đào   hoa  sắc   。nhân dân  giai   thọ   bát vạn tứ thiên  tuế   。

 Người ở trong thế giới của ngài hồng hào như hoa đào, nhân dân của ngài đều thọ tám vạn bốn ngàn năm.

 

土地平正衣食自然。閻浮土地廣長各三十萬里。

độ  địa   bình chánh y thực  tự nhiên  。Diêm-phù  độ  địa   quảng  trường/trưởng  các   tam thập  vạn lý

 . Đất đai của ngài bằng phẳng, nhân dân tự nhiên ấm no, lãnh thổ Đất Diêm Phù (9) rộng lớn dài ba mươi vạn dặm.

 

意欲見此不取真人。彌勒佛時二尊弟子。一曰雜施。

ý   dục kiến  thử   bất thủ   chân   nhân   。Di Lặc Phật  thời  nhị tôn  đệ-tử 。nhất   viết   tạp   thí  。

 Vì muốn được thấy thế giới của ngài nên không muốn làm A la hán vội. Đức Phật Di Lặc có hai đại đệ tử: Một người gọi là Tạp Thi,

 

二曰數數。復欲見之。知何如我弟子復問。

nhị   viết   sát sát 。phục  dục kiến  chi 。tri   hà   như   ngã   đệ-tử phục  vấn   。

người kia là Số Số. Ta muốn xem ta có sánh bằng hai đệ tử này không. Đệ tử lại hỏi :

 

從何聞此。和上答曰。從佛經聞。弟子白曰。

tùng  hà   văn  thử   。hòa thượng  đáp   viết   。tùng  Phật Kinh  văn  。đệ-tử bạch   viết   。

 Làm sao Thầy biết những điều này ? Thầy trả lời: Từ những kinh điểnĐệ tử lại thưa rằng:

 

生死勤苦。彌勒設有異法當往待之乎。

sanh tử  cần khổ  。Di lặc  thiết hữu  dị pháp  đương  vãng   đãi   chi hồ  。

Sinh tử luân hồi thật là đau khổ, chẳng lẽ Đức Phật Di Lăc có phép lạ gì chăng mà thầy phải chờ đợi ?

 

答曰無異。六度四等四恩四諦寧有異乎。

đáp   viết   vô dị  。lục độ  tứ đẳng  tứ ân  Tứ đế  ninh   hữu dị  hồ  。

Thầy bảo rằng: Không có phép lạ gì cả. Đệ tử lai hỏi rằng: Lục độ, (10) tứ đẳng (11), tứ ân (12) và tứ đế (13) của Đức Phật Di Lặc có khác nhau không? 

 

答曰不也。設使一等彼此無異。何為復待。

đáp   viết   bất dã 。thiết sử  nhất đẳng  bỉ   thử   vô dị  。hà   vi/vì/vị  phục  đãi   。

Thầy bảo rằng: Không khác gì cả. Đệ tử thưa rằng: Nếu không khác thì đợi chờ làm chi ?

 

 今受佛恩反歸彌勒。亦可取度不須待彼。

kim   thọ/thụ   Phật ân  phản  quy   Di lặc  。diệc   khả  thủ   độ  bất tu  đãi   bỉ   。

Nay đã được ơn của Đức Phật lại còn muốn đợi để về với Đức Phật Di Lặc. Sao thầy không chọn đắc đạo ngay bây giờ còn chờ đợi làm gì?

 

 和上言止。卿且出去。吾當思惟。

hòa thượng  ngôn  chỉ   。khanh   thả  xuất  khứ  。ngô   đương  tư tánh 。

Thầy bảo rằng: Thôi được, trò hãy lui đi để ta suy nghĩ.

 

弟子適出未到戶外。已成真人。弟子還曰。何乎。師曰。

đệ-tử thích  xuất  vị  đáo   hộ   ngoại   。dĩ   thành  chân   nhân   。đệ-tử hoàn  viết   。hà   hồ  。sư   viết   。

Đệ tử chưa ra khỏi nhà, Thầy đã thành A la hán. Đệ tử lại hỏi: Thầy quyết định ra sao ? Thầy bảo rằng :

 

已成真人。弟子禮曰。咄叱之頃已成果證。

dĩ   thành  chân   nhân   。đệ-tử lễ   viết   。đốt  sất   chi khoảnh  dĩ   thành quả chứng  。

Ta đã thành A-la-hán rồi.

Đệ tử bái lậy thưa rằng: Chỉ trong một thời gian ngắn như một tiếng hắt hơi mà thầy đã thành chánh quả .

 

         (二) 昔有比丘得定意時。野火燒不燒。

(nhị   ) tích   hữu  Tỳ-kheo đắc   định ý  thời  。dã   hỏa   thiêu  bất thiêu 

Thi dụy thứ 2      Ngày xưa có một kỳ kheo khi nhập định, lửa đốt không cháy,

 

人見之謂是鬼。便斫之刀折不入。用心一故不入。

nhân   kiến  chi vị   thị  quỷ   。tiện   chước   chi đao   chiết  bất nhập  。dụng   tâm   nhất   cố  bất nhập  。

Người ta tưởng là ma, bèn lấy dao chém, dao mẻ mà chém không vào, vì tâm của người thiền định mềm không thể chém vào được.

 

柔軟故不燒。有人得定者。

nhu nhuyễn  cố  bất thiêu  。hữu  nhân   đắc định  giả 。

Thân người thiền định mềm dẻo, lửa đốt cũng không cháy. Lại có người khác khi đang thiền định,

 

弟子呼之飯不覺。因前牽其臂。臂申長丈餘。

đệ-tử hô  chi phạn  bất giác  。nhân   tiền   khiên  kỳ  tý   。tý   thân   trường/trưởng  trượng   dư   。

đệ tử gọi ăn cơm cũng không biết, đệ tử bèn lấy tay kéo tay  thầy đang thiền định, tay thầy bị kéo dài ra hơn một trượng

 

弟子怖便取結之。意恐結不可復解之。師禪寤苦臂痛。

đệ-tử bố/phố tiện   thủ kết  chi 。ý   khủng  kết/kiết   bất khả phục  giải  chi 。sư   Thiền  ngụ   khổ   tý   thống   。

đệ tử sợ quá bèn lấy dây trói lại, sau nghĩ không nên trói như vậy, bèn cởi ra. Khi tỉnh ra, thầy thấy tay đau

 

問弟子。白如是。師言。汝不解寤我折我臂。

vấn   đệ-tử 。bạch   như thị 。sư   ngôn  。nhữ   bất giải  ngụ   ngã   chiết  ngã   tý   。

bèn hỏi đệ tử. Đệ tử thưa thật cùng thầy. Thầy bảo rằng: Sao không gọi ta dậy mà làm sái tay ta.

 

人得定意柔軟如綿。在母腹中亦爾。

nhân   đắc   định ý  nhu nhuyễn  như   miên   。tại   mẫu   phước trung  diệc nhĩ  。

Người nhập định, thân thể mềm dẻo như bông, như lúc còn trong bụng mẹ vậy.

 

         (三) 昔罽賓國有一菩薩。始生墮地地有大動。

(tam  ) tích   Kế Tân quốc  hữu nhất  Bồ Tát 。thủy sanh  đọa  địa địa  hữu  Đại  động   。

Thí dụ thứ 3 :  Ngày xưa ở nước Kế Tân ( 14 ) có một bồ tát, khi vừa lọt lòng mẹ là cả vùng đất quanh đó rung động mạnh.

 

父母皆驚。時有真人。低頭面禮華蓋供散。

phụ mẫu  giai   kinh   。thời  hữu  chân   nhân   。đê   đầu diện lễ  hoa cái  cung tán  。

Cha mẹ kinh sợ, lúc đó có một A-la-hán đến lấy lọng che hài nhi và đỉnh lễ.

 

後長出家明哲辯慧。然多蕩泆乃無法度。

hậu  trường/trưởng  xuất gia minh   triết   biện   tuệ   。nhiên đa   đãng  dật   nãi  vô  pháp độ  。

Sau cậu bé lớn lên đầy trí tuệ, thông minhphóng khoáng. Vì vậy, khi xuất gia không giữ được giới luật,

 

所說聞者輒令得道。時有二人共為比丘。

sở thuyết  văn giả triếp   lệnh  đắc đạo 。thời  hữu  nhị   nhân   cọng  vi/vì/vị  Tỳ-kheo 。

nhưng khi thuyết giảng Phật pháp thì người nghe lại đắc đạo. Lúc đó có hai vị tỳ kheo

 

精舍守戒清白積年。意不開解。天神語之。

Tịnh Xá thủ  giới   thanh   bạch   tích  niên   。ý   bất khai giải  。thiên thần  ngữ  chi 。

đang tu và khép mình trong giới luật của tịnh xá đã nhiều năm, nhưng không hiểu được Phật pháp. Thiên thần bèn đến chỉ cho họ rằng:

 

 彼國有比丘多所化度。二人即往故遠歸請。

bỉ quốc hữu  Tỳ-kheo đa   sở hóa  độ  。nhị   nhân   tức   vãng   cố  viễn  quy   thỉnh  。

Ở nước nọ, có một thầy thuyết giảng Phật pháp rất hay và đã hóa độ được nhiều người. Hai người này bèn lên đường đi tìm.

 

時此比丘彼國有比丘與婬女通。二人求現。

thời  thử   Tỳ-kheo bỉ quốc hữu  Tỳ-kheo dữ  dâm nữ  thông   。nhị   nhân   cầu   hiện   。

Lúc đó thầy đang gian díu với một phụ nữ. Hai vị tỳ kheo từ xa đến xin gặp.

 

一人先入禮敬却坐。婬女故臥端正極世。

nhất   nhân   tiên  nhập   lễ kính  khước  tọa   。dâm nữ  cố  ngọa   đoan chánh cực  thế   。

Một người vào trước gặp thầy, chào thầy và an tọa, thấy có một phụ nữ thật đẹp nằm ở trong phòng thầy,

 

專心聽經無他異念。便得道迹。稽首還。

chuyên tâm  thính   Kinh   vô  tha  dị   niệm   。tiện   đắc đạo tích   。khể thủ  hoàn  。

nhưng người này vì chuyên tâm nghe giảng kinh, không hề nghĩ chuyện bất chánh, nên đắc đạo, bái tạ thầy và ra về.

