Tập Truyện Ngắn Ii Của Tâm Không Vĩnh Hũu

06/01/201112:00 SA(Xem: 9725)
Tập Truyện Ngắn Ii Của Tâm Không Vĩnh Hũu

Cao Xanh Bỡn Cợt
Chết cũng mang theo
Con Thầy Hiệu Trưởng
Cuộc Sống Nhiệm Mầu
Đất Lành Chim Đậu
Gieo Một Niềm Tin
Hương Thơm Từ Bạc Mốc
Món Nợ Cuối Năm
Nụ Cười Độ Lượng
Rể Quý Của Mẹ
Sân Trước Một Dáng mai
Trút Bỏ Oán Thù
Ván Cờ Bên Hiên Chùa

CAO XANH BỠN CỢT 


 Tôi và chị chưa hề một lần gây thù chuốc oán với nhau. Vậy mà không hiểu sao ngay từ ngày chạm mặt đầu tiên ở trụ sở Hội Văn Học Nghệ Thuật Tỉnh, bỗng dưng tôi thấy ghét chị thậm tệ. Và nhìn ánh mắt, vầng trán nhăn nhíu, điệu bộ của chị khi đứng gần tôi vào lúc cuộc họp chuẩn bị khai mạc, tôi cảm nhận, thấy biết được chắc chắn rằng chị cũng chẳng ưa gì tôi, có thể là ghét cay ghét đắng tôi, còn hơn cái mức mà tôi ghét chị. Sao kỳ vậy? Đố kỵ tài năng sao? Không phải. 
 Kiểm soát được trái tim mình, tôi xin thề bán mạng là tôi không những không hề đố kỵ cái tài nhả thơ trữ tình của chị, mà còn nghiêng mình khâm phục sát đất. Tôi đâu biết làm thơ, nên tôi không thể ganh ghét, mặc cảm tự ti gì với một thi nhân nào. Nếu có đố kỵ thì tôi đã nhằm vào những văn nhân kìa, bởi tôi chỉ chuyên viết văn, viết báo chớ đâu đụng chạm gì đến lĩnh vực thi ca? Nhưng bản tính tôi từ bé đến lớn chưa hề biết ganh ghét ai, chưa hề có ác cảm với bất cứ ai chỉ vì tài năng của mình thua kém họ. Vậy thì lý do gì khiến cho tôi và chị, hai cây bút nữ triển vọng của tỉnh nhà, lại căm ghét nhau ngay từ ngày “nghe danh đã lâu nay mới biết mặt”? Tôi không hiểu. Chính tôi còn chưa hiểu nổi thì đừng hỏi có ai hiểu hay không. Còn chị có hiểu hay không thì tôi không tài biết được. Càng cố nghĩ tìm cho ra nguyên nhân tôi càng đi lạc vào khu rừng âm u mịt mờ. Tôi chỉ còn mỗi một cách là cho rằng: vì tôi và chị có duyên nợ oán thù với nhau từ muôn kiếp trước, nên kiếp này phải oán ghét nhau thôi!
 Khổ một điều, khi đã ghét nhau rồi lại cứ gặp nhau hoài. Càng ghét nhau càng phải thấy mặt nhau nhiều hơn trước. Kể từ khi biết mặt nhau qua lần ông Tổâng Thư Ký Hội giới thiệu từng hội viên trong cuộc họp, tôi và chị ta cứ đụng đầu nhau liên hồi kỳ trận, không ai buồn mỉm cười với nhau một nụ, không hề có một câu chào hỏi xả giao thốt lên dẫu là mấy câu đãi bôi khách sáo, cũng không hề nguýt háy nhau một chút cho ra ghét, chỉ là liếc trộm nhau thôi; khi thì ở bưu điện, khi thì vào chợ, khi thì vào hiệu sách, khi ghé sạp báo, thậm chí khi chui vào rạp chiếu bóng tối đen như đêm ba mươi cũng thấy rõ mặt nhau mới thật là… siêu quái lạ!
 … Thời gian trôi đi, nỗi căm ghét vẫn cứ âm ỉ lục đục trong lòng, vẫn sống khoẻ mạnh, không teo tóp mà cũng không tăng trưởng thêm, chỉ ở một chừng mực nhất định, cũng đủ làm cho tôi khó chịu như phải cưu mang một món nợ vô duyên lãng nhách. Đôi lần, tôi muốn tự tìm lại trước chị để đưa ra lời đề nghị cả hai cùng xả hết những gì chất chứa bên trong ra một trận thật hả hê, để rồi mạnh ai nấy trở về với lòng nhẹ tênh thanh thản. Nhưng tôi không đủ can đảm, và cứ vái trời cho chị có được sự can đảm ấy. Vậy mà chị cũng không tìm đến với tôi để làm cái điều mà tôi mong đợi. Ghét nhau cứ phải ghét. Liếc nhau cứ phải tiếp tục liếc. Tôi thấy chẳng ích lợi gì cho cả hai, trừ một điều: kể từ khi biết mặt nhau để căm ghét nhau, cả tôi lẫn chị đều sáng tác dữ dội hơn, hăng say hơn, và nói theo kiểu tiêu chuẩn đo lường thì những sáng tác của cả hai ngày càng chất lượng hơn. Nếu tôi được giải nhì trong cuộc thi viết truyện ngắn trên một tờ báo có uy tín khắp nước, thì chị được giải nhất cuộc thi thơ cho thiếu nhi mang tầm cỡ quốc gia. Tôi đỗ đầu danh sách những truyện ngắn hay viết về “Phật giáo và cuộc sống”, thì tên chị cũng leo lên ngồi vị trí chót vót trên kim bảng một cuộc thi thơ tứ tuyệt do một tạp chí Hội Văn Nghệ tỉnh bạn tổ chức với một chùm thơ bốn bài thật … quá tuyệt! Tôi khâm phục và mê thơ của chị lắm chứ! Nhưng phục thì cứ phục, mê thì cứ mê, mà ghét thì vẫn cứ ghét. Tôi đoán rằng chị cũng ghét tôi, mà không đoán được chị có thích đọc những sáng tác của tôi hay không? Tôi mong có ngày cả hai sẽ ngồi lại với nhau, nhưng ngày ấy cứ vẫn còn là trong giấc mơ, trong ác mộng sau trận ngủ vùi vì thức khuya cắn bút trước những trang giấy chi chít chữ…
 Ngày ấy rồi cũng đến… Tôi bị tai nạn giao thông trên đường từ nhà đến trụ sở Hội, bất tỉnh mê man không biết trời đất trăng sao gì nữa. Sau này, khi qua cơn hiểm nghèo, hồi tỉnh lại, tôi mới được nhiều người kể cho hay chuyện tôi được chính chị bồng lên xe tắc-xi chở đến bệnh viện cấp cứu. Chị không chở tôi đi thì cũng sẽ có người khác chở, nhưng chị đã cứu giúp tôi nhiều hơn thế gấp nghìn lần. Bệnh viện không còn nhóm máu quý hiếm mà tôi mang trong nhục thể để truyền cấp cứu sau tai nạn mất quá nhiều máu. Máu của tôi là nhóm máu hiếm. Những người thân ruột rà của tôi cũng không một ai có cùng nhóm máu này. 
 Thật trớ trêu, trên cao xanh hun hút kia, ông Trời đang nổi hứng muốn bỡn cợt thư giãn với người dưới cõi bụi bặm, hoặc cũng có khi là chư Long Thần Hộ Pháp hay Bồ Tát Thánh Chúng ngẫu hứng muốn thử cái Tâm của chúng sinhcuộc đời ô trọc, khi lại đưa đẩy đến bên tôi một người dưng xa lạ nhưng mang cùng nhóm máu hiếm với tôi. Chính là chị. Chị và tôi mang cùng một nhóm máu. Người mang nhóm máu này hiến cho người khác nhóm máu thì được, nhưng nếu nhận thì chỉ nhận đúng nhóm máu mình mang… Và chị đã không ngần ngại cho tôi những giọt máu quý hiếm để giành giật sinh mệnh của tôi lại từ trên tay tử thần… Khi tôi xuất viện, quanh tôi có đông đủ cha mẹ anh em, bà con quyến thuộc, bạn bè đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng… ai nấy đều hớn hở vui mừng cho ngày tôi được hồi sinh. Chỉ thiếu mỗi mình chị. Chưa bao giờ tôi thèm khát được nhìn ngắm dung nhan của chị đến thế, đến độ cháy khô cả cổ và rát đỏ đôi mắt mình, nhưng chị mất hút ở đâu rồi…
 Từ bệnh viện, tôi không chịu về ngay nhà, mà yêu cầu mọi người đưa thẳng đến nhà của ân nhân cứu mạng. Ở đó, tôi được khóc một trận tầm tã đầm đìa trong vòng tay sưởi ấm của chị, của người mà tôi căm ghét bao tháng ngày qua…

 

