Quyển 1

13/05/20203:20 CH(Xem: 955)
Quyển 1
Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Thích Huyền Châu biên dịch

QUYỂN 1
 

ĐỀ MỤC KINH

Kinh Đại Phật đảnh, Như lai mật nhân, tu chứng liễu nghĩa, chư Bồ tát vạn hạnh, Thủ lăng nghiêm, gọi tắt là Kinh Thủ Lăng Nghiêm.
Sa môn Bát Lạt Mật Đế, người trung Thiên Trúc dịch vào đời nhà Đường
Sa môn Di Già Thích Ca, người nước Ô Trành, dịch ngữ.
Sa môn Hoài Địch, chùa Nam Lâu, núi La Phù, chứng minh bản dịch
Đệ tử Phòng Dung, thọ Bồ tát giới, hiệu Thanh Hà, chức Tiền Chánh Nghị Đại Phu đồng Trung thư môn hạ Bình chương sự, nhuận sắc.
– Hậu học Sa môn Thích Huyền Châu biên dịch

PHẦN TỰA

Chương I : Tựa chung

Như vậy tôi nghe, một thuở nọ Phật ở tinh xá Kỳ Hoàn, thành Thất La Phiệt, cùng với chúng đại tỳ khưu một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc vô lậu đại A la hán. Các vị phật tử trú trì, khéo vượt trên các hữu, ở các quốc độ đầy đủ uy nghi, theo Phật chuyển pháp luân, có khả năng thực hiện lời di giáo nhiệm mầu của Phật, nghiêm giữ giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô số, cứu vớt chúng sinh, tột đời vị lai, khỏi các trần lụy. Các vị tên là : Đại trí Xá Lợi Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Câu Hy La, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm thượng thủ.

Lại có vô số các vị Bích chi vô họcsơ tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo.

Nhằm ngày các vị tỳ kheo mãn hạ tự tứ, các vị Bồ tát, từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng đức từ nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật.

Đức Như lai giải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả trong hội tỏ bày nghĩa sâu. Chúng hội thanh tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa nhã như tiếng chim ca lăng tần già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ tát đều đến đạo tràng, có ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ.

Chương II : Tựa riêng

DUYÊN KHỞI CỦA KINH

Khi ấy vua Ba Tư Nặc, nhân ngày kỵ của  phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thọ trai nơi cung cấm; vua sắm đủ các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị đại Bồ tát. Trong thành lại có các trưởng giả cư sĩ đồng thời cùng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn Thù chia lãnh các vị Bồ tátA la hán đi đến các nhà trai chủ.

Duy có tôn giả A Nan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Tôn giả về một mình, không có Thượng tọa, A xà lê đi cùng và ngày ấy cũng không được ai cúng dường.

Bấy giờ Tôn giả A Nan cầm bình bát vào thành, đi trên đường theo thứ lớp khất thực. Trong tâm Tôn giả trước hết cầu được một người tối hậu đàn việt làm trai chủ, không kể sang hèn, phát tâm làm sao cho tất cả chúng sinh được viên thành vô lượng công đức. Tôn giả đã biết đức Phật Thế Tôn quở trách Tu Bồ ĐềĐại Ca Diếp làm bậc A la hántâm không công bằng. Tôn giả kính vâng lời dạy vô giá của Phật, vượt thoát mọi điều chê bai nghi hoặc nên đến bên thành, thong thả vào cửa, uy nghi nghiêm chỉnh, kính giữ phép hóa trai.

Trong khi khất thực, Tôn giả A Nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, nên bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng tà chú Tiên phạm thiên đạo Sa Tỳ Ca La, bắt vào phòng riêng, dựa kề vuốt ve làm cho A Nan gần phá giới thể.

Đức Như Lai biết A Nan mắc phải dâm thuật, nên dùng trai rồi, liền trở về tịnh xá. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong được nghe pháp yếu nhiệm mầu.

Khi ấy trên đảnh đức Thế Tôn, phóng hào quang bách bảo vô úy; trong hào quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hóa thân của Phật kiết già ngồi trên đó, tuyên đọc thần chú, rồi khiến Bồ tát Văn Thù Sư Lợi đem thần chú nầy đến hóa giải, tiêu diệt tà chú, đưa A Nan cùng Ma Đăng Già đều về chỗ đức Phật.

Tôn giả A Nan thấy Phật, đảnh lễ khóc lóc, giận mình từ vô thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, nhưng mà chưa toàn đạo lực; tha thiết xin Phật dạy cho những phép xa ma tha, tam ma, thiền na, là những phương tiện tu hành đầu tiên để thành đạo Bồ đề của mười phương Như Lai.

Lúc ấy lại có hằng sa số Bồ tát, đại A la hánBích chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong được nghe Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lãnh thọ thánh chỉ của Phật.

PHẦN 2: CHÁNH TÔNG

Chương I: Chỉ rõ nơi giác ngộ viên mãn

Mục 1: Gạn hỏi Tâm

Đoạn 1: Nguyên do của Thường trụLưu chuyển

Phật bảo A Nan: Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột. Lúc mới phát tâm ông thấy những hảo tướng gì ở trong Phật pháp, mà bỏ được sự ái nhiễm sâu nặng của thế gian?