 

 復使一前禮調訊坐聽。見臥婬女心念此人穢辱不良。

phục  sử  nhất   tiền   lễ   điều  tấn   tọa   thính   。kiến  ngọa   dâm nữ  tâm   niệm   thử   nhân   uế   nhục   bất lương   。

Đến tỳ kheo thứ hai vào chào thầy và an tọa, thấy người phụ nữ nằm đó bèn nghĩ vị này ô uế dâm đãng,

 

唐苦遠來便棄出外。比丘曰何愁乃爾。

đường   khổ   viễn  lai  tiện   khí   xuất  ngoại   。Tỳ-kheo viết   hà   sầu   nãi  nhĩ   。

bèn bỏ ra về, buồn và tiếc công khó nhọc của mình từ xa đến. Vị tỳ kheo đầu tiên hỏi vị này sao lại buồn thế,

 

 知有邪見。曰乃誤我曹。涉曠辛苦。

tri   hữu  tà kiến  。viết   nãi  ngộ   ngã   tào   。thiệp   khoáng   tân   khổ   。

, vì biết tỳ kheo này có tà kiến. Vị thứ hai trả lời rằng : Thật xui cho chúng ta, chúng ta khó nhọc từ xa đến tìm thầy học đạo, nhưng không may lại gặp

 

師此污濁有是蕩行。曰卿為大非學士法。

sư   thử   ô trược  hữu  thị  đãng  hạnh/hành/hàng  。viết   khanh   vi/vì/vị  Đại  phi   học   sĩ   Pháp   。

vị thầy ô uế hoang đàng này. Tỳ kheo đầu tiên trả lời rằng: Bạn nghĩ vậy là không đúng tư cách của một người đi tìm đạo.

 

但當正心聽受慧解。焉譏是非自生惡念令無所得。

đãn   đương  chánh  tâm   thính thọ  tuệ giải  。yên  ky   thị phi  tự sanh  ác  niệm   lệnh  vô sở đắc

Hãy giữ lòng mình chánh trực và nghe giảng những điều Phật pháp. Chê bai những chuyện thị phi này chỉ làm mình sinh những ác niệm và không được gì cả.

 

更自端心共入聽經。復得道迹。

cánh  tự   đoan   tâm   cọng  nhập   thính   Kinh   。phục  đắc đạo tích   。

Chúng ta hãy cùng vào, giữ lòng đoan chánh và nghe kinh. Làm vậy, hai người đều đắc đạo

 

一得應真師為設賓便還本國。

nhất   đắc   ưng  chân   sư   vi/vì/vị  thiết tân  tiện   hoàn  bổn quốc 。

đều thành A-la hán. Thầy làm cỗ để khoản đãi và chúc mừng cùng tiễn hai người về nước.

 

 師後典寺大用僧物通婬戲樂過度。眾僧議逐。有真人曰。且莫擯棄。

sư   hậu  điển   tự   đại dụng  tăng vật  thông   dâm  hí  lạc/nhạc  quá độ  。chúng   tăng   nghị   trục   。hữu  chân   nhân   viết   。thả  mạc  bấn  khí   。

Sau đó, thầy tiêu xài tốn nhiều ngân quỹ của nhà chùa vì hoang chơi vô độ, các sư trong chùa đề nghị trục xuất thầy. Có một a la hán khuyên can rằng :

 

雖用僧物能多化度。便止不逐。親親詣曰。

tuy   dụng   tăng vật  năng  đa   hóa độ 。tiện   chỉ   bất trục   。thân  thân  nghệ   viết   。

Tuy thầy tiêu dùng khá nhiều ngân quỹ của chùa nhưng cũng độ được nhiều người, nên xin cho thầy khỏi bị trục xuất. Những người thân khuyên thầy

 

卿前弟子可往從乞備眾人物。

khanh   tiền   đệ-tử khả  vãng   tùng  khất  bị   chúng   nhân vật  。

nên đi đến những đệ tử cũ của mình, xin các người quyên tặng tài vật để bồi hoàn lại cho chùa.

 

即到彼國大得眾寶還倍償僧。

tức   đáo   bỉ quốc Đại  đắc   chúng   bảo   hoàn  bội   thường   tăng   。

Thầy nghe lời đi đến các nước lân cận xin các đệ tử cũ của mình giúp đỡ tài vật và bồi hoàn đầy đủ cho chùa.

 

(四) 昔有賢者奉法精進。得病奄亡。

(tứ   ) tích   hữu  hiền giả phụng  Pháp   tinh tấn 。đắc   bệnh   yểm  vong  。

Thí dụ thứ 4 :    Ngày xưa có một người hiền giữ giới luật và rất tinh tiến, khi bị bệnh gần mất,

 

妻子嘷戀無聊有生。火葬收骨埋去既訖。

thê tử  hào   luyến   vô  liêu   hữu sanh  。hỏa táng  thu cốt  mai   khứ  ký   cật  。

vợ con khóc than không muốn sống vì thương tiếc. Sau khi hỏa táng và an táng cốt tro xong,

 

廢忘經道香燈不設。

phế   vong   Kinh đạo  hương   đăng   bất thiết 。

gia đình buồn bã bỏ cả hương đèn cúng kiến,

 

家財饒富月旦晦朔烹殺饌餟上塚集會。相哭哀摧悲悼斷絕。

gia  tài   nhiêu   phú   nguyệt   đán   hối   sóc   phanh   sát  soạn   餟thượng  trủng   tập hội  。tướng  khốc   ai   tồi  bi   điệu   đoạn tuyệt

nhưng vì khá giả nên mỗi ngày rằm mùng một đều làm cơm đem ra mộ cúng, khóc than thảm thiết.  

 

亡者戒德終乃昇天。天眼遙見愍其笑之愚癡之至。

vong giả giới đức  chung   nãi  thăng thiên  。Thiên nhãn dao  kiến  mẫn   kỳ  tiếu   chi ngu si chi chí   。

Linh hồn người chết vì có đức độ nên được lên trời, từ trời thấy người nhà khóc thảm mà phát cười

 

便作小兒於邊牧牛。牛便卒死兒便嘷哭。

tiện   tác tiểu   nhi  ư  biên   mục ngưu  。ngưu   tiện   tốt  tử   nhi  tiện   hào   khốc   。

bèn hóa thành một cậu bé chăn trâu. Trâu chết cậu bé chăn trâu khóc sướt mướt,

 

 刈草著前曉喻令食。復打呼起對泣自傳。

ngải   thảo   trước/trứ  tiền   hiểu   dụ   lệnh  thực/tự  。phục  đả   hô  khởi   đối   khấp   tự   truyền  。

cắt cỏ để trước miệng bảo trâu ăn, vừa khóc vừa vỗ vào trâu gọi trâu dậy ăn cỏ, 

 

如此終日。眾人怪笑共往呵問。汝誰家子。

như thử  chung nhật  。chúng nhân quái   tiếu   cọng  vãng   ha  vấn   。nhữ   thùy   gia  tử  。

, làm như thế cả ngày.  Các người  thấy, cười và nói rằng : Bé con ơi,

 

牛死當歸語家。嘷哭何益。牛死豈知乎。

ngưu   tử   đương  quy   ngữ  gia  。hào   khốc   hà   ích   。ngưu   tử   khởi  tri   hồ  。

trâu đã chết thì về báo cho người nhà biết, khóc có ích gì. Trâu chết có biết gì nữa đâu!

 

曰我不愚也。牛死尚在猶可有望。汝父早死。

viết   ngã   bất ngu   dã  。ngưu   tử   thượng tại  do  khả  hữu  vọng   。nhữ   phụ  tảo   tử   。

Cậu bé chăn trâu trả lời : Tôi không ngu , trâu chết nhưng còn nằm đây, vẫn thấy được. Còn cha của quý vị chết đã lâu,

 

設百種食共向嘷哭。焦骨何知。眾聞霍解曰。

thiết bách  chủng  thực/tự  cọng  hướng   hào   khốc   。tiêu  cốt   hà   tri   。chúng   văn  hoắc   giải  viết   。

làm trăm món ăn rồi cúng, còn khóc thì tro cốt đâu có biết gì. Các người nghe không hiểu ý của cậu bé.

 

吾本汝父蒙佛生天故來釋卿。因還復天身。

ngô   bổn  nhữ   phụ  mông   Phật sanh thiên  cố  lai  thích  khanh   。nhân   hoàn phục  Thiên   thân  。

Cậu bé bèn nói rằng ta chính là cha của các người được ơn Phật được sinh vào cõi trời, đến đây nói cho mọi người hiểu, liền biến trở lại thân hình cũ và bảo rằng :

 

欲得如我加進道供已忽不現。妻子內外便還精進。

dục   đắc   như   ngã   gia   tiến đạo  cung/cúng   dĩ   hốt   bất hiện  。thê tử  nội ngoại  tiện   hoàn  tinh tấn

Muốn được như ta phải siêng năng học đạo, nói xong bèn biến mất. Vợ conhọ hàng nội ngoại sau đó chuyên cần tu tập

 

戒德布施拯濟一切不復憂愁。

giới đức  bố thí  chửng   tế  nhất thiết bất phục  ưu sầu  。

giữ giớ luật, bố thí và cứu giúp người nghèo khó, không còn lo âu sầu muộn nữa.

 

皆得道迹同時生天。

giai đắc  đạo tích  đồng   thời  sanh thiên  。

Sau tất cả đắc đạo được về thiên giới.

 

(五) 海中有一國名私訶疊。

(ngũ   ) hải   trung hữu  nhất   quốc   danh   tư   ha   điệp   。

Thí dụ thứ 5            Ngày xưa giữa biển có một quốc gia gọi là Tư Ha Diệp (15).

    

中多出珍寶唯無石蜜。時有賈人。持五百餘車石蜜。

trung  đa   xuất  trân bảo  duy  vô  thạch mật  。thời  hữu  cổ  nhân   。trì   ngũ bách  dư   xa   thạch mật  。

Nước này sản xuất rất nhiều loại báu vật nhưng không có đường phèn, lúc đó có một lái buôn nghĩ nếu đem năm trăm xe đường phèn

 

往念欲上王。所得賞報必勝市賣。

vãng   niệm   dục   thượng  Vương  。sở đắc  thưởng   báo   tất   thắng  thị   mại   。

đến cống hiến cho nhà vua, hy vọng được vua trọng thưởng nhiều hơn là đem bán trên thị trường.

 

便以石蜜置王宮門。作事自陳。如是月日之中無有問者。

tiện   dĩ  thạch mật  trí   vương cung môn   。tác sự  tự   trần  。như thị nguyệt   nhật   chi trung  vô hữu vấn   giả 。

Ông bèn đem đường phèn đến trước cửa hoàng cung  và  tâu cùng ý định.  Như thế  trải qua ít  tháng không ai hỏi han gì cả.

 

恚曰。彼王亦是人。我亦是人。

nhuế/khuể   viết   。bỉ   Vương  diệc   thị nhân 。ngã   diệc   thị nhân 。

Ông buồn giận mà nói rằng : Vua là người, ta cũng là người,

 

眼耳鼻口四大俱爾。乃不可得一見與言語也。

nhãn   nhĩ   tỳ  khẩu   tứ đại câu   nhĩ   。nãi  bất khả đắc nhất   kiến  dữ  ngôn ngữ  dã  。

cũng có mắt, tai, mũi, miệng như nhau. Nhưng ta lại không được vua ngó nhìn một cái, không được hỏi đến một lời.