CHẾT CŨNG MANG THEO


Tôi quen anh khi hai đứa còn làm chung ở công trường thủy lợi huyện. Tôi làm cấp dưỡng. Anh đào kênh phá đá. Có lắm lời bàn tán, dị nghị quanh chuyện tôi và anh bắt cặp với nhau. Những anh trong ban lãnh đạo công trường khuyên nhắc tôi: “Thằng Bính dòng dõi hoàng tộc, con vua cháu chúa, nhà nó chắc nề nếp theo phong kiến lắm, em làm vợ làm dâu không nỗi đâu!”. Anh em lớn tuổi trong đám công nhân, những người gắn bó với tôi qua nhiều công trình thì can ngăn: Em coi chừng bị gạt. Thằng đó là dân thành phố, em lại quê mùa, hai đứa lại khác nhau tôn giáo, lẽ nào nó lại yêu em, dám kết duyên trăm năm với em?”. Có người lại nói thẳng: “Chắc nó chỉ muốn vui chơi qua đường. Hãy thận trọng!”. Tôi chao lòng. Tôi nghi ngờ anh. Tôi nhìn anh bằng đôi mắt khác, một đôi mắt dò xét nghi ngại của … công an hình sự.
Nhưng những người bạn thân với anh thì chỉ nói tốt, nói vào “\gười ta hiền lành, khiêm tốn, trước kia đã từng là tăng sĩ…”. Các chị cùng tổ cấp dưỡng với tôi thì khen nức nở: “Khó tìm được một người yêu như vậy. Sống lâu ở công trường với nhau rồi, chỉ thấy tính tốt, nếu giả dối thì đã lộ ra, chớ qua mắt ai được?. Đừng nghe lời dèm pha mà đánh mất đi một tình yêu quý hiếm!”. Tôi nghe vậy lại thương anh hơn, quý hơn, và tin mình đã không sai lầm. Tôi chỉ còn biết một điều: tôi yêu anh chân tình. Tôi gạt bỏ ngoài tai mọi lời khen chê, nói ra nói vào, để cho trái tim bé bỏng của mình nói lờ quyết định. Còn anh, anh chỉ mỉm cười, một nụ cười nhân hậu có thoáng chút lo lắng, băn khoăn. Anh luôn như vậy, ít nói, nói chắc, và thường cười. Và anh luôn lững thững, ung dung đi trên mọi nẻo đường khi người khác tất bật, hối hả. Tôi cũng là người luôn vội vàng, nôn nóng, đi theo anh mà vượt lên trước anh, phải mất công đứng lại chờ anh, rồi lại nôn nóng vượt lên, lại đứng chờ … Nhưng theo anh hằng ngày, tôi bắt đầu có được sự điềm nhiên, bình tâm trước mọi tình huống. Nhiều khi tôi làm lửa để thử tuổi vàng nơi anh, cũng lắm lúc tôi làm ma vương quỷ sứ để thử cái tâm trong sáng như gương mà anh thường lau chùi. Tuy vậy, anh thử thách tôi nhiều hơn là tôi thử anh, mà một lần thử là đáng một lần, nếu quả thật tôi không dành cho anh một mối tình chân thật, thì tôi đã bỏ cuộc, đưa tay đầu hàng khi không chịu đựng nổi những thử thách của anh… Vậy mà tôi đã vượt qua, vượt qua trong kiêu hãnh qua bao lần anh đưa tôi vào vòng vây của chông gai kỳ dị, đau khổ… để rồi trở về bình an cả thể xác và tâm hồn, kề cạnh bên anh như hình với bóng. Hai đứa tôi đã chiến thắng. Một chiến thắng không dễ khi tôi đã đến chùa làm lễ quy y Tam Bảo, ở lại một tháng học kinh, làm công quả, hằng ngày ra vào cõi già lam để nghe lời giáo huấn của Ni Sư trú trì và các sư cô. Tôi tự nguyện đi theo con đường Đạo mà mình thấy thích, thấy kính trọng, tuyệt nhiên không ai dẫn dụ lôi kéo mình. Tôi cũng tự nguyện đi theo anh, tin ở nơi anh, bằng trái tim luôn mách bảo những điều an lành.
Và, nụ hôn đầu tiên mà tôi và anh đã trao nhau là nụ hôn mừng chiến thắng sau thời gian dài thử thách. Tôi nhớ nụ hôn ấy suốt đời
Tôi theo anh về nhà ở thành phố xô bồ, sẵn sàng đương đầu với những thử thách mới, thử thách làm dâu nhà người. Có anh một bên, tôi không sợ bất cứ điều gì trên đời, kể cả nhảy vào lửa bỏng dầu sôi.
Không có thử thách gì cả ở cái chốn mà tôi lo ngại sẽ gặp lắm chuyện cay đắng, chát chua. Nhưng tôi cảm thấy lạc lõng, chơ vơ giữa lối sống ồn ả sôi động của một người dân thành thị, nhất là những khi không có anh bên mình. Một thôn nữ cục mịch ngốc nghếch như tôi đã không thể hoà nhập vào bữa tiệc chung vui đông dảo người thân bên gia đình chồng. Tôi cũng không thể hít thở cùng một không khí cởi mở của các cuộc trò chuyện rôm rả, huyên thiên với các chị em gái của chồng, cũng như các chị em bạn dâu khi nói về thời trang, về nghệ thuật nấu ăn, về văn thơ nhạc hoạ … Tôi đâu biết gì mà tham dự. Tôi mù tịt những chuyện thường tình nhất, cho nên tôi chỉ ngồi nín thinh, gật và lắc đầu. Nhà chồng ai cũng cho rằng tôi quá thật thà đến mức khờ khạo. Tôi không phủ nhận điều nhận xét chính xác ấy. Tôi là vậy. Và chồng tôi thích tôi ở điểm ấy. Anh cười khi nghe người khác đánh giá tôi như vậy. Anh thích tôi khờ khạo, bình dị, mộc mạc, vì có như vậy tôi mới là của chỉ riêng anh muôn đời. Anh sợ một người vợ se sua phù phiếm. Anh sợ một người đàn bà, một người bạn trăm năm rành rỏi, ranh mãnh, điêu ngoa, và dễ trở thành của người khác. Anh yên tâm hơn khi qua một thời gian tôi về sống chung với anh, ở chung với những người thân của anh, tôi không hề thay đổi tâm tính, vẫn như thuở hai đứa mới quen nhau. Anh thích vậy. Nhưng, đã có lờ dèm pha, đàm tiếu về nàng dâu quê mùa truyền tai nhau từ những phụ nữ trong nhà. Họ nói tôi đóng kịch. Họ bảo rằng tôi đang chôn giấu bên trong một lò lửa hung tợn có thể đốt cháy tam thiên đại thiên giới. Họ bảo rằng tôi đang từ từ nắm lấy quyền bính từ tay chồng. Họ thêu dệt, tưởng tượng ra nhiều thứ lắm. Tôi nghe được, tôi buồn đến bỏ cơm. Anh nghe đựơc, anh cười. Anh xem những lời bóng gió thêu dệt ấy không bằng một lạng nào. Anh trấn an tôi: “Những lời gièm pha thêu dệt, ác ngôn vọng ngữ của người đời, chỉ như những chiếc bambarang vũ khí của thổ dân Úc, chúng được ném đi và sẽ quay trở về lại nơi chúng xuất phát!”. Chồng tôi thường đem những điều hay điều đẹp trong giáo lý nhà Phật ra để nhắc nhở, dìu dắt tôi giữ vững bước chân của mình mỗi khi tôi gặp tình huống gay go, căng thẳng. Điều ấy đã an ủi tôi, giúp cho tôi thêm sức mạnh, sự nhẫn nhịn cần thiết để trụ lại cái chốn xa lạ đối với mình …
Riêng mẹ chồng tôi, người mà người ta đồn đại là nghiêm khắc, là phong kiến số một, là một phụ nữ quý pháitài hoa, đối với tôi là một hình tượng thiêng liêng ghê gớm, tôi sợ đến mức không dám lại gần. Trong khi đó các chị em bạn dâu của tôi luôn luôn săn đón, lấy lòng bà. Bà thỉnh thoảng hỏi thăm tôi, chỉ dạy cho tôi nấu các món ăn, không lạnh nhạt cũng không thân mật. Tôi nghe mọi người, những người trong giới tăng ni Phật tử, nói nhiều về bà mẹ chồng của mình. Bà rất nổi tiếng. Bà là một Phật tử thuần thành, một nữ thi sĩ đã tặng cho đời vài bài thơ bất hủ, một nhiếp ảnh gia của chùa chiền lễ hội. Người ta khen bà đạo hạnh, nghiêm trang, quý phái, tài hoa. Và người ta vì ghen ghét đố kỵ, nên cũng chê bà là hà khắc, là cổ hủ phong kiến, là kiêu ngạo khinh người. Tôi nghe hết, và nhớ lòng. Có một bà mẹ chồng như lời người ta đồn đại như vậy, hỏi một thôn nữ khờ khạo như tôi tránh sao không kinh sợ? Tôi sợ bà lắm.
Khi tôi sinh được đứa con đầu lòng, đứa con mang họ hoàng phái, mẹ chồng tôi rất thương cả tôi lẫn cháu nội của bà. Bà gần gũi hơn, thân thiện hơn trước. Bà thường bảo ban, chỉ dạy cho tôi cách nuôi dạy con khoẻ, con ngoan. Từ ngày có con, chồng tôi làm việc hăng say hơn, thu nhặt nhiều thành công hơn trên văn đàn, trên làng báo. Tôi chỉ việc nuôi con, chăm lo cơm nước. Mẹ chồng tôi rất vui mừng khi thấy hai vợ chồng tôi sống êm ấm. Bà thường ghé lại tổ ấm của chúng tôi, động viên khích lệ, khuyên răng đủ điều, chăm lo từng chuyện nhỏ nhặt, chỉ cốt cho hai vợ chồng tôi được thêm sinh khí, được thêm lòng tin yêu cuộc sống. Khoảng cách giữa tôi và mẹ chồng, một khoảng cách mà trước nay chính tôi đã giữ lấy một cách thận trọng, đã dần dần được rút ngắn. Chắc chắn rằng ai đó trong gia đình, nếu có lòng ghen ghét tôi từ trước, sẽ phải nổi cơn ganh tức khi biết mẹ chồng tôi đã và đang gần gũi với người con dâu quê mùa cục mịch. Nhưng chẳng ai biết được điều ấy. Vì mẹ chồng tôi rất kín đáo, tế nhị. Chồng tôi giống rặt tính của bà, không nói nhiềulặng lẽ làm. Chỉ có tôi biết bà thương tôi đến mức nào. Chồng tôi cũng chẳng hay, anh chỉ biết được chuyện khi tôi kể lại vào những lúc nằm bên nhau …
Tôi còn nhớ, sáng mồng một Tết năm ấy, hai vợ chồng tôi chưa kịp áo quần cho chỉnh tề để đi chúc thọ mẹ, thì mẹ chồng tôi đã bước vào phòng riêng của chúng tôi trong chiếc áo dài đơn giảnsang trọng. Bà ghé trước khi đi lễ chùa đầu năm. Một cái nhìn âu yếm, một nụ cười nhân hậu, cũng đủ làm cho tổ ấm của chúng tôi như vừa được vuốt ve ấm áp. Bà không đợi dâu con chúc tụng, mà mở lời chúc trước. Chồng tôi ôm hôn mẹ. Bà quay sang tôi, đưa tay khẽ kéo đầu tôi về phía bà. Và, bà hôn một nụ hôn lên trán tôi. Bà bước đi, lặng lẽ, không nói thêm một lời nào. Tôi bàng hoàng, nghẹn ngào với hạnh phúc râm ran. Vâng, mẹ chồng tôi đã hôn tôi. Chỉ có chồng tôi tin, vì anh chứng kiến. Tôi kể, tôi khoe với hàng xóm quê tôi, một trăm người hết một trăm người không tin, và hết một trăm người đều trả lời là “chưa hề được mẹ chồng hôn bao giờ”. Họ cho là chuyện viễn tưởng, trong mơ cũng khó có được. Nhưng tôi đã được.
Và, tôi mang nụ hôn này suốt đời, chết cũng mang theo

 

