Yếu Lược Về Thiền Tông Lâm Tế & Những Dòng Truyền Thừa Tập 2 (Sách song ngữ Vietnamese-English PDF)

17/04/20243:41 SA(Xem: 2449)
Yếu Lược Về Thiền Tông Lâm Tế & Những Dòng Truyền Thừa Tập 2 (Sách song ngữ Vietnamese-English PDF)
THIỆN PHÚC
YẾU LƯỢC VỀ 
THIỀN TÔNG LÂM TẾ
& NHỮNG DÒNG TRUYỀN THỪA
ESSENTIAL SUMMARIES OF
THE LIN CHI SECT
& ITS LINEAGES OF TRANSMISSION

TẬP 2
Copyright © 2024 by Ngoc Tran. All rights reserved.
No part of this work may be reproduced or transmitted in any form or by any means, electronic or mechanical, including photocopying and recording, or by any information storage or retrieval system without the prior written permission of the author, except for the inclusion of brief quotations. However, staff members of Vietnamese temples who want to reprint this work for the benefit of teaching of the Buddhadharma, please contact Ngoc Tran at (714) 778-2832.

Mục Lục Tập I
Table of Content Volume I

Mục Lục—Table of Content      
Lời Đầu Sách—Preface  
Phần Năm—Part Five: Sơ Lược Về Thiền Tông Lâm Tế Nhật Bản—Summaries of the the Japanese Lin Chi Zen School  
Chương Bốn Mươi Tám—Chapter Forty-Eight: Thời Kỳ Tiền Thiền Tại Nhật Bản—Before Zen Period in Japan       
Chương Bốn Mươi Chín—Chapter Forty-Nine: Những Mối Liên Hệ Đầu Tiên Giữa Các Tông Đạt Ma, Lâm Tế & Tào Động Nhật Bản—First Relationships Between Schools of The Japanese Bodhidharma, Lin Chi & Ts'ao Tung    
Chương Năm Mươi—Chapter Fifty: Thiền Sư Vô Chuẩn Sư Phạm: Bậc Thầy Của Những Thiền Sư Đã Góp Phần Mạnh Mẽ Vào Việc Du Nhập Thiền Lâm Tế Vào Nhật Bản—Zen Master Wu-Chun Shih Fan: The Teacher of Zen Masters Who Strongly Helped Establish the Lin Chi Zen in Japan 
Chương Năm Mươi Mốt—Chapter Fifty-One: Thiền Sư Minh Am Vinh Tây Là Người Đầu Tiên Mang Dòng Thiền Hoàng Long Lâm Tế Truyền Bá Và Phát Triển Ở Nhật Bản—Zen Master Myoan Eisai Was the First Zen Master Who Brought the  the Huang Lung Branch of the Rinzai Zen School to Japan 
Chương Năm Mươi Hai—Chapter Fifty-Two: Sơ Lược Về Lâm Tế Tông Nhật Bản—A Summary of the Rinzai Zen School in Japan  
Chương Năm Mươi Ba—Chapter Fifty-Three: Sơ Lược Về Thiền Phái Dương Kỳ Với Dòng Chánh Của Tông Lâm Tế Nhật Bản—Summaries of the Yang Chi Zen Sect With the Japanese Main Lines of the Rinzai School
Chương Năm Mươi Bốn—Chapter Fifty-Four: Dòng Thiền Giác Tâm—The Hotto Zen Line  
Chương Năm Mươi Lăm—Chapter Fifty-Five: Mười Bốn Thiền Phái Trong Tông Lâm Tế Nhật Bản—Fourteen Zen Branches Of The Japanese Rinzai School 
Chương Năm Mươi Sáu—Chapter Fifty-Six: Phái Hoàng Long Với Kiến Nhân Tự Và Tổ Minh Am Vinh Tây—Huang-Lung Zen Sect With Kenninji-Ha And Patriarch Myoan Eisai    
Chương Năm Mươi Bảy—Chapter Fifty-Seven: Thiền Sư Lan Khê Đạo Long & Kiến Trường Tự Phái—Zen Master Rankei-Doryu & the Branch of Kencho Monastery (Kenchoji-Ha)   
Chương Năm Mươi Tám—Chapter Fifty-Eight: Dòng Thiền Dương Kỳ Tông Lâm Tế Với Thiền Sư Viên Nhĩ Biện Viên & Đông Phước Tự Phái—The Lineage of Yang Chi of the Rinzai With Zen Master Enni Bennen & the Branch of Tonfuku Monastery (Tonfukuji-Ha)  
Chương Năm Mươi Chín—Chapter Fifty-Nine: Dòng Thiền Dương Kỳ Tông Lâm Tế Với Thiền Sư Vô Học Tổ Nguyên & Viên Giác Tự Phái—The Lineage of Yang Chi of the Rinzai With Zen Master Mugaku-Sogen & the Branch of Engaku Monastery (Engakuji-Ha)  
