Từ Tắc 12 Đến Tắc 24

08/10/201012:00 SA(Xem: 10862)
Từ Tắc 12 Đến Tắc 24

VÔ MÔN HUỆ KHAI
CỬA KHÔNG CỬA (VÔ MÔN QUAN)
Dịch giả: Dương Đình Hỷ

Tắc Mười Hai
NHAM GỌI CHỦ NHÂN

Cử :
Mỗi ngày hòa thượng Thoại Nham đều tự gọi :
-Chủ nhân.
-Dạ !
-Hãy tỉnh thức.
-Dạ !
-Ngày khác đừng để người lừa dối.
-Dạ ! Dạ !

Bình :
Ông lão Thoại Nham tự bán, tự mua, đùa dỡn với những mặt nạ quỷ thần. Tại sao vậy ? Một người hô, một người dạ, một người tỉnh, một người không để người lừa dối. Nhận ra đều là không phải. Nếu các ông cũng bắt trước lão ta, thì kiến giải của các ông là kiến giải của lũ chồn hoang.

Tụng :

學 道 之 人 不 識 真
Học đạo chi nhân bất thức chân
只 為 從 前 認 識 神
Chỉ vi tòng tiền nhận thức thần
無 量 劫 來 生 死 本
Vô lượng kiếp lai sinh tử bản
痴 人 喚 作 本 來 人
Si nhân hoán tác bản lai nhân.

Lẽ phải người tu chẳng biết coi
Bởi theo thần thức đã lâu rồi
Cái gốc tử sinh từ muôn kiếp
Kẻ mê vẫn gọi ông chủ tôi.

Chú Thích :
-Chủ nhân : người chủ gia đình, ở đây chỉ bản tâm, khuôn mặt xưa nay, chân tánh.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : người tu chẳng rõ chân tánh, nhận lầm thần thức là chủ nhân ông.
Câu 3 và 4 : muốn thoát sinh tử luân hồi thì phải bỏ quan niệm trên, phải nhận thức khuôn mặt xưa nay của mình.
Thoại Nham không biết năm sinh và tử, học trò của Nham Đầu.
-Gọi ông thầy bên trong không phải chỉ thuần túynội quán mà còn là tìm hiểu động cơ tâm lý, hay đánh giá hành vi tốt xấu. Thoại Nham gọi chủ nhân là gọi chân ngã (không phải tự ngã) đã có trước khi Thoại Nham được sanh ra.
(Kubose)

Tắc Mười Ba
ĐỨC SƠN BƯNG BÁT

Cử :
Một hôm, Đức Sơn bưng bát xuống trai đường. Tuyết Phong trông thấy hỏi :
-Ông già ! Chuông chưa thỉnh, trống chưa báo, bưng bát đi đâu ?
Đức Sơn bèn trở về phương trượng. Tuyết Phong kể lại cho Nham Đầu. Nham Đầu nói :
-Đức Sơn chưa hiểu câu nói sau cùng.
Đức Sơn nghe được, sai thị giả gọi Nham Đầu lại hỏi :
-Ông không đồng ý với lão tăng hả ?
Nham Đầu trình mật ý. Đức Sơn bèn thôi.
Hôm sau buổi giảng quả khác thường. Nham Đầu đến trước tăng đường vỗ tay cười nói :
-Vui thay ! Ông già hiểu được câu nói sau cùng, về sau thiên hạ không ai làm phiền ông nữa !

Bình :
Nếu là câu nói sau cùng, cả Nham Đầu và Đức Sơn cũng chưa mộng thấy. Nếu các ông xét lại, họ giống như đám rối gỗ trên sàn diễn.

Tụng :

識 得 最 初 句
Thức đắc tối sơ cú
便 會 末 後 句
Tiện hội mạt hậu cú
末 後 與 最 初
Mạt hậu dữ tối sơ
不 是 者 一 句
Bất thị giả nhất cú.

Biết được câu đầu
Liền hiểu câu cuối
Câu cuối, câu đầu
Chẳng là câu ấy.

Chú Thích :
-Đức Sơn : Đức Sơn Tuyên Giám (782-865), người Kiếm Nam (Tứ Xuyên) , đệ tử Long Đàm Sùng Tín. Ông chủ trương vô tâm, vô sự, lìa niệm khử tình. Ông hay dùng đánh và hét để tiếp cơ cho người học.
-Tuyết Phong : Tuyết Phong Nghĩa Tồn (822-908), học trò Đức Sơn.
-Nham Đầu : Nham Đầu Toàn Hoát (826-887), học trò Đức Sơn.
-Câu nói sau cùng : là câu nói ra khi đã triệt ngộ. Trong thực tế không thể dùng lời để diễn tả chân lý cho nên câu nói sau cùng chính là không lời.
-Giải thích bài kệ :
Cấu 1 và 2 : nếu hiểu nông thì sẽ hiểu sâu.
Câu 3 và 4 : Câu đầu hay câu cuối đều chẳng phải là câu ấy vì câu ấy không thể nói ra được.
-Tuyết Phong và Nham Đầu là 2 đồ đệ của Đức Sơn Tuyên Giám. Trong Truyền Đăng Lục có chép một hôm dọn cơm trễ, Đức Sơn đói bụng bèn bưng bát xuống phòng ăn. Điển tọa Tuyết Phong trông thấy mới hỏi và sau kể lại cho Nham Đầu nghe. Nham Đầu thấy đây là cơ hội giúp Tuyết Phong khởi nghi tình, nên mới nói Đức Sơn không hiểu câu nói sau cùng. Đức Sơn nghe được không hiểu ý của Nham Đầu là sao bèn gọi vào hỏi. Nham Đầu trình ý của mình là để giúp Tuyết Phong, Đức Sơn thuận. Do đó cử động của Nham Đầu ngày hôm sau chỉ là diễn trò. Đáng tiếc cho đến lúc này Tuyết Phong vẫn chưa khai ngộ.
(Thánh Tham)

-Cả 2 Tuyết PhongNham Đầu đều là đệ tử của Đức Sơn. Đức Sơn vào khoảng 80 tuổi khi bị Tuyết Phong đuổi về phòng phương trượng và bị Nham Đầu chỉ trích. Đức Sơn không giải thích cũng không xin lỗi. Ông hiểu 2 trò và chính ông, ông đã chín mùi tự nhiên. Đời sống thực sự không cần giảng giảixin lỗi. Buổi giảng ngày hôm sau khác hẳn, có lẽ Đức Sơn chỉ hiện diện như chính ông chứ không phải là một thiền sư giảng dạy cho học trò. Không có sự thật nào hơn thế. Phong cách của một người như thế nào thì đó là sự thật tối thượng. Đức Sơn quả là một vị thiền sư vĩ đại.
(Kubose)

Tắc Mười Bốn
NAM TUYỀN CHÉM MÈO

Cử :
Hòa thượng Nam Tuyền nhân hai đường Đông Tây tranh nhau một con mèo, bèn giơ con mèo lên bảo :
-Nếu các ông nói được thì con mèo được cứu, còn nếu không nói được thì tôi sẽ chém nó.
Đại chúng không ai nói được, Nam Tuyền bèn chém mèo.
Buổi chiều khi Triệu Châu từ ngoài về, Nam Tuyền bèn kể cho Triệu Châu nghe. Triệu Châu tháo dép để lên đầu, đi ra.
-Nếu lúc đó ông có mặt thì con mèo đã được cứu rồi !