 

何則王福德勝人故也。吾亦當作功德。

hà   tức   Vương  phước đức  thắng nhân  cố  dã  。ngô   diệc   đương  tác công đức  。

Phài chăng vì vua làm nhiều công đức hơn người ? Như vậy ta cũng phải làm nhiều công đức

 

當令王不覺來歸我。時遂行作沙門。以蜜供養三尊。

đương  lệnh  Vương  bất giác  lai  quy   ngã   。thời  toại   hạnh/hành/hàng  tác Sa Môn 。dĩ  mật   cúng dường tam tôn  。

để sau này vua phải đến gặp ta. Vì vậy ông bỏ đi tu, và lấy đường phèn cúng dường Tam Bảo.

 

求一靜處思惟苦空非身。使其未半。

cầu   nhất   tĩnh   xứ/xử  tư tánh khổ không  phi thân  。sử  kỳ  vị  bán   。

Ông tìm nơi thanh tịnh để suy ngẫm về khổ đế, về thuyết không, về phi thân (16)... Số đường phèn nhà chùa dùng chưa hết một nửa

 

意解無縛得六通道。諸能一處不移成羅漢者。地為震動。

ý giải  vô  phược  đắc   lục thông  đạo  。chư   năng  nhất   xứ/xử  bất di  thành  La-hán giả 。địa   vi/vì/vị  chấn động

thì tâm hồn ông đã không còn vướng mắc gì nữa, ông đã hiểu được lục đạo (17) và đắc đạo A la hán.

Đất cũng phải rung động kính phục.

 

帝釋諸天應來慰問。

Đế Thích chư Thiên ưng  lai  úy vấn  。

Đế Thích (18) và chư thiên cũng đến chúc mừng.

 

於是天帝諸天人皆下作禮助其歡喜。比丘問天帝。

ư thị Thiên đế  chư   Thiên Nhân giai   hạ  tác lễ  trợ   kỳ  hoan hỉ  。Tỳ-kheo vấn   Thiên đế  。

Lúc Thiên Đếchư thiên đến kính lễ và chia vui, tỳ kheo hỏi Thiên Đế rằng :

 

卿等天上盡何所為。答曰。天上有四戲觀園。

khanh   đẳng Thiên thượng tận  hà sở  vi/vì/vị  。đáp   viết   。Thiên thượng hữu  tứ   hí  quán  viên   。

Thiên Đế và các chư thiên ở trên trời thường làm gì? Thiên Đế trả lời rằng : Trên trời có bốn khu vườn du chơi.

 

三處是五欲處。一處是道德。在中或論佛貴典。

tam  xứ/xử  thị  ngũ dục  xứ/xử  。nhất   xứ/xử  thị  đạo đức 。tại   trung  hoặc   luận  Phật quý   điển   。

Ba khu là những nơi về ngũ dục, một khu là nơi về đạo đức, nơi đó để thảo luận Phật pháp kinh điển

 

 或時論天下四輩精進持法者。比丘曰。

hoặc thời  luận  thiên hạ tứ bối  tinh tấn trì pháp giả  。Tỳ-kheo viết   。

hay thảo luận về tinh thần tinh tiến, lòng giữ đạo pháp của thiên hạ tứ chúng. Tỳ Kheo lại hỏi :

 

 論持者為一等也。為有深淺乎。天帝曰。普論善人耳。

luận  trì   giả vi/vì/vị  nhất đẳng  dã  。vi/vì/vị  hữu  thâm thiển  hồ  。Thiên đế  viết   。phổ   luận  thiện nhân  nhĩ   。

Bàn về giữ giới luật là chính, có bàn về trình độ giữ giới luật cao thấp hay không? Thiên Đế bảo rằng : Chỉ thảo luận chung chung những người thiện mà thôi.

 

佛泥曰以來有三人諸天持論未曾廢捨。

Phật nê viết  dĩ  lai  hữu  tam  nhân   chư Thiên trì   luận  vị  tằng   phế   xả   。

Từ khi Đức Phật nhập Niết bàn đến nay, có ba người mà chư thiên bàn luận vẫn không ngừng.

 

 比丘曰。斯何人也。天得與我一一說之。

Tỳ-kheo viết   。tư   hà   nhân   dã  。Thiên   đắc   dữ  ngã   nhất nhất thuyết  chi 。

Tỳ kheo hỏi thêm : Những người đó là ai ? Xin Thiên Đế nói rõ từng người một cho tôi nghe.

 

天帝言。波羅柰國有一人作沙門。自誓言。

Thiên đế  ngôn  。ba la  nại   quốc   hữu nhất  nhân   tác Sa Môn 。tự thệ  ngôn  。

Thiên Đế nói : Ở nước Ba la nại (19) có một người sa môn tự thề nguyện rằng :

 

當經行仿佯不得應真終不臥息。於是晝夜經行。

đương  kinh hành phảng  dương   bất đắc ưng  chân   chung   bất ngọa   tức   。ư thị trú dạ kinh hành

mỗi khi kinh hành (20) sẽ học theo những A la hán không ngủ, nghỉ, ngày đêm kinh hành

 

足壞流血百鳥逐啄。三年得道。

túc   hoại   lưu   huyết   bách  điểu   trục   trác   。tam  niên   đắc đạo

cho đến khichân bị lở loét chẩy máu, chim chóc chạy theo rỉa thịt ăn. Ba năm sau đắc đạo.

 

諸天稱察無不奉承矣。有一人在羅閱祇國亦作沙門。

chư Thiên xưng  sát   vô bất  phụng  thừa   hĩ   。hữu nhất  nhân   tại   La   duyệt   kì  quốc   diệc   tác Sa Môn

Chư thiên thấy thế vô cùng khen ngợi.  Có một người khác ở nước La duyệt kì (21) cũng là một sa-môn

 

布草為蓐坐其上。自誓曰。不得道終不起。

bố   thảo   vi/vì/vị  nhục   tọa kỳ thượng 。tự thệ  viết   。bất đắc đạo chung   bất khởi   。

trải cỏ thành một cái nệm và ngồi trên đó, thề rằng nếu không đắc đạo thì sẽ không đứng dậy.

 

而蔭蓋來但欲睡眠。使人作錐長八寸。

nhi   ấm   cái   lai  đãn   dục   thụy miên 。sử  nhân   tác trùy   trường/trưởng  bát   thốn   。

Tối đến, khi buồn ngủ quá , bèn gọi người làm một cây gậy dài tám phân.

 

睡來時便刺兩髀。以瘡痛不睡。一年之中得應真道。

thụy   lai  thời  tiện   thứ  lượng (lưỡng)   bễ   。dĩ  sang   thống   bất thụy   。nhất   niên   chi trung  đắc   ưng  chân   đạo  。

Khi buồn ngủ bèn lấy cây gậy đâm vào hai đùi, để cho đau đớn không thể ngủ được. Trong một năm tỳ kheo này đắc đạo A la hán. Chư thiên cũng vô cùng thán phục

 

 天亦歎未曾有也。

Thiên   diệc   thán   vị tằng hữu  dã  。

Chư thiên cũng vô cùng thán phục

 

復有一人在拘睒尼國亦作沙門。在山石室峻險。卒無能得往來者。

phục hưũ nhất   nhân   tại   câu  đàm  ni  quốc   diệc   tác Sa Môn 。tại   sơn  thạch thất tuấn   hiểm   。tốt  vô năng  đắc   vãng lai  giả 。

Lại có một người ở nước Câu đàm ni, cũng là một sa môn, ở trong một hang động trên núi cao hiểm trở, không ai có thể lên được.

 

時魔波旬見其精進。便化作水牛。

thời  Ma ba tuần  kiến  kỳ  tinh tấn 。tiện   hóa tác  thủy   ngưu   。

Lúc đó ma vương (22) thấy lòng tinh tiến của tỳ kheo này thật vững mạnh, bèn hóa thành một con trâu,

 

在比丘前鳴鼻角目。以欲觸之。比丘甚畏而思曰。

tại   Tỳ-kheo tiền   minh   tỳ  giác  mục   。dĩ  dục   xúc   chi 。Tỳ-kheo thậm   úy   nhi   tư  viết   。

chạy đến trước tỳ kheo gầm lên và lấy sừng định húc tỳ kheo. Tỳ kheo rất sợ hãi nhưng nghĩ rằng

 

此間牛所不能得至。何以有此。得無是魔所為也。

thử   gian  ngưu   sở   bất năng đắc  chí   。hà dĩ hữu  thử   。đắc vô  thị  ma   sở   vi/vì/vị  dã  。

con trâu này làm sao có thể lên được đây. Không thể có chuyện này được, nhất định chỉ là ma thôi,

.

 即(口*戒)言。汝是弊魔所為耶。

tức   (khẩu   *giới   )ngôn  。nhữ   thị  tệ  ma   sở   vi/vì/vị  da   。

bèn nói rằng : Đây là trò ma đây mà .

 

魔謂已知便服本形。比丘語魔。卿恐我何求。魔言。

ma   vị   dĩ tri  tiện   phục   bổn  hình   。Tỳ-kheo ngữ  ma   。khanh   khủng  ngã   hà   cầu   。ma   ngôn  。

Ma thấy tỳ kheo đã biết đành hiện nguyên hình ra. Tỳ kheo hỏi ma rằng : Ngươi dọa ta, vậy muốn cầu xin ta chuyện gì chăng ? Ma nói rằng : 

 

見道人精勤恐出我界去。故來相恐矣。比丘說言。

kiến đạo  nhân   tinh cần  khủng  xuất  ngã   giới   khứ  。cố  lai  tướng  khủng  hĩ   。Tỳ-kheo thuyết ngôn  。

Thấy tỳ kheo tinh tiến, sợ tỳ kheo sẽ đắc đạo ra khỏi dục giới bèn đến dọa chơi. Tỳ kheo trả lời :

 

我所以作沙門者求度世間。

ngã   sở dĩ tác Sa Môn giả cầu   độ  thế gian

Ta sở dĩ đi tu là mong cứu độ chúng sinh.

 

佛有相好欲見之耳。佛以去世無能見者。

Phật hữu  tướng  hảo  dục kiến  chi nhĩ   。Phật dĩ  khứ  thế   vô năng kiến  giả 。

Nghe nói Đức Phật có các tướng tốt thật muốn được thấy, nay Đức Phật đã nhập Niết Bàn làm sao thấy được nữa,

 

 聞魔能變作佛身為吾現之。吾便不復精進也。

văn  ma   năng biến  tác Phật  thân  vi/vì/vị  ngô   hiện   chi 。ngô   tiện   bất phục  tinh tấn dã  。

nghe nói ma có thể hóa thân thành Phật vậy ngươi có thể hóa cho ta xem, nếu thấy được những tướng tốt của đức Phật thì ta mãn nguyện, không tinh tiến nữa.

 

魔其當然即化為佛在前立。思惟即得應真。

ma   kỳ  đương  nhiên tức   hóa   vi/vì/vị  Phật tại tiền lập 。tư tánh tức   đắc   ưng  chân   。

Ma bèn lập tức hóa thân thành Phật trước mặt tỳ kheo. Tỳ kheo suy niệm bèn đắc đạo A la hán.