Chương Sáu Mươi—Chapter Sixty: Thiền Sư  Vô Quan Phổ Môn & Nam Thiền Tự Phái—Zen Master Fumon & the Branch of Nanzen Monastery (Nanzenji-Ha)  
Chương Sáu Mươi Mốt—Chapter Sixty-One: Thiền Sư  Tông Phong Diệu Siêu & Đại Đức Tự Phái—Zen Master Shuâho Myôcho & the Branch of Daitoku Monastery (Daitokuji-Ha)  
Chương Sáu Mươi Hai—Chapter Sixty-Two: Thiền Sư Quan Sơn Huệ Huyền  & Diệu Tâm Tự Phái—Zen Master Kanzan-Egen & the Branch of Myoshin Monastery (Myoshinji-Ha)     
Chương Sáu Mươi Ba—Chapter Sixty-Three: Thiền Sư Mộng Sơn Sơ Thạch & Thiên Long Tự Phái—Zen Master Muso-soseki & the Branch of Tenryu Monastery (Tenryuji-Ha)  
Chương Sáu Mươi Bốn—Chapter Sixty-Four: Thiền Sư Tịch Thất Nguyên Quang & Vĩnh Nguyên Tự Phái—Zen Master Yakusitsu Genko & the Branch of Eigen Monastery (Eigenji-Ha) 
Chương Sáu Mươi Lăm—Chapter Sixty-Five: Thiền Sư Bạt Đội Đắc Thắng & Hướng Ngạc Tự Phái—Zen Master Batsui Tokushô & the Branch of Kogaku Monastery (Kogakuji-Ha)  
Chương Sáu Mươi Sáu—Chapter Sixty-Six: Thiền Sư Xuân Ốc Diệu Ba & Tướng Quốc Tự Phái—Zen Master Shunoku Myoha & the Branch of Shokuku Monastery (Shokukuji-Ha)  
Chương Sáu Mươi Bảy—Chapter Sixty-Seven: Thiền Sư Vô Văn Nguyên Tuyển & Phương Quảng Tự Phái—Zen Master Mubungensen & the Branch of Hoko Monastery (Hokoji-Ha) 
Chương Sáu Mươi Tám—Chapter Sixty-Eight: Thiền Sư Ngẫu Trung Châu Cập & Phật Thông Tự Phái—Zen Master Guchun-Shugyo & the Branch of Butsutsuri Monastery (Butsutsuriji-Ha)  
Chương Sáu Mươi Chín—Chapter Sixty-Nine: Thiền Sư Từ Vân Diệu Ý & Quốc Thái Tự Phái—Zen Master Jiun Myoi & the Branch of Kokutai Monastery (Kokutaiji-Ha)  
Chương Bảy Mươi—Chapter Seventy: Dòng Dương Kỳ & Thiền Phái Nhất Sơn—The Lineage of Yang Chi & the Line of I-Shan
Chương Bảy Mươi Mốt—Chapter Seventy-One: Chư Thiền Đức Tông Lâm Tế Nhật Bản Thời Trung Hưng—Zen Virtues of the Japanese Rinzai School During The Restoration Period  
Chương Bảy Mươi Hai—Chapter Seventy-Two: Chư Thiền Đức Tông Lâm Tế Nhật Bản Thời Cận Đại-Nối Pháp Thiền Sư Bạch Ẩn Huệ Hạc—Zen Virtues of the Japanese Rinzai School During the Modern Period-Zen Master Hakuin's Dharma Heirs 
Chương Bảy Mươi Ba—Chapter Seventy-Three: Chư Thiền Đức Khác Thuộc Tông Lâm Tế Nhật Bản—Other Zen Virtues of the Japanese Rinzai School  
Chương Bảy Mươi Bốn—Chapter Seventy-Four: Thiền Sư Linh Mộc Chánh Tam: Một Vị Thiền Tăng Lâm Tế Hết Sức Đặc Biệt—Zen Master Suzuki Shosan: A Very Special Rinzai Monk    
Phần Sáu—Part Six: Sơ Lược Về Thiền Tông Lâm Tế Việt Nam—Summaries of the the Vietnamese Lin Chi Zen School   
Chương Bảy Mươi Lăm—Chapter Seventy-Five: Thiền Trong Phật Giáo Việt Nam—Zen in Vietnamese Buddhism  
Chương Bảy Mươi Sáu—Chapter Seventy-Six: Tổng Quan Về Thiền Tông Lâm Tế Việt Nam—An Overview of the Vietnamese Lin Chi Zen School
Chương Bảy Mươi Bảy—Chapter Seventy-Seven: Dòng Truyền Thừa & Chư Thiền Đức Tông Lâm Tế Việt Nam Tại Xứ Đàng Ngoài—Lineages of Transmission & Zen Virtues of the Vietnamese Lin Chi Zen School In the Tonkin  
Chương Bảy Mươi Tám—Chapter Seventy-Eight: Dòng Truyền Thừa & Chư Thiền Đức Tông Lâm Tế Xứ Đàng Trong—Lineages of Transmission & Zen Virtues of the Vietnamese Lin Chi Zen School In the Cochinchine   
Tài Liệu Tham Khảo—References   
     