CON THẦY HIỆU TRƯỞNG


 Năm tôi học lớp 6, thi đậu vào trường công, thay vì học ở trường đó cho “le lói”, tôi lại theo học tại một trường tư vì không tốn một xu học phí và lệ phí nào. Trường tư thục Văn Hóa đối với tôi là trường nhà. Trường nhà vì ông hiệu trưởng chính là… cha tôi. Tôi được diễm phúc làm con trai một vị thầy tài đức song toàn, làm một quý tử hiệu trưởng nghiêm khắc, đường bệ. Nhưng thay vì tôi phải luôn luôn chứng tỏ, luôn luôn giữ gìn cho mọi người nhìn thấy tôi là một học sinh con nhà gia giáo, thì tôi lại dương dương tự đắc, kênh kiệu, ỷ dựa vào thế thần của cha mà muốn bắt mọi người phải nhìn tôi bằng đôi mắt đầy sự kiêng dè nể nang. 
 Mà thiệt, suốt mấy năm học lớp 6 đến lớp 7, lớp 8… cả bạn bè cả thầy cô trong trường đều dành cho tôi một kiểu đối xử đặc biệt. Đối xử dành cho “con ông cháu cha”, dành cho kẻ có cái quyền lực vô hình”bất khả xâm phạm”. Chưa từng có một thầy hay cô giáo dám dùng roi vọt với tôi, thậm chí còn chưa dám dùng lời to tiếng nặng để khiển trách đưa học trò vốn là con trai ông hiệu trưởng. Thầy cô mà còn vậy, nói gì chúng bạn cùng lớp, và ngay cả học sinh lớp khác, lạng quạng là ra khỏi trường, từ giã học đường ngay. Có lẽ, ai cũng nghĩ vậy, sợ vậy, nên đã dung túng, đã vô tình khuyến khích cho tôi ngang bướng, nghịch ngợm láu cá… mà cha tôi chẳng bao giờ được nghe một lời tham phiền, trách móc, mắng vốn về cậu quý tử của ông. Cha tôi chỉ lưu ý đến việc học lực của con trai mà không nắm rõ về hạnh kiểm của nó. May mà tôi chưa đến nỗi nương dựa bóng râm của cha mà học hành nhếch nhác. Tôi học cũng khá lắm. Chưa hề có một điểm nào dưới 6. Về môn văn thì số một. Cho nên cha tôi rất lấy làm an tâm về cậu con. Khi ở nhà, ông thường gặp hỏi tôi về bài vở trước khi đến trường, và thường giao cho các anh chị của tôi dò bài, kiểm tra sách vở của tôi rất đều đặn, gắt gao. Học thì chẳng thua bạn nào, còn có nghịch ngợm, láu cá thì bạn nào cũng chịu thua xa. Tôi quen đến thành thói, đến nỗi các bạn đặt cho tôi biệt danh là Ý Lỳ. Được gọi bằng biệt danh ấy, tôi khoái chí lắm, khoái lắm.
 … Năm tôi học lớp 9, trường có thêm nhiều giáo sư về dạy. Hồi đó thầy cô bậc trung học được gọi bằng giáo sư. Còn giáo viên chủ nhiệm thì hồi đó gọi là giáo sư hướng dẫn. Giáo sư hướng dẫn lớp 9B, lớp tôi học, là cô giáo mới toanh đối với trường Văn Hóa, nhưng đối với ngành giáo dục trong thành phố thì trên tuổi của cô quá quen thuộc. Cô nổi tiếng dạy hay, dạy giỏi, dạy nghiêm. Nói về môn Toán thì phải nghĩ ngay đến cô Hương Diệu, tên của cô. Chính vì vậy mà cha tôi đã đích thân đến tận nhà cô, như Lưu Bị cầu Khổng Minh vậy, để thỉnh mời cô dành chút ít thời giờ vàng ngọc về gánh bớt trách nhiệm giảng dạy môn Toán dùm cho trường Văn Hóa. Chừng như có thêm tên cô trong danh sách những giáo sư giảng dạy ở trường, đã làm cho uy tín của trường tư thục mà cha tôi là “chủ nhân” được tăng lên một mức đáng kể.
 Ngay từ giây phút đầu nhìn thấy cô Hương Diệu, khi cô bước vào lớp 9B trong giờ học Toán đầu năm với nét mặt trầm tư, nghiêm nghị, tôi đã có một cảm giác lạ lùng. Tôi linh cảm mình sẽ gặp chuyện rắc rối với cô giáo mới toanh này. Tôi cho đó là “điều kỵ”, một thứ điện của giác quan thứ sáu đã báo cho biết sự xung khắc giữa tôi và cô giáo. Nhưng chỉ linh tính vậy thôi. Gì thì gì tôi vẫn là con trai của ông hiệu trưởng kia mà! Cô chân ướt chân ráo tới trường này, nên chưa biết rõ điều đó. Chưa biết, rồi sẽ biết.
 … Cô đang giảng bài say sưa. Cả lớp lắng nghe. Tôi cũng vậy, cũng lắng nghe. Chợt, thằng Hưng ngồi sau lưu tôi đã “đánh rắm công khai” một phát rõ to. Hơn nửa lớp làm bộ không nghe biết, cứ dán mắt lên bảng. Số còn lại, trong đó có tôi, đưa tay bịt mũi, bụm miệng cười khúc khích. Cái tật nghịch ngợm cố hữu trong tôi động đậy, đó là cái tật muốn “chơi nổi”, muốn thiên hạ phải chú ý tới mình, muốn bạn bè phải cười vì cái kiểu cù léc làm bộ ngây thơ của mình. Cô giáo vẫn thản nhiên tiếp tục bài giảng, chẳng để ý làm gì chuyện “bất lịch sự” vừa xảy ra. Sự cố kém tế nhị, thiếu văn minh đó đáng lý sẽ được cho qua luôn một cách dễ dàng. Nhưng, tôi xoay lưng, chồm người ra sau, đưa tay thụt nhẹ thằng Hưng một cái “dằn mặt”. Chưa hết, tôi đứng thẳng, vòng tay lại thưa:
 - Thưa cô, trò Hưng vừa chơi xấu trong lớp, thúi quá… chịu không nổi, cô cho em ra ngoài thở một chút ạ!
 Cả lớp đương nhiên không kềm được trận cười rần rần như… bãi rạpï hát. Cô Hương Diệu quay phắc lại. Ánh mắt cô rực lên giận dữ. Vẻ mặtnghiêm trang đến lạ lùng. Cô đang chăm chăm nhìn tôi, nhìn xoáy vào tôi, Tôi hơi sợ, nhưng làm bộ thản nhiên, vẫn cứ đứng vòng tay chờ đợi “cô cho phép ra ngoài”. Cả lớp bỗng im phăng phắc. Cô đã rời khỏi bục giảng, thủng thẳng bước xuống, tiến đến chỗ tôi. Cô chau rồi cất giọng trầm trầm:
 – Em vừa thưa gì? Lặp lại cho cô nghe, cho cả lớp nghe!
 Tôi tỏ ra “anh hùng”, cố giữ giọng bình thản lặp lại to”kiến nghị” khi nãy không sai, không thiếu một từ. Cô Hương Diệu nhìn thẳng vào mắt tôi rồi buông giọng sắc ngọt:
 – Em bước ngay ra khỏi lớp. Quỳ ngoài hiên cho đến hết giờ, rồi tôi sẽ tính sau!
 Tôi đỏ mặt tía tai. Tức lắm. Làm mặt lì, tôi đứng yên một chỗ, mắt đưa nhìn lên trần nhà. Cô giáo gằn giọng:
 – Có nghe hay không? Bước ra ngay!
 Tôi không kềm được lòng buột miệng:
 – Cô đụng tới em… sẽ “có chuyện” đó! 
 Cô giáo sững sốt, hỏi:
 – Sao? Em em vừa nói gì? Hăm dọa tôi à? 
 Tôi biết mình đã lỡ lời, bèn im miệng. Ai dè, thằng Hưng phía sau tôi ngứa miệng:
 – Bạn Ý là con của thầy hiệu trưởng đó cô ơi!
 Cô giáo nhìn xoáy vào mắt tôi:
 – Con thầy hiệu trưởng à? Hứ, con của ông tổng thống, tôi vẫn đuổi ra khỏi lớp vì tội vô lễ. Em bước ra ngay, hay chờ tôi mời thầy giám thị vào tận nơi đây?
 Nghe giọng cương quyết của cô, lần đầu tiên tôi biết sợ hãi lệnh của một vị giáo sư, bèn xìu mặt, hết lộ vẻ bướng lì. Mặt tôi chảy xệ xuống ngực, và… tôi dợm bước. Cô giáo đi sau lưng tôi, tôi đến cửa lớp, cô bảo:
 – Quỳ xuống đó đi, cho đến hết giờ!
 Tôi bắt đầu run hai tay, hai chân. Run, không biết vì sợ hãi nhiều hơn, hay vì tức giận nhiều hơn. Tôi mà quỳ ở đó, nếu cha tôi mà tình cờ thấy được chắc là… mệt. Chỉ còn cách cúi lạy mà xin cô giáo tha lỗi, cho vào ngồi lại trong lớp, hay quỳ trong lớp cho kín đáo một chút cũng được. Nhưng, tôi mà xin lỗi người khác à? Chuyện khó có. Tôi đang lưỡng lự, cô giáo lại giục:
 – Sao chưa chịu quỳ đi, hả? Đừng làm phí thời giờ của tôi, của các bạn mình!
 Tôi nóng mặt, buột miệng nói:
 – Còn khuya!
 Dứt lời, tôi bước te te thẳng đến Văn phòng Ban giám hiệu. Cha tôi đang ngồi xem sổ sách với cô thư ký. Tôi bước thẳng đến đứng trước ông, làm mặt buồn rười rượi, thưa:
 – Ba, xin cho con vào lớp lại đi. Cô giáo đuổi con, còn bắt con quỳ ngoài cửa lớp nữa!
 Cha tôi ngạc nhiên trong giây lát, trầm giọng:
 – Con chỉ có kể khúc đuôi mà không kể khúc đầu. Tại sao cô lại phạt kia chứ? Không làm bài? Hay không nghe giảng bài?
 Tôi lúng búng kể lại đầu đuôi tự sự với cái giọng yếu xìu. Dĩ nhiên là tôi không dám thuật lại những chi tiết, trong đó có những lời lẽ ngôn từ của tôi đã dùng đối đáp với cô. Nghe xong, cha tôi trợn mắt tức tối. Ông đứng bật dậy. Bốp, một cái tát nảy lửa vào mặt tôi. Tôi chuệnh choạng. Ông lại nắm lấy tai tôi mà vặt tréo, kéo tôi đi. Đi từ văn phòng giám thị băng qua sân, qua nhiều lớp học, đến lớp tôi. Cô Hương Diệu nhìn từ xa, thấy cảnh cha con tôi vội ngưng giảng bước ra đến cửa. Cha tôi khẽ chào cô giáo, nghiêm trang nói:
 – Nó mất dạy, cô tha lỗi cho. Tôi cảm ơn cô đã dạy cho nó biết lễ nghĩa, trước khi biết chữ nghĩa!
 Ông quay mặt nhìn tôi, giọng đanh thép:
 – Quỳ xuống ngay. Và xin lỗi cô giáo mau, đồ vô giáo dục! 
Tôi tái mét, run rẩy quỳ xuống như con cừu non ngoan ngỗn, rồi cất giọng nghèn nghẹn xin lỗi cô giáo. Cô Hương Diệu vẫn nghiêm nghị, nói:
 – Thôi được rồi, cho em đứng dậy và vào lớp học!
 Nhưng cha tôi lên tiếng
 – Chưa được, cô cứ để cho nó quỳ đến hết giờ học, làm gương cho cả lớp và cả trường. Xin phép làm phiền cô năm phút nữa, cho tôi được nói vài lời với các em trong lớp!
 Tôi quỳ đó. Cô giáo đứng ngay cửa ra vào. Ông hiệu trưởng vào trong lớp. Ông mở đầu một bài giảng dạy về giáo dục công dân, bằng câu “Không thầy đố mày làm nên”, rồi lại “thuyết pháp” như một vị cao tăng giáo thọ nói về “Tứ Trọng Ân” theo kinh điển nhà Phật bằng một giọng hết sức nghiêm nghị và đầy cảm xúc… Cả lớp im thin thít lắng nghe. Tôi cũng lắng nghe, và tỉnh ngộ ngay trong giờ phút hai đầu gối của mình đang đụng đất, đầu thì đang hứng cái nắng gay gắt chói chang. Tôi đã từng rất nhiều lần nghe cha tôi thuyết giảng về giáo lý nhà Phật mà ông, cũng như mẹ tôi, đã thấm nhuần từ bao năm đến chùa tu học, tham gia sinh hoạt Phật sự. Nhưng đây là lần đầu tiên tôi mới biết lắng nghe, càng lắng nghe càng thấy quá hay, quá cảm động, và quá thuyết phục. Tôi hoát nhiên tỉnh ngộ, đầu óc sáng bừng lên trong niềm xúc động dạt dào. Sau này lớn khôn già dặn lên, khi nghiên cứu tìm hiểu kỹ và sâu vào giáo lý nhà Phật, tôi mới hồi tưởng và ngẫm thấy hồi đó, khoảnh khắc lạ lùng đó, mình y như một vị thiền sư vừa được ngộ đạo, vừa phá giải được một công án Thiền vi diệu
 Tôi thấy tôi đáng đời, đáng phải quỳ suốt đến ba ngày vẫn chưa hết tội mình. Xong bài giảng, cha tôi chào cô giáo, đi về văn phòng. Khi ngang qua chỗ tôi đang quỳ, ông không liếc một chút chứ đừng nói là nhìn. Ông vừa khuất sau dãy hành lang, cô Hương Diệu đã bước lại đỡ tôi đứng dậy, hỏi:
 – Em đã chừa chưa?
 – Thưa cô… em biết lỗi. Em hứa sẽ không bao giờ tái phạm…
 – Em có oán hận cô chứ?
 Tôi ấp úng nói thật lòng:
 – Thưa … em không oán hận… mà có biết ơn cô!
 Cô mỉm cười tươi tắn, cho phép tôi vào lớp. Từ đó, tôi… “tu”, tu đến già. 
 … Cha tôi qua đời cách đây đã hai mươi năm vì một căn bệnh người già. Còn cô Hương Diệu đã đi xa bởi chứng bệnh lao phổi tai ác cách đây mười tám năm. Đó là hai vị ân sư của tôi, luôn luôn còn sống trong tâm tưởng, trong tim tôi với tấm gương chói ngời một bài học quý giá vô ngần về tôn sư trọng đạo. 

