Quyển 5

13/05/20203:22 CH(Xem: 287)
Quyển 5
Viện Phật Học Bồ Đề Phật Quốc
KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Thích Huyền Châu biên dịch

QUYỂN 5
 

CHƯƠNG I: MỞ SÁU GÚT

A Nan bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn, Như Lai tuy đã thuyết về hai nghĩa quyết định, nhưng nay con xem trong thế gian những người muốn mở gút, nếu không biết đầu mối ở đâu thì tin chắc những người ấy không thể mở được.

Bạch đức Thế tôn, con và hàng Thanh văn hữu học trong hội chúng này cũng như vậy. Từ vô thủy đến nay, chúng con cùng sanh cùng diệt với các thứ vô minh, nên tuy được căn lành nghe nhiều Phật pháp và được gọi là hàng xuất gia nhưng giống như người bị bịnh sốt rét cách nhật. Nguyện xin đức đại từ thương xót kẻ chìm đắm. Ngày nay ở nơi thân tâm, xin chỉ cho chúng con thế nào gọi là gút buộc, từ đâu gọi là mở ra và cũng khiến cho chúng sinh khổ não trong đời vị lai được thoát luân hồi, không còn lạc vào ba cõi. Nói lời ấy rồi, A Nanđại chúng gieo năm vóc xuống đất, khóc lóc thành khẩn, cầu mong nghe lời khai thị vô thượng của Như lai.

Lúc bấy giờ đức Thế tôn thương xót A Nan và hàng hữu học trong chúng hội, và cũng vì tất cả chúng sinh đời vị lai mà gieo nhân xuất thế làm đạo nhãn cho đời sau.

Đức Phật dùng tay sáng ngời như vàng cõi Diêm Phù Đàn xoa đảnh đầu A Nan. Tức thời các cõi Phật trong mười phương thế giới đều chấn động sáu cách.

Các đức Như Lai nhiều như số vi trần trong các thế giới đều có hào quang báu từ đảnh đầu phóng ra. Hào quang từ các thế giới ấy đồng thời phóng đến rừng Kỳ-đà, chiếu xuống đảnh đầu đức Như Lai. Tất cả đại chúng bấy giờ được điều chưa từng có.

Bấy giờ A Nan cùng đại chúng đều nghe các Đức Như Lai trong mười phương nhiều như vi trần đồng thanh bảo A Nan rằng:

Lành thay A Nan! Ông muốn biết đầu mối sinh ra căn bản vô minh khiến ông luân chuyển sinh tử thì đó là sáu căn chứ không phải cái gì khác. Ông cũng muốn biết Vô thượng bồ đề khiến ông được nhanh giải thoát, đạt đến an lạc tịch tĩnh diệu thường thì cũng chính là sáu căn của ông chứ chẳng phải cái gì khác.

Tôn giả A Nan tuy nghe được pháp âm như vậy nhưng tâm chưa rõ nên cúi đầu bạch Phật: Tại sao chính sáu căn khiến con phải chịu luân hồi sinh tử và cũng chính sáu căn khiến con được an lạc diệu thường chứ không phải là cái gì khác?

Phật bảo A Nan! Căn và trần đồng một gốc, trói và mở chẳng phải là hai. Bản tánh của thức là hư vọng như hoa đốm giữa hư không. A Nan, nhân nơi trần mà phát ra hiểu biết, nhân nơi căn mà có hình tướng. Tướng và kiến đều không có tự tánh, như bó lau tựa vào nhau. Do đó, nay ông chính nơi tri kiến lập nên tướng tri kiến, đó tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến không có tướng tri kiến thì đó là vô lậu chân tịnh niết bàn. Làm sao trong ấy còn chứa vật gì khác?

Bây giờ đức Thế tôn muốn tuyên lại nghĩa trên nên nói kệ rằng:

Chơn tánh, có là không

Duyên sanh nên như huyễn

Vô vi, không sinh diệt

Không thật, như không hoa.

Nói vọng để hiển chơn

Vọng chơn đều là vọng

Do chẳng phải chơn phi chơn

Sao lại gọi kiến sở kiến.

Khoảng giữa (căn và trần) không thật tánh

Như bó lau tựa nhau

Buộc mở cùng sở nhân

Thánh phàm không hai đường.

Ông xem trong tánh giao

Có không đều chẳng phải

Mê ấy tức vô minh

Biết rõ là giải thoát.

Mở gút phải thứ lớp

Sáu mở thì một tiêu

Hãy chọn căn viên thông

Vào dòng thành chánh giác.

Thức Đà Na vi tế

Tập khí chảy thành dòng

Sợ lầm chân phi chân

Ta thường không khai diễn.

Tự tâm chấp tự tâm

Chẳng huyễn thành pháp huyễn

Chẳng chấp vô phi huyễn

Phi huyễn chẳng còn sanh.

Pháp huyễn làm sao lập?

Đó gọi là diệu liên hoa

Kim cang vương bảo giác.

Như huyễn Tam Ma Đề

Khoảnh khắc vượt vô học.

A Tỳ Đạt Ma này

Mười phương chư Thế Tôn

Một đường đến Niết bàn.

Lúc ấy A Nanđại chúng nghe lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai qua bài kệ tụng tinh tuý, thông suốt rõ ràng diệu lý nên tâm được khai ngộ, đồng tán thán là việc chưa từng có.

SÁU GÚT

Bấy giờ A Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật rằng: Nay con nghe lời dạy về pháp chân thật thanh tịnh diệu thường, xuất phát từ tâm đại bi bình đẳng của đức Thế Tôn, nhưng tâm con vẫn chưa rõ thế nào là “khi sáu gút đã mở, cái một cũng không còn”, thế nào là “mở gút theo thứ lớp”, cúi xin đức Thế tôn rủ lòng đại bi thương xót hội chúng nầy và những chúng sinh trong đời sau mà ban bố cho pháp âm để rửa sạch những cấu nhiễm sâu dày của chúng con.