Lời Đầu Sách
___________________________________

Trong Phật giáo, thiền làm công việc của một ngọn đuốc đem lại ánh sáng cho một cái tâm u tối. Nói chung, mỗi tông phái thiền cung cấp cho hành giả với loại ánh sáng của nó, nhưng đều giúp cho hành giả có ánh sáng để thấy được mọi thứ. Giả như chúng ta đang ở trong một căn phòng tối tăm với một ngọn đuốc trong tay. Nếu ngọn đuốc quá mờ, hay nếu ngọn đuốc bị gió lay, hay nếu tay chúng ta không nắm vững ngọn đuốc, chúng ta sẽ không thấy được cái gì rõ ràng cả. Tương tự như vậy, nếu chúng ta không thiền đúng cách, chúng ta sẽ không bao giờ có thể đạt được trí tuệ có thể xuyên thủng được sự tăm tối của vô minh để nhìn thấy bản chất thật sự của cuộc sống và cuối cùng đi đến chỗ đoạn tận được khổ đau và phiền nãoVì vậyPhật tử chơn thuần nên luôn nhớ rằng thiền chỉ là một phương tiện, một trong những phương tiện hay nhất để đạt được trí huệ trong đạo Phật.

Sau Tổ Bồ Đề Đạt Ma, Thiền được chia làm 5 trường phái chình hay Ngũ Gia Thiền, chỉ cho giáo pháp riêng biệt được giảng dạy từ những truyền thống có liên hệ tới những vị Thiền sư đặc biệt. Ba trong số năm truyền thống này: Tào ĐộngVân Môn, và Pháp Nhãnđi xuống từ dòng truyền thừa được truy nguyên ngược về Thanh Nguyên Hành Tư và Thạch Đầu Hy Thiên. Hai truyền thống kia: Lâm Tế và Quy Ngưỡng, được tiếp nối từ Mã Tổ Đạo Nhất và Bách Trượng Hoài HảiTông Lâm Tế về sau này lại sản sanh ra hai nhánh Dương Kỳ và Hoàng Long. Khi mà hai phái sau này được thêm vào Ngũ Gia thì người ta gọi đó là Thất TôngTông Lâm Tế là một trong những trường phái Thiền nổi tiếng của Trung Quốc được Thiền sư Lâm Tế sáng lậpLâm Tế là đại đệ tử của Hoàng Bá. Vào thời kỳ mà Phật giáo bị ngược đãi ở Trung Quốc khoảng từ năm 842 đến năm 845 thì thiền sư Lâm Tế sáng lập ra phái thiền Lâm Tế, mang tên ông. Trong những thế kỷ kế tiếptông Lâm Tế chẳng những nổi bậc về Thiền, mà còn là một tông phái thiết yếu cho Phật giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Tông Lâm Tế mang đến cho Thiền tông một yếu tố mới: công án. Phái Thiền Lâm Tế nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “Đốn Ngộ” và dùng những phương tiện bất bình thường như một tiếng hét, một cái tát, hay đánh mạnh vào thiền sinh cốt làm cho họ giựt mình tỉnh thức mà nhận ra chân tánh của mình.