Tôn giả A Nan bạch Phật rằng: Con thấy 32 tướng của Như lai tốt đẹp lạ thường, hình thể sáng suốt như ngọc lưu ly, nên thường tự suy nghĩ: Tướng ấy không thể do dục ái sinh ra. Vì sao? Bởi vì nhân của dâm dục nhơ nhớp tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sinh được sắc thân vàng thắm rực rỡ trong sạch sáng suốt như vậy, nên con phát tâm cắt tóc theo Phật tu học.

Phật dạy: Lành thay A Nan! Ông nên biết hết thảy chúng sinh từ vô thỉ đến nay, sống chết nối luôn, đều do không biết thể tính trong sạch sáng suốt của thường trụ chân tâm mà lại chỉ sống với các vọng tưởng. Vì vọng tưởngpháp giả huyễn nên mới có luân hồi. Nay ông muốn học đạo vô thượng Bồ đề, phát minh chân tính thì nên lấy tâm ngay thẳng mà đáp lại những câu hỏi của ta. Thập phương Như lai đều nhờ dùng tâm ngay thẳng, một đường thoát ly sinh tử. Tâm mà ngay thẳng thì cứ như vậy, từ địa vị đầu đến địa vị cuối cùng, chặng giữa, hẳn không có những tướng quanh co.

A Nan, nay ta hỏi ông: Ngay lúc nhờ 32 tướng của Như laiphát tâm thì ông lấy gì để thấy và lấy gì để ưa thích?

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn! Ưa thích như vậy là dùng tâm và con mắt của con. Do mắt thấy tướng tốt của Như lai, tâm sinh ưa thích nên con phát tâm muốn tu hành thoát khỏi sanh tử.

Phật bảo A Nan: Như lời ông nói, thật do tâm và con mắt mà có sự ưa thích. Nếu không biết tâm và con mắt ở đâu thì không thể hàng phục được trần lao. Ví như ông vua một nước bị giặc xâm lăng, muốn phát binh đánh dẹp, thì binh lính ấy cần phải biết giặc ở chỗ nào mới đánh dẹp được. Cũng thế, hiện ông còn ở trong luân hồi là do lỗi tại tâm và con mắt của ông. Nay ta hỏi ông: Tâm và con mắt ấy hiện ở chỗ nào?

Đoạn 2: Chấp tâm ở trong thân

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn! Tất cả mười loài chúng sinh trong thế gian đều cho rằng tâm hay biết là ở trong thân. Con thấy dù con mắt như hoa sen xanh của Như lai cũng ở trên mặt Phật, và con mắt vật chất của con cũng ở trên mặt con. Như vậy thì tâm hay biết đúng là ở trong thân.

Phật bảo A Nan : Hiện nay ông ngồi trong giảng đường Như lai. Ông xem thấy rừng Kỳ Đà hiện tại ở chỗ nào?

Bạch đức Thế tôn, giảng đường cao lớn thanh tịnh này ở trong vườn Cấp Cô Độc, còn rừng Kỳ Đà thật sự hiện ở ngoài giảng đường.

Này A Nan, giờ ở trong giảng đường, ông thấy cái gì trước?

Bạch đức Thế tôn, con ở trong giảng đường, trước thấy Như lai, sau thấy đại chúng, rồi trông ra ngoài thấy vườn rừng.

Này A Nan, do đâu ông thấy được vườn rừng?

Bạch đức Thế tôn, do các cửa giảng đường mở rộng nên con ở trong thấy suốt được ra ngoài xa.

Khi ấy, đức Thế tôn ở trong đại chúng, đưa cánh tay kim sắc xoa đầu tôn giả A Nan và bảo đại chúng rằng: Có pháp Tam ma đề tên là Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, gồm đủ muôn hạnh, mười phương Như lai đều nhờ pháp môn ấy mà vượt lên con đường diệu trang nghiêm. Ông nên chú ý lắng nghe.

Tôn giả A Nan đảnh lễ, kính vâng lời Phật dạy.

Phật bảo A Nan: Như ông vừa nói, ở trong giảng đường, do cửa mở rộng nên trông xa thấy được vườn rừng, thế thì có người nào ở trong giảng đường, chẳng thấy Như lai mà lại thấy được ngoài giảng đường không?

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn, ở trong giảng đường, không thấy Như lai mà thấy được rừng suối ở ngoài, thật không có lý nào như vậy.

Này A Nan, chính ông cũng vậy. Tâm của ông rõ biết hết thảy. Nếu hiện giờ tâm rõ biết ấy thật ở trong thân thì trước hết nó phải rõ biết bên trong thân thể. Vậy có chúng sinh nào, trước thấy trong thân, rồi sau thấy những vật ở bên ngoài không? Dầu không thấy được tim, gan, tì, vị, thì lẽ ra cũng phải biết rõ móng tay mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch đập,… nhưng thực tế tại sao lại không biết điều này? Đã không biết bên trong, sao có thể biết được bên ngoài? Do đó nên biết rằng, ông nói tâm hay biết hiện ở trong thân, thật không có lý nào như vậy.

Đoạn 3: Chấp tâm ở ngoài thân

Tôn giả A Nan cúi đầu bạch Phật.