Bình :
Triệu Châu để dép lên đầu là có ý gì ? Nếu hướng vào đây mà hạ một chuyển ngữ liền thấy Nam Tuyền ra lệnh là không uổng công, còn không thì thật là nguy.

Tụng :

趙 州 若 在
Triệu Châu nhược tại
倒 行 此 令
Đảo hành thử lệnh
奪 卻 刀 子
Đoạt khước đao tử
南 泉 乞 命
Nam Tuyền khất mạng.

Triệu Châu có mặt
Liền đổi lệnh ra
Con dao bị cướp
Nam Tuyền xin tha.

Chú Thích :
-Triệu Châu đội dép cỏ lên đầu là có ý gì ? : có ông tăng cho rằng Triệu Châu dùng dép để thế cho con mèo, có ông lại nói Triệu Châu đội dép lên đầu đi ra là nói chuyện chém mèo không quan hệ gì đến ông. Khắc Cần cho rằng những lý giải này không đúng, ý của Triệu Châu là tham “câu sống” không tham “câu chết”, phải tự tham tự chứng.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : nếu Triệu Châu có mặt lúc ấy thì lệnh của Nam Tuyền sẽ bị thay đổi.
Câu 3 và 4 : ông sẽ cướp lấy dao của Nam Tuyền thì con mèo sẽ không bị chém, trái lại Nam Tuyền phải xin tha mạng.
-Từ bi vốn là căn bản của nhà Phật. Nam Tuyền lấy dao chém mèo thành hai đoạn khiến cho mọi người kinh hãi. Nam Tuyền bất mãn chư tăng là những người đã xuất gia mà lại tranh chấp một con mèo. Do đó chém mèo chỉ dạy người xuất gia chân chánh phải đoạn tuyệt trần thế. Chỉ có dùng phương pháp độc đáo ấy mới làm cho người ta chân chính hướng về tự do siêu nhiên. Triệu Châu đội dép lên đầu mà đi ra để chỉ không chấp thường lý là dép thì phải mang ở dưới chân. Nếu muốn siêu thoát thì phải bỏ hết mọi thị phi của trần thế.
(Tiêu Vũ Đồng)

-Nhiều người thấy công án này khó chấp nhận được vì Nam Tuyền là một tu sĩ thì phải giới sát, đâu có thể tùy tiện mà chém con mèo. Những người này đã không hiểu Nam Tuyềnlòng từ bi muốn chỉ dạy cho các môn đồ khi gặp dịp. Các đệ tử của Nam Tuyền là những ông tăng ngu muội vì một chuyện nhỏ là tranh chấp một con mèo mà chia bè kết đảng tranh cãi náo loạn. Khi Nam Tuyền bảo họ nói ra một thiền ngữ thì họ lại câm như hến. Vì vậy Nam Tuyền chỉ còn cách chém chết con mèo để phá trừ vọng tưởng chấp trước cho họ. Triệu Châu tháo dép đội lên đầu, hàm ý không muốn nghe chuyện ngu xuẩn này, đồng thời cũng muốn nói “Nếu con ở đấy và không có ai trả lời được, con cũng đành phải chém con mèo thôi.” Cử động của Triệu Châu chứng tỏ ông luôn cảnh giác, không để cho những nguyên nhân ngoại tại trói buộc, ông luôn tự mình làm chủ.
(Minh Tuệ)

-Nam Tuyền (749-834) pháp danh Phổ Nguyện, họ Vương người Tân Trịnh, Trịnh Châu, học trò Mã Tổ.

 

Tắc Mười Lăm
BA GẬY CỦA ĐỘNG SƠN

Cử :
Động Sơn đến tham Vân Môn. Vân Môn hỏi :
-Vừa rời chỗ nào ?
-Tra Độ.
-Kết hạ ở đâu ?
-Báo Từ ở Hồ Nam.
-Rời chùa lúc nào ?
-Ngày 25, tháng 8.
-Tha ông ba gậy.
Hôm sau Động Sơn lại đến, hỏi :
-Hôm qua mông ơn hòa thượng tha 3 gậy, không biết con sai ở chỗ nào ?
-Đồ giá áo, túi cơm, Giang tây, Hồ Nam đi đâu mà chả được ?
Động Sơn do đó mà đại ngộ.

Bình :
Lúc đó, Vân Môn cấp đủ thức ăn cho Động Sơn khiến Động Sơn có riêng con đường sống, gia môn không đến nỗi vắng vẻ. Động Sơn sau một đêm ngụp lặn trong bể thị phi, đợi đến trời sáng trở lại Vân Môn và được phá giải. Động Sơn tuy ngộ ngay nhưng cũng không được coi là lanh lợi. Thử hỏi các ông, Động Sơn có đáng ăn 3 gậy không ? Nếu nói nên thì thảo mộc đều phải ăn gậy. Nếu nói không nên thì lời Vân Môn là lời dối trá. Nếu các ông hiểu lý này thì cùng Động Sơn thở ra cùng một miệng.

Tụng :

獅 子 教 兒 迷 訣 
Sư tử giáo nhi mê quyết 
儗 前 跳 躑 早 翻 身
Nghĩ tiền khiêu trịch tảo phiên thân
無 端 再 敘 當 頭 著
Vô đoan tái tự đương đầu trước
前 箭 猶 輕 後 箭 深
Tiền tiễn do khinh hậu tiễn thâm.

Sư tử dạy con thật là lạ
Tính nhẩy ra trước lại quay sau
Bỗng nhiên lại gõ đầu vô cớ
Mũi tên trước nhẹ, mũi sau sâu.