Theo Thiền Sử, Lâm Tế là môn đệ của Hoàng Bá. Ngài là một trong những thiền sư Trung Hoa nổi tiếng vào đời nhà Đường. Không ai biết ngài sanh vào năm nào. Ngài nổi tiếng vì các phương pháp mạnh bạo và lối nói chuyện sống động với môn sinh. Bởi thế mà một tông phái Thiền đặc biệt đã được đặt dưới tên ngài. Ngài không tán thành lối nói pháp quanh cosở trường của các pháp sư thiếu nhiệt huyết. Có lẽ do sư thừa hưởng phép Thiền trực chỉ ấy từ sư phụ Hoàng Bá, trước kia đánh sư ba lần khi ba lần sư đến tham vấn về yếu chỉ của Phật phápLâm Tế được coi như là người đầu tiên chủ xướng tiếng  hét, nhưng trước đó đã có Mã Tổ là vị cao Tăng đã mở một kỷ nguyên mới cho Thiền sử, đã hét to khi Bách Trượng  đến tái vấn Thiền, tiếng hét ấy chát chúa đến nỗi Bách Trượng phải bị điếc tai đến ba ngày. Nhưng chính do Lâm Tế mà tiếng hét được đắc dụng và có hiệu năng nhất, và sau nầy biến thành một ngón tuyệt kỹ của Lâm Tế Tông. Thật sự, về sau nầy các đệ tử của ngài quá lạm dụng về tiếng hét đến nỗi ngài phải thốt ra: “Tôi nghe quí ông toàn học hét. Thử hỏi quí ông ví như mái tây có người ra, mái đông có người ra, cả hai người cùng hét. Các ông có phân biệt được tiếng hét nào là khách, còn tiếng hét nào là chủ không? Nếu các ông không phân biệt được, từ đây cấm học tiếng hét của lão Tăng.” Vào năm 867 khi sắp mất, Lâm Tế ngồi ngay thẳng, nói: “Sau khi ta tịch chẳng được diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta.” Tam Thánh thưa: Đâu dám diệt mất Chánh Pháp Nhãn Tạng của Hòa Thượng.” Lâm Tế bảo: “Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?” Tam Thánh liền hét! Sư bảo: “Ai biết Chánh Pháp Nhãn Tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất.” Nói xong sư ngồi thẳng thị tịch.

Thiền Tông Lâm Tế là một trong những trường phái Thiền nổi tiếng của Trung Quốc được Thiền sư Lâm Tế sáng lậpLâm Tế là đại đệ tử của Hoàng Bá. Vào thời kỳ mà Phật giáo bị ngược đãi ở Trung Quốc khoảng từ năm 842 đến năm 845 thì thiền sư Lâm Tế sáng lập ra phái thiền Lâm Tế, mang tên ngài. Trong những thế kỷ kế tiếptông Lâm Tế chẳng những nổi bậc về Thiền, mà còn là một tông phái thiết yếu cho Phật giáo Trung Hoa thời bấy giờ. Tông Lâm Tế mang đến cho Thiền tông một yếu tố mới: công án. Phái Thiền Lâm Tế nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự “Đốn Ngộ” và dùng những phương tiện bất bình thường như một tiếng hét, một cái tát, hay đánh mạnh vào thiền sinh cốt làm cho họ giựt mình tỉnh thức mà nhận ra chân tánh của mình. Phái Lâm Tế tu tập theo các công án có hệ thống đã được các bậc thầy sưu tập, và xem nhẹ việc đọc tụng kinh điển cũng như thờ phượng tượng Phật, tìm về Phật Tánh trực tiếp bằng những công án và tu tập sống thực. Sau khi làm quen với thiền sư Lâm Tế qua Lâm Tế Ngữ Lụcchúng ta có thể thấy Lâm Tế như một tay phá nát thứ đạo Phật ước lệ với những ý tưởng được sắp xếp trật tự. Ngài không thích con đường loanh quanh của các triết gia, nhưng ngài muốn đi thẳng tới đích, phá hủy mọi chướng ngại trên đường dẫn về thực tại. Ngài chẳng những chống lại các triết gia phân biệt trí, mà chống luôn cả những thiền sư đương thời. Phương pháp trao Thiền của Lâm Tế rất mới mẽ và rất sôi động. Tuy nhiên, chính nhờ vậy mà ngài đã đứng vòi vọi giữa thời nhân. Và cũng chính nhờ vậy mà Lâm Tế đã trở thành một trong những bậc thầy Thiền lớn nhất của thế kỷ thứ IX. Ngài được công nhận là người đã sáng lập ra tông Lâm TếTông phái này, cùng với Tào Động tông, là một trong hai nhánh Thiền bắt đầu từ thời nhà Đường, thời hoàng kim của Thiền, vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Tông phái của ngài vẫn còn phát triển tại Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam, dù rằng ở Trung Hoa Thiền bây giờ đang hồi gần như tàn tạ. Ngữ lục của Lâm Tế được nhiều người coi là quyển sách Thiền mạnh bạo nhất mà chúng ta hiện cóLâm Tế có tới 21 người nối pháp. Những lời dạy của ngài được lưu giữ lại trong Lâm Tế Ngữ LụcTuy nhiêntông phái nầy suy thoái dần từ thế kỷ thứ XII, nhưng trước đó đã được mang sang Nhật Bản và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay dưới tên gọi là Rinzai.

Quyển sách nhỏ có tựa đề “Yếu Lược Về Thiền Tông Lâm Tế & Những Dòng Truyền Thừa” này không phải là một nghiên cứu thâm sâu về triết thuyết của Thiền Tông Lâm Tế, mà nó chỉ tóm lược về Thiền Tông Lâm Tế & Những Dòng Truyền Thừa và pháp tu đặc biệt của nó. Phật tử thuần thành nên luôn nhớ rằng mục đích cuối cùng của người tu Phật là giác ngộ và giải thoát, nghĩa thấy được cách nào để thoát ra khỏi vòng luân hồi sanh tử ngay trong kiếp này. Chính vì thế mà mặc dù hiện tại đã có quá nhiều sách viết về Phật giáo, tôi cũng mạo muội biên soạn bộ “Yếu Lược Về Thiền Tông Lâm Tế & Những Dòng Truyền Thừa” song ngữ Việt Anh nhằm giới thiệu một cách khái quát về Thiền Tông Lâm Tế, một trong những tông phái quan trọng nhất trong Thiền Phật Giáo. Những mong sự đóng góp nhoi nầy sẽ mang lại lợi lạc cho những ai mong cầu có được cuộc sống an bìnhtỉnh thức và hạnh phúc.

Cẩn đề,
Thiện Phúc

Preface

 ________________________________


Generally speaking, each Zen school supplies practitioners with its own light, but it can help practitioners to see everything. In Buddhism, meditation functions the job of a torch which gives light to a dark mind. Suppose we are in a dark room with a torch in hand. If the light of the torch is too dim, or if the flame of the torch is disturbed by drafts of air, or if the hand holding the torch is unsteady, it’s impossible to see anything clearly. Similarly, if we don’t meditate correctly, we can’t never obtain the wisdom that can penetrate the darkness of ignorance and see into the real nature of existence, and eventually cut off all sufferings and afflictions. Therefore, sincere Buddhists should always remember that meditation is only a means, one of the best means to obtain wisdom in Buddhism.

After Bodhidharma Patriarch, Zen School was divided into five main sects or the Five Houses of Zen which refer to separate teaching lines that evolved from the traditions associated with specific masters. Three of these traditions, Ts'ao-tung, Yun-men, and Fa-yan, descended from the transmission line traced back to Ch'ing-yuan Hsing-ssu and Shih-t'ou Hsi ch'ien. The other two, the Lin-chi and Kuei-yang, proceeded from Ma-tsu Tao-i and Pai-chang Huai-hai. The Lin-chi House later produced two offshoots, the Yang-chi and Huang-lung. When these last two were added to the Five House, together they are referred to as the Seven Schools of Zen. Lin-chi Tsung is one of the most famous Chinese Ch’an founded by Ch’an Master Lin-Chi I-Hsuan, a disciple of Huang-Po. At the time of the great persecution of Buddhists in China from 842 to 845, Lin-Chi founded the school named after him, the Lin-Chi school of Ch’an. During the next centuries, this was to be not only the most influential school of Ch’an, but also the most vital school of Buddhism in China. Lin-Chi brought the new element to Zen: the koan. The Lin-Chi School stresses the importance of “Sudden Enlightenment” and advocates unusual means or abrupt methods of achieving it, such as shouts, slaps, or hitting them in order to shock them into awareness of their true nature.

According to the history of Zen, Lin-Chi was a disciple of Huang-Po. He was one of the famed chinese Zen masters during the T’ang dynasty. His year of birth is unknown. He was famous for his vivid speech and forceful pedagogical methods, as well as direct treatment of his disciples. Consequently, in China a special Zen sect was named after him “Lin-Chi” of which doctrine was based on his teachings. He never liked those roundabout dealings which generally characterized the methods of a lukewarm master. He must have got this directness from his own master Huang-Po, by whom he was struck three times for asking the fundamental principle of Buddhism. Lin-Chi is regarded as the author of “Kwats!” even though Ma-Tsu was an epoch-maker in the history of Zen, uttered “Kwats!” to his disciple, Pai-Chang, when the latter came up to the master for a second time to be instructed in Zen. This “Kwats!” is said to have deafened Pai-Chang’s ear for three days. But it was principally due to Lin-Chi that this particular cry was most effectively and systematically made use of and later came to be one of the special features of the Lin-Chi school in distinction to the other schools. In fact, the cry came to be so abused by his followers that he had to make the following remark: “You are so given up to learning my cry, but I want to ask you this: ‘Suppose one man comes out from the eastern hall and another from the western hall, and suppose both give out the cry simultaneously; and yet I say to you that subject and predicate are clearly discernible in this. But how will you discern them?’ If you are unable to discern them, you are forbidden hereafter to imitate my cry.” In 867 A.D. when Lin-Chi wa about to die he sat upright and said: “After I’m gone, my Treasury of the True Dharma Eye cannot be destroyed.” Lin-Chi’s disciple, San-Sheng, said: “How could we dare destroy the Master’s Treasury of the True Dharma Eye?” Lin-Chi said: “In the future if someone ask about my teaching, what will you say to them?” San-Sheng shouted! Lin-Chi said: “Who would have thought that my Treasury of the true Dharma Eye would be destroyed by this blind ass!” Upon saying these words Lin-Chi passed away, sitting upright.

Lin Chi Zen School is one of the most famous Chinese Ch’an founded by Ch’an Master Lin-Chi I-Hsuan, a disciple of Huang-Po. At the time of the great persecution of Buddhists in China from 842 to 845, Lin-Chi founded the school named after him, the Lin-Chi school of Ch’an. During the next centuries, this was to be not only the most influential school of Ch’an, but also the most vital school of Buddhism in China. Lin-Chi brought the new element to Zen: the koan. The Lin-Chi  School stresses the importance of “Sudden Enlightenment” and advocates unusual means or abrupt methods of achieving it, such as shouts, slaps, or hitting them in order to shock them into awareness of their true nature. The Lin-Chi uses collections of koans systematically in its temples and downplays the reading of sutras and veneration of Buddha images in favor of seeking the Buddha Nature directly through the use of koans and practical living. After being acquainted with Zen master Lin-chi through Lin-chi's Sayings, we can see Lin-chi as a great smasher of the conventional Buddhism whose ideas are arranged in an ordinary order. He did not like the round-about way in which Buddhist experience was treated by philosophers, but he wanted to reach the goal directly. He destroyed every obstacle that was found in his approach to Reality. He was not only against those intellectualist philosophers but against the Zen masters of his day. Lin-chi's method of handling Zen was quite refreshing and vivifying. However, because of these, he stood so majestically among his contemporaries. And also because of these, Lin-chi became one of the greatest Zen master of the ninth century. He is recognized to have founded the Lin Chi School of Zen. This school, along with the T'sao Tung School, remains today as one of the two existing Zen schools that began in China during the Tang dynasty (615-905), the golden age of Zen. It is his school which is still flourishing in Japan, China, and Vietnam, though in China Zen itself is somewhat on the wane. Lin-chi's Sayings are regarded by many as the strongest treatise we have. Lin-chi had 21 dharma successors. However, this school gradually declined after the twelfth century, but had been brought to Japan where it continues up to the present day and known as Rinzai.

This little book titled “Essential Summaries of the Lin Chi Zen School & Its Lineages of Transmission” is not a profound philosiphical study of the the the Lin Chi Zen School, but a book that summarizes he Lin Chi Zen School & Its Lineages of Transmission and methods of cultivation. Devout Buddhists should always remember the ultimate goal of any Buddhist cultivator is to attain enlightenment and emancipation, that is to say to see what method or methods to escape or to go beyond the cycle of births and deaths right in this very life. For these reasons, though presently even with so many books available on Buddhism, I venture to compose this booklet titled “Essential Summaries of the Lin Chi Zen School & Its Lineages of Transmission” in Vietnamese and English to briefly introduce on the Lin Chi Zen School, one of the most important Zen schools in Buddhism. Hoping this little contribution will help Buddhists in different levels to understand on how to achieve and lead a life of peace, mindfulness and happiness.

                                               

Respectfully,

Thiện Phúc
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Gủi hàng từ MỸ về VIỆT NAM
Tạo bài viết
Sau khi post 4 bài viết về hiện tượng Sư Minh Tuệ của các tác giả Tâm Anh, Nguyễn Thanh Huy, Đào văn Bình, Minh Mẫn và hai video clip của thầy Thích Chân Tính(Chùa Hoằng Pháp); chúng tôi nhận được nhiều ý kiến phản hồi từ quý độc giả mà đa số đều tán đồng các bài viết. Thậm chí có youtuber đã dùng nội dung của các bài để chuyển tải tiếp đến cộng đồng mạng. Dưới đây là các bài viết thêm của các tác giả kính gửi đến độc giả: Nguyên Minh Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Thanh Huy, Võ Đào Phương Trâm An Tường Anh, Đức Hùng-Trần Hóa, Tâm Anh chuyển ngữ. Luôn tiện đây chúng tôi cũng xin minh định là Thư Viện Hoa Sen không trực thuộc hay đại diện cho một hệ thống tự viện hay một tổ chức giáo hội Phật giáo nào ở trong nước cũng như hải ngoại. Và một điều nữa, chúng tôi luôn tôn trọng các ý kiến dị biệt.
84 ngàn pháp môn, tùy căn cơ mỗi hành giả thích hợp, không thể nói pháp nào, hạnh nào cao hơn pháp nào.Dó tính cố chấp đố kỵ nên phân biệt, chỉ trích, phê phán một công hạnh không hợp với mình.Đáng ra chúng ta không thực hiện được những công hạnh khó làm mà người khác làm được, phải hoan hỷ tán dương mà nhà Phật gọi là tùy hỷ công đức.
Nếu tiêu chuẩn của một người tu là giới hạnh thì rõ ràng người hành pháp sẽ cao hơn người hiểu pháp. Và thực hành được hạnh đầu đà là một công hạnh lớn, xưa nay không được mấy ai. Vậy, tán thán, kính ngưỡng giới hạnh là việc nên làm nhưng không nên sùng bái, suy tôn, thánh hoá sư Minh Tuệ ngay lúc này, vì điều đó sẽ khiến rơi vào tà kiến, ngoại đạo, đi ngược lại với tinh thần Phật giáo.