-Bạch đức Thế tôn! Con nghe lời Phật dạy như vậy, mới nhận ra tâm con đúng là ở ngoài thân. Vì sao? Ví như ngọn đèn thắp lên trong phòng, trước hết phải sáng trong phòng, rồi theo cửa mở mới chiếu ra ngoài sân. Hết thảy chúng sinh không thấy bên trong thân mình mà chỉ thấy bên ngoài; cũng như ngọn đèn, để ở ngoài phòng, nên không thể chiếu sáng trong phòng. Điều ấy rõ ràng, có lẽ không lầm, nhưng chưa biết có đúng với nghĩa lý rốt ráo của Phật hay không?

Phật bảo A Nan: Vừa rồi, các tỳ kheo theo ta đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, giờ đã về tới rừng Kỳ Đà. Ta đã thọ trai rồi, ông hãy xem trong hàng tỳ kheo, có một người ăn mà những người khác no hay không?

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn, không thể. Vì các tỳ kheo tuy là bậc A la hán, nhưng thân thể khác nhau, làm sao một người ăn mà tất cả đại chúng đều no được.

Phật bảo A Nan: Nếu cái tâm hay biết của ông thật sự ở ngoài thân, thì thân và tâm cách biệt nhau, tất nhiên không dính líuvới nhau; vậy cái gì tâm biết thì thân không thể biết, và ngược lại cái gì thân biết thì tâm không thể biết. Giờ ta đưa tay đâu la miên lên cho ông xem, trong lúc mắt thấy, tâm ông có biết đây là tay của ta không?

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn, đúng thế.

Phật bảo A Nan: Nếu thân với tâm cùng hay biết một lúc với nhau, thế sao ông nói tâm ở ngoài thân? Cho nên ông nói tâm hay biết là ở ngoài thân, thật không có lý nào như vậy.

Đoạn 4: Chấp tâm núp sau con mắt

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn! Như lời Phật dạy, vì không thấy bên trong, nên tâm chẳng ở trong thân, vì thân tâm cùng biết, không thể rời nhau, nên tâm cũng chẳng ở ngoài thân. Nay con suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ!

Đức Phật hỏi: Ở chỗ nào?

Tôn giả A Nan bạch Phật: Cái tâm hay biết này đã không biết bên trong mà lại thấy những thứ bên ngoài, cho nên theo ý con suy xét thì nó núp sau con mắt. Ví như có người lấy chén lưu ly úp lên hai mắt, mắt tuy có vật úp lên nhưng không bị ngăn ngại, khi mắt nhìn thấy thì liền phân biệt được ngay. Song, cái tâm hay biết của con không thấy được bên trong là vì nó ở nơi con mắt, nhưng nó lại thấy bên ngoài rõ ràng, không bị ngăn ngại, là vì tâm núp sau con mắt.

Phật bảo A Nan: Như ông vừa nói, tâm núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly. Vậy người kia sau khi lấy chén lưu ly úp vào hai mắt mà nhìn thấy núi sông thì nó có trông thấy chén lưu ly không?

Bạch đức Thế tôn! Đúng thế, khi người ấy úp chén lưu ly lên hai mắt, thật có thấy chén lưu ly.

Phật bảo A Nan: Nếu tâm ông núp sau con mắt, giống như con mắt núp sau chén lưu ly, thì khi nhìn thấy núi sông sao không trông thấy con mắt? Nếu thấy được mắt thì mắt đồng như cảnh bị thấy. Như vậy không thể thành nghĩa tùy thấy. Còn nếu không thấy được con mắt thì sao ông lại nói rằng tâm hay biết núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly?

Vậy nên biết rằng, ông nói tâm hay biết núp sau con mắt như con mắt núp sau chén lưu ly, điều đó vô lý.

Đoạn 5: Chấp nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong thân

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn! Giờ con lại nghĩ như vầy: Trong thân thể con người, tạng phủ ở trong, khiếu huyệt ở ngoài, nơi tạng phủ thì tối, nơi khiếu huyệt thì sáng. Nay con đối trước Phật, mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối gọi là thấy bên trong. Nghĩa ấy đúng chăng?

Phật bảo A Nan: Khi ông nhắm mắt thấy tối, bóng tối ấy có sẵn ở trước mắt phải không? Nếu có sẵn trước mắt thì bóng tối ấy là ở trước mắt ông, sao lại nói nó ở bên trong thân? Nếu thật ở bên trong thì khi vào trong nhà tối, không có ánh sáng mặt trời, mặt trăng hay đèn thì vật dụng ở trong phòng tối đó là tam tiêu lục phủ của ông hay sao? Còn nếu bóng tối ấy chẳng có trước mắt ông thì làm sao có nghĩa thấy?

Nếu bỏ qua cái thấy bên ngoài, mà cho rằng con mắt hướng vào bên trong nên thấy tối, thì khi nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy trong thân. Vậy khi mở mắt thấy sáng sao chẳng thấy được khuôn mặt? Nếu chẳng thấy được mặt thì chẳng có cái thấy bên trong. Nếu thấy được mặt thì tâm hay biết này và con mắt phải ở ngoài hư không, làm sao ở phía trong được?