Chú Thích :
-Động Sơn trong công án này không phải là Động Sơn của dòng thiền Tào Động. Những câu hỏi của Vân Môn đều là hỏi ngộ cảnh của Động Sơn. Động Sơn không hiểu thâm ý, nên chỉ trả lời theo nghĩa thông thường. Do câu nói của Vân Môn :”Đồ giá áo, túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam đi đâu mà chả được.” Động Sơn mới hiểu rằng chẳng phải đi đâu xa, chân lý ở ngay trước mắt.
(Thánh Tham)

-Vì là lần đầu gập gỡ nên Động Sơn đã trả lời những câu hỏi của Vân Môn một cách ngây thơ. Ông không biết vì sao bị ăn 3 gậy. Ngày hôm sau, ông hỏi về chuyện ấy và bị Vân Môn mắng. Động Sơn đã trả lời những câu hỏi mà không tỉnh thức, đáng ăn gậy. Truyền thuyết kể rằng sau khi sanh 3 ngày, sư tử mẹ xô các con nhỏ xuống vực, và chỉ nuôi nấng dạy dỗ những con nào trở lại được. Các bài học của cuộc đời rất khắc nghiệt, muốn học phải tỉnh thức.
(Kubose)

-Lời Vân Môn hỏi Động Sơn bề ngoài là những lời hỏi bình thường, nhưng ý không ở đấy. Lần thứ nhất Vân Môn mắng “tha ông 3 gậy là còn nhẹ, lần thứ 2 “Đồ giá áo, túi cơm” ngữ khí đã nặng hơn. Vừa rời chỗ nào ? Rời chùa lúc nào ? đều là khảo nghiệm xem Động Sơn đã chứng ngộ chuyện bên đó chưa ? Lúc đó Động Sơn còn chưa ngộ nên không có câu trả lời nhanh như tên bắn, tuy về sau cũng có tỉnh.
-Giải thích bài kệ
Câu 1 và 2 : sư tử mẹ dạy con học nhẩy, nó để cho con sau nhiều lần phạm lỗi sẽ tập thành. Vân Môn tiếp dẫn Động Sơn cũng dùng thể thức này, khiến Động Sơn bị mắng mà khổ công suy nghĩ do đó mà ngộ. 
Câu 3 và 4 : Lần thứ nhất mắng còn nhẹ : Động Sơn còn chưa ngộ, lần sau thì nặng hơn.
-Thiên Đồng Kiệt nói : Lần trước lời mắng của Vân Môn quá rộng, không xác định được. Lần sau lời mắng thân thiết hơn. Nhưng Vân Môn như vậy là phí sức sao không dùng pháp trực tiếp (chỉ thẳng tâm người). Động Sơn nếu gián tiếp mà ngộ sợ rằng không đúng.
-Khô Thủy Thành : Đến Trường An đi Đại Đạo sẽ nhanh chóng. Khi đi đường phải cẩn thận từng bước nhìn cho kỹ đừng để đi lạc đường chánh. Đi được 5 dậm là thấy được 5 dậm (hành giả được bao nhiêu thì là bấy nhiêu chứ không phải giả). Khi tới nơi mới biết đi Đại Đạo là nhanh nhất và không gian khổ như khi đi các đường nhánh.
(Dương Tân Anh)

-Tha ông 3 gậy : Có người cho rằng 3 câu hỏi : Ông vừa rời đâu ? Kết hạ ở đâu ? Rời chùa lúc nào ? là 3 gậy là tình giải sai lầm, bản ý của công án này là khuyên mọi người nên trở thành đạo nhân vô sự.

 

Tắc Mười Sáu
NGHE TIẾNG CHUÔNG MẶC ÁO BẨY MẢNH

Cử :
Vân Môn nói :
-Thế giới rộng bao la, vì sao nghe tiếng chuông lại mặc áo bẩy mảnh ?

Bình :
Phàm tham thiền học đạo sợ nhất là chạy theo thanh, sắc. Giả sử nghe tiếng mà ngộ đạo, thấy sắc mà minh tâm đó chỉ là việc tầm thường. Há chẳng biết nạp tăng cưỡi thanh đạp sắc, nhìn thấy Phật tánh từ mỗi vật, thấy diệu dụng từ mỗi sự. Tuy là vậy, thử hỏi tiếng đến bên tai hay tai ghé bên tiếng ? Cho nên khi tiếng và im đều mất thì các ông hiểu ra sao ? Nếu lấy tai nghe không thể hiểu, lấy mắt nghe lại gần gũi hơn.

Tụng :

會 則 事 同 一 家
Hội tắc sự đồng nhất gia
不 會 萬 別 千 差
Bất hội vạn biệt thiên sai
不 會 事 同 一 家
Bất hội sự đồng nhất gia
會 則 萬 別 千 差
Hội tắc vạn biệt thiên sai.

Hiểu thì là chuyện một nhà
Không hiểu ngàn sai vạn khác
Không hiểu chuyện vẫn một nhà
Hiểu liền ngàn sai vạn khác.

Chú Thích :

-Áo 7 mảnh : dùng 7 mảnh vá lại để làm thành áo cà sa. Mặc áo này khi tụng kinh hay nghe pháp.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : nếu dùng mắt thấy sắc, dùng tai nghe tiếng, nếu thể hội thì mọi sự rõ ràng, nếu không thể hội thì mọi sự không minh bạch. Đó là cảnh giới của người phàm.
Câu 3 và 4 : nếu dùng tai thấy sắc, dùng mắt thấy tiếng, nếu không thể hội thì mọi sự rõ ràng, nếu thể hội thì mọi sự sẽ không minh bạch. Đó là cảnh giới của thánh nhân.
-Thế giới bao la chỉ cảnh giới tuyệt đối, hoàn toàn tự do, nghe tiếng chuông mặc áo bẩy mảnh là bị hạn chế. Một người giác ngộ mặc dầu sống ở trong thế giới giới hạn vì những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày nhưng nếu mọi hoạt động đều ở trong định thì vẫn hoàn toàn tự do.
(Sekida)

-Trong thiền viện, sinh hoạt của các thiền sinh được quy định rõ ràng. Khi nghe tiếng chuông thì mặc áo đến thiền đường. Nhưng Vân Môn hỏi tại sao ? Cổ đức có câu “Những gì từ cửa vào đều là khách lạ”. Cửa đây là các giác quan nhìn, ngửi, nghe, nếm, sờ. Nếu chúng ta hành động theo cảm giác chúng ta đã nghe lệnh của người ngoài. Để đáp ứng với những áp lực bên ngoài chúng ta dễ dàng nổi giận. Đây là tính cách của đời sống mới. Nếu an định trong đời sống nội tâm, những hành động, cảm giác đều phát xuất từ bên trong. Người chưa giác làm việc vì ông ta phải làm. Người đã giác ngộ làm việc vì ông muốn làm. Tự do nằm trong tâm điểm của đời sống. Vân Môn chỉ cho chúng ta tâm điểm.
(Kubose)

Vân Môn (?-949) : pháp danh Văn Yển, họ Trương người Gia Hưng, Cô Tô.