 

CUỘC SỐNG NHIỆM MẦU

Một nhà chung chạ sớm trưa
 Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng”
 (Truyện Kiều- Nguyễn Du)

Tôi tìm được đến chùa. Chùa tranh vách đất hiền hoà nằm giữa bốn bề cây lá xanh tươi, hoa thơm cỏ lạ. Tôi gặp sư ỉtú trì. Ngay sau đó, một hợp đồng miệng đã được ký kết: tôi chính thức trở thành thầy giáo của trên ba mươi học sinh nghèo mù tịt chữ nghĩa của một vùng hẻo lánh đìu hiu...
… Dạy học được một năm, một năm dài đăng đẳng mà thấm thoát, khổ sở mà an lạc, thiếu thốn mà no nê, tôi tin tưởng vào chính mình, tin tưởng vào kết quả đã gặt hái được khi hết thảy học trò của tôi đều biết đọc, biết viết thành thạo. Trong số những người đã biết viết đọc ấy, có một người đã biết viết và dám viết´ “Em yêu thầy” vào một mảnh giấy nhỏ, rồi lén lút vào tận phòng riêng của tôi để đặt dưới gối nằm. Dưới ba chữ viết rõ to, được nắn nót từng ly ấy, lại thấy ký cả tên đầy đủ: Lưu Thị Kim Hương. Tôi nhận được thư vào một đêm trăng sáng, ngẩn ngơ, rung động, trằn trọc suốt đêm với nỗi lo và niềm vui đan xen.
Kim Hương là học trò xuất sắc nhất trong số ba mươi học trò của tôi. Thông minh, nhanh nhạy, mạnh dạn và chăm chỉ. Kim Hương đang tuổi đôi mươi, một đoá hoa chớm nở, trong trắng, tính tình hiền hậu và chân chất. Tôi cũng như bao thầy cô giáo khác thường cưng học trò ngoan trò giỏi nhất lớp, nên Kim Hương được sự lưu tâm đặc biệt của tôi. Và, tôi được đáp trả. Lắm khi tôi chột dạ khi Kim Hương tranh thủ những giờ rãnh rỗi vào phòng quét dọn, giặt giũ đồ đạc cho tôi. Nhìn trong ánh mắt tròng đen lay láy của Kim Hương, nhiều khi tôi đã đọc được những lời người con gái mộc mạc muốn nói. Nhưng tôi làm lơ, cố lãng quên đi, và tự nhũ mình suy đoán một chuyện còn mơ hồ. Lá thư tối hậu ngắn gọn của người con gái ấy đã khẳng định một tình cảm mà tôi từng cho là sản phẩm của trí tưởng tượng. Bắt đầu tôi run sợ, lo lắng. Tôi nghĩ đến thân phận tay trắng bấp bênh của mình. Tôi nghĩ đến hoàn cảnh nghèo của Kim Hương. Tôi nghĩ đến vị trí người thầy giáo miền quê vốn được học trò, bà con trong hai thôn ấp tôn sùng, kính trọng và yêu mến như một thần tượng. Tôi cũng nghĩ đến sự quan tâm tin tưởng của các sư sãi chốn già lam đã dành cho tôi suốt bao tháng ngày tôi sống ở chốn tu hành thanh tịnh. Thanh tịnh thật là thanh tịnh. Đó là những tháng ngày tôi mới được thấm thía niềm hạnh phúc an lạc qua từng giây phút sống với thực tại. Tôi cảm nhận, thấy và nắm bắt, sờ mó được sự mầu nhiệm của cuộc sống. Sự mầu nhiệm ấy không ở đâu xa, không phải ở trên trời cao xa vời huyền ảo, mà ở ngay nơi từng cơn gió trong lành thổi qua mặt mũi mình, hay ngay trong từng đêm trăng sáng vằng vặc soi rọi xuống những con đường đất ở vùng quê yên ả mình đang đi qua, và ngay nơi từng chén cơm chay của nhà chùa chỉ toàn là rau dưa, muối ớt, đậu hủ, tương chao… Bình dị nhưng đầy đủ, thanh đạmthanh tao, không lo lắng ưu phiền, không ham muốn khát vọng để rồi phải chật vật hối hả chạy theo cho kịp thiên hạ. Trăng thanh gió mát không tốn tiền, cơm chay thiểu dục tri túc, được làm việc đúng với sở trường của mình, sự mầu nhiệm của cuộc sống nằm những nới ấy. Chính vì vậy mà khi nghĩ đến chuyện Kim Hương, tôi lại sợ hãi, nhưng cũng bồi hồi xao xuyến. Những buổi dạy sau đó, sau khi nhận được bức thư chân tình kia, tôi bỗng ngượng ngùng, thấy như mình vừa phạm tội lỗi nào đó. Tôi lại rùng mình khi bất chợt bắt gặp cái nhìn đau đáu của cô học trò xoáy mạnh vào mắt tôi. Hạnh phúc, xao xuyến. Nhưng tôi phải miễn cưỡng chạy trốn ánh mắt đang mang nỗi khát khao, đang muốn hỏi và chờ đợi hồi âm, của người học trò miền quê chân chất.
Đêm trăng mười sáu, sau buổi lể Phật, từng phật tử rời chùa về nhà, có một người nấn ná ngoài sân vườn sau, tìm vào tận nơi tôi đang nằm nghĩ mông lung. Tôi bàng hoàng như đi vào chiêm bao mộng mị với trái tim rạo rực, thổn thức
- Thầy có đọc thư em không?
Cô thôn nữ thản nhiên hỏi. Giọng không chút ngượng ngùng.
- Có.
Tôi chỉ biết đáp vậy. Rồi nhìn. Bên ngoài im ắng lạ thường.
- Thầy nghĩ sao?
Lại một câu hỏi thản nhiên như hỏi một cộng một bằng mấy.
- Chữ đẹp, không sai chính tả.
- Không, em không hỏi về chữ nghĩa. Em hỏi về ý tứ.
Tôi muốn giả nai nhưng không giả được. Giải đáp thật dễ dàng, nhưng tôi không thấy dễ. Cô gái đứng trước mặt tôi, mắt nhìn đâm thẳng vào mắt tôi với quyết tâm mãnh liệt, không nói và chờ đợi. Tôi nghe cả hơi thở, cả tiếng đập của trái tim người đối diện, lẫn cả của mình. Cô gái nắm lấy bàn tay tôi, xiết nhè nhẹ. Tôi cứ đứng thộn người ra đó mà tiếp nhận một cảm giác ấm cúng dào dạt đang chảy vào nhục thể. Trăng sáng lạ thường, và trái tim tôi cũng lạ thường hơn bao giờ hết. Lời tôi thốt ra cũng thật lạ thường:
- Thầy cảm ơn em. Cảm ơn rất nhiều. Thầy vô cùng xúc động
Dường như cô gái chỉ chờ có bấy nhiêu đó, chờ từ bao thế kỷ qua, vội bóp lấy bàn tay tôi, giọng nhỏ nhẹ nhưng khát khao:
- Thầy có hôn em không? Hôn em đi. Hôn xong, em về liền!
Tôi run lên, choáng váng mặt mũi. Cô gái ghé đầu lại sát bên mặt tôi, mắt không hề chớp. Tôi ngửi được mùi hương của bồ kết. Mùi hương của hoa và cỏ ngạt ngào. Tinh khiết làm sao! Tôi vừa khám phá và xác định một điều: tôi yêu mến cô gái. Nhưng liệu có phải là tình yêu nhất thời? Đang còn băng khoăn giữa ngã ba của trái tim bao năm trời ngủ vùi nơi thâm sơn cùng cốc, nơi đồng không mông quạnh, bất chợt tôi giật nẩy mình. Tôi vừa nhìn thấy một bóng người vụt ra cửa ra vào. Bóng người lướt nhẹ băng ra sân vườn đầy ắp ánh trăng. Tôi gỡ tay cô gái ra một cách vụng về, trong lòng có chút tiếc nuối, nói khẽ:
- Em đi về. Coi chừng thầy ỉtú trì thấy được thì … mệt!
- Thầy thấy thì đã sao? Yêu đương là tội lỗi sao, thầy?
- Ừ. Tội lỗi tày trời em à …
- Em nghĩ, hận thù nhau mới là tội lỗi. Yêu là đem lại hạnh phúc cho nhau, làm phước cho nhau!
Tôi phì cười, lắc đầu ngao ngán nói:
- Thôi được rồi, bây giờ không phải là lúc đứng đây tranh cãi. Em hãy về đi. Chỉ cần nhớ là thầy ghi nhận tình cảm quý báu của em. Em hãy về, và nhớ chỉ lo học, và học cho thật giỏi. Chuyện kia … tính sau. Thầy thấy còn … quá sớm!
- Thì thầy cứ hôn một cái đi, em về liền mà!
- Hôn làm gì? Tưởng tượng cho đỡ đi. Chừng nào thầy chính thức trả lời, thầy sẽ trao đúng món mà em yêu cầu.
Kim Hương ngần ngừ giây lát, rồi bất ngờ chụp lấy bàn tay tôi, hôn thật mạnh. Tôi nghe tiếng nụ hôn vang lên như tiếng sét giữa bầu trời đêm trăng vắng lặng. Cô gái biến mất. Đêm ấy tôi không ngủ. Tôi cười một mình cả đêm. Cười rồi lại lo, lại buồn khổ vì dằn vặt. Có một điều tôi chưa nói ra cho cô gái biết: bóng người thấp thoáng ngoài kia khi nãy, tôi đã kịp nhận ra là ai. Đó chính là Hưng, chàng nông dân hiền lành cùng ấp với Kim Hương. Tôi đã từng được nghe loáng thoáng về mối tình đơn phương của chàng trai cần mẫn này. Hưng rất nhút nhát, nên cứ ôm một tình yêu lặng lẽ, đã bao tháng ngày mơ tưởng đến người con gái từng đùa chơi, từng lớn lên với chàng nơi mảnh đất khỉ ho cò gáy buồn hiu. Dường như cha mẹ hai bên, hàng xóm láng giềng cũng đã có lời bóng gió muốn kết se cho đôi lứa. Nhưng, cô gái mộc mạc cứ mãi dửng dưng, xem Hưng luôn là một người bạn thân, cứ “mày tao” như thuở còn nhỏ. Tôi cũng đã từng được nghe nói rất nhiều về những trận ngã bệnh vì tương tư trầm trọng của chàng trai. Tôi cũng đã dò xem cử chỉthái độ của Hưng vào những giờ học. Hưng thường nhìn lén Kim Hương. Mỗi khi tan học, Kim Hương luôn luôn là người về sau, vì cô gái còn ở lại quét dọn phòng lớp. Nhưng Hưng còn về sau hơn nữa. Anh chờ đến khi cô gái đi về nhà, mới chịu lọt tọt đi sau, giữ khoảng cách dài chừng mười bước chân. Thật tội nghiệp. Tôi nhớ lại những câu chuyện ấy, trằn trọc thâu đêm, tự nguyện bước ra toà án của trái tim mình, và quyết định: rút lui.
Rút lui, không phải dễ. Nhiệm vụ của tôi chưa hoàn thành, các học trò của tôi chưa ai viết thông suốt một bức thư dài, và điều quan trọng nhất là tôi rút lui về đâu? Nếu cuốn gối mà đi, tức là đã chấp nhận những tháng ngày lang thang tìm kế sinh nhai như thuở trước khi đến dạy nơi trường chùa này. Tôi đành phải ở lại nơi mà mình khổ công tìm được, dù nơi ấy đang xôn xao xì xầm những lời dị nghị quanh một “chuyện tình tay ba”. Dĩ nhiên lời dị nghị này cũng đến tai các sư sãi trong chùa. Sư ỉtú trì cũng đã hỏi tôi về chuyện ông nghe được, và tôi không giấu diếm một tình tiết, suy nghĩ nào. Tôi đã bao lần khuyên lơn cô gái hãy đón nhận và đáp trả tình yêu với chàng trai thật thà kia. Tôi tìm đủ mọi cách, kiếm cớ cho Hưng và Kim Hương gần gũi nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhau chuyện bài vở ở lớp học. Đủ kiểu cách, nhưng đều thua. Cô gái vẫn khăng khăng: “Em không thể sống thiếu anh!”. Khổ vậy. Hơn ba năm vật lộn với cái khổ tinh thần, với tình cảnh nan giải ấy, tôi cũng quen dần, và chừng như cô gái cũng đã nhận ra sự dứt khoát chối từ nơi tôi, nên nàng cũng… xìu, xìu dần. Nàng thân thiện với Hưng hơn trước. Thân thiện nhưng cũng chưa gắn bó. Vẫn còn những là thư dài lén lút đặt dưới gối tôi nằm. Hưng cũng viết thư tâm sự nhỏ to với tôi, người thầy kiêm… tình địch của chàng. Dù chưa thật lòng muốn lắm, nhưng cuối cùng do nhiều nguyên nhân tôi cũng đành phải bí mật rút lui, chào tạm biệt ngôi chùa kính yêu, mái trường mái tranh vách đất thân thương, và vùng đất đầy kỷ niệm. Tôi đã không quên để lại bức thư cho học trò, thư riêng cho Kim Hương, và cho Hưng…
Năm trước, tôi có viết thư liên lạc với thầy ỉtú trì, được biết một tin vui: Hưng và Kim Hương đã kết hôn. Cuộc sống sôi động trôi đi …
Hôm nay, với tư cách là một thầy giáo ở thành phố xô bồ đi nghỉ ngơi thư giãn dịp hè, tôi trở về vùng đất kỷ niệm mà tôi thầm nhận làm quê hương thứ hai của mình. Tôi ghé vào thăm ngôi chùa xưa trước, vấn an các sư sãi, tham quan ngôi trường tường gạch ngói đỏ được xây dựng đã năm năm qua do chính quyền địa phương và phật tử trong vùng đóng góp. Trường nằm trong khuôn viên của chùa, ở phía sân sau, nơi trước kia có gian tịnh thất dành tôi trú thân một thời gian dài. Gian tịnh thất ấy không còn nữa, và cảnh vật chung quanh cũng đã thay đổi rất nhiều… Lòng tôi vui vui ngắm nhìn ngôi trường mới, mừng cho các em các cháu được học hành thuận lợi đầy đủ hơn xưa kia, nhưng trong sâu lắng tận đáy lòng lại buồn buồn khi thấy vắng bóng những cảnh cũ thân quen… Thôi, đã qua hết rồi thời khăn khó nghèo nàn, phải lật những trang sách mới, những trang vở mới để ngày càng thấy rõ sự nhiệm mầu của cuộc sống đi thôi!
Cuối cùng, tôi tìm đến tổ ấm của các học trò xưa. Hưng nhảy cẩng lên, reo vui ôm chầm lấy tôi. Kim Hương cũng không chút ngượng ngùng, trao đứa con nhỏ đang bồng trên tay qua cho chồng, rồi sà vào lòng tôi trong nước mắt ràn rụa. Tôi cũng không kềm được tình cảm của mình, ôm cả hai vợ chồng vào lòng mà xiết chặt, nghẹn ngào không thốt nên lời. Kim Hương trách móc:
- Sao thầy không đi luôn, còn quay lại đây làm gì?
Tôi không biết nói sao, chỉ còn biết cười trừ.
Ngoài kia, trời chuyển dông từ khi nào rồi. Một tiếng sét ầm vang giữa trời không mù mịt mây đen. Tôi lại nghe như tiếng kêu rõ to của nụ hôn của cô học trò lên bàn tay của thầy giáo năm xưa… Mưa đã đổ xuống ào ào như đón chào ngày trở lại của tôi ở vùng đất đã có nẩy sinh một tình yêu thật đẹp. Ôi… cuộc sống thật nhiệm mầu làm sao! Tôi mỉm cười. Không một ai hiểu được nụ cười của tôi. Không một ai trên thế gian này, ngoại trừ cô học trò dễ thương của tôi.
 