Nếu tâm và con mắt ở ngoài hư không thì tất nhiên không phải là thể chất của ông, vì không lẽ hiện giờ Như lai thấy mặt ông thì Như lai cũng là thân của ông hay sao? Và như thế, khi mắt ông đã biết thì thân ông lẽ ra không biết. Nếu ông chấp rằng thân và mắt đều biết thì ông phải có hai cái biết. Tức là một thân ông sẽ thành hai đức Phật hay sao?

Vậy nên biết rằng ông nói thấy tối là thấy bên trong thân, điều ấy vô lý.

Đoạn 6: Chấp tâm hợp với chỗ nào thì liền có ở chỗ đó

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn! Con thường nghe Phật dạy tứ chúng: Do tâm sinh nên các thứ pháp sinh, do pháp sinh nên các thứ tâm sinh. Nay con suy nghĩ thì cái thể suy nghĩ ấy chính là tâm của con, tùy chỗ hòa hợp tâm theo đó mà có, chứ không phải ở trong, ở ngoài hay ở chặng giữa.

Phật bảo A Nan: Nay ông nói rằng, do pháp sinh nên các thứ tâm sinh, tùy chỗ hòa hợp tâm tùy theo đó mà có.

Tâm ấy nếu có tự thể thì không thể hợp được, còn nếu không có tự thể mà vẫn hợp được thì giới thứ 19 hòa hợp được với trần thứ 7 hay sao? Nghĩa ấy quyết không đúng. Còn nếu có tự thể thì trong khi ông lấy tay tự gãi thân ông, tâm biết gãi ấy vốn ở bên trong thân ra hay từ ngoài chạy vào? Nếu ở bên trong thân ra thì khi trở lại phải thấy trong thân, còn như từ ngoài vào thì trước hết phải thấy mặt của ông.

Tôn giả A Nan bạch Phật: Thấy là con mắt, còn tâm thì biết chứ không phải thấy như con mắt. Đức Thế tôn nói tâm thấy là không hợp lý.

Phật dạy: Nếu con mắt thấy được thì khi ông ở trong phòng, cánh cửa có thấy được không? Cũng như những người đã chết, mắt vẫn còn đó, lẽ ra phải thấy được vật, mà nếu thấy được vật thì sao gọi là chết?

Lại nữa A Nan, nếu tâm hay biết của ông vốn có tự thể thì có một thể hay nhiều thể? Nó ở nơi thân ông, là ở khắp cả thân hay là không cùng khắp? Nếu tâm có một thể thì ông lấy tay gãi một chi trên thân, lẽ ra cả tứ chi đều biết, mà nếu đều biết thì làm sao biết đang gãi ở chỗ nào. Nếu biết chỗ gãi thì cái thuyết một thể của ông không thể thành lập được. Còn nếu như có nhiều thể thì thành ra nhiều người, vậy làm sao biết cái thể nào là thể của ông. Nếu cái thể ấy cùng khắp cả thân thì lại như trước kia, không biết được chỗ gãi. Còn như không cùng khắp thì khi chạm trên đầu, đồng thời cũng chạm dưới chân, hễ đầu có biết, lẽ ra chân phải không biết, nhưng hiện nay ông lại không phải như thế. Vậy nên biết rằng tùy chỗ hòa hợp, tâm liền theo đó mà hiện hữu là không hợp lý.

Đoạn 7: Chấp tâm ở chặng giữa

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn, trong khi Thế tôn bàn nghĩa thật tướng với các vị pháp vương tử như Bồ tát Văn Thù Sư Lợi,… con có nghe được rằng: Tâm không ở trong, cũng không ở ngoài. Cho nên theo ý con nghĩ, nếu tâm ở trong thân, sao lại không thấy bên trong; tâm ở ngoài thân thì thân và tâm chẳng biết nhau. Vì tâm không biết bên trong nên không thể nói tâm ở trong thân, vì thân và tâm cùng biết nên nói tâm ở ngoài cũng không đúng lý. Nay vì thân và tâm cùng biết, và lại tâm không thấy được bên trong thân nên tâm chắc chắn phải ở chặng giữa.

Phật bảo A Nan: Ông nói tâm ở chặng giữa, chỗ ấy hẳn không phải tự dưng mà có, hoặc không có vị trí nhất định. Ông nên xét kỹ, điểm giữa ấy là ở nơi nào? Ở tại ngoại cảnh hay là nơi thân? Nếu là nơi thân mà ở một bên thì không phải chính giữa, còn nếu ở chính giữa thân thì cũng giống như ở trong thân. Nếu điểm giữa là ở ngoại cảnh thì có thể chỉ ra được hay là không thể chỉ ra được? Nếu không chỉ ra được thì cũng như không có, còn chỉ ra được thì điểm giữa ấy không có vị trí nhất định. Vì sao vậy? Ví như có người cắm một cây nêu để làm điểm giữa, nếu nhìn từ phương Đông thì cây nêu ở phương Tây, nếu nhìn từ phương Nam thì cây nêu ở phương Bắc. Tiêu điểm đã không rõ ràng thì tâm ông cũng thành rối loạn.

Tôn giả A Nan bạch Phật: Con nói điểm giữa, không phải hai thứ ấy. Như đức Thế tôn thường dạy, mắt gặp sắc trần, duyên sanh nhãn thức. Mắt thì có phân biệt, còn sắc trần thì vô tri, nhãn thức phát sinh trong khoảng giữa ấy chính là tâm con.