Tắc Mười Bẩy
BA LẦN GỌI CỦA QUỐC SƯ

Cử :
Quốc sư gọi 3 lần, thị giả dạ 3 lần. Quốc sư bảo :
-Tưởng tôi phụ ông, không ngờ là ông cô phụ tôi !

Bình :
Quốc sư gọi 3 lần, lưỡi rơi xuống đất. Thị giả 3 lần dạ miệng phóng ra ánh sáng. Quốc sư lớn tuổi lại cô đơn, đè đầu trâu bắt ăn cỏ. Thị giả chẳng chịu vì người no không thèm bữa ăn ngon, thử hỏi ông cô phụ quốc sư ở chỗ nào ? Nước yên thì tài tử được quý trọng, nhà giầu thì con nít được nuông chiều.

Tụng :

鐵 枷 無 孔 要 人 擔
Thiết giá vô khổng yêu nhân đam
累 及 兒 孫 不 等 閑
Lụy cập nhi tôn bất đẳng nhàn
欲 得 橕 門 並 拄 戶
Dục đắc sanh môn tịnh trụ hộ
更 須 赤 腳 上 刀 山
Cánh tu xích cước thượng đao sơn.

Gông sắt không lỗ bắt người mang
Làm cho con cháu chẳng được an
Muốn được nếp sống y như trước
Chân trần phải cố vượt đao sơn.

Chú Thích :
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : gông sắt không lỗ chỉ 3 lần gọi của Quốc sư để khảo nghiệm thị giả, rất khó trả lời. Nhưng thị giả dạ 3 lần là đã đáp ứng.
Câu 3 và 4 : muốn chống giữ Thiền môn mang gông sắt không đủ, còn phải dùng chân trần đi trên núi dao nữa.
-Đè đầu trâu sắt bắt ăn cỏ : cưỡng bức trâu no phải ăn cỏ, ý là cơ duyên chưa chín mùi, dù dụng công thế nào cũng không liễu ngộ được.
-Thiền môn chủ trương tâm Phật, chúng sanh không sai biệt. Nhưng chúng sanh không dám nhận mình là Phật, do đó trầm luân sanh tử không thể về nhà. Thị giả của quốc sư chỉ dám nhận mình là thị giả, không dám nhận mình là Phật. Quốc sưthị giả ai phụ ai đã rõ ràng.
(Tinh Vân)

-Vài nhà chú giải cho rằng thị giả ứng tiếng dạ là đúng không có chút giả tạo nào. Vài người khác cho rằng quốc sư quá nóng lòng mong thị giả giác ngộ. Sau nói và làm là tỉnh thức. Thị giả được quốc sư gọi 3 lần không phải được sai để làm một việc gì, đáng nhẽ ông nên tỉnh thức mới phải. Ông thầy dạy, nhưng học được hay không là do trò. Ông thầy chỉ có thể chỉ con đường đưa tới tỉnh thức. Đừng hốt hoảng !
(Kubose)

-Quốc sư Huệ Trung không biết sanh năm nào, mất năm 775. Tục truyền sống hơn 100 tuổi, được Lục tổ Huệ Năng truyền tâm ấn. Ông sống trên núi hơn 40 năm, không đi đâu cả, nhưng danh tiếng vang vọng đến triều đình. Vua triệu ông về kinh để học hỏi. Chúng tôi ghi lại dưới đây 2 giải thích trái ngược để độc giả suy gẫm :
1. Quốc sư gọi 3 lần thị giả đều dạ, nhưng không nhận ra cái tánh nghe của mình nên mới bị trách.
(Thích Thanh Từ)

2.Giữa gọi và dạ không có một cái gì cả. Sự nhận thức thuần túy chỉ thực sự xẩy ra trong trạng thái định.
Tưởng tôi cô phụ ông : sợ rằng những chỉ dạy kém cỏi của tôi đã không làm ông tiến bộ.
Không ngờ ông lại cô phụ tôi : nhưng sự thực là ông đã đi ngược lại lời dạy của tôi. Đây là lời chấp nhận của quốc sư vì trong Thiền học người ta hy vọng trò phải tiến vượt thầy.
(Sekida)

-Về sau có ông tăng hỏi Tuyết Phong :
-Quốc sư gọi thị giả 3 lần là có ý gì ?
Sư đi về phòng phương trượng.
Ông tăng dẫn công án quốc sư gọi thị giả 3 lần để hỏi dụng ý quốc sư ở đâu ? Bất cứ người nào đọc công án này đều biết là quốc sư muốn tiếp dẫn thị giả ngộ nhập tự tánh. Ông tăng không muốn biết đáp án do suy luận mà là thật chứng lấy tâm ấn tâm. Nói cách khác, ông xin Tuyết Phong truyền thọ ý chỉ. Hành động của Tuyết Phong không phải là đáp án. Dùng lý luận phân tích có thể nói là Tuyết Phong ám chỉ Thiền tồn tạisinh hoạt của thân tâm, muốn ông tăng tự thể hội ở ngay thân mình, đừng tìm kiếm ở bên ngoài. Cũng có thể nói đó là biểu hiện nội chứng của Tuyết Phong. Nội chứng không thể dùng ý mà hiểu được, chỉ có thể đạt được bằng kinh nghiệm. Ông tăng chưa vượt lên được nhị nguyên tương đối thì không thể nào hiểu được. Ông cũng như thị giả của quốc sư, phụ mình và cũng phụ cả lão sư nữa.
(Thái Vinh Đình)

Quốc sư Huệ Trung (?-775), họ Nhiễm, người Chư Kỵ, Việt Châu (Chiết Giang), đệ tử Lục tổ Huệ Năng.

Tắc Mười Tám
BA CÂN GAI CỦA ĐỘNG SƠN

Cử :
Một ông tăng hỏi Động Sơn :
-Phật là thế nào ?
-Ba cân gai.