Liền khi ấy từ toà sư tử, Như Lai chỉnh y niết bàn tăng, vén y tăng già lê, nhìn vào bàn thất bảo và tay cầm lên chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng. Ở trước đại chúng, cột khăn thành một gút, đưa cho A Nan xem và hỏi rằng: Đây là cái gì? A Nanđại chúng đồng bạch Phật rằng: Đó gọi là gút thắt.

Ngay đó, Như Lai cột khăn hoa thêm một gút nữa và lại hỏi A Nan: Đây là cái gì?  A Nanđại chúng lại đồng bạch Phật rằng: Đó gọi là gút thắt.

Đức Phật tuần tự cột từng gút như vậy trên chiếc khăn hoa, tổng cộng thành sáu gút. Mỗi khi cột xong một gút đều đưa lên hỏi A Nan rằng: Đây là cái gì? A Nanđại chúng cũng tuần tự đồng bạch Phật rằng: Đó gọi là gút thắt.

Phật bảo A Nan: Khi Như Lai mới cột khăn lại thì ông gọi là gút. Cái khăn hoa này trước đây chỉ một gút, tại sao lần thứ hai thứ ba ông vẫn gọi là gút.

A Nan bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn, chiếc khăn hoa thêu quý báu này vốn chỉ một thể, song theo ý con, khi Như Lai cột một lần thì gọi là một gút, nếu cột một trăm lần thì thành một trăm gút. Huống chi khăn nầy chỉ có sáu gút, không đến bảy, cũng không dừng ở năm, sao Như Lai  chỉ gọi cái đầu tiên là gút mà cái thứ hai thứ ba thì không gọi là gút?

Đức Phật bảo A Nan: Khăn hoa báu này ông biết nó vốn chỉ là một, khi Như Lai thắt sáu lần thì ông gọi là sáu gút. Ông quán sát kỹ, thấy thể của khăn này là đồng, do vì các gút mà thành ra khác.

Ý ông nghĩ sao? Khi mới cột gút lần đầu thì gọi là gút thứ nhất, như thế cho đến gút thứ sáu. Nay Như Lai muốn gọi gút thứ sáu là gút thứ nhất có được không?

Bạch đức Thế tôn: Không. Nếu còn sáu gút thì cái gọi thứ sáu rốt cuộc chẳng phải là cái thứ nhất. Dù con có biện bạch hết đời, làm sao có thể lộn lạo tên gọi của sáu gút kia được?

Đức Phật dạy: Đúng vậy, sáu gút không đồng nhau, xét về căn gốc, vẫn do một cái khăn mà ra. Nhưng làm cho nó đảo lộn thứ tự thì rốt ráo không thể được. Sáu căn của ông cũng lại như vậy. Trong thể tánh tuyệt đối giống nhau, lại sinh ra cái tuyệt đối khác nhau.

Đức Phật bảo A Nan: Ông chắc không muốn có sáu gút nầy mà chỉ muốn thành một thể, việc ấy phải làm sao?

A Nan thưa rằng: Nếu còn những cái gút đó thì điều thị phi sẽ nổi dậy, sự tranh cãi trong đó sẽ sinh ra, cho rằng gút nầy chẳng phải gút kia, gút kia chẳng phải là gút nầy. Nếu bây giờ Như Lai mở hết các gút ấy ra, khi không còn gút nào nữa thì cũng không có cái này cái kia. Như thế cái gọi là một còn không có huống chi là cái sáu.

Đức Phật bảo: Nghĩa mở được sáu một không còn, cũng giống như vậy. Do từ vô thủy, tâm ông cuồng loạn, tri kiến hư vọng phát ra, phát mãi không dừng làm cho tri kiến phát sinh mệt nhọc. Như khi con mắt mỏi mệt thì nhìn thấy hoa đốm lăng xăng, trong thể tánh sáng suốt rỗng lặng không do đâu mà bỗng dung hỗn loạn khởi lên những tướng thế gian, nào núi sông đất liền, nào sinh tử niết bàn. Tất cả đều là tướng hoa đốm điên đảo do bệnh mê lầm mà phát ra.

A Nan thưa: Bệnh mê lầm nầy cũng giống như các gút thắt, làm sao mà giải trừ?

Đức Phật dùng tay cầm khăn có thắt gút, kéo mối bên trái, hỏi A Nan rằng: Thế này có mở được không? A Nan đáp: Bạch Thế tôn, không được. Đức Phật dùng tay kéo riêng mối bên phải, rồi hỏi A Nan rằng: Thế này có mở được không? A Nan đáp: Bạch Thế tôn, không được.

Đức Phật bảo A Nan, nay Như Lai dùng tay kéo mối bên phải rồi bên trái, rốt cuộc vẫn không mở được. Vậy ông dùng phương tiện nào để mở ra được?

A Nan bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn, phải mở từ chính giữa, các gút sẽ mở ra được.

Đức Phật bảo A Nan: Đúng thế, đúng thế. Nếu muốn mở gút, phải mở từ chính giữa.

A Nan, Như Lai nói Phật pháp do nhân duyên sinh, chẳng phải là căn cứ vào những tướng hòa hiệp thô trọng của thế gian. Như Lai nhận ra các tướng thế gianxuất thế gian, biết rõ bản nhân của chúng theo duyên gì phát sinh ra. Như thế cho đến một giọt mưa ngoài hằng sa thế giới, Như Lai cũng đều biết số mục. Các thứ trước mặt đây như cây tùng thẳng, cây gai cong, chim hộc trắng, chim quạ đen, Như Lai đều biết rõ nguyên do.