 

諸天空中稱善無量。魔悔愁毒即時滅去。天帝語比丘。

chư Thiên không  trung  xưng  thiện  vô lượng  。ma   hối  sầu độc  tức   thời  diệt   khứ  。Thiên đế  ngữ  Tỳ-kheo 。

Chư thiên trên trời thán phục vô cùng. Ma cũng hối tiếc bèn biến mất.

Thiên Đế nói với tỳ kheo rằng :

 

是三人諸天所歎于今未休。比丘語天帝。

thị  tam  nhân   chư Thiên sở   thán   vu  kim   vị  hưu   。Tỳ-kheo ngữ  Thiên đế  。

đó là ba người mà chư thiên ca ngợi không ngừng. Tỳ kheo thưa với Thiên Đế rằng :

 

此三人者。明識苦空是以朽身。吾本無意為人所輕。

thử   tam  nhân   giả 。minh   thức  khổ không  thị  dĩ  hủ   thân  。ngô   bổn  vô ý  vi/vì/vị  nhân   sở   khinh  。

Ba người này biết được khổ, không, và cái thân tàn nên đi tu. Tôi vì bị người ta khinh

 

遂行求道得出三界。亦復奇妙亦得應真。

toại   hạnh/hành/hàng  cầu   đạo đắc  xuất tam giới  。diệc   phục  kì diệu  diệc   đắc   ưng  chân   。

nên đi tu cầu đạo để được ra khỏi tam giới, thật kỳ lạ cũng đắc đạo A la hán.

 

諸天報曰。今還天上以道人上頭第一。

chư Thiên báo   viết   。kim   hoàn  Thiên thượng dĩ  đạo nhân thượng  đầu   đệ nhất  。

Chư thiên bảo rằng : Hôm nay về trời, ta sẽ tâu là tỳ kheo hạng nhất .

 

於是諸天作禮而去。於是國王聞石蜜主勤行得道。

ư thị chư Thiên tác lễ nhi khứ 。ư thị Quốc Vương văn  thạch mật  chủ   cần   hạnh/hành/hàng  đắc đạo

Sau đó chư thiên chào và ra về. Quốc vương được tin người chủ của những xe đường phèn , chuyên cần tu tập và đã đắc đạo,

 

即往稽首叩頭謝過。遂為國師。

tức   vãng   khể thủ  khấu   đầu   tạ   quá/qua  。toại   vi/vì/vị  Quốc Sư

bèn đến bái chào, tạ tội và phong tỳ kheo làm quốc sư.

 

興隆三寶國致太平。得福得度不可復計。

hưng  long   Tam Bảo quốc   trí   thái bình 。đắc   phước   đắc độ  bất khả phục  kế  。

Tỳ kheo đã giúp chấn hưng Tam Bảo, quốc thái dân an, số người được phúc, được siêu độ vô số kể .

 

        (六) 昔有一病人。眾醫不能治差。

(lục   ) tích   hữu nhất  bệnh nhân 。chúng   y   bất năng trì  sái  。

Thí dụ thứ 6 .       Trước đây có một người bị một loại bệnh mà tất cả các thầy thuốc đều bó tay.

 

徑來投國王。王名薩和檀。以身歸大王。慈願治我病。

kính   lai  đầu   Quốc Vương 。Vương  danh   tát   hòa  đàn   。dĩ  thân  quy   Đại Vương  。từ   nguyện   trì  ngã   bệnh   。

Người bệnh bèn đến cầu cứu vua Tát hòa đàn. Người bệnh gửi thân mình cho vua, nguyện xin lòng từ tâm của vua giúp trị bệnh cho.

 

王即付諸師。勅令為治病。諸醫啟王。

Vương  tức   phó  chư sư  。sắc   lệnh  vi/vì/vị  trì  bệnh   。chư   y   khải   Vương  。

Vua bèn gọi các thái y đến, ra lệnh trị bệnh cho người này. Các thái y thưa vua rằng:

 

此藥不可得。王問諸師曰。其藥名何等。

thử   dược   bất khả đắc 。Vương  vấn   chư sư  viết   。kỳ  dược   danh   hà đẳng  。

Không tìm được loại thuốc để trị bệnh này. Vua hỏi thái y : Thuốc tên gì?

 

世無五毒人其肉中作湯。服此便得差。

thế   vô  ngũ   độc  nhân   kỳ  nhục  trung  tác thang  。phục   thử   tiện   đắc   sái  。

 Thái y thưa rằng : Phải lấy thịt của người không có ngũ độc để sắc lên, uống thì sẽ lành bệnh, nhưng ở đời này đâu có người nào không có ngũ độc đâu.

 

何等為五毒。一者無貪婬心。二者無瞋恚心。

hà đẳng  vi/vì/vị  ngũ   độc  。nhất giả vô tham  dâm  tâm   。nhị giả vô sân khuể  tâm   。

Vua hỏi : Cái gì gọi là ngũ độc . Thái y thưa rằng : thứ nhất không có lòng tham dâm, thứ hai không có lòng sân khuê,

 

三者無愚癡心。四者無妬嫉心。五者無尅虐心。

tam giả vô  ngu   si tâm  。tứ giả vô  đố   tật  tâm   。ngũ giả vô  khắc   ngược   tâm   。

thứ ba không có lòng ngu si, thứ tư không có lòng nghi kỵ, thứ năm không có lòng ác độc.

 

若有此人者其病便愈。王告諸師曰。

nhược hữu thử   nhân   giả kỳ  bệnh   tiện   dũ   。Vương  cáo  chư sư  viết   。

Nếu có người như vậy thì có thể trị lành bệnh này. Vua bảo thái y rằng :

 

此人來歸我。唯我無此毒。即割身上肉與之令合湯。

thử   nhân   lai  quy   ngã   。duy  ngã   vô  thử   độc  。tức   cát   thân  thượng  nhục  dữ  chi lệnh  hợp  thang  。

Người này đến cầu cậy ta, tuy ta cũng có ít nhiều những độc tính đó, nhưng cứ lấy thịt ta đem sắc thuốc đi.

 

病者服愈便發摩訶衍。

bệnh   giả phục   dũ   tiện   phát   Ma-ha diễn  。

Người bệnh sau khi uống thuốc, đã khỏi ngay và đắc đạo Đại Thừa.

 

(七) 昔有迦羅越。常願見文殊師利。

(thất   ) tích   hữu  Ca la việt  。thường   nguyện   kiến  Văn-thù-sư-lợi 。

Thí dụ thứ bẩy .  Ngày xưa có một vị cư sĩ (23) thường ước nguyện được gặp Văn-thù-sư-lợi bồ tát.

 

迦羅越便大布施并設高座訖。

Ca la việt  tiện   Đại  bố thí  tinh  thiết cao   tọa   cật  。

Cư sĩ bèn lập đàn cúng tế, bố thí nhiều và làm một ngai cao.

 

便有一老翁甚大醜惡。眼中眵出鼻中洟出口中唾出。

tiện   hữu nhất  lão   ông   thậm đại  xú   ác  。nhãn trung  si   xuất  tỳ  trung  di  xuất  khẩu   trung  thóa   xuất  。

Lúc đó có một cụ lão trông thật xấu xí, mắt thì lồi , mũi thì chẩy, đến ngồi lên ngai đó.

 

迦羅越見在高座上便起意。我今日施高座。

Ca la việt  kiến  tại   cao   tọa   thượng  tiện   khởi   ý   。ngã   kim nhật thí  cao   tọa   。

Cư sĩ bèn nghĩ rằng hôm nay ta làm ngai cao này

 

 高尚沙門當在其上。汝是何等人。便牽著地布施訖。

cao   thượng   Sa Môn đương  tại   kỳ  thượng  。nhữ   thị  hà đẳng  nhân   。tiện   khiên  trước/trứ  địa   bố thí  cật  。

là để cho những vị cao tăng ngồi, người này là ai mà dám ngồi lên ngai đó bèn kéo cụ này xuống.

Sau khi cúng lễ xong,

 

迦羅越便然燈燒香。著佛寺中言。

Ca la việt  tiện   Nhiên Đăng  thiêu hương  。trước/trứ  Phật tự  trung  ngôn  。

Cư sĩ bèn đến chùa đốt đèn hương lên và khấn rằng :

 

持是功德現世見文殊師利便自還歸家疲極臥。

trì   thị  công đức  hiện thế  kiến  Văn-thù-sư-lợi tiện   tự   hoàn quy  gia  bì   cực  ngọa   。

Xin đem công đức này van xin được gặp Văn thù sư lợi bồ tát trong đời này. Cư sĩ về nhà mệt mỏi và đi ngủ.

 

夢有人語言。汝欲見文殊師利。見之不識。

mộng  hữu  nhân   ngữ ngôn 。nhữ   dục kiến  Văn-thù-sư-lợi 。kiến  chi bất thức  。

Trong giấc mơ nghe có người hỏi ông rằng, ông ước mong gặp Văn sù sư lợi bồ tát, nhưng ông gặp mà không biết.

 

近前高座上老翁正是文殊師利。汝便牽著地。

cận  tiền   cao   tọa   thượng  lão   ông   chánh  thị  Văn-thù-sư-lợi 。nhữ   tiện   khiên  trước/trứ  địa   。

Cụ già ngồi trên ngai cao đó chính là Văn-thù-sư-lợi bồ tát , ông kéo xuông

 

如是前後七反見之。不識當那得見文殊師利。

như thị tiền hậu  thất   phản  kiến  chi 。bất thức  đương  na  đắc   kiến  Văn-thù-sư-lợi 。

trước sau đến bẩy lần, không biết Văn-thù-sư-lợi bồ tát thì làm sao gặp được Văn-thù-sư-lợi bồ tát.

 

若人求菩薩道。一切當等心於人。

nhược/nhã  nhân   cầu   Bồ Tát đạo 。nhất thiết đương  đẳng tâm  ư  nhân   。

Nếu muốn tu bồ tát đạo, thì đối với mọi người phải bình đẳng.

 

求菩薩道者。文殊師利便往試之。當覺是意。

cầu   Bồ Tát đạo giả 。Văn-thù-sư-lợi tiện   vãng   thí   chi 。đương  giác  thị  ý   。

Người tu Bồ Tát đạo , Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát sẽ đến thử lòng của họ như vậy.

 

         (八) 為無常家說譬喻。

(bát   ) vi/vì/vị  vô thường  gia  thuyết  thí dụ

thí dụ thứ tám.  Thí dụ về chuyện vô thường của một gia đình.

 

有一大樹其果如二升瓶。其果垂熟。有烏飛來住樹枝上方住。

hữu nhất  Đại  thụ/thọ   kỳ  quả   như   nhị   thăng   bình 。kỳ  quả   thùy   thục   。hữu  ô   phi   lai  trụ/trú   thụ/thọ   chi  thượng phương  trụ/trú   。

Ngày xưa có một cây cổ thụ có quả to như cái bình, khi quả gần chín, có con quạ đến làm tổ trên cây.