Bình :
Động Sơn lão nhân tham được chút ít thiền sò hến, tách 2 cái vỏ ra lộ cả ruột gan. Tuy là thế, nhưng đi đâu mà kiếm Động Sơn ?

Tụng :

突 出 厤 三 斤
Đột xuất ma tam cân
言 親 意 更 親
Ngôn thân ý cánh thân
來 說 是 非 者
Lai thuyết thị phi giả
便 是 是 非 人
Tiện thị thị phi nhân.

Bỗng đưa ba cân gai
Lời thân ý càng thân
Người nói sai và đúng
Chỉ là thị phi nhân.

Chú Thích :
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : Khi nói 3 cân gai là lời và ý phối hợp với nhau.
Câu 3 và 4 : đối với người thực chứng thì chẳng có gì là sai hay đúng. Xuân tới thì tới, Đông đi thì đi.
-Ngôn ngữ chỉ là công cụ để diễn tả chân lý. Nếu chấp vào ngôn từ thì là đánh mất chân lý vậy.
(Thái Chí trung)

-Động Sơn bị hỏi “Phật là thế nào ?” trong lúc ông đang làm việc. Ông liền giơ nắm gai lên (nặng 3 cân) ông đang cầm trong tay trong lúc đó. Nhiều người nghĩ Phật là siêu nhân khác hẳn người thường. Động Sơn phá bỏ định kiến này bằng cách chỉ vật như chúng là. Phật là Như Lai (đến như thế) Thế nào là Phật? Ba cân gai ! Câu trả lời tức khắc, không giả tạo, không suy nghĩ. Vạn pháp đều là Phật, thật sự tự do, tự tại.
(Kubose)

-Ba cân gai của Động Sơn là một công án trứ danh. Từ cổ đến nay không ít người tham công án này, càng tham càng xa. Nhân vì 3 cân gai không có ý nghĩa. Nếu ông hỏi Phật là thế nào ? Có thể đáp cho ông Phật ở trong điện sao ? hay Phật chính là ông ? Chẳng bằng 3 cân gai, chặt đứt phân biệt, ý thức, tư tưởng, không thể dùng lý giải để tìm kiếm chẳng là thân thiết hơn hay sao ?
(Tinh Vân)

-Bỗng đưa gai 3 cân : Đây là phóng ảnh nội tâm của Động Sơn. Lúc đó hoặc là Động Sơn đang cân gai, hay nhìn người khác cân, hay nhớ lại một kinh nghiệm; 3 cân gai trực giác phóng ra và thốt thành lời.
Nếu ông còn chấp vào những khái niệm sai và đúng thì ông còn bị kẹt trong thế giới tốt và xấu. Đối với người đã giác ngộ thì vào địa ngục hay lên thiên đàng ông ta cũng chẳng thèm để ý, đi đâu thì đi.
(Sekida)

Tắc Mười Chín
TÂM BÌNH THƯỜNG LÀ ĐẠO

Cử :
Triệu Châu hỏi Nam Tuyền :
-Thế nào là Đạo ?
-Tâm bình thường là Đạo.
-Có phương pháp nào để cầu được ?
-Nếu có niệm đầu cầu được là đã sai rồi.
-Nếu phong kín tất cả tâm niệm thì làm sao biết Đạo ?
-Đạo không thuộc biết hay không biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu đạt đạo thì thấy như thái hư trống rỗng há có thể nói được thị phi sao ?
Châu ngay lời đó đại ngộ.

Bình :
Nam Tuyền bị Triệu Châu hỏi thực như ngói bể, băng tan biện biệt không được. Triệu Châu dù có ngộ thật đi nữa cũng phải tham 30 năm nữa thì mới được.

Tụng :

春 有 百 花 秋 有 月
Xuân hữu bách hoa Thu hữu nguyệt
夏 有 涼 風 冬 有 雪
Hạ hữu lương phong Đông hữu tuyết
若 無 閑 事 掛 心 頭
Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu
便 是 人 間 好 時 節
Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.

Xuân có trăm hoa, Thu có nguyệt
Hạ có gió mát, Đông tuyết rơi
Nếu không chuyện gì làm bận óc
Thì chính nhân gian buổi đẹp trời.

Chú Thích :
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : mỗi mùa đều có thú riêng.
Câu 3 và 4 : nếu không có gì làm bận óc thì đó là tâm bình thường, là cảnh giới của Đạo.
-Tâm bình thường chính là vô tâm. Tâm bình thường không liên quan gì đến sinh hoạt ý thức, nó thuần phác. Tâm bình thường chính là trọng tâm của Thiền. Nhưng Nam Tuyền không cho chúng ta biết làm thế nào để đạt Đạo. Ông chỉ cho biết khi ngộ đạo rồi thì như thái không vô ngại. Chúng ta đều có Phật tánh đầy khắp hư không pháp giới chỉ vì nhất thời bị mê hoặc điên đảo làm trở ngại Phật tánh hiển lộ. Nếu y pháp tu học được vô tâm thì sẽ chứng nhập cảnh giới hư không.
(Tiêu Vũ Đồng)

-Mục đích của Thiền là được tâm bình thường. mặc áo, ăn cơm, đại tiện, tiểu tiện, ngủ nghê đều là những sinh hoạt cơ bản của chúng sanh, cứ tùy duyên mà làm, đừng cưỡng cầu thì được tâm bình thường, khế hợp với Đạo.
(Bồ Đề Học Xã)

-Đây không phải là một công án thực sự. Nó giải thích một ý kiến trung tâm của Triết Đông, đặc biệt là Thiền. Thiền là tìm ra con đường và đi trên đường đó. Điều khó khăn là con đường phải tìm, cái cách để tìm đường không phải là chân đạo. Con đườngNam Tuyền giải thích không thuộc về các học giả đã biết nó, không thuộc kẻ vô tri sống nhưng không biết nó. Tìm kiếm một cách tương đối không bao giờ được. Đạo là tuyệt đối, vượt lên thế giới tương đối, so sánhgiải thích. Nó chính là cuộc đời. Đạo là phổ biến khi một người sống đạo, thì nó là độc nhất đối với ông ta.
(Kubose)

Tắc Hai Mươi
ĐẠI LỰC SĨ

Cử :
Hòa thượng Tùng Nguyên bảo :
-Vì sao đại lực sĩ nhấc chân lên không nổi ?
Và thêm :
-Mở miệng lại không dùng lưỡi.