 

ĐẤT LÀNH CHIM ĐẬU


 Sau gần mười năm ở đậu ở nhờ, nay thì nhà mướn, mai thì nhà thục, cuối cùng ba mẹ Hưng đã mua được một căn nhà bằng số tiền dành dụm chắt chiu, tích tiểu thành đại. Một căn nhà riêng, một thế giới tự do, đó là mơ ước lớn lao của một đời người, của những người nghèo lương thiện làm ăn bằng đôi bàn tay trắng như ba mẹ của Hưng, và đó cũng là một giấc mơ khổng lồ đã trở thành trở thành hiện thực đối với Hưng, gần như là huyền hoặc không tưởng.
 Căn nhà có diện tích nhỏ thôi, nhưng nhờ có gian gác đúc tận dụng khoảng không, nên đối với một gia đình gồm ban người, ba, mẹ, Hưng và bé Hằng, thì thật là rộng rãi, thậm chí còn thấy thênh thanh, mênh mông, chứ không như bao năm cả gia đình phải chiu rúc co ro trong những căn phòng ẩm thấp tối tăm, chật chội đến nỗi không không có chỗ để bài trí một góc học tập cho Hưng và bé Hằng. Sướng nhất là bây giờ Hưng và bé Hằng có quyền nói lên ba tiếng “nhà của mình” mà xưa nay chưa từng được nói, hoặc có lỡ nói vậy thì sẽ bị người ta bắt bẻ “nhà nào là nhà của mày ?”. Chưa bao giờ Hưng thấy ba vĩ đại, thấy mẹ khổng lồ như hôm nay. Ba thật oai phong hùng dũng như một vị đại tướng quân vừa thắng trận trở về. Mẹ thật kiêu hùng thánh thiện như một nữ tướng vừa trở về trong khúc khải hoàn. Mua được căn nhà, đó chính là một chiến tích chói lọi và vang rền. Bởi, Hưng thừa biết, đủ thông minh để hiểu rằng ba mẹ phải chịu hi sinh biết bao mồ hôi, nước mắt, và cả máu suốt mười mấy năm trời tần tảo gian truân, nhịn ăn nhịn mặc, chắt bóp dè xẻn từng đồng chi tiêu trong gia đình, để gom góp tích lũy những giọt mồ hôi tạo thành một biển hồ mênh mang như ngày hôm nay. Điều làm cho Hưng kính phục nhất, đó là ba mẹ tiết kiệm, đôi lúc đến mức hà tiện để cho người ta chê cười là “đồ keo kiệt bủn xỉn”, nhưng với việc học tập của hai đứa con mình, hay chuyện giúp đỡ người hoạn nạn nghèo khó, thì cả hai người đều tỏ ra hào phóng, rộng rãi. Ba từng nói: “Với chuyện học thì đầu tư bao nhiêu cũng không đủ, và đầu tư bao nhiêu cũng chớ tiếc nuối. Còn chuyện nhường cơm sẻ áo với những người sống quanh ta, tuy là đem muối bỏ bể, nhưng đó là tấm lòng biết yêu thương của mình!”. Mẹ từng bảo: “Những đồng tiền được tiêu cho chuyện học hành thì không bao giờ là uổng phí và vô ích cả. Còn tiền đem chia sẻ cho ai khó khăn nghèo túng là những hạt giống bồ đề, sau này các con sẽ được hưởng bóng mát của cây bồ đề!”. Thế nên, Hưng và bé Hằng luôn được đầy đủ tươm tất khi đến trường, không thiếu thốn bất cứ thứ gì. Điều ấy đã động viên khích lệ hai anh em chăm chỉ, chuyên cần vào việc học tập, năm nào cũng gặt hái được kết quả tốt đẹp, làm ba mẹ hài lòngvui sướng. Hưng đã học đến lớp 9, Hằng thì đã lớp 6, hai anh em luôn chiếm giữ những vị trí hàng đầu khi xếp loại học lực trong lớp. Thi luôn đỗ điểm cao. Ba mẹ rất tự hào. Những người bà con dòng tộc nghiêng mình khâm phục, khen ngợi ba mẹ Hưng hết lời. Ba khiêm tốn nói: “Phúc này là do ông bà tiên tổ ban cho đó thôi!”. Mẹ cũng khiêm nhường: “Nhờ ơn Trời Phật gia hộ nên mới có được hai đứa con ngoan ngỗn, thông minh ấy mà!”… Nghe thì nghe vậy, nhưng không một ai phủ nhận công lao dạy dỗ nuôi nấng con cái của ba mẹ Hưng. Đó là hai công trình vĩ đại, mà ba mẹ là những người vừa chỉ đạo, vừa trực tiếp thi công trong hoàn cảnh không lấy gì làm sáng sủa, suông sẻ, lại còn đầy trắc trở ngặt nghèo. Ít có ai cáng đáng đảm đương nổi những thú công trình như vậy khi mà kinh phí eo hẹp, vật tư nguyên liệu thiếu thốn, mặt bằng lại không ổn định. Ba mẹ Hưng đã và đang tiếp tục thực hiện thi công hai công trình dài dằng dặc ấy với quyết tâm mãnh liệt và ý chí vững vàng, dù rằng khoản kinh phí đầu vào chỉ trông nhờ vào những đồng nhuận bút viết báo của ba, cùng những đồng tiền công may gia công hàng chợ của mẹ. Ba đã giã từ bục giảng, phấn trắng bảng đen từ hơn năm năm qua sau khi mắc bệnh lao phổi phải chữa trị hao tiền tốn của trong thời gian dài, rồi chuyển qua làm thơ viết văn, đưa tin về ngành giáo dục cho các báo, trở thành một cộng tác viên thường xuyên, một thông tín viên tích cực của vài ba tờ báo có uy tín trong nước. Công việc buộc ba Hưng phải rong ruổi suốt ngày trên chiếc xe đạp cà tàng, tối về lại cặm cụi hí hoáy đến khuya, có khi thức đến gần sáng. Mẹ thì tất bật túi bụi với đống vải, cắt cắt may may, lại phải lo chợ búa nấu nướng cho cả nhà có được bữa ăn đúng giờ đúng giấc… Quanh năm suốt tháng ba mẹ Hưng luôn bận bịu, xoay như chong chóng, dường như không ngơi nghỉ mà chằng hề nghe tiếng kể lể than van. Âm thầm làm việc, lặng lẽ gieo sạ với cường độ đều đặnthường xuyên trong suốt chừng ấy năm trời, vừa lại lo cho hai con đến trường đầy đủ, vậy mà ba mẹ Hưng đã mua được một căn nhà cho riêng mình, thử hỏi anh nghe thấy mà không tránh khỏi kinh ngạc kính nể ? Đã có nhiều người không dám tin khi nghe nói ba mẹ Hưng mua được nhà mới. Chỉ khi nhìn tận mắt thấy được cảnh cả gia đình Hưng dọn đồ đạc rời khỏi căn hộ thuê với hợp đồng năm năm, đến ở trong một căn nhà nho nhỏ ở Xóm Cháy với giấy tờ sở hữu hợp lệ thì họ mới ồ lên với lòng khâm phục, sửng sốt… 
 Trước năm 1975, Xóm Cháy nguyên là một xóm dân cư hành nghề mộc, đóng các loại gia dụng bằng gỗ cung cấp cho cả thành phố. Trong một lúc bất cẩn, một chủ xưởng mộc để lửa ngún cháy giữa đêm hôm khuya khoắc, lan cháy cả xóm, thiêu rụi toàn bộ nhà cửa vốn liếng, cứu chữa chẳng kịp. Sau khi phân lô chia đất cất nhà làm lại từ đầu, nhiều nhà đã phải bỏ nghề mộc, nhiều nhà đã bán đất đi nơi khác làm ăn, dần dần xóm thợ mộc không còn nữa, và được đổi tên thành Xóm Cháy cho đến nay. Ba mẹ Hưng mua được căn nhà ở Xóm Cháy này với giá cả “rẻ đến bất ngờ”, như lời mẹ khoe với mọi người, vừa với túi tiền dành dụm chắt bóp bao năm trời mới có, nên rất mừng, mừng con hơn trúng số độc đắc cặp năm. Nhưng khi dọn đến ở, nhiều người quen biết đã khuyến cáo: “Xóm Cháy này nổi tiếng dữ dằn, phức tạp, phải thận trọng!”. Người khác còn nói cho biết với giọng hăm dọa: “Con nít xóm này phá còn hơn quỷ sứ ma vương, liệu mà lo giữ gìn, liệu mà ăn ở cho phải đạo phải phép!”. Lại có người rằng: “Xóm Cháy này có đủ mọi thành phần xấu xa của xã hội: xì ke chích choác có, đĩ điếm có, ăn cướp ăn trộm có, ma cô du đãng thì nhiều… nên nuôi dạy quản lý con cái cho chặt chẽ. Nhớ càng ít giao du càng tốt!”. Gia đình Hưng còn được nghe những người cao niên trong Xóm Cháy kể cho biết những chuyện rợn da gà về người chủ cũ của căn nhà mới được sang nhượng quyền sở hữu này. Nào là trong nhà có một hồn ma của người đàn bà thắt cổ tự tử vì vỡ nợ; nào là đứa con gái của người chủ cũ uống thuốc ngủ tự vận vì thất tình, được cứu chữa kịp thời, nhưng sống trong cơn điên loạn ; nào là chủ cũ là một cán bộ Nhà nước thuộc ngành Tư pháp, có uy quyền lẫm lẫm, hống hách khinh người, chẳng thèm giao tiếp với bất cứ ai trong xóm, kể cả hai nhà sát vách, và nhà đối diện, nên bị người ta căm ghét xa tránh, lũ con nít trong xóm cứ đến trước cửa nhà mà tiểu với đại tiện quanh năm, viết bậy lên tường, khiến cho gia chủ phải chịu nhiều phen khốn đốn ; nào là chủ nhà ỷ quyền ỷ thế coi trời bằng vung, cho thợ đến xây bức tường làm rào chắn lấn cả đường đi chung, bị cả xóm xúm lại đập cho tan tành chỉ trong chốc lát… Ba mẹ Hưng nghe rồi thì lo âu, hồi hộp, cảm thấy như đang ở ngay trên tổ ong vò vẽ, không biết tai họa sẽ ập đến vào lúc nào. Nhưng lỡ leo lên lưng cọp rồi, chỉ còn có nước phải cưỡi cọp mà đi, tối đâu hay tới đó. Hưng và bé Hằng cũng nơm nớp sợ sệt, cứ nghĩ đến hồn ma le lưỡi trợn mắt là rụt cổ, tôi không dám thức lâu, trưa không dám vào cầu tiêu một mình, sang lo đi đến trường thật sớm, học về là cứ kè kè theo ba mẹ cho yên tâm. Hai anh em cũng không dám ra khỏi cửa nhà, cứ ru rú như gián ngày, vì sợ lũ con nít bên ngoài kiếm chuyện gân hấn. Thời gian đầu đến ở Xóm Cháy, gia đình Hưng sống rất cẩn trọng, nhắc nhở nhau từng ly từng tý, động viên nhau suốt ngày, ai nấy cũng căng thẳng phập phồng và cảnh giác cao độ. Có mẹ Hưng là bình tĩnh nhất, luôn trấn an hai đứa con của mình: “Ở hiền gặp lành. Mình đừng sống quá ích kỷ, đừng làm điều xằng bậy. Sống trái với đạo lý, hoặc sống biệt lập xa lánh mọi người mới chính là điều không tốt, có thể dẫn đến những chuyện không lành. Hãy tin vào pháp Phật mà sống!”. Ba Hưng cũng đồng tình, nói: “Đúng vậy. Hãy cứ sống thật thản nhiên, sống bằng chân tình, dựa theo Thập Thiện của thiền tông Trúc Lâm Yên Tử mà sống, đừng cứ mà hành khổ mình bằng lối sống gượng ép gượng gạo, giả dối như đóng kịch đóng tuồng!”. Và, ba Hưng là người làm gương trước tiên