 

果落烏頭殺。樹神見此。而作偈言。

quả   lạc   ô   đầu   sát  。thụ/thọ   Thần   kiến  thử   。nhi   tác kệ   ngôn  。

Quả rụng rơi trên đầu con quạ và giết con quạ, thần cây cổ thụ ( the tree deity ) thấy vậy bèn làm bài kệ sau đây :

   烏來不求死 果墮不為烏

ô   lai  bất cầu  tử   quả   đọa  bất vi/vì/vị  ô  

Quạ đâu muốn đi tìm cái chết,    Quả cũng đâu có muốn giết ai.

 

果熟烏應死 因緣會使爾

quả   thục   ô   ưng  tử   nhân duyên  hội  sử  nhĩ  

Chẳng qua quả chín quả rơi,  Giết lầm mất quạ, duyên trời chi đây.

 

人在世間罪福會遲速合無有前却。

nhân   tại   thế gian tội phước hội  trì  tốc   hợp  vô hữu tiền   khước  。

Ở đời họa phúc đến nhanh hay chậm không ai biết trước được .

 

黠人得罪不怨得福不喜。

hiệt   nhân   đắc   tội   bất oán   đắc   phước   bất hỉ  。

Người khôn ngoan bị họa không oán hận, có phúc không vui mừng.

 

 爾乃為諦信佛言受持不離。三界之中有九十六種道。

nhĩ nãi  vi/vì/vị  đế  tín   Phật ngôn  thọ trì bất ly  。tam giới  chi trung hữu  cửu  thập lục  chủng  đạo  。

Sau nên tin vào những chân lý của Đức Phật dạy thọ trì đừng quên. Ở trong tam giới này có chín mươi sáu giáo phái.

.

 世人各奉其所事冀神有益。此諸小道未曉為福。

thế   nhân   các   phụng  kỳ  sở   sự   kí   Thần   hữu ích  。thử   chư   tiểu đạo  vị  hiểu   vi/vì/vị  phước   。

Người đời mỗi người đều thờ phụng những thần thánh mà họ nương tựa vào. Những điều phúc người ta hưởng từ những thần thánh này thật nhỏ nhen, 

 

豈能執德。所以爾者。不識三尊之上明。

khởi  năng chấp  đức   。sở dĩ nhĩ   giả 。bất thức  tam tôn  chi thượng  minh   。

chưa có thể coi là phúc đức được. Vì sao vậy? Vì không biết ánh sáng của Tam Bảo

  

不執五戒之清真。無有八正之深見。豈能祐濟於人乎。

bất chấp   ngũ giới  chi thanh   chân   。vô hữu bát   chánh  chi thâm kiến  。khởi  năng  hữu   tế  ư  nhân   hồ  。

không giữ được thanh tịnh của ngũ giới, không biết uyên thâm của bát chánh đạo, như vậy chưa phù hộ giúp ích gì cho họ đâu.

 

是以名之薄田耳。

thị  dĩ  danh   chi bạc  điền   nhĩ   。

Vì vậy cái phúc mà họ được chỉ là cái phúc mỏng manh mà thôi. 

 

(九) 有能敬佛三尊。監通三世。明天堂之福。

(cửu  ) hữu năng  kính   Phật tam tôn  。giam  thông   tam thế  。minh   Thiên đường chi phước   。

Thí dụ thứ 9.  Người biết kính Phật, Pháp, tăng, hiểu tam thế: quá khứ, tương lai và hiện tại, hiểu cái phúc của thiên đường,

                                                                                                                                                                                      審太山之罪。至信三寶以塞三塗。

thẩm   thái   sơn  chi tội   。chí   tín   Tam Bảo dĩ  tắc  tam đồ  。

biết cái tội của địa ngục (24), biết tin kính Tam Bảohy vọng tránh khỏi vào giới tam ác đạo

 

強智慧之力以消三界癡冥。

cường   trí tuệ  chi lực   dĩ  tiêu   tam giới  si minh  。

cố tu tập để tăng cường trí tuệ lên, để phá tan cái nghi hoặc của tam giới,

 

修六淨神水以蕩六患之穢。故能輕財損身口分。行等之施。

tu   lục   tịnh   Thần   thủy   dĩ  đãng  lục   hoạn   chi uế   。cố  năng  khinh  tài   tổn   thân  khẩu   phần  。hạnh/hành/hàng  đẳng chi thí  。

cố tu tập để lục căn được thanh tịnh, để gột rửa cái ô uế của lục trần, vì vậy có thể coi nhẹ tiền bạc, có thể rộng tay bố thí để giảm bớt những tội lỗi của mình,

 

 以樹來世之本。施一萬報疾若響應。

dĩ  thụ/thọ   lai thế  chi bổn  。thí  nhất   vạn   báo   tật   nhược/nhã  hưởng   ưng  。

để làm vốn tốt cho kiếp sau, bố thí một phần thì đươc hàng vạn phần ơn phước, kết quả sẽ đến một cách nhanh chóng.

 

故言大道三界之良田也。何以明之。昔阿育王曾作小兒時。

cố  ngôn  đại đạo  tam giới  chi lương   điền   dã  。hà dĩ minh   chi 。tích   A-dục Vương tằng   tác tiểu   nhi  thời  。

Đó chính là cái phúc điền (25) cho tam giới. Tại sao chúng ta biết được ? Ngày xưa Á Dục Vương lúc còn thiếu thời,

 

 道遇佛不勝歡喜。以少沙土至心奉佛。

đạo  ngộ   Phật bất thắng  hoan hỉ  。dĩ  thiểu  sa  độ  chí tâm  phụng  Phật 。

trên đường gặp đức Phật, ngài vô cùng hoan hỷ, bèn lấy một nắm đất với tất cả lòng thành cúng dâng Đức Phật,

 

由此之福故得為聖王。典主四十萬里十六大國。

do thử  chi phước   cố  đắc   vi/vì/vị  Thánh   Vương  。điển   chủ   tứ thập  vạn lý thập lục đại quốc  。

vì vậy mà được bao ơn phước nên sau thành thánh vương, làm vua chúa của một vùng rộng bốn mươi vạn dặm, thống lãnh 16 nước lớn.

 

以此明之。佛最為良田。昔佛弟難陀。

dĩ  thử   minh   chi 。Phật tối   vi/vì/vị  lương   điền   。tích   Phật đệ  Nan-đà  。

Với những điều hiển nhiên này, phụng thờ chư Phật là phúc điền tốt nhất. Ngày xưa đệ tử của Đức Phật , thầy Nan đà (26),

 

乃往昔惟衛佛時人。一洗眾僧之福。

nãi  vãng tích  duy   vệ   Phật thời  nhân   。nhất   tẩy  chúng   tăng   chi phước   。

là người cùng thời với Đức Phật, được phước hơn tất cả các tăng chúng,

 

功德自追生在釋種。身珮五六之相。神容晃昱金色。

công đức  tự   truy  sanh tại  Thích chủng  。thân  bội   ngũ   lục   chi tướng  。Thần   dung   hoảng dục   kim sắc  。

được công đức là em họ của Đức Phật, thân thể có năm sáu loại tướng tốt, thần sắc sáng láng như vàng.

 

乘前世之福。與佛同世研精道場便得六通。

thừa  tiền thế chi phước   。dữ  Phật đồng   thế   nghiên  tinh  đạo tràng tiện   đắc   lục thông  。

Nhờ các phúc của kiếp trước, được sống cùng thời và tu tập với Đức Phật nên được lục thần thông (27).

 

古人施一猶有弘報。況今檀越能多行者乎。

cổ   nhân   thí  nhất   do  hữu  hoằng   báo   。huống   kim   đàn việt  năng  đa   hành giả hồ  。

Người xưa bố thí có một mà đươc ơn phước to lớn, nếu nay các thí chủ có thể bố thí nhiều

 

普等之行必逮尊號。加增歡喜廣度一切。

phổ đẳng  chi hạnh/hành/hàng  tất   đãi  tôn   hiệu   。gia   tăng  hoan hỉ  quảng  độ  nhất thiết

những thiện nghiệp này sẽ giúp các thí chủ đạt đến những bậc cao tôn, gia tăng hoan hỉ, quảng độ chúng sinh.

 

(一○) 法言。染神億劫不朽煎熬生死。

(nhất   ○) Pháp   ngôn  。nhiễm   Thần   ức   kiếp   bất hủ   tiên  ngao   sanh tử  。

Thí dụ thứ 10.     Pháp ngôn nói rằng: Nhiễm thần (28) bất tử theo ta, làm khổ ta kiếp này qua kiếp khác

  

 得道乃止。昔佛泥曰後五百十年。有一國王。

đắc đạo nãi  chỉ   。tích   Phật nê viết  hậu  ngũ bách  thập   niên   。hữu nhất  Quốc Vương

đến khi đắc đạo mới thôi. Ngày xưa, sau khi Đức Phật nhập Niết bàn năm trăm mười năm, có một vị quốc vương,

 

精進勇猛世所希有。供養六萬沙門三月一時。

tinh tấn dũng mãnh  thế   sở   hy hữu  。cúng dường lục   vạn   Sa Môn tam  nguyệt   nhất thời  。

tinh tiến dũng mạnh hiếm có trên đời . Có một lần nhà vua cúng dường cho ba vạn sa môn trong ba tháng,

 

甘香餚饍極世之味。

cam   hương   hào   thiện  cực  thế   chi vị   。

đãi những món ăn ngon nhất thế gian . 

 

最上座道人博綜群籍探古達今得應真。

tối thượng  tọa   đạo nhân bác   tống  quần   tịch  tham  cổ   đạt   kim   đắc   ưng  chân   。

Vị thượng tọa đạo trưởng là vị đã đắc đạo A-la-hán, học hỏi uyên bác, thông cổ biết kim.

 

去此國東四百八十里有一國王。供養五百婆羅門。亦盡世之美。

khứ  thử   quốc   Đông   tứ bách  bát thập  lý   hữu nhất  Quốc Vương 。cúng dường ngũ bách  Bà-la-môn 。diệc   tận  thế   chi mỹ   。

Bốn trăm tám mươi dặm về hướng đông của nước này , cũng có một quốc vương khác , cũng cúng dường năm trăm bà-la-môn, với những gì đẹp nhất của thế gian này,

 

作百種幢幡裝校繒綵綿潔金寶雜物。

tác bách  chủng  tràng phan  trang   giáo  tăng   thải   miên   khiết   kim bảo  tạp   vật   。

nào là làm hàng trăm loại cờ quạt bằng những tơ lụa quý, nào là vàng bạc châu báu đủ loại,

 

一幢直五百兩金。以此伎樂而娛樂之。

nhất   tràng   trực   ngũ bách  lượng (lưỡng)   kim   。dĩ  thử   kĩ nhạc nhi   ngu lạc chi 。

một lá cờ phan (29) đáng giá cả năm trăm lượng vàng , nào là đoàn ca nhạc đàn hát giúp vui,

 

其有能作此技藝者。便以與之。

kỳ  hữu  năng tác  thử   kỹ nghệ  giả 。tiện   dĩ  dữ  chi 。

tất cả những ai khá về ca nhạc múa hát đều được mời đến.

