Cốt Lõi Kinh Trung A Hàm - Thích Hạnh Bình (Sách Ebook PDF)

08/12/20225:32 CH(Xem: 1263)
Cốt Lõi Kinh Trung A Hàm - Thích Hạnh Bình (Sách Ebook PDF)
CỐT LÕI KINH TRUNG A HÀM 
THÍCH HẠNH BÌNH
NHÀ XUẤT BẢN PHƯƠNG ĐÔNG

Cốt Lõi Kinh Trung A Hàm - Thích Hanh BinhPDF icon (4)Cốt lõi Kinh Trung A Hàm- Thích Hạnh Bình

LỜI TỰA

Phật giáo Bắc truyền có 4 bộ A-hàm (Āgamma): “Kinh Trường A-hàm” (《長阿含經》), “Kinh Trung A-hàm” (《中阿含經》), “Kinh Tạp A-hàm” (《雜阿含經》), “Kinh Tăng Nhất A-hàm” (《增一阿含經》), tương đương với Kinh điển Nam truyền Pàli là “Kinh Trường Bộ” (Dīgha Nikāya), “Kinh Trung Bộ” (Majjhima Nikāya), “Kinh Tương Ưng Bộ” (Samyutta Nikāya), “Kinh Tăng Chi Bộ” (Anguttara Nikāya). Ngoài ra, Nam truyền còn có một bộ nữa là “Kinh Tiểu Bộ” (Khuddaka Nikāya) tương đương với Hán Tạng “Bổn Sanh” (《本生》) và “Bổn Sự” (《本事》). Thế nhưng Phật giáo Bắc truyền không biên tập hai kinh này vào A-hàm, giống như Nam truyền có tất cả là 5 bộ Nikāya (Pannaca-Nikāya). Phải chăng các nhà biên tập Phật giáo Bắc truyền không chấp nhận nội dung của hai kinh này thuộc vào thời kỳ A-hàm? Đây là điều chúng ta cần phải nghiêm túc nghiên cứu để làm sáng tỏ vấn đề.

Các nhà nghiên cứu cho rằng hai hệ kinh điển này là nguồn tư liệu sớm nhất của Phật giáo, được kết tập dưới triều vua A Dục (Asoka). Theo nguồn tư liệu Bắc truyền (Hán dịch) ghi lại, sự kiện này xảy ra vào khoảng hơn 100 năm sau khi Phật nhập diệt, tức thời vua A Dục. Nhưng nguồn tư liệu Phật giáo Nam truyền lại ghi rằng: sự kiện này xảy ra vào năm 218, sau khi Phật nhập diệt, cũng vào thời vua A Dục. Sự khác nhau ở đây về niên đại, tính từ sau khi Phật nhập diệt, sai biệt gần 100 năm nhưng điểm giống nhau giữa hai nguồn tư liệu này là đều xác định sự kiện kiết tập vào thời vua A Dục. Ở đây, tôi không có ý thảo luận về niên đại đúng sai của hai nguồn tư liệu mà chỉ muốn nhấn mạnh một điều: hai nguồn tư liệu này được biên tập thành chữ viết sớm nhất của Phật giáo.

Năm (5) bộ Nikāya của Phật giáo Nam truyền nguyên là bản gốc viết bằng tiếng Pāli nhưng nguồn tư liệu Phật giáo Bắc truyền, hiện còn 4 bộ A-hàm được biên tập trong “Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh” ở quyển 1 và 2 chỉ là bản dịch, không phải bản gốc. Thế thì ở đây chúng ta đặt ra câu hỏi: Nếu như 4 bộ A-hàm là bản dịch thì bản gốc của nó là gì, bằng tiếng Pāli hay tiếng Phạn và hiện giờ nó ở đâu? Đây là những câu hỏi mà các nhà nghiên cứu thường thắc mắc. Dù gì đi nữa, cả hai nguồn tư liệu này chiếm một vị trí khá quan trọng trong lĩnh vực tìm hiểu Phật giáo Ấn Độ. Nó là hai nguồn tư liệu bổ sung cho nhau để làm cho Phật giáo Ấn Độ càng ngày càng được rõ ràng hơn.