Phật dạy: Nếu tâm ông ở giữa căn và trần thì tự thể tâm ấy gồm cả hai bên, hay không gồm cả hai bên? Nếu gồm cả hai bên thì căn trần lẫn lộn. Trần thì không biết, căn thì có biết, hai thứ đối lập nhau. Chỗ nào gọi là điểm giữa? Gồm cả hai bên cũng không được, vì nếu không phải có biết và cũng không phải không biết, tức là không có thể tánh, vậy lấy gì làm tướng ở giữa? Thế nên biết rằng, ông nói tâm ở chặng giữa là không có lý.

Đoạn 8: Chấp tâm không dính dáng vào đâu cả

Tôn giả A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn! Trước đây con thấy đức Phật cùng chuyển pháp luân với bốn đại đệ tửMục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Xá Lợi Phất. Đức Phật thường dạy, tánh của tâm hay biết phân biệt chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng ở chỗ nào, không dính mắc vào đâu cả, đó gọi là tâm. Vậy con lấy cái không dính mắc ấy mà gọi là tâm, có được chăng?

Phật bảo A Nan: Ông nói tánh của tâm hay biết, không ở đâu cả. Vậy ông gọi cái không dính mắc đối với các vật có hình tướng trên thế gian như hư không, các loài thủy, lục, không, hành,… tất cả là hiện hữu hay không hiện hữu?

Nếu không hiện hữu thì đồng như lông rùa sừng thỏ. Sao gọi là không dính mắc? Mà đã có cái không dính mắc thì không thể gọi là không. Không tướng thì không, chẳng không thì là có tướng. Có tướng thì phải có chỗ nơi, sao ông lại nói là không dính mắc? Thế nên biết rằng đối với tất cả cái không dính mắc mà gọi là tâm, điếu ấy vô lý.

Mục II: Chỉ rõ tánh thấy

Đoạn 1: Cầu đi đến chỗ chân thật

Khi ấy A Nan ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo bày vai hữu, gối hữu chấm đất, chắp tay cung kínhbạch Phật rằng: Con là em nhỏ nhất của Thế tôn, nhờ Thế tôn thương yêu, nay tuy xuất gia, nhưng còn ỷ vào lòng thương yêu của Thế tôn. Vì vậy, con chỉ học rộng nghe nhiều mà chưa chứng quả vô lậu, nên không chiết phục được chú thuật Sa tỳ ca la, bị nó xoay chuyển phải sa vào nhà dâm nữ. Tất cả chỉ vì không biết chỗ quy hướng chân tâm. Cúi mong đức Thế tôn đại từ thương xót, chỉ dạy cho chúng con pháp tu thiền định (Xa ma tha), cũng khiến cho những người Nhất xiển đềMiệt lệ xa thoát khỏi tà kiến.

Sau khi thưa thỉnh, A Nan gieo năm vóc xuống đất, toàn thể đại chúng kính cẩn trông chờ được nghe lời dạy bảo của Phật.

Đoạn 2: Đức Phật phóng đại hào quang

Lúc bấy giờ, từ giữa chặng mày của đức Thế tôn phóng ra hào quang bảy báu, chói sáng như trăm nghìn mặt trời. Thế giới chư Phật, sáu điệu rung động. Mười phương cõi nước nhiều như vi trần, đồng thời hiện ra rõ ràng. Do oai thần của Phật khiến các thế giới ấy hợp lại thành một cõi. Trong các thế giới ấy, tất cả các vị Bồ tát ở tại quốc độ của mình đều chắp tay lắng nghe lời Phật dạy.

Đoạn 3: Khai thị hai pháp căn bản phân biệt mê ngộ

Phật bảo A Nan: Tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay điên đảo nhiều cách, tự nhiên tạo thành các giống nghiệp nhóm lại như chùm quả ác xoa. Những người tu hành không thành được đạo vô thượng Bồ đề, mà chỉ thành Thanh văn, Duyên giác hoặc thành ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương hay quyến thuộc của Ma, đều do không biết hai pháp căn bản, tu tập sai lầm; cũng như nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp như vi trần, rốt cuộc vẫn không thể được.

Thế nào là hai pháp căn bản? Này A Nan, một là căn bản sinh tử từ vô thỉ, chính là tâm phan duyên mà hiện nay ông và toàn thể chúng sinh nhận làm tự tánh. Hai là bản thể thanh tịnh của Bồ đề Niết bàn từ vô thủy. Đó chính là thức tinh nguyên minh của ông, hiện nay hay sinh khởi các duyên mà lại bị bỏ quên. Do các chúng sinh bỏ quên tánh bản minh này, nên tuy cả ngày sống trong nó mà không tự giác, còn bị cuốn trôi oan uổng vào trong lục đạo.

Đoạn 4: nương việc thấy, gạn hỏi chân tâm

A Nan, nay ông muốn biết đường tu Thiền định (Xa ma tha) để ra khỏi sinh tử. Như lai lại hỏi ông: Ông có thấy không?

A Nan bạch Phật: Thấy.

Phật bảo: Ông thấy cái gì?