 

諸國貧人聞彼國王有此寶物。各各四面雲集合五百人。路由精舍。

chư   quốc   bần   nhân   văn  bỉ   Quốc Vương hữu  thử   bảo vật 。các các tứ   diện   vân tập  hợp  ngũ bách  nhân   。lộ   do   Tịnh Xá

Lúc đó những người nghèo trong nước nghe tin vua có nhiều tài bảo ban phát như vậy, đều từ khắp nơi lên đường tiến về hoàng cung, số người lên đến năm trăm.

 

各習技藝欲取彼寶。糧食乏盡不能得達。

các   tập   kỹ nghệ  dục thủ  bỉ   bảo   。lương   thực/tự  phạp   tận  bất năng đắc  đạt   。

Ai ai đều đi hoc nghề đàn hát để hy vọng được nhà vua ban thưởng. Những người này tài nghệ học chưa xong, đường còn xa mới tới, lương thực đã cạn hết.

 

 便詣上座前求作沙門。上座即觀之。

tiện   nghệ   Thượng tọa  tiền   cầu   tác Sa Môn 。Thượng tọa  tức   quán  chi 。

Họ bèn cầu thượng tọa đạo trưởng cho làm sa môn, thượng tọa xem ra

 

乃惟衛佛時賢者家奴客。曾為道人作食飲。又聞法言。

nãi  duy   vệ   Phật thời  hiền giả gia  nô   khách   。tằng   vi/vì/vị  đạo nhân tác thực/tự  ẩm  。hựu   văn Pháp  ngôn  。

những người này là những người ở kiếp trước thường giúp việc cho các nhà hiền triết trong thời Đức Phật, đã có lần nấu ăn cho thượng tọa và cũng được nghe Phật pháp trước đây

 

從是以來天上人中受福自然。

tùng  thị  dĩ  lai  Thiên   thượng nhân  trung  thọ/thụ   phước   tự nhiên  。

 và đã được hưởng rất nhiều phúc trong những kiếp trước .

 

福今始盡法言故存。此等可度。便下鬚髮授以戒法。

phước   kim   thủy  tận  Pháp   ngôn  cố  tồn   。thử   đẳng khả  độ  。tiện   hạ  tu   phát   thọ/thụ   dĩ  giới pháp  。

Nay phúc đã hết, nhưng những Phật pháp nghe được trước đây vẫn còn, vì vậy những người này có thể độ được, bèn nhận cho xuống tóc thọ giới qui y.

 

將入宮食還大歡喜。

tướng nhập  cung   thực/tự  hoàn  đại hoan hỉ  。

Một hôm thầy đưa những người này vào trong hoàng cung ăn uống, ra về mọi người rất vui mừng.

 

師知其意為說此飯不可妄食。人無至誠而食此飯者。

sư   tri   kỳ  ý   vi/vì/vị  thuyết  thử   phạn  bất khả vọng   thực/tự  。nhân   vô  chí thành  nhi   thực/tự  thử   phạn  giả 。

Thầy biết ý những người học trò này bèn dạy rằng thức ăn này không thể vọng thực (30), nếu người không thành tâm tu hành mà ăn cơm này

 

當累劫為王作牛馬奴婢。五百新學比丘。

đương  luy kiếp  vi/vì/vị  Vương  tác ngưu   mã   nô tỳ  。ngũ bách  tân học  Tỳ-kheo 。

sẽ tạo ác nghiệp, những kiếp sau sẽ phải làm thân trâu ngựa hay nô tỳ cho nhà vua. Năm trăm tỳ kheo này

 

聞此恐怖厲志精進。九十日皆得應真。比丘已得道。

văn  thử   khủng bố  lệ  chí   tinh tấn 。cửu thập nhật   giai đắc  ưng  chân   。Tỳ-kheo dĩ   đắc đạo

sợ hãi, quyết chí tinh tiến học đạo trong chín mươi ngày và đều đắc đạo A-la-hán. Những tỳ kheo này sau khi đắc đạo,

 

欲自說本末。便大走行喚入王門共相撲來。

dục   tự thuyết  bản mạt  。tiện   Đại  tẩu   hạnh/hành/hàng  hoán   nhập   Vương  môn   cộng tướng  phác  lai  。

muốn kể rõ câu chuyện của mình để chia xẻ với mọi người, bèn chạy đi kêu gọi mọi người cùng đến trước cửa hoàng cung,

 

 三毒十二因緣五陰六衰我皆撲之。誰能與我對者。

tam độc  thập nhị nhân duyên  ngũ uẩn  lục suy  ngã   giai   phác  chi 。thùy   năng  dữ  ngã   đối   giả 。

nói cho mọi người biết là tam độc, thập nhị nhân duyên, ngũ uẩn, lục suy (31) đều đã bị đánh bại với một thắng lợi không ai có thể so sánh bằng.

 

眾坐愕然。此何言也。

chúng   tọa   ngạc nhiên 。thử   hà   ngôn  dã  。

 Tất cả mọi người nghe xong vô cùng ngạc nhiên vì không hiểu nội dung câu chuyện.

 

 比丘曰吾等本習技藝取彼寶利養。為沙門自致羅漢。

Tỳ-kheo viết   ngô   đẳng bổn tập kỹ nghệ  thủ   bỉ   bảo   lợi dưỡng  。vi Sa Môn tự   trí   La-hán 。

Các Tỳ kheo bèn kể thêm rằng: Chúng tôi lúc đầu muốn học ca hát hy vọng trình diễn trước vua để được tiền thưởng nuôi thân, sau làm sa môn, nay đắc đạo thành A-la-hán.

  

 三界眾邪吾等已撲滅之。蒙大師恩快樂無極。

tam giới  chúng   tà  ngô   đẳng dĩ   phác  diệt   chi 。mông   Đại sư ân   khoái lạc vô cực  。

Tất cả tam giới đều ngạc nhiênchúng tôi đã diệt được những tính xấu kể trên để đi đến chính quả, nhờ ơn thầy thượng tọa đạo trưởng mà nay chúng tôi được vô cùng mừng vui.

 

          (一一) 昔者兄弟二人居。大勢富貴資財無量。

(nhất nhất ) tích   giả huynh đệ nhị   nhân   cư  。đại thế  phú quý  tư tài  vô lượng  。

Thí dụ thứ 11.      Xưa có hai anh em ở chung với nhau, hai người này rất phú quý, có gia tài vô số.  

 

父母終亡無所依仰。雖為兄弟志念各異。

phụ mẫu  chung   vong  vô sở  y  ngưỡng  。tuy   vi/vì/vị  huynh đệ chí   niệm   các   dị   。

Bố mẹ đều đã mất không ai nương tựa. Tuy là anh em nhưng hai người lại có chí hướng khác nhau.

 

兄好道誼弟愛家業。官爵俸祿貪世榮色。

huynh   hảo  đạo nghị  đệ  ái   gia  nghiệp   。quan   tước   bổng   lộc   tham   thế   vinh   sắc   。

Người anh thích học đạo, người em mê quan nghiệp, chức tước, bổng lộc, tham danh vọng thế .

 

居近波利弗。雞鳴精舍去之不遠。

cư  cận  Ba lợi  phất   。kê   Minh   Tịnh Xá khứ  chi bất viễn  。

Nhà ở gần Ba Lợi Phất (32), cách Kê Minh Tịnh Xá không xa.

 

兄專行學諮受經道不預家計。

huynh   chuyên  hạnh/hành/hàng  học   ti  thọ/thụ   Kinh đạo  bất dự   gia  kế  。

Người anh chuyên học về đạo lý kinh kệ, không lo gì đến sinh kế.

 

其弟見兄不親家事恒嫌恨之。共為兄弟。父母早終。勤苦念生活。

kỳ  đệ  kiến  huynh   bất thân  gia  sự   hằng  hiềm hận  chi 。cọng  vi/vì/vị  huynh đệ 。phụ mẫu  tảo   chung   。cần khổ  niệm   sanh  hoạt  。

Người em thấy anh mình không lo về sinh kế trong nhà nên rất bất mãn bèn bảo anh rằng : Cùng là anh em, cha mẹ mất sớm, phải vất vả để lo về cuộc sống mới là đúng,

 

反棄家業追逐沙門聽受佛經。

phản  khí gia  nghiệp   truy  trục   Sa Môn thính thọ  Phật Kinh  。

nay lại bỏ gia nghiệp sinh kế để đến chùa nghe kinh.

 

沙門豈能與汝衣財寶耶。家轉貧狹財物日耗人所蚩笑。

Sa Môn khởi  năng  dữ  nhữ   y  tài   bảo   da   。gia  chuyển  bần   hiệp   tài vật  nhật   háo  nhân   sở   xi   tiếu   。

Chùa có cho được tiền tài quần áo chăng? Gia đình nghèo khó, tiền tài eo hẹp để người ta chê cười,

 

謂之懈廢門戶絕滅。凡為人子當立功效。

vị   chi giải phế  môn   hộ   tuyệt   diệt   。phàm  vi/vì/vị  nhân   tử  đương  lập   công   hiệu   。

bảo là chúng ta lười biếng để gia đình bị diệt vong. Phàm làm con cái cũng phải cố gắng báo ơn cha mẹ

 

繼續父母功勳不廢。乃為孝子耳。兄報之曰。

kế   tục   phụ mẫu  công   huân  bất phế   。nãi  vi/vì/vị  hiếu tử  nhĩ   。huynh   báo   chi viết   。

đã cho kế thừa sự nghiệp , đó mới là hiếu hạnh. Người anh bảo rằng :

 

五戒十善供養三寶行六度。坐禪念定以道化親。

ngũ giới  Thập thiện cúng dường Tam Bảo hạnh/hành/hàng  lục độ  。tọa Thiền  niệm định  dĩ  đạo hóa  Giữ 

Giữ ngũ giới (33) hành thập thiện (34) cúng dường (35) Tam Bảo, tìm lục độ , thiền định để hóa độ thân nhân

 

乃為孝耳。道俗相反自然之數。

nãi  vi/vì/vị  hiếu  nhĩ   。đạo tục tướng  phản  tự nhiên  chi số  。

đó mới là hiếu tử. Đạo đời hai ngả hoàn toàn nghịch nhau.

 

道之所樂俗之所惡。俗之所珍道之所賤。

đạo  chi sở   lạc/nhạc  tục   chi sở   ác  。tục   chi sở   trân   đạo  chi sở   tiện   。

Điều mà đạo thích thì đời ghét, điều mà đời quý trọng thì đạo khinh rẻ,

 

智愚不同謀猶明冥。

trí   ngu   bất đồng  mưu   do  minh minh  。

trí tụê và ngu si khác nhau, mưu cầu cũng sáng tối hai ngả .

 

不可共處是故慧人去冥就明以致道真。卿今所樂苦惱之我。

bất khả cọng  xứ/xử  thị cố tuệ   nhân   khứ  minh   tựu   minh   dĩ  trí   đạo chân 。khanh   kim   sở   lạc/nhạc  khổ não chi ngã   。

Vì vậy khó mà cộng sự, trí tụê bỏ vô minh để tìm đường đắc đạo. Nay cái mà em thích lại là cái xấu xa đối với tôi.