Vậy nên A Nan, tùy tâm ông chọn một trong sáu căn, nếu mở được gút thắt trong căn ấy thì trần tướng tự nhiên diệt vong. Các hư vọng đã tiêu vong, đó chẳng phải chân thì là gì?

A Nan, nay Như Lai hỏi ông: Cái khăn hoa nầy hiện có sáu gút, có thể cùng một lúc mở ra để bỏ hết sáu gút được không?

Bạch đức Thế tôn! Không được. Những gút nầy khi cột lại vốn đã theo thứ lớp, thì bây giờ cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu gút tuy đồng một thể nhưng cột lại không cùng lúc, cho nên khi mở gút làm sao cùng một lúc mà mở hết được?

Đức Phật dạy rằng: Việc cởi bỏ các gút nơi sáu căn cũng giống như vậy. Khi các căn bắt đầu giải mở thì trước hết sẽ chứng được nhân không. Khi được tánh không viên mãn sáng suốt thì thành tựu pháp giải thoát. Pháp giải thoát đã thành tựu rồi thì cả nhân khôngpháp không đều chẳng sanh khởi. Đó gọi là Bồ tát từ tam ma địa mà chứng được vô sanh nhẫn.

HAI MƯƠI LĂM PHÁP MÔN VIÊN THÔNG

A Nanđại chúng nhờ Phật khai thị, tuệ giác được viên dung thông suốt, không còn điều gì nghi hoặc. Cùng lúc chắp tay đảnh lễ sát hai chân Phật mà bạch rằng: Ngày nay thân tâm chúng con sáng suốt, vui mừng được điều vô ngại. Chúng con tuy đã lãnh hội diệu nghĩa “sáu mở một không còn” nhưng vẫn chưa rõ căn nào là căn gốc để chứng nhập viên thông.

Bạch đức Thế tôn! Chúng con đã phiêu bạt bơ vơ từ nhiều kiếp, không ngờ ngày nay lại được dự vào dòng giống của Phật, như trẻ thơ khát sữa, bỗng gặp mẹ hiền. Nếu nhân cơ hội này mà thành đạo, được mật ngôn của Phật đồng với bổn ngộ của con thì mới tự rõ: nghe và chưa nghe chẳng có gì sai biệt. Xin đức Phật rủ lòng đại bi ban cho chúng con những pháp bí mật trang nghiêm như là lời khai thị cuối cùng của Như Lai.

Nói lời ấy xong, A Nan gieo năm vóc xuống đất, lui về chỗ ngồi, ẩn tâm nơi cơ cảm sâu nhiệm, thầm lặng cầu khẩn mong Phật tâm truyền.

Bấy giờ Thế tôn bảo chư đại Bồ tát và chư vị A la hán đã sạch các lậu hoặc trong đại chúng rằng: Các ông là hàng Bồ tátA la hán sinh trưởng trong Phật pháp, đã chứng quả vô học, nay Như Lai hỏi các ông: trong lúc mới phát tâm, nơi mười tám giới, ở giới nào ngộ được tính viên, và do phương tiện gì mà được tam muội?

VIÊN THÔNG SÁU TRẦN

Kiều Trần Na: Viên Thông Thanh Trần

Nhóm năm vị tỳ kheo Kiều Trần Na liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi thưa rằng:

Chúng con khi ở Lộc UyểnKê Viên, gặp đức Phật khi mới thành đạo, nhờ nghe pháp âm của Phật mà ngộ lý Tứ đế.

Khi đó Phật hỏi: Các tỳ kheo hiểu không? Con đã bạch trước là “con đã hiểu”, nên Thế tôn liền ấn chứng cho con là A nhã đa. Tính vi diệu của âm thanh vốn nhiệm mầu và viên mãn, con nhờ âm thanh mà chứng được A la hán. Hôm nay đức Phật hỏi về viên thông, theo sở chứng của con thì âm thanh là hơn hết.

Ưu Ba Ni Sa Đà: Viên thông sắc trần

Ưu Ba Ni Sa Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng:

Con cũng được lời dạy của Phật lúc mới thành đạo. Con quán tướng bất tịnh, sanh lòng nhàm chán, ngộ thể tánh của sắc, từ tướng bất tịnh đến tướng xương trắng, tướng vi trần, đều quy về hư không. Thấy sắc và không, cả hai vốn chẳng có nên thành bậc vô học.

Như Lai ấn chứng cho con tên là Ni Sa Đà (tánh không). Sắc của trần cảnh đã tận diệt thì thể của sắc tinh diệu được viên mãn. Con do (quán tưởng) sắc tướngchứng đắc A la hán. Nay đức Phật hỏi về pháp tu viên thông, như sở chứng của con thì sắc trần là hơn hết.

Hương Nghiêm đồng tử: viên thông hương trần

Hương Nghiêm đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát dưới chân Phật rồi bạch rằng:

Con nghe Như Lai dạy quán sát thật kỹ các tướng hữu vi. Khi con từ giã Phật, về ngồi yên tĩnh trong liêu vắng. Thấy các tỳ kheo đốt hương trầm, mùi hương lặng lẽ xông vào mũi con. Con quán sát hương nầy, vốn chẳng phải là cây, chẳng phải là hư không, chẳng phải là khói, chẳng phải là lửa. Cho đến chẳng dính mắc vào đâu, chẳng đi về đâu. Do đó mà mọi ý niệm phân biệt đều bị tiêu sạch, liền đạt được vô lậu.