A Nan bạch Phật: Con thấy Như lai đưa cánh tay lên, và co năm ngón tay thành nắm tay sáng ngời, chiếu vào tâm và mắt của con.

Phật bảo: Ông lấy cái gì để thấy?

A Nan bạch Phật: Cả đại chúng và con đều thấy bằng mắt.

Phật bảo A Nan: Như ông vừa trả lời rằng, Như lai co năm ngón tay lại thành nắm tay sáng ngời chiếu vào tâm và mắt của ông. Mắt ông có thể thấy được, nhưng ông lấy cái gì làm tâm để cho nắm tay sáng chói chiếu vào?

A Nan bạch Phật: Như lai gạn hỏi tâm ở chỗ nào, nay con dùng tâm cùng tột để tìm kiếm. Con cho rằng chính cái biết suy nghĩ tìm kiếm ấy là tâm con.

Đoạn 5: Chỉ ra cái biết suy xét vẫn có thể tánh

Phật bảo: Sai rồi, A Nan, cái ấy không phải là tâm của ông.

Tôn giả A Nan giật mình, rời chỗ ngồi, đứng dậy chắp tay bạch Phật: Cái ấy không phải là tâm con thì gọi là cái gì?

Phật bảo A Nan: Đó là sự tưởng tượng những tướng giả dối của tiền trần, nó làm mê mờ chân tánh của ông. Do từ vô thủy đến nay, ông nhận tên giặc ấy làm con, bỏ mất tánh bản lai thường trụ nên phải chịu luân hồi.

A Nan bạch Phật: Bạch đức Thế tôn, con là em của Phật, vì tâm kính yêu Phật nên con xuất gia. Tâm con chẳng những cúng dường Như lai, mà còn trải qua nhiều quốc độ như cát sông Hằng, thừa sự chư Phật và các vị thiện tri thức, phát tâm đại dũng mãnh, làm tất cả những pháp sự khó làm, là đều dùng tâm ấy. Dầu cho con hủy báng Phật pháp, rời bỏ thiện căn, cũng do tâm này. Nay đức Phật chỉ rõ cái ấy không phải là tâm, thì con thành ra không có tâm, như gỗ như đá; vì ngoài cái hay biết ấy ra, con chẳng còn gì nữa. Sao Như lai lại bảo cái ấy không phải là tâm? Con thật kinh sợ và cả trong đại chúng ai cũng nghi hoặc, cúi xin đức Phậtlòng từ bi, chỉ dạy cho những người chưa giác ngộ.

Lúc bấy giờ, đức Thế tôn chỉ dạy cho A Nan và cả đại chúng, khiến cho tâm được vô sinh pháp nhẫn. Từ nơi tòa sư tử, đức Phật xoa đầu A Nan và bảo rằng: Như lai thường nói các pháp phát sinh đều do từ tâm biến hiện. Tất cả nhân quảthế giới nhiều như vi trần, đều nhân nơi tâm mà có thể tánh hiện hữu. Này A Nan, như tất cả sự vật hiện hữu trong thế giới, từ ngọn cỏ, lá cây, sợi dây, nút thắt,… khi gạn xét cội gốc của nó, mỗi thứ đều có thể tánh. Cho đến như hư không cũng có tên gọi và dáng mạo, huống chi bản tâm sáng suốt thanh tịnh nhiệm mầu là bản chất của tất cả mọi tâm niệm mà tự nó lại không có thể tánh hay sao?

Nếu ông chấp tánh hay biết phân biệt, cho đó là tâm của ông, thì tâm này khi rời tất cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, nó phải riêng có toàn tánh. Hiện nay ông nghe pháp âm của Như lai, đó chỉ là nhân âm thanh mà có phân biệt. Dầu cho diệt hết tất cả sự thấy nghe hay biết, bên trong nắm giữ sự thanh thản không biết không nghĩ, thì đó cũng chỉ là sự phân biệt bóng dáng pháp trần mà thôi.

Chẳng phải Như lai bảo ông chấp cái ấy không phải là tâm, nhưng ông phải suy xét chín chắn nơi tâm mình, nếu rời tiền trần mà có tánh phân biệt, thì đó mới thật là tâm của ông. Nếu tánh phân biệt này khi rời tiền trần mà không còn tự thể thì nó chỉ là sự phân biệt bóng dáng tiền trần. Tiền trần không phải thường trụ, khi nó biến diệt thì cái tâm nương vào tiền trần ấy cũng đồng như lông rùa sừng thỏpháp thân của ông cũng thành như đoạn diệt, còn gì để tu chứng vô sinh pháp nhẫn.

Lúc ấy A Nan và cả đại chúng lặng im ngơ ngác.

Đoạn 6: Chỉ rõ tánh thấy không phải là con mắt

Phật bảo A Nan: Tất cả những người tu học trong thế gian, tuy đã tu đến cửu thứ đệ định, nhưng không diệt hết được mê lầm để thành A la hán, đều do chấp vào vọng tưởng sinh diệt, lầm cho đó là tánh chân thật. Thế nên, nay ông tuy được học rộng nghe nhiều mà chưa thành thánh quả.