 

一切空無虛偽不真。迷謬計有豈知苦辛。

nhất thiết không vô  hư  ngụy bất chân   。mê   mậu   kế  hữu  khởi  tri   khổ   tân   。

Tất cả là hư vô, là giả tạo, là không thật, vì mê hoặc tưởng là có thật, đâu biết đó là khổ đau.

 

 其弟含恚俾頭不信。兄見如是便謂曰。卿貪家事以財為貴。

kỳ  đệ  hàm   nhuế/khuể   tỉ   đầu   bất tín  。huynh   kiến  như thị tiện   vị   viết   。khanh   tham   gia  sự   dĩ  tài   vi/vì/vị  quý   。

Người em giận, cúi đầu không tin.  Người anh thấy thế bèn nói rằng : Em lo chuyện nhà lấy tiền tài là chính.

 

吾好經道以慧為珍。今欲捨家歸命福田。

ngô   hảo  Kinh đạo  dĩ  tuệ   vi/vì/vị  trân   。kim   dục   xả   gia  quy mạng phước điền  。

Anh thích kinh kệ đạo pháp, lấy trí tụê làm chính, nay muốn bỏ nhà để đi làm những việc phúc thiện.

 

計命寄世忽若飛塵。無常卒至為罪所纏。

kế  mạng   kí   thế   hốt   nhược/nhã  phi   trần   。vô thường  tốt  chí   vi/vì/vị  tội   sở triền  。

Trên thế gian này như là cát bụi khoảnh khắc bay mất, vô thường sẽ đến, tội lỗi thì trói buộc ta.

 

是故捨世避危就安。

thị cố xả   thế   tị   nguy   tựu   an   。

Vì vậy nên bỏ cái đau khổ của thế tục, để tìm cái an lành trong đạo pháp.

 

弟見兄意志趣道誼寂然無報。兄則去家行作沙門。

đệ  kiến  huynh   ý   chí   thú  đạo nghị  tịch nhiên  vô  báo   。huynh   tức   khứ  gia  hạnh/hành/hàng  tác Sa Môn

Người em thấy anh mình ham mê tìm đạo nên yên lặng không trả lời. Người anh bỏ nhà đi tu làm sa môn.

 

夙夜精進誦經念道一心坐禪。分別思惟未曾休息懈怠。

túc   dạ   tinh tấn tụng Kinh  niệm   đạo  nhất tâm tọa Thiền  。phân biệt tư tánh vị  tằng   hưu   tức   giải đãi  。

Ngày đêm chăm chỉ đọc kinh cầu đạo, chuyên tâm thiền định, tư duy chánh pháp quên cả nghỉ ngơi.

 

即具根力三十七品。行合經法成道果證。

tức   cụ   căn lực  tam thập thất phẩm  。hạnh/hành/hàng  hợp  Kinh pháp  thành đạo quả chứng  。

Sau hoàn tất ba mươi bẩy đạo phẩm (36), tu tập chính phápthành chánh quả.

 

往到弟所勸令奉法。五戒十善生天之本。

vãng   đáo   đệ  sở   khuyến   lệnh  phụng  Pháp   。ngũ giới  thập   thiện sanh  Thiên   chi bổn  。

Người anh gặp người em và khuyên em phải theo đạo pháp, giữ ngũ giới, làm thập thiện để làm vốn trong đời này,

 

布施學問道慧之基。弟聞此言瞋恚更盛。即答兄曰。

bố thí  học vấn  đạo tuệ  chi cơ   。đệ  văn  thử   ngôn  sân khuể  cánh  thịnh  。tức   đáp   huynh   viết   。

năng bố thì vì đó là căn cơ của tu tập, đạo lýtrí tuệ. Người em nghe những lời này lại càng giận dữ và bảo anh rằng :

 

卿自應廢不親家業毀壞門戶。

khanh   tự   ưng  phế   bất thân  gia  nghiệp   hủy hoại  môn   hộ   。

Anh đã bỏ bê gia nghiệp, làm mất danh giá của gia đình,

 

可獨為此勿復教我。疾出門去莫預我事。兄便捨去。

khả  độc   vi/vì/vị  thử   vật   phục  giáo  ngã   。tật   xuất môn  khứ  mạc  dự   ngã sự  。huynh   tiện   xả   khứ  。

anh cứ một mình làm đi đừng dạy em nữa, hãy ra khỏi nhà này mau đi, đừng lý đến những chuyện của em nữa.

Người anh bèn bỏ ra đi.

 

弟貪家業汲汲不休。未曾以法而住其心。

đệ  tham   gia  nghiệp   cấp   cấp   bất hưu   。vị  tằng   dĩ pháp  nhi   trụ kỳ tâm  。

Người em say mê gia nghiệp không ngừng, không bao giờ nghĩ đến đạo pháp.

 

然後壽終墮牛中肥盛甚大。賈客買取載鹽販之。

nhiên hậu  thọ   chung   đọa  ngưu   trung  phì   thịnh  thậm đại  。cổ khách  mãi   thủ   tái  diêm   phiến  chi 。

Sau khi chết người em đầu thai làm con trâu mập mạp to lớn, có người lái buôn mua về để dùng vào việc chuyên chở muối.

 

往返有數。牛遂羸頓不能復前。

vãng phản  hữu  số  。ngưu   toại   luy đốn  bất năng  phục  tiền   。

Chuyên chở vài lần, trâu đã mệt đừ không còn đi được nữa,

 

上坂困頓躃臥不起。賈人策撾搖頭纔動。

thượng  phản   khốn   đốn   tích   ngọa   bất khởi   。cổ  nhân   sách   qua   diêu/dao đầu   tài   động   。

trâu nằm xuống nghỉ và không đứng dậy được, người chủ lấy roi đánh, lay đầu trâu, trâu mới chuyển động.

 

時兄遊行飛在虛空。遙見如是。即時思惟。知從何來。

thời  huynh   du   hạnh/hành/hàng  phi   tại   hư không  。dao  kiến  như thị 。tức   thời  tư tánh 。tri   tùng  hà   lai  。

Lúc đó người anh đang du hành ở trên hư không, bay qua thấy vậy, bèn tìm hiểu xem con trâu này từ đâu đến ,

 

觀見其本本是其弟。便謂之曰。

quán  kiến  kỳ  bổn  bổn  thị  kỳ  đệ  。tiện   vị   chi viết   。

xem kỹ thì biết nó là người em của mình, bèn nói với trâu rằng :

 

弟汝所居舍宅田地汲汲所樂。今為所在。而自投身墮牛畜中。

đệ  nhữ   sở   cư  xá trạch  điền   địa   cấp   cấp   sở   lạc/nhạc  。kim   vi/vì/vị  sở   tại   。nhi   tự   đầu thân  đọa  ngưu   súc  trung  。

Em trước đây ở nhà chỉ vui với những tài sản, nhà cửa, ruộng đất, ... nay tất cả tài sản đâu? Thân em thì phải đầu thai làm trâu, làm ngựa.

 

即以威神照示本命。即自識知淚出。

tức   dĩ  uy thần  chiếu   thị  bổn  mạng   。tức   tự   thức  tri   lệ   xuất  。

Người anh lại lấy phép thần thông để người em thấy được những gì mình đã làm trong kiếp người, người em hối tiếc và khóc,

 

自責本行不善慳貪嫉妬。不信佛法輕慢聖眾。

tự   trách  bổn  hạnh/hành/hàng  bất thiện  xan tham  tật đố  。bất tín  Phật Pháp khinh mạn  Thánh   chúng   。

tự trách mình làm những điều bất thiện, keo kiệt, ghen tỵ, không tin Phật pháp, khinh bỉ chư thánh,

 

快心恣意不信兄語。

khoái   tâm   tứ  ý   bất tín  huynh   ngữ  。

vui chơi thỏa ý, không nghe lời anh,

 

違戾聖教抵突自用故墮牛中。疲頓困劣悔當何逮。兄知心念愴然哀傷。

vi   lệ  Thánh giáo để  đột   tự   dụng   cố  đọa  ngưu   trung  。bì   đốn   khốn   liệt   hối  đương hà đãi  。huynh   tri   tâm   niệm   sảng   nhiên ai   thương   。

còn chê bai thánh giáo, nên bị đầu thai làm con trâu, mệt mỏi khổ sở hối hận không kịp.

Người anh vô cùng thương xót.

 

即為牛主說其本末。事狀如是。本是我弟。

tức   vi/vì/vị  ngưu   chủ   thuyết  kỳ  bản mạt  。sự   trạng   như thị 。bổn  thị  ngã   đệ  。

Bèn kể hết đầu đuôi câu chuyện cho người chủ trâu nghe, cho biết con trâu này chính là người em của mình trong kiếp trước.

 

不信三尊背真向偽。慳妬自恣貪求不施。

bất tín  tam tôn  bối  chân   hướng   ngụy 。xan  đố   Tự Tứ  tham cầu  bất thí  。

Vì không tin Tam Bảo, bỏ những điều phải theo những điều trái, keo kiệt, ghen tỵ , tự ty, tham lam, không bố thí,

 

墮牛中羸瘦困劣甚可愍傷。今已老極疲不中用。

đọa  ngưu   trung  luy  sấu   khốn   liệt   thậm   khả  mẫn   thương   。kim   dĩ   lão   cực  bì   bất trung  dụng   。

nên nay bị đầu thai làm con trâu, đau ốm thật đáng thương. Nay đã già yếu, không còn dùng vào việc gì được nữa, 

 

幸以惠我濟其殘命。賈人聞之便以施與。

hạnh   dĩ  huệ   ngã   tế  kỳ  tàn   mạng   。cổ  nhân   văn  chi tiện   dĩ  thí dữ  。

xin ông cho tôi để tôi giúp cái thân tàn của nó. Người lái buôn nghe vậy bèn bố thí con trâu cho người anh.

 

 

即將牛去還至寺中。使念三寶飯食隨時。

tức   tướng  ngưu   khứ  hoàn chí tự   trung  。sử  niệm   Tam Bảo phạn thực tùy thời  。

Người anh đưa con trâu về chùa, dạy niệm Tam Bảo, cho ăn uống nghỉ ngơi.

 

其命終盡得生忉利。時眾賈客各自念言。

kỳ  mạng chung  tận  đắc sanh  Đao Lợi 。thời  chúng   cổ khách  các tự  niệm ngôn  。

Sau khi trâu chết được tái sinh về cõi trời Đạo lợi. Lúc đó các lái buôn cũng nghĩ rằng

 

我等勤治生無厭。不能施與又不奉法不識道誼。

 ngã đẳng cần   trì sanh  vô yếm  。bất năng  thí dữ  hựu   bất phụng  Pháp   bất thức  đạo nghị  。

mình chỉ lo buôn bán cầu lợi không ngừng, không chịu bố thí, không giữ và không biết đạo pháp,

 

死亦恐然不免此類。便共出舍。

tử   diệc   khủng  nhiên bất miễn  thử   loại   。tiện   cọng  xuất  xá  。

sợ mai kia chết đi lại cũng đầu thai làm thú vật thôi.  Bèn bỏ nhà cửa,

 

捐其妻子棄所珍翫。行作沙門精進不懈。皆亦得道。

quyên   kỳ  thê tử  khí   sở   trân   ngoạn   。hạnh/hành/hàng  tác Sa Môn tinh tấn bất giải   。giai   diệc   đắc đạo

bỏ vợ con, bỏ những trò chơi vui thú, đi làm sa môn, tinh tiến chuyên cần, sau đều đắc đạo.