 Trái với người chủ cũ trước của căn nhà, quanh năm suốt tháng cửa đóng then cài im ỉm trông thậät lạnh lùngvô hồn, không một chút sinh khí, ba mẹ Hưng đã cho mở toang những cánh cửa ra. Buổi sáng, nhạc trong nhà đã vang lên rộn ràng tạo nên sự phấn khích cho mọi người trước khi bước vào một ngày làm việc, học tập mới. Buổi chiều, sau những ngày lao động mệt nhọc, học tập căng thẳng, Ba Hưng cho phép mở những cuốn băng, đĩa hoạt hình vui nhộn và bổ ích, lũ con nít được quyền tự do vào nhà ngồi xem. Ban đầu chúng còn dè dặt, có ý thăm dò chủ nhà, nhưng rồi khi thấy ba mẹ Hưng, và cả Hưng lẫn bé Hằng luôn vui tươi niềm nở thì chúng rủ nhau mạnh dạn vào nhà xem thỏa thích. Với đám trai thanh niên, thì ba Hưng mở những cuốn băng, đĩa nhạc trẻ theo yêu cầu, nên họ rất thích đến nhà chơi, khi thì đến nhà nhìn qua cửa sổ, khi thì vào nhà trò chuyện trao đổi với ba Hưng về âm nhạc. Thật ra, không phải ba Hưng đến bây giờ mới làm vậy, mà xưa nay đã làm theo sở thích của mình. Từ những năm tháng còn ở nhà thuê nhà thục, ba Hưng đã có thói quen đẫ mở nhạc nghe suốt ngày, ai vào nhà xem thì vào, và ai muốn mượn về nhà xem cũng được. Nay, đến Xóm Cháy, không ngờ cái đầu máy video cổ lỗ, và đầu đĩa VDC cũ càng lại đắc dụng hơn bao giờ hết, chính nhờ chúng mà gia đình Hưng mới trở nên thân thiện gần gũi với những người hàng xóm, từ già đến trẻ. Mẹ Hưng cũng đã bắt đầu làm quen với những phụ nữ trong xóm với tâm tình cởi mở chân thật, nên cũng rất được mọi người cởi mở chân tình. Vậy là mối âu lo khi mới đến đã tan biến, gia đình Hưng như cũng trút được một gánh nặng ra khỏi lồng ngực. Người trong Xóm Cháy khi biết được ba Hưng là nhà văn, là cộng tác viên báo chí, quen biết nhiều với giới ký giả phóng viên, liền lộ vẻ kính nể khâm phục, có người gặp chuyện bất bình uất ức đã tìm đến nhờ cậy ba Hưng giúp đỡ, chỉ cho đường đi nước bước. Mẹ Hưng nhận những mối hàng may gia công ngoài chợ, khi việc tồn đọng làm không xuể, không kịp giao hàng, đã không bo bo ích kỷ, sẵn lòng san sẻ bớt vài chị em phụ nữ trong xóm may để kiếm tiền lo gạo mắm, rồi cố gắng tìm thêm nhiều mối, nhiều hợp đồng khác để có việc cho những người vợ, người mẹ ăn không ngồi rồi… Gia đình Hưng trở nên một tụ điểm vui tươi nhộn nhịp của Xóm Cháy, và nghiễm nhiên trở nên một thành viên gắn bó không rời với cái xóm nổi tiếng là dữ dằn ô hợp…
 Riêng với Hưng và bé Hằng, đến ở trong Xóm Cháy, hai anh em đã có thêm nhiều bạn mới. Cái “lũ quỷ ma vương phá phách” mà hai anh em Hưng nghe tiếng té ra cũng… dễ thương, dễ mến chứ chẳng ghê gớm gì ! Chúng cũng ham học, cũng mê nhạc, cũng vẽ đẹp, cũng giỏi đá banh, ghiền truyện và trò chơi điện tử, như Hưng và bé Hằng chứ khác gì? Chúng ra vào nhà có phép tắt, nói năng cũng hồn nhiên, tấm lòng cũng trong trắng vô tư, và không ăn cắp ăn trộm dù chỉ cây kim sợi chỉ trong nhà Hưng. Chúng cũng biết giúp đỡ nhau, san sẻ cho nhau, chia sớt buồn vui bạn bè cùng lứa, nhường nhịn những đứa bé hơn mình. Chỉ có điều, chúng chưa bỏ được thói quen… văng tục chửi thề. Chính tiếng tục tĩu nhơ nhớp buông ra từ cửa miệng đã làm cho lũ trẻ Xóm Cháy phải mang danh là mất dạy, là quỷ xứ ma vương đó thôi.
 Rất nhiều lần ba Hưng đã lên tiếng nhỏ nhẹ khuyên dạy mấy đứa nhỏ ưa xổ tục khi chúng vào nhà ngồi xem phim hoạt hình, có một trong hai đưa ngoan ngỗn nghe lời, tự vả vào miệng mình mổi lần nói tục chửi thề, nhưng rồi… đâu lại vào đó. Lũ con nít Xóm Cháy dường như đã quen miệng, quên tật xấu xa đó, không cách nào bỏ được. Ba mẹ Hưng phải đã ra quy kỷ luật “đứa nào còn nói tục thì không cho vào nhà ngồi xem gì cả”. Biện pháp này xem ra có một chút hữu hiện trong nhất thời, vì lũ con nít rất ham vui, không đứa nào không dám vào nhà Hưng để ngồi xem phim, xem ca nhạc, xem những bàn thắng đẹp trên sân cỏ. Khi rủ nhau vào sàn nhà ngồi bệt dưới sàn gạch bông, đứa nào cũng tỏ ra hiền khô, nhắc nhau không xổ tục, đưa nào lỡ miệng là bị mấy dứa khác mét ngay với ba Hưng để chịu kỷ luật. Nhưng ba Hưng chưa hề kỷ luật đưa nào, chỉ trợn mắt hăm dọa thôi. Mẹ Hưng lại thường đem trái cây, bánh kẹo ra phát cho lũ con nít ăn cho vui, làm cho đứa nào đứa nấy điều khoái “nhà của chú nhà báo”. Nhà Hưng luôn mở cửa để đón khách, không chỉ là con nít, mà người lớn trong xóm lâu lâu nghé thăm trò chuyện, khi quen rồi thì bắt đầu nhờ cậy, cầu cứu ba mẹ Hưng giúp đỡ. Mẹ Hưng giúp nhiều người trong xóm khi họ đến kể lễ than van về cảnh ngặt nghèo, sự giúp đỡ không to lớn lắm, nhưng cũng đủ xoay trở được, và cái tình thì vô cùng đậm đà chân thật. Ba Hưng giúp hàng xóm theo cách khác, ai gặp oan ức, rắc rối, hay bất bình gì thì tìm đến, sẽ được hướng dẫn đường đi nước bước, viết giùm đơn từ khiếu nại, giới thiệu đến các văn phòng đại diện báo chí đóng trên điạ bàn thành phố để được can thiệp giúp đỡ… Xóm Cháy đã nhận lấy nhà Hưng, công nhận nhà Hưng là một thành viên của xóm, bảo bọc và che chở cho gia đình mới này bằng tình thương, lẫn sự mến mộ. Nhà Hưng đã nhận được nhiều sợ giúp đỡ của xóm, tuy nhỏ nhoi nhưng đầy tình cảm đáng trân trọng. Khi nhà có tiệc tùng, có cúng giỗ, hay lễ tiệc sinh nhật cưới hỏi, bao giờ nhà hàng xóm cũng bưng sang nhà Hưng một mâm tượng trưng “ăn lấy thảo”. Thỉnh thoảng có người đến nhắc nhở nhà Hưng đóng cửa, khóa xe để khỏi bị trộm cắp. Nhà bị dột vào mùa mưa, có người tự nguyện leo lên mái nhà để giúp ba Hưng mà không hề lấy công tính tiền. Khi mẹ Hưng bệnh, hay mắc công chuyện, có người tự động đi chợ nấu ăn giùm… Rất nhiều chuyện, kể ra không xuể. Còn lũ con nít có trên chục đứa xung phong làm “lính”cho ba Hưng sai vặt. Đứa thì xăng xái đi ra sạp mua báo, đứa thì mang bảng thảo đi photocopy, đứa chạy đi kêu cà phê, mua thuốc lá mỗi khi ba Hưng có khách đột xuất… Có đứa thì giành phần của Hưng đấm lưng cho “chú nhà báo” để được nghe ba Hưng kể chuyện tiếu lâm cười hả hê khoái trá. Với Hưng, và bé Hằng, lũ con nít Xóm Cháy luôn dành cho tình cảm đặc biệt, xếp hai anh em vào diện hưởng quyền ưu tiên. Hưng và bé Hằng chơi vơí chúng, luôn được nhường nhịn che chở bênh vực. Điều đó làm cho Hưng cảm động, nên Hưng sẳn sàng giúp đỡ bạn trong học tập, cũng như khi vui chơi trong giải trí, khi có bánh kẹo thì Hưng chia sớt ngay cho bạn không để bạn mở miệng xin xỏ. Bé Hằng bắt chước anh, cũng làm vậy với các bạn gái trong xóm.
 … Ngày mẹ Hưng ngã bệnh nặng vì làm việc quá sức kéo dài ngày này qua tháng nọ, ba Hưng phải gạt bỏ công việc viết lách sang một bên để xuống bệnh viện túc trực bên gường người vợ yêu quý. Việc nhà từ đi chợ nấu ăn, giặc rủ lau rửa, chăm sóc cho Hưng và bé Hằng, đều nhờ những người hàng xóm lo toan trợ giúp tất tần tật. Chính khi lâm vào hoàn cảnh hoạn nạn, gia đình Hưng mới thấy những tấm lòng thơm thảo chân thật của bà con hàng xóm dành cho mình. Ba mẹ Hưng chỉ còn biết một cách là khóc vì xúc động, chứ nói bao nhiêu cũng không đủ để bày tỏ lòng tri ân. Bất ngờ nhất là lũ con nít trong xóm cũng thay phiên nhau vào bệnh viện để ba Hưng sai vặt, có đứa còn đòi thay ca để ba Hưng về nhà tắm rửa nghỉ ngơi… Và, điều mà Hưng không thể ngờ tới, là những món quà sinh nhật của các bạn trong xóm mang đến tặng trao cho Hưng. Lũ con nít nhớ cả ngày sinh nhật của Hưng, vì năm ngoái ba mẹ có tổ chức, đãi cho chúng một tiệc vui tưng bừng. Năm nay, mẹ đang bệnh, ba có nhớ nhưng không tổ chức lễ mừng, vậy mà các bạn lại không bỏ qua, rủ nhau mua quà để tặng, không cần phải có tiệc tùng ăn uống gì cả. Hưng nhận những món quà nhỏ bé xinh xinh đầy bất ngờ đó với lòng dạt dào vui sướngcảm động, rồi chạy ù vào bệnh viện khoe cho ba mẹ nghe. Chuyện những món quà sinh nhật của lũ con nít Xóm Cháy dường như làm cho mẹ Hưng khỏe hẳn, y như vừa uống được thang thuốc của “Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật” kỳ diệu vô song mà bà đã từng đọc được trong kinh. Mẹ Hưng ngồi dậy, mắt ướt đẫm lệ, cất giọng run run:
- Mẹ sẽ khỏe, mẹ sẽ về nhà, sẽ tổ chức một tiệc sinh nhật muộn cho con. Khách được mời đến dự sẽ là tất cả bà con hàng xóm đã giúp đỡ gia đình mình trong lúc nguy nan này!
Ba Hưng tiếp lời, xoa đầu Hưng:
-Và những thượng khách đặc biệt, những là những đứa bạn con, và bé Hằng! 
Hưng mừng và sướng trong bụng, ôm chằm lấy mẹ mà rơm rớm nước mắt. Ba Hưng mỉm cười, đăm chiêu một hồi lâu rồi mới cất giọng từ tốn:
- Ngẫm lại mới hay, ở đâu sống có tình người thì ở đó chắc chắn có nhiều niềm vui. Miền Cực Lạc an vui không phải ở đâu xa trên cõi trời cao vút đầy mây ngũ sắc, mà ở ngay trên trần gian này, tùy nơi tâm mình mà có hay không có. Quả là trời xui đất khiến cho gia đình mình đến ở với Xóm Cháy, đây chính là đất lành chim đậu…
Đúng lúc đó, ngay ngoài cửa phòng xuất hiện một đám đông người lấp ló. Toàn là con nít. Con nít của Xóm Cháy.