Dẫu rằng: Phật giáo Việt Nam đối với công việc phiên dịch 2 bộ Đại Tạng Kinh Nam truyền và Bắc truyền này sang Việt ngữ vẫn chưa hoàn tất nhưng riêng 5 bộ Nikāya và 4 bộ A-hàm, Phật giáo Việt Nam đã dịch xong. Từ nguồn Kinh tạng bằng Việt ngữ cho thấy trước năm 1975, 4 bộ A-hàm đã được Hòa thượng Thiện Siêu, Thanh Từ và các Tăng sinh của hai viện Hải Đức Nha Trang và Huê Nghiêm Sài Gòn dịch sang Việt ngữ nhưng không biết vì lý do gì những bản kinh này vẫn chưa xuất bản vào thời đó, chỉ lưu truyền với nhau bằng bản quay Roneo. Riêng 5 bộ Nikāya của Phật giáo Nam truyền đã được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ trước năm 1975 và hai bộ đầu cũng đã được Viện Đại học Vạn Hạnh xuất bản, tức “Kinh Trường Bộ” và “Kinh Trung Bộ”, phần còn lại, 3 bộ, phải chờ đến một thời gian sau khá lâu mới được xuất bản. Đến năm 1981, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ra đời, Ban In ấn và phát hành Đại Tạng Kinh Việt Nam cũng được thành lập. Vài năm sau đó, Viện đã tiến hành biên tập “Đại Tạng Kinh Việt Nam”. Qua 35 tập đã được Viện ấn hành chính là 5 bộ Nikāya và 4 bộ A-hàm. Từ khi Viện Nghiên cứu ấn hành các kinh điển này, không ít giới Phật tử cũng như Tăng, Ni người Việt Nam đã chịu ảnh hưởng tư tưởng của hai bộ kinh này. Theo tôi, nó sẽ là cơ sở cho việc nghiên cứu các hệ tư tưởng Phật học khác, ngay cả Phật giáo Đại thừa, không dừng lại ở đó mà nó còn là kiến thức cơ bản cho các Tăng Ni sinh khi đi du học ngành Phật học ở nước ngoài.

Ngoài bản dịch Kinh A-hàm vừa được đề cập, còn có một bản dịch chuẩn xác hơn, đó là bản dịch “Kinh Trường A-hàm”, “Kinh Trung A-hàm” và “Kinh Tăng Nhất A-hàm” của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và bản dịch “Kinh Tạp A-hàm” của Thượng tọa Thích Đức Thắng. Có thể nói, cho đến nay, ở Việt Nam, đây là bản dịch tốt nhất, có giá trị trong lĩnh vực học thuật cao. Điểm nổi bật của công trình dịch thuật này chính là phần chú thích, dịch giả đã bỏ nhiều thời gian so sánh đối chiếu với bản Pāli, trích dẫn và phân tích cho độc giả hiểu được nội dung của kinh và mở rộng tầm hiểu biết của mình với những bản kinh khác. Có thể nói, công trình phiên dịch này không những đóng góp cho Phật giáo Việt Nam một công trình dịch thuật tiêu chuẩn mà còn cống hiến cho nền văn hóa nước nhà ngày càng phong phú. Được biết bản dịch này đã được Hội Phật giáo thế giới Linh Sơn xuất bản nhưng trước mắt, tôi vẫn chưa có bản dịch này, phải sử dụng bản dịch trên websites: www.quangduc.com. Dẫu rằng: trên websites rất tiện lợi cho việc tìm tài liệu nhưng rất khó khăn cho người nghiên cứu khi trích dẫn. Đó là lý do tại sao trong tác phẩm này, khi trích dẫn, tôi không ghi rõ nhà xuất bản, năm xuất bản cũng như số trang cụ thể.