Như Lai ấn chứng cho con hiệu là Hương Nghiêm. Tướng của hương trần đã diệt thì thể tính của hương là vi mậtviên mãn. Con từ hương nghiêm mà chứng được A la hán, nay Phật hỏi về pháp tu viên thông, như sở chứng của con thì hương trần là hơn hết.

Dược Vương, Dược Thượng Bồ tát: viên thông vị trần

Hai vị Pháp vương tửDược Vương, Dược Thượng cùng với năm trăm vị Phạm thiên trong chúng hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Từ vô thủy kiếp đến nay, chúng con làm lương y trong thế gian, miệng thường nếm các thứ cỏ cây, vàng, đá trong cõi giới Ta Bà này, số mục có đến mười vạn tám ngàn thứ. Chúng con biết hết các vị mặn, đắng, chua, cay, ngọt, nhạt…, cùng sự hòa hợpbiến đổi từ các vị ấy sinh ra. Thứ nào là lạnh, thứ nào tính nóng, thứ nào độc, thứ nào không độc, chúng con đều biết rõ.

Chúng con thừa sự Như Lai, rõ biết bản tính của vị trần vốn chẳng phải là không, chẳng phải là có; không phải chính là thân tâm, chẳng phải tách rời thân tâm. Do phân biệt được bản nhân của vị trần mà được khai ngộ.

Nhờ đó Phật ấn chứng cho anh em chúng con hiệu là Dược Vương, Dược Thượng Bồ tát. Nay trong chúng hội, chúng con là pháp vương tử, nhờ vị trần mà được chứng ngộ, được dự vào hàng Bồ tát. Nay đức Phật hỏi về viên thông, như chỗ chứng ngộ của chúng con thì căn nguyên từ vị trần là hơn cả.

Bạt Đà Bà La: Viên thông xúc trần

Bạt Đà Bà La cùng đồng bạn là mười sáu vị khai sĩ liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch Phật rằng:

Chúng con trước kia nghe pháp từ Đức Phật Oai Âm Vương rồi xuất gia. Đến giờ tắm, chúng con theo thứ tự đi vào phòng tắm, bỗng nhiên ngộ ra bản tính của nước vốn chẳng phải rửa bụi, cũng chẳng rửa thân, khoảng giữa rỗng rang tịch lặng, vốn không sở đắc.

Vì phát minh diệu tính của xúc trần nên thành bậc pháp vương tử. Do đó, đức Phật kia gọi con là Bạt Đà Bà La (Hiền Hộ). Đến nay con vẫn chưa quên sở chứng trong quá khứ nên khi theo Phật xuất gia con liền được quả vô học. Giờ đức Phật hỏi về viên thông, theo sở chứng của con thì xúc trần là hơn cả.

Ma ha Ca Diếp: Viên thông pháp trần

Ma ha Ca Diếptỳ kheo ni Tử Kim Quang, cùng những người khác liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phậtbạch Phật rằng:

Kiếp xưa, trong cõi nầy có Phật ra đời hiệu là Nhật Nguyệt Đăng. Con được thân cận nghe pháp tu học. Sau khi Phật diệt độ, chúng con thắp đèn sáng mãi để cúng dường xá lợi, lại dùng vàng tử kim quang thếp hình tượng Phật. Từ đó đến nay, đời nầy qua đời khác, thân thể chúng con đều viên mãn sáng ngời như vàng tử kim quang. Tỳ kheo ni Tử Kim Quang đây là quyến thuộc khi xưa cùng chúng con đồng thời phát tâm.

Con quán sát thế gian, sáu trần đều biến hoại, chỉ dùng pháp không tịch tu diệt tận định, thì thân tâm mới có thể trải qua trăm ngàn kiếp như búng ngón tay.

Con nhờ pháp quán không nên thành A la hán. Thế Tôn khen con tu hạnh đầu đà bậc nhất. Khi diệu pháp sáng tỏ thì các lậu hoặc bị tiêu diệt. Nay Phật hỏi về viên thông, theo như sở chứng của con thì do pháp trần là hơn hết.

VIÊN THÔNG NĂM CĂN

A Na Luật Đà : Viên thông nhãn căn

A Na Luật Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phật và bạch rằng: Khi mới xuất gia con thường ham ngủ. Như Lai quở trách con là loài súc sinh. Nghe lời Phật quể, con khóc thầm tự trách, suốt bảy ngày đêm không ngủ, nên hư cả hai mắt.

Thế tôn dạy con pháp tu “Lạc kiến chiếu minh kim cang tam muội”. Mắt con tuy mù nhưng thấy mười phương rỗng suốt tinh tường như thấy trái cây trong lòng bàn tay. Như Lai ấn chứng cho con thành quả vị A la hán.

Nay Phật hỏi về viên thông, như chỗ sở chứng của con thì xoay cái thấy trở về căn nguyên, đó là pháp môn hay nhất.

Châu Lợi Bàn Đặc Ca : Viên thông tỷ căn

Châu Lợi Bàn Đặc Ca liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ sát chân Phậtbạch Phật rằng:

Con không có khả năng trì tụng, không có khiếu đa văn. Khi mới được gặp Phật nghe pháp xuất gia, con cố nhớ một câu kệ của Như Lai, nhưng trong 100 ngày nhớ trước quên sau nhớ sau quên trước.

Đức Phật thương con ngu muội, dạy pháp an cư, điều hòa hơi thở ra vào. Con quán sát hơi thở đến chỗ rốt ráo, từng chi tiết của các hạnh sinh, trụ, dị, diệt trong từng sát-na.

Tâm con bỗng nhiên đạt được đại vô ngại, cho đến hết sạch các lậu hoặc, thành A la hán. Trước pháp tòa của Phật, con được ấn chứng là bậc vô học.