GIEO MỘT NIỀM TIN


Năm 1980, tôi được người anh tăng sĩ đứng ra bảo lãnh vàø giới thiệu vào làm việc ở một lò bánh in có tiếng của thành phố. Chủ lò là một Phật tử thuần thành, vì nể nang tin tưởng anh tôi là một sư thầy nên nhận tôi vào làm việc tại lò một cách miễn cưỡng. Vì đang cần một việc làm, tìm một nghề cho tinh, tôi chấp nhận sống những ngày tủi nhục trong nhà của chủ, với bao nghi kỵ chê bai và những kiểu cách đối xử tệ bạc của những người trong nhà chủ. Kiên nhẫn. Một chử Nhẫn của mẹ tôi trao cho trước khi tôi lên đường tha phương cầu thực. Người anh tăng sĩ của tôi cũng chỉ dặn dò, nhắc nhở tôi một chữ Nhẫn ấy, không khác. Chữ Nhẫn luôn luôn hiện rõ ra trước mắt, vang dội trong đầu óc, sôi trào bên trong lòng, đã giúp tôi chịu đựng mọi cay đắng chát chua giữa thế thái nhân tình…
Thời gian đầu, ông bà chủ không cho tôi bước vào phòng kín làm bánh. Tôi chỉ làm những chuyện vặt vãnh như xách nước, bửa củi, gói bánh, thắng đường … Cả chủ lẫn thợ đều sợ tôi học được nghề, rồi ăn cắp bí quyết để sau này tách riêng ra làm ăn. Tôi biết, nên cứ lặng thinh mà làm mọi chuyện, sai đâu đánh đó, bảo sao nghe vậy, không kêu ca phàn nàn một tiếng. Làm được chừng một tháng, cô con gái út của ông của ông bà chủ trở nên thân thiện và gần gũi với tôi. Cô nàng cứ theo trò chuyện, ngồi gần bên tôi mỗi khi gói bánh đóng hàng, và nhiều khi đưa mắt nhìn tôi đăm đăm đắm đuối như muốn báo cho tôi biết tình cảm đặc biệt của cô nàng dành cho tôi. Thoạt tiên, tôi nghĩ rằng mình tưởng tượng. Nhưng dần dà, những cử chỉ thân mậtlời nói ngọt ngào bóng gió của cô nàng đã khiến cho tôi chắc chắn được một điều: cô nàng yêu tôi. 
Tôi bắt đầu thủ thế. Tôi biết đó là một chuyện nguy hiểm, không được đùa cợt. Tôi hiểu rõ: sự giáo dục quá nghiêm khắc, sự quản lý quá nghiêm ngặt của ông bà chủ đối với con gái trong nhà đã biến cho họ khờ khạo, ngây ngô và luôn luôn muốn bứt phá để thoát khỏi sự kềm kẹp khô khốc của gia pháp, của cha me. Cô gái út chưa hề có bạn trai, quanh năm suốt tháng bị giữ rịt trong nhà, chỉ biết loay hoay với công việc gói bánh, nấu ăn… cho nên khi gặp tôi là một người lạ từ ngoài lọt vào, cô nàng quý mến tôi lắm. Nhưng tôi biết đó là sự bồng bột của một thiếu nữ dại khờ, tôi không muốn lợi dụng, dù rất dễ lợi dụng. Tôi cũng không hèn nhát đến độ phải chạy trốn, xa lánh cô nàng, mà tìm cách nói cho cô nàng hiểu về tình yêu và tình bạn. Tôi chỉ muốn làm một người bạn, hoặc hơn chút nữa là một người anh tinh thần của cô nàng. Điều này đã làm cho cô nàng nể trọng tôi, tin cậy tôi, có gì buồn bực phiền muộn đều tâm sự cho tôi nghe. Hai đứa tôi giữ một tình cảm đẹp, một khoảng cách cần thiết tối thiểu với nhau suốt mấy tháng trời, vậy mà vẫn có lời dị nghị từ đám thợ trong lò bánh. Ông bà chủ nghi ngại, gọi tôi hỏi chuyện. Tôi nói thật lòng, nói những suy nghĩ của mình, cũng như nói thẳng ra cái sai lầm của ông bà chủ về chuyện quá nghiêm khắc với con gái. Rõ ràng là tôi dại, có thể mất việc, rời khỏi lò bánh như chơi. Nhưng không ngờ, ông bà chủ đã hiểu được ý tôi, tỏ ra khâm phục và tin tưởng tôi. Tôi bắt đầu được hưởng những tình cảm ưu ái của những người trong gia đình chủ. Tôi thoải mái tự do hơn trước, được dạy kèm cho cô con gái út học vẽ và làm luận văn mỗi tối, tập cho cô nàng đi xe đạp vì chưa bao giờ cô nàng tập đi xe … Tôi được họ – những người chủ trong nhà – cho vào phòng kín tập đóng bánh, trộn bột đường, rồi chỉ hết những bí quyết của nghề bánh in chỉ trong một thời gian ngắn. Tôi đã được quyền tham gia ý kiến của mình vào chuyện sản xuất của lò bánh, được đóng góp những cải tiến cho mặt hàng của lò thêm phong phú, và ý kiến của tôi bao giờ cũng được nhà chủ tiếp nhận một cách trân trọng. Nhưng, tôi biết chắc một điều: nhà chủ vẫn còn một chút gì đó chưa tin tưởng tôi hoàn toàn, chưa dám xem tôi là một thành viên trong gia đình họ, nhất là chuyện tiền nong lãi lỗ thì họ luôn sợ tôi nghe biết. Tôi đâu màng chuyện đó. Tôi chỉ cần việc làm, có được nghề làm bánh in, có cơm ăn no, có quần áo mặc lành lặn, và lương thưởng bỏ túi là quá tuyệt rồi. 
Cho đến một hôm, tôi tình cờ nhặt được một chiếc khăn tay cuộn tròn ở giữa nhà bếp, bên trong là bốn lượng vàng và sáu chiếc nhẫn. Tôi đem trao lại cho ông bà chủ. Cả lò bánh xôn xao. Không ai mất vàng cả. Đến chiều, một người bạn hàng thường đến là lấy bánh đi buôn chuyến đường xa đã hớt hải bước vào lò, hỏi thăm với hi vọng thật mong manh về gói vàng bị đánh rơi. Ông bà chủ đã trả lại cho người bạn hàng đầy đủ số vàng, và cho biết chính tôi là người nhặt được của rơi. Khi tiễn người bạn hàng ra đến cửa, tôi nghe ông chủ nói một câu: “Gặp thằng khác thì tiêu rồi!”. Người bạn hàng quay lại nhìn tôi thật lâu trước khi hí hửng ra chợ. Ngay sáng hôm sau, ông chủ lò đích thân đứng chỉ cho tôi những “tuyệt chiêu” của nghề bánh in, chỉ hết cả những “độc chiêu” dùng để cứu bánh khi bị xổ bột vì đường nóng, bột nóng hoặc gặp trời gió chướng. Tôi nắm được hết những bí quyết của nghề, trở thành một thợ cả của lò, và làm việc say mê ở lòø bánh ấy suốt ba năm. Chính ông bà chủ đã gợi ý cho tôi về quê cũ lập nghiệp, cho tôi một số vốn để mở lò riêng tại quê nhà. Tôi chia tay với lò bánh, được mọi người đưa tiễn quyến luyến vào một ngày mưa sụt sùi. Cô con gái út cũng sụt sùi với đôi mắt đỏ hoe, tặng cho tôi một lá thư tình viết bằng thơ lục bát lục nồi, lại có tranh minh họa cho thơ, tôi đọc xem mà cười chảy nước mắt …
Năm năm sau, vào năm 1988, khi tôi đóng cửa lò bánh in nhỏ của mình do làm ăn thua lỗ, cạnh tranh thất bại, đang có dự định đi làm công nhân cho tổ hợp xây dựng thủy lợi huyện, thì nhận tin từ chốn xa: cô gái út của ông bà chủ là bánh in đã lấy chồng và sinh được đứa con trai. Ông bà ngoại đã đặt tên cho cháu là Hồng, trùng tên với tôi. Tôi chỉ còn biết phì cườisung sướng