A Nan nghe rồi, đau xót khóc lóc, gieo năm vóc xuống đất, quỳ dài chấp taybạch Phật rằng: Từ khi con phát tâm xuất gia theo Phật, chỉ biết ỷ lại vào oai thần của Phật. Con thường nghĩ rằng, không cần phải nhọc công tu hành làm gì, chỉ hy vọng Như lai sẽ ban cho phép Tam muội, không biết thân tâm của Phật và con vốn không thay thế nhau được. Vậy nên con tự bỏ mất bản tâm, tuy thân xuất gia nhưng tâm không đi vào chánh đạo. Cũng như người Cùng tử, bỏ cha trốn đi. Ngày nay mới biết, tuy được nghe nhiều Phật pháp, nếu không tu hành thì chẳng khác gì như người chưa nghe. Ví như người ta chỉ nói thức ăn mà tự mình không ăn, rốt cuộc chẳng thể no được.

Bạch đức Thế tôn, chúng con hiện nay còn bị hai chướng ràng buộc, do vì không biết tâm tánh vốn thường hằng vắng lặng. Cúi xin Như lai thương xót kẻ nghèo khó rách rưới, làm phát khởi tâm nhiệm mầu sáng suốt, mở đạo nhãn cho chúng con.

Lúc ấy từ chữ Vạn trước ngực đức Như lai, phóng ra hào quang báu, hào quang ấy có trăm nghìn màu sắc rực rỡ, đồng thời chiếu sáng khắp tất cả thế giới mười phương chư Phật nhiều như số vi trần. Hào quang soi khắp trên đỉnh các đức Như lai ở các cõi Phật trong khắp mười phương, rồi xoay về soi đến tôn giả A Nan và cả đại chúng.

Rồi Phật bảo A Nan rằng: Nay Như lai vì ông dựng lập pháp tràng lớn, đồng thời khiến cho tất cả chúng sinh mười phương được tâm tính trong sạch, sâu kín nhiệm mầu, sáng suốtđạo nhãn thanh tịnh.

Này A Nan, trước đây ông trả lời rằng thấy nắm tay sáng chói, vậy nắm tay sáng chói ấy do đâu mà có, làm sao nắm tay trở nên chói sáng, ông lấy cái gì để thấy?

Tôn giả A Nan bạch rằng: Toàn thân đức Phật màu như vàng cõi Diêm phù đàn, sáng ngời như núi báu, do đức tính thanh tịnh sinh ra nên có hào quang sáng chói. Thật con đã dùng mắt, xem thấy năm ngón tay Phật co nắm lại, đưa lên cho mọi người xem, nên có tướng nắm tay.

Phật bảo A Nan: Hôm nay Như lai xác thật với ông, những người có trí nhờ ví dụ mà được khai ngộ. Này A Nan, ví như nắm tay của Như lai, nếu không có bàn tay thì không thành nắm tay, lại nếu không có mắt, thì ông không thể thấy. Lấy cái thấy của ông mà so sánh với nắm tay của Như lai, ý nghĩa có giống nhau không?

A Nan bạch Phật: Đúng vậy, bạch đức Thế tôn, đã không có mắt thì không thành cái thấy, nếu đem cái thấy của con so với nắm tay Như lai, nghĩa ấy giống nhau không khác.

Phật bảo A Nan: Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng. Vì sao? Nếu một người không có bàn tay thì tuyệt nhiên không có nắm tay, chứ người không có mắt, không phải hoàn toàn không thấy. Bởi vì sao? Ông thử ra đường hỏi những người mù mắt, ông thấy cái gì? Thì những người mù kia chắc sẽ trả lời, hiện nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen, không thấy gì khác. Theo nghĩa ấy mà xét thì người mù thấy màu đen phía trước, chứ cái thấy nào có thiếu mất.

A Nan bạch Phật: Những người mù, trước mắt chỉ thấy tối đen, sao có thể gọi là thấy được.

Phật bảo A Nan: Những người mù chỉ thấy tối đen, so với người mắt sáng mà ở trong nhà tối, thì hai cái thấy tối đen ấy khác nhau hay không khác nhau?

Bạch đức Thế tôn, đúng vậy, so sánh hai cái tối đen của người ở trong nhà tối với những người mù kia, không có gì khác nhau.

Này A Nan, nếu người không có mắt, chỉ thấy phía trước màu tối đen, bỗng nhiên khi được mắt sáng trở lại, thấy các thứ sắc tướng nơi tiền trần mà ông gọi là do mắt thấy, thì người ở trong nhà tối kia, chỉ thấy phía trước hoàn toàn tối đen, bỗng nhiên được cái đèn sáng nên thấy mọi vật, lẽ ra phải gọi là cái đèn thấy. Nếu như cái đèn thấy thì đèn đã thấy được cái thấy, nên không thể gọi là đèn, và nếu là cái đèn thấy thì liên quan gì đến ông. Vậy nên biết rằng đèn làm hiển lộ các vật thể, còn cái thấy là do ở mắt chứ không phải đèn. Khi mắt nhận rõ các vật thể, thì tánh thấy lưu xuất từ tâm, chẳng phải từ mắt.

Mặc dù A Nanđại chúng được Phật dạy như vậy, nhưng tâm chưa khai ngộ nên im lặng, mong đức Như lai từ tâm chỉ bày thêm, nên chấp tay lắng lòng, đợi Phật dạy bảo.