Kiều Phạm Bát Đề : Viên thông thiệt căn

Kiều Phạm Bát Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật, rồi bạch rằng: Con bị khẩu nghiệp, khinh chê một vị sa môn trong thời quá khứ nên đời đời mắc bệnh nhai lại như bò.

Như Lai dạy con pháp môn nhất vị thanh tịnh tâm địa. Con đạt được chỗ tận diệt tâm phân biệt, nhập vào tam-ma-đề. Quán sát tính biết của vị, vốn chẳng phải thể, chẳng phải vật. Ngay đó siêu việt các lậu hoặc thế gian.

Bên trong thân tâm giải thoát, bên ngoài rời bỏ thế giới, xa lìa ba cõi như chim sổ lồng. Rời hết cấu nhiễm, tiêu diệt trần tướng nên được pháp nhãn thanh tịnh, thành bậc A la hán. Như Lai ấn chứng cho con đạt đạo vô học.

Nay Phật hỏi về viên thông, như sở chứng của con thì trả tính của vị khỏi sự phân biệt, xoay tánh biết về với tự tánh, đó là điều tốt nhất.

Tất Lăng Già Bà Ta : Viên thông thân căn

Tất Lăng Già Bà Ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Khi con vừa mới phát tâm theo Phật nhập đạo, thường nghe Thế Tôn dạy về những điều trên thế gian không thể đem lại niềm vui. Có lần con đang khất thực trong thành, tâm đang quán chiếu vào pháp môn này, giữa đường bỗng nhiên bị gai độc đâm vào chân nên toàn thân đau nhức. Tâm con biết mình có cái đau ấy, nhưng cũng biết rõ tự tâm vốn thanh tịnh, không có cái đau và cái biết đau.

Con lại suy nghĩ, một thân này lẽ ra phải có hai cái biết? Nhiếp niệm chưa lâu, bỗng nhiên thấy thân tâm rỗng lặng. Qua hai mươi mốt ngày, các lậu hoặc dứt sạch thành bậc A la hán. Được Phật ấn chứng là bậc vô học.

Nay Phật hỏi về viên thông, như sở chứng của con thì thuần tịnh tánh biết, quên bẵng thân thể là điều tốt nhất.

Tu Bồ Đề : Viên thông thân căn

Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Còn từ nhiều kiếp đến nay, tâm được vô ngại, tự nhớ mình đã thọ sanh nhiều đời như số cát sông Hằng. Lúc còn trong thai mẹ, đã biết được tánh không tịch và cũng có thể khiến cho chúng sinh chứng được tánh không,  như thế cho đến mười phương đều thành tánh không.

Nhờ được Như Lai chỉ bày tánh giác vốn rỗng lặng, nên tính không được sáng tỏ. Nhờ đó con chứng quả A la hán, liền thể nhập vào Bảo minh không hải của Như Lai. Tri kiến của con được đồng như Phật, được Phật ấn chứng thành bậc vô học. Trong sự giác ngộ về tánh không, con được viên mãn nhất.

Nay Phật hỏi về viên thông, như sở chứng của con thì các tướng đều nhập vào phi tướng, cả năng phi sở phi đều tận diệt, xoay các pháp về tánh không là hay nhất.

VIÊN THÔNG SÁU THỨC

Xá Lợi Phất : Viên thông nhãn thức

Xá Lợi Phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con từ nhiều kiếp đến nay, thấy tâm thanh tịnh. Như vậy thọ sanh nhiều đời như số cát sông Hằng. Đối với các pháp biến hóa trong thế gianxuất thế gian, hễ con thấy được thì liền thông suốt, được điều không chướng ngại.

Con gặp Ca Diếp Ba ở giữa đường. Anh em họ nói về thuyết nhân duyên, con nghe và ngộ được tâm không bờ mé.

Con theo Phật xuất gia, cái thấy biết của con trở nên sáng suốt viên mãn, được đại vô uý, trở thành bậc A la hán và là một trong những trưởng tử của đức Phật, từ miệng Phật sinh ra, từ pháp Phật hóa sinh.

Nay Phật hỏi về viên thông, như sở chứng của con thì tánh thấy của tâm thể phát ra sáng suốt, cùng tột các tri kiến, đó là bậc nhất.

Bồ tát Phổ Hiền : Viên thông nhĩ thức

Bồ tát Phổ Hiền liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con đã từng làm Pháp vương tử cho chư Phật nhiều như số cát sông Hằng. Mười phương Như Lai dạy các đệ tửcăn cơ Bồ tát tu hạnh Phổ Hiền là theo hạnh của con mà đặt tên.

Bạch đức Thế tôn, con dùng tâm để nghe và phân biệt mọi tri kiến của chúng sinh. Nếu ở phương khác, ngoài hằng sa thế giới, có một chúng sinh phát tâm tu tập hạnh Phổ Hiền, thì liền trong lúc ấy con sẽ phân thân thành trăm ngàn, cỡi voi sáu ngà đến chỗ người ấy. Dù người ấy nghiệp chướng sâu nặng, chưa thấy được con, con cũng thầm xoa đầu họ, ủng hộ an ủi, khiến cho họ được thành tựu hạnh nguyện.

Nay Phật hỏi về viên thông, nơi bản nhân của con thì tâm thể phát minh tánh nghe, phân biệt tự tại, đó là đệ nhất.

Tôn Đà La Nan Đà : Viên thông tỷ thức

Tôn Đà La Nan Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Lúc con mới xuất gia theo Phật nhập đạo, tuy giữ đúng giới luật nhưng trong pháp tam ma đề tâm thường tán loạn nên chưa được quả vô lậu. Thế Tôn dạy con cùng với Câu Si La quán tướng chóp mũi trắng.

Lúc con mới bắt đầu tu quán này trải qua hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở ra vào qua mũi như làn khói trắng, bên trong thân tâm sáng suốt viên mãn đồng như thế giới, khắp nơi thanh tịnh như ngọc lưu ly. Tướng khói dần dần tiêu mất, hơi thở hóa thành màu trắng, tâm được khai ngộ, tập khí hết sạch, những hơi thở ra vào hóa thành hào quang chiếu khắp mười phương thế giới. Con chứng quả A la hán. Thế Tôn thọ ký cho con sẽ thành tựu quả vị bồ đề.

Nay Phật hỏi về viên thông, con dùng phép nhiếp niệm vào hơi thở, dừng lặng lâu ngày phát ra sáng tỏ, nên theo con thì sự sáng suốt viên mãn, trừ sạch các lậu hoặc, là pháp tu hay nhất.

Phú Lâu Na Di Đà La Ni Tử  : Viên thông thiệt thức

Phú Lâu Na Di Đà La Ni Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Từ nhiều kiếp đến nay con được biện tài vô ngại, tuyên thuyết các pháp khổ, không, thâm đạt thật tướng. Như thế cho đến các pháp môn bí mật của hằng sa Như Lai, ở trong đó con đều dùng phương tiện vi diệu khai thị cho chúng sanh được sức vô uý.

Thế tôn biết con có tài giảng thuyết nên dạy con dùng âm thanh giúp Phật chuyển pháp luân, tuyên dương chánh pháp. Con nhờ pháp âm như sư tử mà thành A la hán. Thế tôn ấn chứng cho con là thuyết pháp bậc nhất.

Nay Phật hỏi về viên thông, theo con thì dùng pháp âm hàng phục ma oán, diệt sạch các lậu hoặc, đó là phương pháp hay nhất.

Ưu Ba Ly : Viên thông thân thức

Ưu Ba Ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con theo Phật vượt thành xuất gia, thấy Như Lai sáu năm tinh cần khổ hạnh, đích thân thấy Như Lai hàng phục các ma, chế ngự ngoại đạo, và giải thoát mọi tham dục phiền não của thế gian.

Con nương vào giới luật do đức Phật dạy nên ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, cho đến tánh nghiệp, giá nghiệp thảy đều trong sạch, thân tâm tịch diệt đắc quả A la hán.

Con là người làm vị kỷ cương trong chúng hội của Như lai, do chính Như lai ấn chứng con là người giữ giới tu thân, và được đại chúng suy tôn là bậc nhất.

Nay Phật hỏi về viên thông, con do giữ giới nơi thân mà thân được tự tại, thứ lớp giữ giới nơi tâm nên tâm được thông đạt, sau đó thân tâm đều được viên thông lợi lạc thì đó là cách hay nhất.

Đại Mục Kiền Liên : Viên thông ý thức

Đại Mục Kiền Liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Ban đầu con đi khất thực, giữa đường gặp ba anh em Ca Diếp BaƯu Lâu Tần Loa, Già DaNa Đề giảng về nghĩa lý pháp nhân duyên thâm sâu của Như Lai. Con liền phát tâm nên được sự thông đạt lớn lao.

Như Lai ban cho con áo ca sa đắp trên mình, râu tóc tự rụng. Con có thể đi khắp mười phương mà không ngăn ngại. Phát ra thần thông được đại chúng suy tôn là đệ nhất, thành bậc A la hán.

Chẳng những Thế Tôn mà cả mười phương Như Lai đều tán thán năng lực thần thông của con tự tại vô úy, thanh tịnh viên mãn.

Nay đức Phật hỏi về viên thông, con do xoay ý thức lăng xăng trở về tịch lặng nên diệu tâm sáng tỏ như nước đục lắng lâu thành trong sáng đó là hay nhất.

VIÊN THÔNG BẢY ĐẠI

Ô Sô Sắc Ma : Viên thông hỏa đại

Ô Sô Sắc Ma ở trước Phật, chắp hai tay đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con thường nhớ những kiếp xa xưa tánh nhiều tham dục. Có Phật ra đời hiệu là Không Vương nói rằng: người đa dâm như đống lửa dữ, dạy con quán khắp hơi nóng và lạnh trong khắp trăm vóc tứ chi. Được giác tánh sáng suốt ngưng lặng bên trong, tâm đa dâm hóa thành lửa trí huệ. Từ đó, chư Phật đều gọi con là Hỏa Đầu.

Con dùng sức “Hỏa quang tam muội” mà thành A la hán nên trong tâm phát nguyện lớn rằng: khi chư Phật thành đạo, con sẽ làm lực sĩ thân cận chư Phật hàng phục ma oán.

Nay Phật hỏi về viên thông, con do pháp quán hơi ấm nơi thân tâm lưu thông chẳng ngại, đến khi các lậu hoặc tiêu trừ, lửa đại trí huệ quý báu phát ra, liền chứng vô thượng giác, đó là đệ nhất.

Trì Địa Bồ tát : Viên thông địa đại

Trì Địa Bồ tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con nhớ kiếp xưa khi đức Phật Phổ Quang ra đời, con là tỳ kheo thường hay sủa sang những đoạn đường bến nước, nơi gập gềnh lồi lõm không được an toàn; con đều san bằng, hoặc làm cầu, hoặc đắp đất đề phòng sự tổn hại đến ngựa xe.

Trải qua vô số chư Phật ra đời, con đều siêng năng khó nhọc như vậy. Hoặc có chúng sinh ở nơi chợ triền cần người mang đồ, con liền mang giúp đến nơi đến chốn, rồi liền đi ngay mà không nhận tiền.

Khi đức Phật Tỳ Xá Phù ra đời, thế gian phần nhiều đói kém, con cõng giúp người, chẳng kể gần xa chỉ lấy một xu. Hoặc có xe trâu sa xuống bùn lầy, con dùng thân lực đẩy xe lên giúp họ ra khỏi khổ não.

Lúc ấy trong nước có vị quốc vương thiết trai cúng dường đức Phật, con liền sửa đường bằng phẳng đón Phật đi qua. Đức Tỳ Xá Phù Như Lai xoa đầu con và bảo rằng: Nên bình tâm địa thì tất cả địa trên thế giới đều bình. Tâm con liền được khai ngộ, thấy vi trần nơi thân cùng với vi trần tạo nên thế giới vốn chẳng sai biệt. Tự tánh của vi trần không cọ xát nhau, cho đến đao binh cũng không đụng chạm vào được.

Con do nơi pháp tánh mà ngộ vô sanh nhẫn thành bậc A la hán. Nay hướng tâm thể nhập Bồ tát đạo, nghe các đức Như Lai khai diễn diệu pháp liên hoa, nhập tri kiến Phật, con liền được chứng minh là vị thượng thủ.

Đức Phật hỏi về viên thông, con do quán thân thể và thế giới hai thứ vi trần chẳng sai biệt, vốn là tánh Như Lai tạng do hư vọng phát ra trần tướng. Khi trần tướng tiêu sạch thì trí huệ được viên mãn, thành đạo vô thượng, đó là đệ nhất.

Nguyệt Quang đồng tử : Viên thông thủy đại

Nguyệt Quang đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con nhớ hằng hà sa kiếp từ trước, có đức Phật hiệu là Thủy Thiên ra đời, dạy cho hàng Bồ tát tu pháp Thủy Quán để nhập chánh địnhCon quán nước trong thân thấy tánh thủy không xâm đoạt lẫn nhau. Từ nước mũi, nước bọt, cho đến các thứ dịch vị tinh huyết, đại tiện, tiểu tiện, lưu chuyển trong thân đều cùng một thể tánh, nước trong thân cùng nước trong các biển Hương Thủythế giới Phù Tràng Vương đều không sai biệt.

Khi mới thành tựu phép quán nầy con chỉ thấy được nước, nhưng chưa đạt chỗ quên thân. Lúc ấy con là vị tỳ kheo đang tọa thiền trong thất, đệ tử con từ cửa sổ nhìn vào, thấy trong phòng toàn là nước trong chứ không thấy gì khác. Đệ tử nhỏ dại không biết nên lấy miếng ngói ném vào trong nước phát ra tiếng, nhìn quanh thích thú rồi bỏ đi. Sau khi con xuất định, mới thấy đau tim giống như Xá Lợi Phất bị quỷ Vi Hại đánh.

Con tự nghĩ, nay đã thành A la hán, lìa khỏi bệnh duyên đã lâu, tại sao bỗng dưng đau tim? Chẳng lẽ đạo quả đã bị thối thất?

Lúc bấy giờ, chú đệ tử đi đến kể lại những việc như trước. Con bảo chú rằng, về sau khi nào lại thấy nước trong phòng thì hãy mở cửa vào trong nước lấy viên ngói ra. Chú đệ tử vâng lời, khi con nhập định, chú thấy nước với miếng ngói rõ ràng, liền mở của lấy ra. Sau đó con xuất định thấy thân thể bình thường như trước.

Con đã gặp vô lượng chư Phật, cho đến khi gặp đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai, con mới chứng được chỗ quên thân. Từ đó cả thân đều hóa thành nước, cùng với nước của biển Hương Thủy trong mười phương thế giới đồng một tánh chơn không, chẳng hai chẳng khác.

Nay ở trong pháp hội của Như Lai, con được danh hiệuĐồng Chân, được dự vào chúng hội Bồ tát.

Đức Phật hỏi về viên thông, con do quán tánh nước lưu thông thuần một vị, nên chứng được vô sinh nhẫn, viên mãn đạo bồ đề, đây là đệ nhất.

Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử : Viên thông phong đại

Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Phật hiệuVô Lượng Thanh ra đời, khai thị tánh bản giác diệu minh cho hàng Bồ tát. Ngài dạy quán sát thế giới và thân chúng sinh đều là do sức lay động của nhân duyên hư vọng mà ra.

Lúc ấy, con quán sự an lập của thế giới, quán sự thiên lưu của thời gian, quán thân khi động khi tĩnh, quán tâm khi khởi khi diệt. Thấy các tánh động ấy đều bình đẳng như nhau, vốn không sai biệt.

Bấy giờ con nhận ra các tánh lay động ấy, đến không do đâu, đi chẳng về đâu. Mười phương chúng sinh điên đảo nhiều như số vi trần đều đồng một tánh hư vọng. Như thế cho đến hết thảy chúng sinh trong một tam thiên đại thiên đại thiên thế giới giống như hàng trăm con muỗi đựng trong bình, kêu vo ve ẫm ĩ, ở trong gang tấc, ồn ào rối rít.

Con gặp Phật chưa bao lâu liền được vô sinh pháp nhẫn. Lúc bấy giờ tâm con khai ngộ thấy cõi Phật Bất Động ở phương Đông; con thành vị Pháp vương tử, thừa sự mười phương Phật, thân tâm phát ra ánh sáng rỗng suốt không ngăn ngại.

Nay Phật hỏi về viên thông, con do quán sức lay động của gió vốn không nơi nương tựa, nên ngộ tâm bồ đề vào chánh định thể nhập khế hợp với diệu tâm của chư Phật trong mười phương đã truyền dạy là đệ nhất.