Như chúng ta được biết, “Kinh Trung A-hàm” là một trong 4 bộ kinh thuộc hệ A-hàm của Phật giáo Bắc truyền. Bản kinh này được ngài Phật Đà Da Xá (Buddhayasas) và Trúc Phật Niệm dịch sang Hán văn, Thích Tuệ Sỹ dịch sang Việt văn, được phân thành 18 phẩm, tổng cộng có 222 kinh. Một số học giả cho rằng, bản “Trung A-hàm” và “Kinh Tạp A-hàm” là bản kinh của phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstvādin). Theo tôi, trong 4 bộ A-hàm, “Kinh Trung A-hàm” là bộ kinh quan trọng nhất vì nội dung của từng bài kinh trong Trung A-hàm không quá giản lược như các bài kinh trong “Tạp A-hàm”, cũng không quá dài như kinh “Trường A-hàm” và cũng là bản kinh thể hiện quan điểm khá rõ ràng của đức Phật và là bản kinh ghi lại toàn bộ những quan điểm tư tưởng đã được đức Phật (và) cùng các đại đệ tử của Ngài thuyết giảng cho mọi thành phần trong xã hội, chủ yếu là người xuất gia, với những bài pháp có nội dung thật sâu sắc, mang tính thực tiễn và khoa học, ngược lại những quan điểm truyền thống và phi truyền thốngẤn Độ lúc bấy giờ, Ngài không đồng tình với lối tu khổ hạnh truyền thống hay tế tự vô ích, cũng không chấp nhận cuộc sống trụy lạc, đề cao sự hưởng thụ dục vọng. Với chủ trương muốn thành đạt mục đích giác ngộ giải thoát, hành giả cần phải có một thân thể khỏe mạnh và một tinh thần thật sáng suốt mới có thể thực hành giáo lý của Ngài, tránh xa những cạm bẫy của thế gian. Những lời dạy đó, bất cứ ai trong chúng ta cũng đều có thể thực hành được và ai thực hành đúng như lời Ngài đã dạy thì người ấy chắc chắn sẽ đạt đến mục đích an lạc. Ngoài ra, còn có những bài pháp dành cho giới tại gia cư sĩ, từ giai cấp vua chúa quan lại cho đến người dân bình thường, cả những giới triết học và các tôn giáo tín ngưỡng. Tùy theo sự tiếp thu của từng đối tượng, đức Phật có những lời khuyên, lời giảng dạy khác nhau với mục đích làm cho người nghe được giác ngộ giải thoát. Đây là toàn bộ nội dung ý nghĩa chính trong kinh này.

Tuy nhiên, “Kinh Trung A-hàm” là một bộ kinh khá dày, gồm 4 tập, mỗi tập trên 700 trang, với văn phong cổ xưa, khúc chiết, đặc biệt mang nặng tính logic, lại trùng lặp quá nhiều trong một bài kinh, dễ tạo cảm giác buồn chán cho người đọc. Hơn nữa, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc, thích lối lý luận của Phật giáo Đại thừa. Do vậy, Kinh điển của Thượng Tọa Bộ lại càng ít được nghiên cứu trì tụng hơn, sự hiểu biết cũng vì thế mà bị hạn chế. Tôi nghĩ mang một trạng thái tâm lý như vậy, nó là bức tường ngăn cản sự hiểu biết, không bổ ích cho việc tu, việc học của chúng ta.

Rất may, những năm học đại học ở Học viện Phật giáo Việt Nam, tôi đã được học qua hệ kinh điển này từ Hòa thượng Minh Châu, Thượng tọa Thiện Nhơn, đến khi đi du học ở Đài Loan, được học với những giáo sư chuyên về Phật học, tôi lại được tiếp cận với những tác phẩm nổi tiếng nên tất cả những công trình nghiên cứu này đều rất chú trọng đến những bộ Kinh A-hàm hay Nikāya. Chính vì thế, trong thời gian học tập nghiên cứu ở đây, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu những bộ kinh này. Qua đó, nó giúp cho tôi hiểu về Phật học tương đối rõ ràngtrật tự hơn. Một kinh nghiệm nhỏ mà tôi muốn giới thiệu cùng những người muốn tìm hiểu Phật họcchúng ta cần phảiphương pháp nghiên cứu hữu hiệu, nó mới giúp ta rút ngắn thời gian cho việc nghiên cứu, học tập. Phương pháp của tôi rất đơn giản là khi tôi đọc một quyển kinh, một quyển sách, ở trong đó có điểm nào cần lưu ý, có thể đó là ý kiến hay, thậm chí là quan điểm có thể tranh luận, tôi đều ghi chép vào sổ tay riêng của mình. Nhờ vậy, khi tôi viết một bài nghiên cứu không mấy (vất vả) khó khăn vì những gì mà tôi muốn thảo luận, nó đã nằm sẵn trong sổ tay của tôi rồi, không cần phải vất vả tìm tòi tài liệu, quyển sổ tay đã giúp tôi nhớ mọi điều.