Đoạn 7: Gạn hỏi hai chữ “khách trần” để khai thị cái thấy là chủ, là không

Khi ấy, đức Thế tôn duỗi cánh tay Đâu la miên sáng ngời, xòe năm ngón tay, bảo tôn giả A Nanđại chúng: Lúc mới thành đạo, Như lai đến vườn Lộc Uyển, có dạy cho 5 vị tỳ kheo A Nhã Kiều Trần Nhưtứ chúng rằng: tất cả chúng sinh không thành đạo Bồ đềA la hán là do phiền não khách trần mê hoặc. Thuở đó, các ông do đâu mà được khai ngộ, thành được thánh quả?

Khi ấy A Nhã Kiều Trần Như đứng dậy bạch Phật: Con nay già cả, ở trong đại chúng, riêng con được giả danh là “Giải”, vì con ngộ được hai chữ “khách trần” mà thành chánh quả. Bạch đức Thế tôn, ví như người khách đi đường, vào quán trọ ngủ qua đêm hoặc chỉ để ăn một bữa. Khi việc lưu trú, ăn uống đã xong, họ liền chuẩn bị hành lý lên đường, không ở lại nữa. Nếu họ thật là người chủ thì không phải đi đâu cả. Qua đó, con suy xét như vầy: người chẳng dừng nghỉ lâu được gọi là khách, còn người trụ lâu được gọi là chủ. Khách có nghĩa là người không dừng trụ lâu.

Lại như khi mưa vừa mới tạnh, mặt trời lấp lánh trên cao, tia sáng chiếu vào nhà thông qua khe cửa, làm hiện rõ các hạt bụi trong hư không. Bụi trần lay động, hư không tĩnh lặng. Thế nên con suy nghĩ: Yên lặng gọi là hư không, lay động gọi là khách trần. Do lay động nên có tên gọi là trần.

Phật dạy: Đúng thế!

Khi ấy, trong đại chúng, Như lai co năm ngón tay lại, co rồi mở, mở rồi co, và hỏi tôn giả A Nan rằng: Nay ông thấy gì?

A Nan bạch Phật: Con thấy bàn tay bách bảo luân của Như lai, xòe ra nắm lại giữa hội chúng.

Phật bảo A Nan: Ông thấy tay Như Lai xòe ra nắm lại giữa hội chúng. Đó là tay Như lai xòe ra nắm lại hay cái thấy của ông có xòe ra nắm lại?

A Nan bạch Phật: Bàn tay báu của Thế tôn có xòe nắm trong hội chúng. Con thấy bàn tay của Như lai có xòe ra nắm lại, chứ chẳng phải tánh thấy của con có xòe nắm.

Đức Phật hỏi: Cái nào động, cái nào tĩnh?

A Nan bạch Phật: Bàn tay của đức Phật không dừng nghỉ, còn tánh thấy của con vượt trên cả ý niệm về sự tĩnh lặng thì làm gì còn có động nữa.

Phật dạy: Đúng thế!

Lúc ấy từ trong bàn tay, đức Như lai phóng ra một đạo hào quang báu chiếu đến bên phải A Nan. Tôn giả A Nan liền quay đầu qua bên phải để nhìn. Đức Phật lại phóng một đạo hào quang qua bên trái A Nan. Tôn giả A Nan lại quay đầu qua bên trái để nhìn. Đức Phật bảo A Nan: Hôm nay đầu ông vì sao lại lay động?

A Nan bạch Phật: Con thấy đức Như lai phóng một đạo hào quang báu chiếu vào vai bên trái và bên phải của con, con nhìn qua bên trái bên phải nên đầu con tự lay động.

Này A Nan, khi nhìn hào quang của Phật rồi đầu ông xoay qua hai bên vai, thì đầu ông động hay cái thấy của ông động?

-Bạch Thế Tôn! Chính đầu con động, bởi tánh thấy của con đã vượt hẳn ý niệm về sự yên tĩnh thì làm sao còn có động.

Phật dạy: Đúng thế!

Lúc bấy giờ đức Như lai bảo đại chúng: Giả sử có người khác gọi cái động là trần, cái không dừng trụ là khách thì các ông hãy xem chính đầu A Nan lay động, chứ cái thấy không lay động. Các ông cũng lưu ý rằng, tay Như lai có co mở, chứ cái thấy không co mở. Vậy tại sao các ông vẫn còn nhận cái động làm thân, lấy cảnh làm hiện thể, nên từ đầu đến cuối, sống trong niệm niệm sinh diệt, bỏ mất chân tánh, làm việc điên đảo. Đã đánh mất tâm tánh chân thật lại còn nhận vật làm thân nên xoay vần trong ấy, tự mình bị trôi lăn mãi trong lục đạo.

HẾT QUYỂN 1

 
Tạo bài viết
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thường và công bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cách ly an toàn với coronanvirus tại tư thất của ông ấy ở vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn, nhưng nhờ công nghệ thông tin đã giúp ông ấy kết nối với mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi đã nói chuyện với ông qua ứng dụng truyền thông liên kết video về lòng từ bi, sự phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và về Tổng thống Trump, trong số các vấn đề khác.