Hư Không Tạng Bồ tát : Viên thông không đại

Hư Không Tạng Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con cùng Như Lai chứng vô biên thân nơi đức Phật Định Quang. Lúc ấy tay con cầm bốn hạt châu lớn, chiếu sáng khắp mười phương cõi Phật nhiều như vi trần đều hóa thành hư không. Lại trong tự tâm hiện ra kính Đại Viên, trong đó phóng ra mười loại hào quang báu vi diệu soi khắp cùng tận hư không mười phương. Các cõi nước Phù Tràng Vương đều hiện ra trong kính nầy và nhập vào thân con. Bấy giờ thân con đồng như hư không, không phương ngại lẫn nhau. Và thân con lại khéo nhập vào các quốc độ nhiều như vi trần, tùy thuận đại thần lực để làm nhiều Phật sự.

Có được thần lực lớn này là do con quán chiếu thấy tứ đại không nương vào đâu, rõ ràng do vọng tưởng mà có sanh diệt. Cõi hư khôngquốc độ Phật vốn đồng nhau, do thấy thể tánh đồng nhau nên con được vô sinh pháp nhẫn.

Nay Phật hỏi về viên thông, con do quán chiếu hư không vốn không ngằn mé nên được thể nhập vào chánh định, có được diệu lực viên minh là hơn hết.

Di Lặc Bồ tát : Viên thông thức đại

Di Lặc Bồ tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con nhớ vô số kiếp trướcđức Phật ra đời hiệu là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Mặc dù con theo Phật xuất gia nhưng tâm còn xem trọng hư danh thế gian, thích giao du với hàng quyền quý.

Lúc ấy đức Thế tôn dạy con tu tập pháp duy tâm thức định vào tam ma địa. Từ nhiều kiếp đến nay con nhờ tam muội này mà phụng sự chư Phật nhiều như số cát sông hằng. Tâm cầu danh thế gian đã dứt sạch. Đến khi Phật Nhiên Đăng ra đời, con mới được thành tựu Vô thượng diệu viên thức tâm tam muội, ngộ các pháp dơ sạch, có không nơi tất cả cõi Phật đều do tâm thức biến hiện.

Bạch Đức Thế tôn, do con ngộ duy tâm thức như vậy, nên từ tánh thức hiện ra vô lượng Như Lai, nay được Phật thọ ký, kế tiếp sẽ thành Phật ở cõi này.

Đức Phật hỏi về viên thông, con do pháp quán tường tận mười phương đều do thức biến, nên tâm thức sáng tỏ, rời xa các tánh y tha khởi và tánh biến kế sở chấp, thể nhập tánh viên thành thật, đắc vô sanh nhẫn, đó là đệ nhất.

Bồ tát Đại Thế Chí: Viên thông kiến đại

Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ tát đồng tu, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ sát chân Phật rồi bạch rằng:

Con nhớ hằng sa kiếp trước có Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Quang. Thuở ấy có 12 đức Như Lai kế nhau thành Phật trong một kiếp. Đức Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, dạy con pháp niệm Phật tam muội.

Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, hai người ấy dù có đối diện cũng không thể gặp nhau, như vậy dù thấy cũng như không thấy. Nhưng nếu cả hai người đều nhớ nhau, hai bên nhớ nhau thật sâu trong tâm niệm, như thế cho đến đời này sang đời khác như hình với bóng, không bao giờ xa cách nhau.

Cũng vậy, mười phương Như Lai thương nhớ chúng sinh như mẹ thương con, nếu con trốn tránh thì dù nhớ cũng chẳng ích gì. Nhưng nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì mẹ con đời đời chẳng xa cách. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật niệm Phật thì đời này đời sau nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, chẳng nhờ phương tiện, tâm tự khai ngộ. Như người xông hương thì thân có mùi thơm, ấy gọi là hương quang trang nghiêm.

Bản thân con dùng tâm niệm Phật, thể nhập vô sanh nhẫn. Ở trong cõi này con tiếp dẫn những người niệm Phật sanh về cõi Tịnh độ.

Nay Phật hỏi về viên thông, thì theo con thu nhiếp sáu căn, tịnh niệm tương tục mà vào tam ma địa là hay nhất.

(hết quyển 5)

Tạo bài viết
Không còn nghi ngờ gì nữa, khẩu trang đã đóng một vai trò trung tâm trong các chiến lược đối đầu với dịch bệnh COVID-19 của chúng ta. Nó không chỉ giúp ngăn ngừa SARS-CoV-2 mà còn nhiều loại virus và vi khuẩn khác.
Là một Phật tử, tôi nương theo lời dạy của Đức Phật không thù ghét, không kỳ thị bất cứ chủng tộc nào. Tại Hoa Kỳ, người Da Trắng đang là đa số cho nên họ lãnh đạo đất nước là chuyện đương nhiên. Thế nhưng nếu có một ông Da Đen hay Da Màu (như Việt Nam, Đại Hàn, Phi Luật Tân…) nổi bật lên và được bầu vào chức vụ lãnh đạo thì điều đó cũng bình thường và công bằng thôi. Đức Phật dạy rằng muôn loài chúng sinh đều có Phật tánh và đều thành Phật. Giá trị của con người không phải ở màu da, sự thông minh, mà là đạo đức và sự đóng góp của cá nhân ấy cho nhân loại, cho cộng đồng, đất nước.
Đức Đạt Lai Lạt Ma đang cách ly an toàn với coronanvirus tại tư thất của ông ấy ở vùng núi cao Hy Mã Lạp Sơn, nhưng nhờ công nghệ thông tin đã giúp ông ấy kết nối với mọi nơi trên thế giới. Chúng tôi đã nói chuyện với ông qua ứng dụng truyền thông liên kết video về lòng từ bi, sự phân biệt chủng tộc ở Hoa Kỳ và về Tổng thống Trump, trong số các vấn đề khác.