 HƯƠNG THƠM TỪ BẠC MỐC


 Tối hôm qua là một tối đáng nhớ trong đời. Một buổi tối thật vui, đầy tiếng cười và cả nước mắt. Chú Bình đột ngột trở về từ một phương trời xa xôi cách nửa vòng trái đất, sau mười lăm năm sống tha hương nơi đất khách quê người. Chú rời xa quê hương khi Thuý Loan còn là một hạt bụi nhỏ nhoi bay lơ lững ở một khoảng không mênh mông nào đó. Hai chú cháu chỉ biết mặt nhau qua mấy tấm ảnh kèm theo trong những lá thư đầy tình thương nhớ mà thi thoảng chú gửi về, cũng như bố mẹ gửi đi… Giờ thì chú Bình đã hiện ra bằng xương bằng thịt để ôm đứa cháu duy nhất vào lòng mà hôn những nụ thật mạnh, thật kêu trong nước mắt ràn rụa. Chú cũng hôn lên trán người chị dâu của chú-mẹ của Thuý Loan- với sự kính trọnglịch sự có thừa như người phương Tây. Chú Bình về mà không hề báo trước cho biết điều gì, làm cho mẹ phải bất ngờ, lúng túngvui mừng khôn xiết. Chỉ tiếc rằng bố đi công tác vắng nhà, không có mặt trong giờ phút hội ngộ thiêng liêng ấy, làm chú Bình cũng thoáng buồn, vẻ thất vọng hiện lên rõ trên gương mặt hồng hào đầy đặn. Mẹ phải gọi điện thoại ngay để báo tin, gọi bố xin phép tranh thủ về nhà để trùng phùng cùng người em trai ruột rà đã xa cách chừng ấy năm. Nếu không có gì trở ngại thì bố sẽ có mặt tại nhà sau hai mươi tư giờ đi đường bằng xe đò tốc hành đúng nghĩa tốc hành. Chú Bình khăng khăng không chịu đến ở khách sạn, nên mẹ phải lo thu xếp một chỗ cho chú nghỉ ngơi tạm thời. Điều làm cho Thuý Loan vui nhất đó là những gói kẹo, những thanh sô-cô-la, và những cây bút đắt tiền mà chú Bình mang từ nước Mỹ về tặng cho đứa cháu gái. Hơn thế nữa, chú còn cho riêng Thuý Loan hai tờ giấy bạc mệnh giá 100 đô-la. Trước khi cho tiền, chú xoa đầu Thuý Loan, nói:
 - Chú vụng về lắm. Muốn mua cho cháu áo quần, nhưng lại không dám mua vì sợ mua không đúng kích cỡ của cháu, cháu sẽ mặc không vừa. Tiền này để cháu tự quyền mua sắm theo ý thích!
 Thuý Loan đưa mắt nhìn chừng về phía mẹ. Nét mặt của mẹ thật nghiêm nghị. Chú Bình hiểu ý, liền cười nói:
 - Cháu đừng lo. Chú có nhiều tiền lắm. Chú về đây, không mang hành lý nhiều, nhưng tiền thì rất nhiều. Bố mẹ có phần của bố mẹ, còn phần của chú cho riêng cháu thì cháu cứ xài thoải mái, mua những gì mình thích, sắm những gì mình thiếu, và ăn ăn uống uống những gì mà mình thèm khát bao lâu nay…
 Thấy mẹ chỉ nhếch môi cười, không nói gì, Thuý Loan mới dám cầm và cất ngay vào túi áo hai tờ giấy bạc mà lần đầu tiên trong đời mình mới được sờ đến, nắm bắt được trong tay. Rồi mặc cho mẹ và chú Bình ngồi trò chuyện thân mật, rôm rả suốt đêm, Thuý Loan chìm vào một giấc ngủ với giấc mơ thật dài có đầy tiếng cười rộn rã và nhạc du dương thánh thót…
 Sáng nay nhằm thứ bảy nghỉ học, Thuý Loan dậy trễ, mẹ phải gọi dậy để ăn sáng cùng chú Bình cho chú vui. Sau bữa điểm tâm, chú Bình đi đến đồn công an Phường để khai báo tạm trú, rồi sau đó sẽ đi thăm một số bạn bè cũ trong thành phố. Chương trình của chú là vậy, còn chương trình của Thuý Loan là… đi ra phố sắm áo quần, sắm mọi thứ mình thích sau khi ghé vào tiệm vàng đổi hai tờ giấy bạc 100 đô- la. Sướng thật. Mình giàu thật. Mình có cả tiền triệu trong túi. Triệu phú rồi còn gì? Vừa tung tăng từng bước chân trên hè phố, Thuý Loan vừa ngẫm nghĩ và vừa cười một mình. Tha hồ mà mua sắm nhé. Thoải mái mà chọn lựa nhé. Vô tư mà xách mang về nhà nhé. Tiền của chú Bình mang từ Mỹ về cho riêng mình mà. Chú đã bật đèn xanh cho mình vọt xe lên rồi thì không có gì phải đắn đo nghĩ ngợi nữa. Mẹ sẽ có phần tiền chú cho mẹ. Bố cũng sẽ có phần tiền chú cho bố. Mình sẽ tự sắm sửa những món ngon vật lạ mà không cần phải hỏi xin tiền bố hay mẹ, vậy là “ngon” rồi!
 Thuý Loan mạnh dạn bước vào siêu thị. Vào siêu thị mua sắm, đó chính là niềm mong ước bao lâu nay của Thuý Loan. Mua sắm đàng hoàng, chứ không phải vào chỉ để dạo quanh đưa mắt ngắm nghía với cái bụng thèm thuồng như bao lần “đi cho biết siêu thị là gì” với mẹ. Trước tiên là thẳng đến gian hàng áo quần may mặc sẵn. 


 Ô là la… toàn là những bộ đồ mình thích. Thật là hợp thời trang, đúng mốt, dễ thương, xinh xắn, độc đáo, lạ lẫm. Mấy đứa bạn sẽ lé mắt nếu thấy mình diện những chiếc áo, chiếc váy, chiếc quần đắt tiền này. Nhất là con nhỏ Thuỳ Hương, con nhà giàu nhất lớp nhất trường, nó sẽ trố mắt lên kinh ngạc khi không hiểu nổi tại sao con nhỏ Thuý Loan nhà nghèo này lại có được những bộ đồ “sang trọng quý phái”, trong khi lâu nay quanh năm suốt tháng chỉ thấy nó mặc những chiếc áo trắng đã ngã màu vàng ố mặc dù đã nhiều lần cầu cứu đến các loại xà phòng quảng cáo rầm rộ om sòm trên truyền hình là “đã tốt nay còn tốt hơn”; hay những chiếc quần tây xanh đã bạc sờn, hai ống ngắn khoe cả mắt cá chân đến nổi “chó nhảy táp bảy ngày không tới”. Nhỏ Thuỳ Hương, cũng như một vài dứa bạn nhà giàu khác, cũng sẽ thèm nhỏ dãi khi thấy mấy cây bút máy hiệu Pilot, hiệu Paker chính hiệu hàng ngoại mà có tiền chưa chắc đi mua đã có lại đang thuộc quyền sở hữu của con nhỏ Thuý Loan “quê mùa lạc hậu” nhất lớp. Thú vị thật. Càng tưởng tượng ra trong đầu những cảnh chưa từng xảy ra, Thuý Loan càng thấy thích thú khi đứng chọn lựa thoải mái những món đồ đắt tiền có niêm giá sẵn. Càng thú vị hơn khi Thuý Loan chợt nhớ đến tiệc sinh nhật của nhỏ Hồng Hạnh mời vào chiều chủ nhật ngày mai tại nhà nó. Năm ngoái, Thuý Loan cũng đi dự tiệc sinh nhật này rồi, vì nhằm lúc mẹ không có tiền, bố chưa kịp lãnh lương, nên Thuý Loan chỉ tặng cho bạn món quà tinh thần là một bài thơ lục bát kèm trong hộp đựng bút trị giá 10 nghìn đồng, quà giá trị tuy nhỏ nhưng cũng đủ làm đứt ruột của mẹ vì đó là tiền mẹ dành dụm phòng chuyện ốm đau, nay phải xuất chi cho con gái được vui vẻ với chúng bạn. Sau buổi tiệc sinh nhật ấy, tụi bạn cùng lớp có vài đứa nói bóng nói gió hàm ý chê bai, khinh khi Thuý Loan về chuyện “đi quà cho bạn mà keo kiệt, trong khi ăn tiệc thì ăn cho ních bụng đã mồm”. Nghe được, Thuý Loan buồn mấy ngày chưa nguôi, nếu khônglời an ủi động viên của chính nhỏ Hồng Hạnh thì không biết đến bao giờ nỗi buồn tủi ấy mới tiên tan trong lòng. Bây giờ chợt nhơ lại, Thuý Loan không thấy buồn tủi nữa, mà lại đang hân hoan phấn khích hơn bao giờ, lòng nôn nao háo hức mong cho mau đến chiều mai để mình đi dự tiệc sinh nhật nhỏ Hồng Hạnh. Năm nay mình đi quà cho biết mặt nhé. Đã có đứa nào từng dám tặng quà sinh nhật cho bạn trị giá đến 200 nghìn đồng chưa? Chắc chắn là chưa rồi. Nhưng bây giờ sẽ có. Sẽ có một người dám “chơi mát luôn”, và người ấy chính là con nhỏ Thuý Loan “quê mùa lạc hậu” này đây. Một chiếc áo đầm xoè thật đẹp, vải ngoại mềm mại, hoa văn độc đáo, màu sắc hài hoà, được đặt trong một chiếc hộp giấy kính trong suốt sang trọng, sẽ là món quà mừng sinh nhật dành cho nhỏ Hồng Hạnh. Chắc chắn nhỏ Hồng Hạnh sẽ rất thích với chiếc áo đầm vừa vặn này, vì Thuý Loan đã mặc thử thấy rất vừa vặn, hai đứa lại có tầm vóc kích cỡ ngang nhau. Xách hai túi xách căng phồng đầy áo quần rời khỏi siêu thị, Thuý Loan trèo lên ngay một chiếc xích lô trở về nhà với lòng rộn ràng niềm vui. Ngắm nghĩa chiếc đồng hồ hiệu Rado mới keng trị giá 700 nghìn đồng đeo trên tay, Thuý Loan cảm thấy như mình vừa được lột xác hoàn toàn. Mình không còn là mình nữa rồi sao? Không còn là con nhỏ Thuý Loan hồi hôm qua, và xưa kia nữa rồi. Có thật vậy không, hay chỉ là chiêm bao mộng mị? Không, chuyện có thật mà. Thật như vầng thái dương đang sáng rực chói chan trên bầu trời trong xanh quang đãng kia để xua đi những màn đêm mịt mờ ám chướng. Thật như nụ cười khoái chí của chú đạp xích lô khi được mình đưa luôn cả tờ giấy bạc 10 nghìn đồng với lời dặn đầy nhã nhặn: “Chú khỏi phải thối tiền lại. Cháu tặng chú uống nước!”. Và thật như dáng mẹ đang ngồi nơi ghế sa-lông thẻ đã bay hết lớp vẹc -ni với nét mặt trầm tư nhìn về phía cửa, nơi mà mình vừa bước qua để vào trong căn nhà dường như đã trở nên ấm cúng hơn bao giờ hết…
 Thuý Loan định reo lên để bày tỏ tâm trạng đang hạnh phúc tràn trề của mình với hai túi xách to đùng nặng trĩu trên hai tay, nhưng bất chợt phải khựng người lại, chôn chân xuống dưới nền gạch hoa đã hoen ố cũ kỹ. Mẹ đang ngồi nơi ấy, bất động, chỉ có đôi mắt là đang sống động lung linh với cái nhìn xuyên suốt vào bất cứ vật thể gì. Khó mà đoán được mẹ đang vui hay buồn, đang giận hay thương, nên Thuý Loan vẫn đứng yên một chỗ cất tiếng nủng nịu gọi lên để thăm dò:
- Mẹ!
Mẹ đưa mắt nhìn hiền từ, miệng cười nhẹ nhàng, rồi gật đầu:
- Con đi sắm đồ về rồi đó à?
 Chỉ chờ nghe được bấy nhiêu, Thuý Loan đã đoán được mẹ không hề buồn giận gì mình đâu, vội xách hai túi xách sà đến bên mẹ. Đăït hai túi xách lên trên chiếc bàn nhỏ trước mặt, Thuý Loan ngắm nhìn mẹ trong thoáng chốc, bỗng chạnh lòng trong sự ngạc nhiên tột cùng. Trước mắt, cận kề bên, mẹ đang ngồi im lặng với một chiếc áo bà ba màu nâu đã bạc thếch cũ càng trông thật… lạ lùng. Một chiếc áo quá cũ, quá xấu qua cái nhìn của Thuý Loan. Không kềm được nỗi kinh ngạc, Thuý Loan buột miệng:
- Trời đất, mẹ lôi đâu ra cái áo gì mà thấy…“ghê” vậy?
 Người mẹ mỉm cười, cúi nhìn chiếc áo mình đang mặc trên người, nhìn hai vạt áo, rồi nhìn hai vai áo, đưa tay vuốt khẽ khàng lên hai miếng vá, giọng trầm xuống hỏi:
- Ghê lắm hở con?
- Dạ… con thấy ghê quá. Áo ở đâu vậy mẹ?
- Áo của mẹ đó con.
- Sao mẹ mặc làm gì cho xấu vậy?
- Với con thì nó xấu xí, nó ghê ghê. Nhưng với mẹ thì nó luôn là một kỷ vật đẹp đẽ.
- Vậy chiếc áo này mẹ giữ để … nhớ một kỷ niệm gì sao?
 - Đúng vậy. Chiếc áo này mẹ đã mặc trong suốt ba năm trời, rồi sau đó đem cất giữ đã mười lăm năm qua, từ khi con còn chưa chào đời, và đúng vào năm mà chú Bình chia tay với bố con trong nước mắt để đi thật xa…
- