Giải Pháp Cho Vấn Đề Giảm Sút Tín Đồ Phật Giáo Sau Hôn Nhân

23/11/201012:00 SA(Xem: 35255)
Giải Pháp Cho Vấn Đề Giảm Sút Tín Đồ Phật Giáo Sau Hôn Nhân

GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ
GIẢM SÚT TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO SAU HÔN NHÂN

Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh Bạc Liêu

-2010-honnhanCó một thực tếPhật tử trước khi kết hôn thì rất năng nổ nhiệt tình với Phật pháp. Nhưng khi kết hôn xong rồi thì một số quan niệm, cách ứng xử, đặc biệt là họ luôn nói về niềm tin mới mà họ vừa mới học được, họ trở nên khác đi hoàn toàn, y như một con người xa lạ chưa hề được tiếp xúc với Phật giáo trước đây.

Điều này có thể do hai lý do, thứ nhất là do công tác huấn luyện của chúng ta chưa đạt hiệu quả, họ còn quá mơ hồ trong Phật pháp. Từ đó, họ sẽ không có ấn tượng sâu sắc và việc vận dụng Phật pháp vào trong cuộc sống.

Chẳng hạn, về đức tin thì chỉ có niềm tin mang tính chung chung, đại kháitôn giáo nào cũng tốt. Vả lại ông bà ta thường dạy là dĩ hòa di quý đừng làm cho vấn đề trở nên thêm phức tạp làm gì, miễn là việc kết hôn được diễn ra một cách tốt đẹp là tốt lắm rồi. Người Phật tử với quan niệm sơ sài hiền hòa đến mức đánh mất niềm tin thiêng liêng của mình như thế là một kết quả đáng buồn cho các nhà truyền giáo Đạo Phật không sao tránh khỏi.

Thứ hai là, người bạn tôn giáo bên kia của chúng ta quá khôn ngoan, ngay từ bước một, họ mặc nhiênthế chủ động và ít nhấttranh thủ để chiếm thế chủ động. Trên mặt trận này, họ gặp phải đối tượng không được trang bị kinh nghiệm kỹ lưỡng, đang mang trong người một thái độ cầu hòa, trách sao chiến lợi phẩm mỗi ngày không gia tăng ở các cơ sở tôn giáo của họ.

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, riêng ở Việt Nam từ rất sớm, nếu không muốn nói là ngay những thập niên đầu của công nguyên, thời đại lập quốc và giành độc lập tự chủ của dân tộc ta. Thế nhưng qua thống kê của ngành Tôn giáo thì số lượng tín đồ của Phật giáo hiện nay không hơn hẳn các tôn giáo lớn khác. Về kết quả đáng buồn này vẫn biết rằng là chưa phản ánh hết được những gì đang tồn tại nhưng cũng không nên quá chủ quan để rồi một ngày không xa ta phải nuối tiếc với lời tự trách.

Trở lại vấn đề giải quyết tình trạng giảm tín đồ, theo thiển ý người viết, chúng ta chỉ cần nói tiếng nói của bình đẳng tôn giáo và tiếng nói cuối cùng của pháp luật. Thế nào là tiếng nói của bình đẳng tôn giáo? Là thế này, mỗi tôn giáo đều có bản sắc đặc thù riêng nhưng không vì vậy mà chèn ép như những gì đang diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra từng ngày. Cụ thể hơn, khi kết hôn, tại sao chỉ có các tôn giáo khác thì phải cải đạo, phải theo học kinh điển và làm lễ tại cơ sở tôn giáo đó, còn tín đồ của họ thì không?

Chúng tôi cho rằng điều đó là việc làm không công bằng. Vẫn biết rằng bây giờ nói tiếng công bằng cũng là hơi muộn nhưng ít ra vẫn còn hơn nó vẫn được vận hành theo hướng đường mòn lối cũ. Chúng tôi chỉ khiêm tốn đề nghị 2 ý trong việc xử lý tình huống này là:

Thứ nhất: Nếu là hai trẻ yêu nhau sau một thời gian dài tìm hiểu thì hai gia đình nên tiến hành theo phép hôn nhân truyền thống. Nghĩa là tiến hành các nghi thức như dạm hỏi, đám nói và kết thúc bằng lễ đám cưới. Bởi lẽ, hai người yêu nhau là xuất phát từ sự rung động con tim, phát sinh cảm tìnhchấp nhận nhau về điều kiện sống cũng như các thói quen thường nhật mỗi ngày chứ không liên quan gì đến đức tin tôn giáo.

Điều này không có gì sai, càng không phải là yếu tố dẫn đến tình trạng ly thân hay ly dị như một số luận điệu tuyên truyền đã nói vì không được ơn trên ban phép ân sủng.

Một bằng chứng hùng hồn là rất nhiều các cụ không qua việc làm phép hay rửa tội vẫn sống hạnh phúc tới ngày nhắm mắt lìa đời và một khía cạnh ngược lại là một số người được trang bị đầy đủ các nghi tiết cho việc kết hôn nhưng vẫn không có hạnh phúc lâu dài. Qua đó, chúng ta có thể nói hạnh phúc hay đổ vỡ không hoàn toàn là do có tham gia các nghi thức hay không mà nằm ở quan niệm hành xử với nhau của hai vợ chồng. Nếu hai vợ chồng biết tương kính nhau như đối đãi với khách quý (Tương kính như tân); biết thương yêu, nhường nhịn nhau; không bảo thủ luôn cho mình là đúng cũng không quá buôn thả hay thụ động, mặc cảm, tự ty để rồi cuộc sống chỉ mang điện tích một chiều và hai cái đầu chỉ có một cái hoạt động còn cái kia không phải hư.

Thứ hai là quan niệm đề cập tôn giáo bình đẳng: nghĩa là có nên phải cải đạo không nếu chúng ta được đề nghị thay đổi đức tin tôn giáo, phải học kinh thánh và làm lễ tại nhà thờ…; ngược lại chúng ta cũng có quyền đề nghị tương tự anh hay chị hôn phối nên thay đổi đức tin để theo Phật giáo, học kinh Phật và làm lễ tại nhà chùa. Thế nên niềm tintín ngưỡng của người theo đạo cần phải được tôn trọnggìn giữ.

Nếu có ý thứ ba trong bài viết này thì tôi sẽ bảo: dĩ hòa vi quý. Hai bên gia đình ngồi lại với nhau thông qua điều lệthỏa thuận. Nhưng mọi việc trở nên căng thẳng không nhân nhượng thì tốt nhất đến với nhau với những gì chúng nó quan tâm như tình cảm chẳng hạn, chứ không hề mang sắc thái tôn giáo.

Như vừa nêu trên là hai ý trong mục tiếng nói của sự bình đẳng tôn giáo. Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhắc đến tiếng nói cuối cùng của pháp luật. Như mọi người chúng ta đều thống nhất nhau là sống và làm việc theo pháp luật, vậy pháp luật được ứng dụng trong tình huống này là gì? Xin thưa, quy định của pháp luật là công dân được quyền tự do tín ngưỡng, theo hay không theo bất kỳ tôn giáo nào. Như thế thì bất kỳ hình thức nào có tính o ép, gán gượng đều vi phạm pháp luật. Chiếu theo đó thì từ lâu đã có một vài tôn giáo đã vi phạm điều này nhưng họ chưa từng bị kiểm điểm hay bị phê phán.

Sự im lặng này của pháp luật có thể là do từ lâu ta chấp nhận yêu cầu của họ để có được hôn nhân xem như là một quy định mới, một điều kiện mới để có hôn nhân với tín hữu thiên chúa. Thứ nữa là không chấp nhận thì thôi, kiện tụng làm gì. Đã không có người đề nghị xét xử thì làm sao có người đại diện pháp luật xét xử. Cho nên, từ lâu vẫn diễn ra viễn cảnh nhức nhối mà những nhà truyền giáo của Giáo hội thỉnh thoảng ngậm ngùi chia tay người đệ tử thân tín của mình.

Các liệu pháp như vừa trình bày chỉ là một vài nỗ lực của một vài cá nhân trên đoạn đường vô cùng của nghiệp lực. Có thể chúng ta gặt hái thành công với một lý do đơn giản vì họ có nhân duyênnhân duyên sâu dầy trong Phật pháp như trong lời nguyện hằng đêm chúng ta vẫn cầu: nội ma bất khởi, ngoại chướng vô xâm rồi là nguyện cho đệ tử bồ đề tâm kiên cố, chí tu học vững bền sớm xa khỏi nguồn mê, chóng quay về bờ giác và một lời nguyện khác trong nhóm những quyển kinh được biên soạn: “Nguyện cho đệ tử đời đời thường làm bà con Phật pháp, quyến thuộc từ bi, hộ trì Tam bảo ở mãi thế gian”.

Trong không gian vô cùng, thời gian vô tận, mỗi người chúng ta là chủ nhân của nghiệp và rồi mỗi chúng ta sẽ là kẻ thừa tự nghiệp của chính mình. Chính là tư tưởng chủ đạo của Phật và cũng là của tất cả Như Lai sứ giả chúng ta.

Theo: GHPGVN
Tạo bài viết
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.