 

由是觀之。世間財寶不益於人。

do thị quán  chi 。thế gian tài   bảo   bất ích   ư  nhân   。

 

Hãy xem những truyện này, tài vật của thế gian này không giúp ích cho người ta đâu.

 

奉敬三尊修身學慧博聞行道世世獲安。

phụng kính  tam tôn  tu   thân  học   tuệ   bác   văn  hành đạo thế thế  hoạch   an   。

Cúng dường Tam Bảo, tu thân học đạo, tìm hiểu chánh pháp sẽ giúp đời đời được an lạc.

 

(一二) 昔者舍衛國有一貧家。庭中有蒲桃樹。

(nhất   nhị   ) tích   giả Xá-Vệ quốc hữu nhất  bần   gia  。đình  trung hữu  bồ   đào   thụ/thọ   。

Thí dụ thứ 12.   Ngày xưa ở nước Xá Vệ (37) có một nhà nghèo.  Trong vườn có một cây roi (38).

 

上有數穗。念欲即施道人。

thượng  hữu  số  tuệ   。niệm   dục   tức   thí  đạo nhân

Trên cây có vài chùm roi, bà chủ nhà muốn lấy roi để cung dường mấy vị tu hành.

 

時國王先前請食一月。是貧家力勢不如。王正玄許一月。

thời  Quốc Vương tiên  tiền   thỉnh  thực/tự  nhất   nguyệt   。thị  bần   gia  lực   thế   bất như   。Vương  chánh  huyền   hứa  nhất   nguyệt   。

Lúc đó nhà vua đòi phái lấy roi một tháng cho vua ăn, vì nhà nghèo không có thế lực gì nên đành chịu. Đã đến tháng vua đòi lấy roi

 

 

乃得一道人便持施之。語道人言。

nãi  đắc   nhất đạo  nhân   tiện   trì   thí  chi 。ngữ  đạo nhân ngôn  。

thì có một vị tu sĩ đến thăm, bà cư sĩ bèn lấy roi để cúng dường thầy, và nói với thầy rằng,

 

念欲施來一月。今乃得願。道人語優婆夷。以一月中施矣。

niệm   dục   thí  lai  nhất   nguyệt   。kim   nãi  đắc   nguyện   。đạo nhân ngữ  ưu-bà-di 。dĩ  nhất   nguyệt   trung  thí  hĩ   。

mong cúng dường cho quý thầy cả tháng nay, nay mới được toại nguyện, thầy tu bảo với nữ cư sĩ (39) rằng : Bà đã cúng dường cả tháng nay rồi.

 

優婆夷言。我但一穗蒲桃施耳。

ưu-bà-di ngôn  。ngã   đãn   nhất   tuệ   bồ   đào   thí  nhĩ   。

cư sĩ nói rằng : Tôi chỉ cúng dường có một chùm roi hôm nay mà thôi,

 

那得一月施。道人言。但一月中念欲施。則為一月也。

na  đắc   nhất   nguyệt   thí  。đạo nhân ngôn  。đãn   nhất   nguyệt   trung  niệm   dục   thí  。tức   vi/vì/vị  nhất   nguyệt   dã  。

đâu có cúng dường một tháng nay đâu. Thầy tu nói rằng : Một tháng nay bà đã nghĩ đến cúng dường là bà đã cúng dường một tháng rồi.

 

有十八事。人於世間甚大難。

hữu  thập bát  sự   。nhân   ư  thế gian thậm đại  nạn/nan  。

Ở đời này có mười tám chuyện khó xảy đến

 

一者值佛世難。二者正使值佛。成得為人難。

nhất giả trị   Phật thế  nạn/nan  。nhị giả chánh sử  trị   Phật 。thành đắc  vi/vì/vị  nhân   nạn/nan  。

Thứ nhất: Được sống cùng thời với Đức Phật là khó.

Thứ hai: Dù được sống cùng thời với Đức Phật mà được đầu thai làm người cũng là khó.

 

 三者正使得成為人。在中國生難。四者正使在中國生。

tam giả chánh sử  đắc thành  vi/vì/vị  nhân   。tại   Trung Quốc sanh  nạn/nan  。tứ giả chánh sử  tại   Trung Quốc sanh  。

Thứ ba: Dù được đầu thai làm người mà được sống tại Trung Quốc là khó. Thứ tư: Dù được sống tại Trung Quốc

 

種姓家難。五者正使在種姓家。

chủng tính  gia  nạn/nan  。ngũ giả chánh sử  tại   chủng tính  gia  。

mà được làm con cái của những gia đình dòng dõi là khó. Thứ năm: dù được làm con cái của những gia đình dòng dõi

 

四支六情完具難。六者正使四支六情完具。財產難。

tứ   chi   lục tình  hoàn   cụ   nạn/nan  。lục giả chánh sử  tứ   chi   lục tình  hoàn   cụ   。tài sản nạn/nan  。

mà được chân tay lành lặn, lục tình bình thường là khó. Thứ sáu: Dù được chân tay lành lặn, lục tình bình thường mà có sản nghiệp to lớn là khó.

 

七者正使得財產。善知識難。

thất giả chánh sử  đắc   tài sản 。thiện tri thức  nạn/nan  。

Thứ bẩy: Dù có được sản nghiệp to lớn, mà lại có những kiến thức cao là khó.

 

 八者正使得善知識。智慧難。九者正使得智慧。善心難。

bát giả chánh sử  đắc thiện tri thức  。trí tuệ  nạn/nan  。cửu giả chánh sử  đắc   trí tuệ  。thiện tâm  nạn/nan  。

Thứ tám: Dù có kiến thức cao, mà lại có được sự hiểu biết về đạo pháp là khó. Thứ chín: Dù có được sự hiểu biết về đạo pháp mà lại có lòng thiện tâm là khó.

 

十者正使得善心。能布施難。

thập giả chánh sử  đắc   thiện tâm  。năng  bố thí  nạn/nan  。

Thứ mười  : Dù có lòng thiện tâm mà cũng có lòng bố thí là khó.

 

 十一者正使能布施。欲得賢善有德人難。

thập nhất  giả chánh sử  năng  bố thí  。dục   đắc   hiền thiện  hữu đức  nhân   nạn/nan  。

Thứ mười một: Dù có lòng bố thí mà tìm được những người hiền đức để học hỏi là khó.

 

十二者正使得賢善有德人。往至其所難。十三者正至其所。

thập nhị  giả chánh sử  đắc   hiền thiện  hữu đức  nhân   。vãng   chí   kỳ  sở   nạn/nan  。thập tam  giả chánh chí  kỳ  sở   。

Thứ 12: Dù tìm được những người hiền đức để học hỏi, mà được đến nhà họ để thọ giáo là khó. Thứ 13: Dù được đến nhà của người hiền đức để thọ giáo,

 

 得宜適難。十四者正使得宜適。

đắc   nghi   thích  nạn/nan  。thập   tứ giả chánh sử  đắc   nghi   thích  。

mà được những cơ hội thích nghi để học hỏi với họ là khó.  Thứ 14: Dù được những cơ hội thích nghi để học hỏi với họ

 

受聽問訊說中正難。十六者正使得中正。解智慧難。

thọ/thụ   thính   vấn tấn thuyết  trung  chánh  nạn/nan  。thập lục  giả chánh sử  đắc   trung  chánh  。

giải  trí tuệ  nạn/nan  。

tiếp thu được cái hay của những lời bàn luận một cách chính xác, trung thực là khó. Thứ 16: Dù tiếp thu được cái hay của những lời bàn luận một cách chính xác, trung thực mà ngộ được cái thâm thúy của những lời bàn luận đó là khó.  

 

十七者正使得解智慧。能受深經種種難。

thập   thất giả chánh sử  đắc   giải  trí tuệ  。năng thọ  thâm Kinh  chủng chủng nạn/nan  。

Thứ 17 : Dù ngộ được cái thâm thúy của những lời bàn luận đó, mà hiểu thấu được những uyên thâm của các kinh điển là khó.

 

 是為十八事。

thị  vi/vì/vị  thập bát  sự   。

Đó là 18 sự (40).

 

 雜譬喻經

tạp  Thí dụ kinh

Tạp Thí Dụ kinh.

 ___________________________

           

TIỂU SỬ CỦA DỊCH GIẢ VÀ QUÝ VỊ HIỆU ĐÍNH

 

Bác sĩ Trần Văn Nghĩa sinh quán Hưng Yên, Bắc Việt,  đậu tú tài năm 1967, tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Saigon năm 1974, đậu luận án tiến sĩ y khoa với hạng tối danh dự ngày 31/03/1975. Theo học hậu đại học ngành bệnh lý tại bệnh viện Lankeneau, Philadelphia, Mỹ quốc, từ 1982 đến 1986, tốt nghiệp năm 1986,  phục vụ tại bộ y tế và bộ lao động tiểu bang Pennsylvania từ năm 1986 đến nay (2015). Là dịch giả của nhiều bài kinh lấy từ Đại Tạng Kinh Việt Nam và đồng tác giả những cuốn sách sau đây: Tứ Giáo Nghi, Đường Phật Đi ( cuốn 1, 2, 3, 4) và Đại Bi Đà La NiTứ Thập Nhị Thủ Nhãn.

 

Nguyễn Tú Nhật, pháp danh Phúc Anh, sinh quán tỉnh Thái Bình, nữ sinh Trưng Vương niên khóa 1953-1960, tốt nghiệp MBA tại Mỹ, cháu gọi cụ Nguyễn Năng Quốc bằng bác, người đã đặt viên đá đầu tiên trùng tu chùa Quán Sứ, Hà Nội, và là chánh hội trưởng sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ.

 

 Dương Nghiệp Bảo, pháp danh Nguyên Tánh, nguyên quán làng Vân Đình, tỉnh Hà Đông, là hậu duệ đích tôn cụ Dương Lâm; thuở nhỏ được hấp thụ văn hóa cổ truyền của ông nội là Dương thiệu Tường, tiến sĩ khoa Kỷ Mùi là khoa cuối cùng nhà Nguyễn; chịu ảnh hưởng đạo Phật do hòa thượng Thích Tâm Cẩn, trụ trì chùa Một Cột, Hà Nội, và cư sĩ Tịnh Liên Nghiêm xuân Hồng, đều là em ruột bà nội. Sau 35 năm phục vụ tại Ngân Hàng Phát Triển Á Châu và Ngân Hàng Thế Giới, nay vể hưu ở tuổi 80, trở về nghiên cứu đạo Phật, an vui tuổi già.



Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113907)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!