Bình :
Có thể nói Tùng Nguyên dốc cả gan ruột ra nhưng thiếu người nhận lãnh. Nếu ngay đó lãnh ngộ thì đáng đến đây để ăn gậy của Vô Môn. Vì sao vậy ? Muốn biết vàng thật, phải thử bằng lửa đỏ.

Tụng :

抬 腳 踏 翻 香 水 海
Đài cước đạp phiên hương thủy hải
低 頭 府 視 四 禪 天
Đê đầu phủ thị tứ thiền thiên
一 個 渾 身 無 處 著
Nhất cá hồn thân vô xứ trước
請 續 一 句 
Thỉnh tục nhất cú

Co cẳng đạp tung Hương Thủy Hải
Cúi đầu nhìn lại Tứ Thiền Thiên
Một mình chẳng có nơi nương tựa
Viết tiếp một câu hỡi bạn hiền.

Chú Thích :
-Hương Thủy Hải : biển bao bọc núi Tu Di
-Tứ thiền thiên : cảnh giới thiền định thứ tư.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : người có thể đạp hương thủy hải và cúi đầu ngó tứ thiền thiên chính là đại lực sĩ.
Câu 3 và 4 : ông không có nơi nương tựa là chỉ người đã ngộ, cùng thể với hư không, tiêu dao, tự tại.
-Đại lực sĩ chỉ người giác ngộ, chân nhấc lên không nổi vì Phật tánh đã bao trùm khắp vũ trụ, còn có chỗ nào để giơ chân ? Nhưng đã giác ngộ thì tự tại vô ngại. Vậy hắn sẽ cử động như thế nào ? Mở miệng không dùng lưỡi vì không dùng lời để diễn tả chân lý được. Đây là 2 trong 3 chuyển ngữ của Tùng Nguyên.
Câu 2 là câu trả lời của câu 1. Câu thứ 3 là người có minh nhãn vì sao không cắt đứt được sợi dây đó ? Là người giác ngộ không ngại khổ nhọc để cứu giúp những kẻ chưa giác. Đó là cái chấp cuối cùng (sợi dây đỏ). Tùng Nguyên đưa ra chuyển ngữ thứ 3 khi sắp mất.
(Thánh Tham)

Tùng Nguyên (1139-1209) : pháp danh Sùng Nhạc, đệ tử của Mật Am. Ông tham câu “Chẳng phải tâm, chẳng phải vật, chẳng phải Phật “ mà ngộ.

Tắc Hai Mươi Mốt
QUE CỨT KHÔ CỦA VÂN MÔN

Cử :
Một ông tăng hỏi Vân Môn :
-Phật là thế nào ?
-Que cứt khô ?

Bình :
Có thể nói Vân Môn quá nghèo để dọn bữa cơm chay, quá bận để nói pháp từ bài soạn sẵn; vội vớ lấy que cứt khô để chống đỡ môn hộ. Phật pháp thạnh suy có thể thấy rõ.

Tụng :

閃 電 光
Thiểm điện quang
擊 石 火
Kích thạch hỏa
眨 得 眼
Trác đắc nhãn
已 蹉 過
Dĩ tha quá

Loáng điện trời
Đá bật lửa
Chớp mắt thôi
Đã vượt quá.

Chú Thích :
-Phật là thế nào ? : đây là một câu hỏi mà các ông tăng thường tham.
-Que cứt khô : dùng que cứt khô để trả lời câu hỏi trên là một thủ đoạn tiếp cơ.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : câu nói que cứt khô là cơ phóng nhanh như điện hay tia lửa làm bặt hết mọi suy nghĩ.
Câu 3 và 4 : trong khoảng khắc nếu còn do dự thì đã đánh mất cơ hội khai ngộ rồi. 
-Mọi thiền sinh đều cố gắng tu tập để đạt giác ngộ và trở thành Phật. Họ coi Phật như một lý tưởng thanh tịnh, hoàn hảo, đáng kính nhất. Họ cố gắng vượt qua những ác độc, tội lỗi, chết chóc, nhân loại, tầm thường để trở thành một vị Phật như thế. Vân Môn đã cố gắng phá hủy những khái niệm về Phật này bằng cách so sánh Phật với que cứt khô, là một vật dụng như giấy vệ sinh ngày nay. Đức Phật không phải là thượng đế, Ngài là một người giác ngộ. (Kubose)

-Que cứt khô là những que gỗ dùng như giấy vệ sinh ngày nay. Đối với ông tăng Phật là bậc thanh tịnh tối cao vô thượng, que cứt khô là vật ô uế, cách nhau một trời một vực làm sao có thể coi là một ? Ông không biết rằng Phật không có tồn tại cố định. Tất cả vạn tượng trong trời đất đều có Phật tánh, cho nên mới nói Phật pháp tại thế gian giác. Nếu như lìa các sự vật ở thế gian để tìm Phật thì cái tìm được không phải là Phật thật. Vân Môn phá chấp cho các ông tăng : Phật không phải là Phật thật, que cứt khô cũng không phải là Phật, chỉ cần bỏ cái tâm chấp trước đi thì chân Phật ở giữa Phật và que cứt khô.
(Chung Sĩ Phật)

-Que cứt khô chắc chẳng ai thèm, do đó không khởi nên sự tranh chấp để chiếm hữu. Nếu có thể dùng cái tâm này để đối đãi với vạn vật thì đó chẳng phải là tâm bồ tát sao ?
(Học Thành cư sĩ)

Tắc Hai Mươi Hai
CÂY PHƯỚN CỦA CA DIẾP

Cử :
A Nan hỏi Ca Diếp :
-Ngoài bộ áo vàng ra, Thế Tôn còn truyền gì cho sư huynh ?
Ca Diếp gọi :
-A Nan !
-Dạ !
-Hãy hạ cây phướn trước cửa xuống !

Bình :
Nếu hướng vào đây mà nói được một chuyển ngữ thì thấy pháp hội Linh Sơn còn chưa tan. Nếu chưa thì Tỳ Bà Thi Phật sớm đã lưu tâm nhưng đến nay vẫn chưa đắc diệu.

Tụng :

問 處 何 如 答 處 親
Vấn xứ hà như đáp xứ thân
幾 人 於 此 眼 生 筋
Kỷ nhân ư thử nhãn sinh cân
兄 呼 弟 應 揚 家 醜
Huynh hô đệ ứng dương gia xú
不 屬 陰 陽 別 是 春
Bất thuộc âm dương biệt thị xuân.

Chỗ hỏi chẳng thân bằng chỗ đáp
Do vậy bao người trố mắt nhìn
Anh gọi em thưa bầy thói xấu
Chẳng thuộc âm dương, cũng là Xuân.