Tác phẩmđộc giả đang cầm trên tay chính là một phần quyển sổ tay của tôi, chuyên tra cứu những vấn đề trong “Kinh Trung A-hàm”. Có thể nói, đây là bản tóm tắt, đã lược bỏ những đoạn trùng lặp, phần còn lại là những vấn đề cốt yếu trong kinh này. Ở đây, điều mà chúng ta cần chú ý về những tiêu đề trong tác phẩm này, đó là ý kiến riêng của người biên soạn, nhưng nội dung của nó được sao chép lại từ bản dịch của Thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, trên websites: www.quangduc.com, tức là nguyên văn của kinh điển.

Tác phẩm này được ra đời vì nhu cầu một số Tăng, Ni sinh đang theo học Phật học, cũng như một số Phật tử muốn tìm hiểu về Kinh tạng Phật giáo Thượng Tọa Bộ. Tôi mong rằng: Kinh nghiệm nhỏ này sẽ giúp cho Tăng, Ni sinh, những người nghiên cứuPhật tử không phải mất nhiều thì giờ tìm kiếm nhưng nếu như đọc giả cảm thấy hứng thú, muốn tìm hiểu trọn ý nghĩa vẹn của những đoạn trích dẫn này, tốt nhất nên đọc trọn bài kinhý nghĩa của một đoạn kinh có thể liên quan đến những ý nghĩa khác.

Cách tra cứubiên soạn của tác phẩm này không phải là cách hay nhất, chỉ là cách làm việc mang tính cá nhân. Do vậy, nơi đây, tôi rất mong nhận sự góp ý của các bậc thiện tri thức để làm nền tảng cho các tác phẩm xuất bản sau này. Mọi sự góp ý xin gởi về địa chỉ hanhbinhvn@yahoo.com.

Kính bút

Thích Hạnh Bình



Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
Nhân dịp Tết cổ truyền dân tộc - Xuân Quý Mão, thay mặt Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tôi có lời chúc mừng năm mới, lời thăm hỏi ân cần tới tất cả các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tới chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni, cư sĩ Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài; kính chúc quý vị một năm mới nhiều an lạc, thành tựu mọi Phật sự trên bước đường phụng sự Đạo pháp và Dân tộc!
Trong ngày hội truyền thống dân tộc, toàn thể đại khối dân tộc đang đón chào một mùa Xuân Quý mão sắp đến, trước nguồn hy vọng mới trong vận hội mới của đất nước, vừa trải qua những ngày tháng điêu linh thống khổ bị vây khốn trong bóng tối hãi hùng của một trận đại dịch toàn cầu chưa từng có trong lịch sử nhân loại, cùng lúc gánh chịu những bất công áp bức từ những huynh đệ cùng chung huyết thống Tổ Tiên; trong nỗi kinh hoàng của toàn dân bị đẩy đến bên bờ vực thẳm họa phúc tồn vong,
Khi tuyết trắng xóa phủ đầy miền đất Bắc Mỹ và những cơn gió đông rét mướt tràn xuống miền nam của Bắc Bán Cầu cũng là lúc Tết truyền thống Việt Nam đang về với hàng triệu trái tim và gia đình người Việt tha hương. Thay mặt Hội Đồng Giáo Phẩm GHPGVNHK, tôi xin kính gửi đến chư tôn Thiền Đức Tăng, Ni và quý đồng hương Phật tử lời chúc mừng năm mới Quý Mão 2023 phước huệ trang nghiêm, thân tâm thường lạc và vạn sự kiết tường.