Chú Thích :

-Ca Diếp : đại đệ tử của Phật.
-A Nan : còn dịch là Khánh Hỷ, em họ Phật cũng là 1 trong 10 đại đệ tử của Phật.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : câu này ca ngợi công năng khai thị của câu “Ca Diếp trả lời nhưng ít người lãnh ngộ”.
Câu 3 và 4 : thói xấu ở đây là phản ngữ, chỉ truyền thống của Thiền tông là lấy tâm ấn tâm, Ca Diếp gọi, A Nan thưa, đó là chứng cớ.
-Ca Diếp và A Nan là 2 đệ tử xuất sắc của Đức PhậtCa Diếp trở thành tổ thứ nhất của Thiền tông Ấn Độ (được truyền y bát) khi Đức Phật nhập diệt. Khi A Nan hỏi sư huynh Phật còn truyền gì ngoài y bát không ? Ca Diếp trả lời bằng cách lên tiếng gọi :
-A Nan !
-Dạ !
-Hạ cây phướn xuống !
Chân lý được truyền không dùng lời, cũng như tình yêu không cần hỏi cũng có thể cảm thông. Khi 2 người đang yêu không cần phải nói anh yêu em, chỉ cần gọi tên người yêu là đủ, thật là đẹp và dịu dàng.
(Kubose)

-A Nan là em họ của Phật, nhỏ hơn Phật khoảng 30 tuổi. Ông có một trí nhớ đặc biệt. Vào khoảng năm 20 tuổi ông làm thị giả cho Phật cho đến khi Phật nhập diệt. Trong lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, dưới sự chủ tọa của Ma Ha Ca Diếp ông đã thuật lại đầy đủ những gì Đức Phật đã giảng dạy. Tuy nghe nhiều nhưng thiếu tu dưỡng nên đến khi Phật nhập diệt rồi mà ông vẫn chưa giác ngộ. Hạ cây phướn xuống, hãy bỏ xuống cái ngã của ông, bỏ xuống tất cả những gì ông quý trọng : giác ngộ, thiền, thiền sư, Đức Phật, bỏ xuống hết.
(Sekida)

-Đắc diệu là chỉ nhận thức được sự vật như chính nó (pháp nhĩ như nhiên). Còn cách hiểu khác nữa là lời nói của Tỳ Bà Thi Phật (một trong 7 vị Phật trước Phật Thích Ca), có nghĩa là dù dụng công tu hành thế nào, dù dùng bao thời gian cũng khó mà đạt tới cảnh giới tuyệt đối viên mãn, ám chỉ đạo có nhiều mặt hoặc nhiều giai đoạn.
(Hoffmann)

Tắc Hai Mươi Ba
CHẲNG PHẢI THIỆN ÁC

Cử :
Minh thượng tọa đuổi theo Lục tổ Huệ Năng đến Đại Dữu Lãnh. Tổ thấy Minh tới bèn ném y bát trên tảng đá, bảo :
-Áo này để làm tin há để dành dựt sao ? Nếu ông muốn thì cứ việc mang đi.
Minh toan nhấc lên, nhưng áo nặng như núi không lay chuyển, Minh do dự, run sơ, thưa :
-Tôi đến cầu pháp chứ không phải vì áo, xin hành giả khai thị.
-Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, ngay chính lúc đó, cái gì là khuôn mặt xưa nay của Minh thượng tọa ?
Minh ngay đó đại ngộ, toàn thân toát mồ hôi, khóc lạy :
-Ngoài mật ý, mật ngữ vừa nói thì còn gì nữa không ?
-Tôi đã nói với ông thì không còn là mật nữa, nếu ông phản chiếu tự kỷ thì mật ở nơi ông.
-Huệ Minh này tuy theo chúng ở Hoàng Mai nhưng thực chưa biết bản lai diện mục, nay mông ơn được chỉ cho chỗ vào như người uống nước nóng lạnh tự biết. Nay hành giả chính là thầy tôi vậy.
-Nếu ông được thế thì tôi và ông đều là học trò Hoàng Mai. Hãy khéo giữ gìn.

Bình :
Lục tổ vì việc nhà gấp, như lão bà tâm thiết lấy quả vải bóc vỏ, bỏ hột, nhét vào mồm các ông, chỉ cần các ông nuốt.

Tụng :

描 不 成 兮 畫 不 就
Miêu bất thành hề họa bất tựu
讚 不 及 兮 休 生 壽
Tán bất cập hề hưu sinh thọ
本 來 面 目 沒 處 藏
Bản lai diện mục một xứ tàng
世 界 壞 時 渠 不 朽
Thế giớ hoại thời cừ bất hủ.

Vẽ chẳng thành hề, tả chẳng được
Khen chửa tới hề, đành chịu thôi
Mặt mũi xưa nay không chỗ cất
Thế giới tan rồi vẫn còn đây.

Chú Thích :
-Giải thích Bài kệ :
Câu 1 và 2 : bản lai diện mục không thể diễn tả được dù có khen ngợi, nó cũng không nhận được.
Câu 3 và 4 : nó cũng không ẩn tàng ở đâu, vì vậy nếu thế giới bị hủy hoại thì nó vẫn còn.
-Mật ở nơi ông và nóng lạnh tự hay đều chỉ tâm là Phật, chẳng cần cầu xin ai khác.
(Bồ Đề Học Xã)

-Huệ Minh giác ngộ ngay sau lời nói của Lục tổ. Nhưng nếu không học tập nhiều năm với Hoằng Nhẫn thì giờ có thể ngộ được sao ? Cây có gốc, nước có nguồn. Ngộ ngay lúc đó là do nhân duyên đã chín mùi.
(Tinh Vân)

-Quan niệm thiện ácquan niệm thị phi (phải,trái). Loại quan niệm này là do thức tâm sinh ra. Lục tổ bảo Huệ Minh không nghĩ thiện, không nghĩ ác là để trừ thức tâm mà đạt tới tự tánh. Vì tự tánh vượt lên trên mọi hiện tượng nên không dùng khẳng định mà hình dung vì như vậy là chấp có, cũng không dùng phủ định vì như vậy là chấp không, rơi vào đoạn diệt
(Tiêu Vũ Đồng)

-Khuôn mặt xưa nay có nghĩa là khuôn mặt trước khi ông được sanh ra. Lục tổ cố chỉ cho Huệ Minh thế giới tuyệt đối. Ở thế giới tương đối này chúng ta chấp vào mặt này, mặt nọ : đẹp xấu, hay dở, đúng sai, yêu ghét, to nhỏ, cong thẳng. Khuôn mặt xưa nay nhìn thế giới khi nó còn chưa phân biệt. Chân ngãvô ngã. Thiền giục chúng ta hãy nhìn vào trong, tháo mặt nạ ra và cởi bỏ tự ngã. Khi cái vỏ ngoài của tự ngã đã rơi xuống, các ông sẽ tìm thấy chân giác.
(Kubose)

-Huệ Minh lúc khai ngộ toàn thân toát mồ hôi. Đó là một sự kiện đáng lưu ý. Thân và tâm có quan hệ mật thiết, một thể lưỡng diện. Tâm khai ngộ là một sự kiện kinh thiên động địa, thân không thể không phản ứng. Nếu một người nói mình đã khai ngộ mà thân không có chút phản ứng nào thì đó chỉ là ý thức lướt qua, chưa hẳn là hoàn toàn khai ngộ, cần tinh tiến thêm. Như lời Lục tổ nói hãy tự phản quán tự tâm; tất cả áo bí đều ở đó.
(Liệu Duyệt Bằng)

-Huệ Minh và Huệ Năng cùng là đệ tử của Hoằng Nhẫn. Một người thô tục chỉ muốn đạt danh vị, còn một người là bậc chân tu. Khi Huệ Minh truy sát Huệ Năng, Huệ Năng để y bát trên tảng đá, Huệ Minh đến nhắc lên không nổi mới nói :
-Tôi đến vì pháp, không vì áo, xin hành giả khai thị.
Đó là hồi đầu chuyển xứ. Chính sự hồi đầu này là cơ duyên khai ngộ. Có người ở tình cảnh này không chịu ngừng bước nên không có cơ hội tham ngộ. Cũng như tên cướp Ưng Quật Ma La cầm dao bức Phật. Phật bảo :
-Tôi đã ngưng rồi, sao ông còn chưa ngưng ?
Tên cướp đột nhiên ngộ đến sự khốn quẫn của thân mình, không hướng ngoại bôn ba mà hướng nội phản chiếu, do đó giác ngộ.
(Hồng Khải Tung)

Tắc Hai Mươi Bốn
LÌA KHỎI NGÔN NGỮ

Cử :
Một ông tăng hỏi Phong Duyệt :
-Nói hay im đều là ly vi, làm sao thông mà không phạm ?
-Còn nhớ vào khoảng tháng 3 ở Giang Nam, chim Chá Cô hót giữa muôn hoa.

Bình :
Cơ của Phong Huyệt như tia điện xẹt, có đường liền đi, tuy vậy vẫn không phá được lời của tiền nhân. Nếu các ông thấy được chỗ này thì tự mình có đường ra. Giờ hãy bỏ ngôn ngữ tam muội sang một bên, hãy nói một câu coi.

Tụng :

不 露 風 骨 句
Bất lộ phong cốt cú
未 語 先 吩 咐
Vị ngữ tiên phân phó
進 步 口 喃 喃
Tiến bộ khẩu nam nam
知 君 大 罔 措
Tri quân đại võng thố.

Chẳng lộ câu cốt yếu
Chưa nói đã dặn dò
Bước đi miệng lẩm nhẩm
Biết ông kẹt ra trò.

Chú Thích :
-Ly là chỉ thể, vi là chỉ dụng, dù nói hay im thì đều là phân biệt, không phù hợp với thiền lý.
-Giải thích bài kệ :
Câu 1 và 2 : dùng 1 câu nói không hiển sơn lộ thủy để ứng đối vấn đề nêu lên thì chưa mở miệng vấn đề đã rõ ràng rồi.
Câu 3 và 4 : nếu ông còn lẩm rẩm không dứt thì đã biết là ông chưa ngộ rồi.
-Phong Huyệt (896-973) : là thiền sư Diệp Chiểu, trụ trì Phong Huyệt tự ở Nhữ Châu, ông họ Lưu, người Dư Hàng. Xuất gia rồi tham thiền lãnh ngộ, là một đại sư thuộc tông Lâm tế. Ông mất năm Tống Khai Bảo thứ 6, thọ 77 tuổi.
-Ly : thể của pháp tánh, lìa tướngtịch diệt chỉ Niết Bàn.
-Vi :dụng của pháp tánh, vi diệu không thể nghĩ bàn, chỉ Bát Nhã.
-Khi được hỏi, Phong Huyệt diễn tả chân lý theo cách riêng của ông. Chân lý vượt lên lý luận, lời nói, im lặng. Mỗi người phải tự mình chứng nghiệm, như Phong Huyệt, chúng ta phải uống nước thì mới hết khát, chứ không thể chỉ nhìn nước và giảng giải về tình chất giải khát của nó. Nếu không uống thì chúng ta còn khát.
(Kubose)

-Ly: là chủ quan, là tâm hướng nội, là im
-Vi : là khách quan, là tâm hướng ngoại, là nói.
Nói hay im, chủ quan hay khách quan đều sai vì ở bản thể giới làm gì có chủ và khách. Giang Nam là nơi nổi tiếng về trồng hoa. Hoa không lời nhưng cho hương thơm, chim vô tâm mà hót lảnh lót. Đó là cảnh hoa hương, điểu ngữ của Giang Nam còn nói gì là thông, là phạm nữa.
(Thánh Tham)
Tạo bài viết
Tổng thống Đại Hàn Dân Quốc Moon Jae-in nói: “Phật giáo là nguồn lực Bi-Trí-Dũng, tạo thành sức mạnh đã giúp đất nước và con người Hàn Quốc vượt qua biết bao thử thách trong hơn 1.700 năm qua. Phật giáo luôn sát cánh bên những người đang phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, dân chủ và hòa bình của đất nước chúng ta. Tôi hy vọng cộng đồng Phật giáo sẽ liên tục hợp lực để mở ra con đường hướng tới giao lưu liên Triều và thúc đẩy hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên”.
Là người quan tâm rất sớm, từ năm 2019, về việc lấy hình ảnh Đức Phật để biếm họa trên Tuổi Trẻ Cười, nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn xót xa chia sẻ việc đó là rất nghiêm trọng xét trên phương diện ứng xử văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện nay có nhiều biểu hiện suy thoái đạo đức truyền thống.
Có lẽ chưa khi nào vấn đề sùng bái trở nên khủng khiếp như hiện nay. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa đã lên tiếng: sùng bái đang dẫn dắt nhiều người xa rời văn minh, tiến bộ xã hội.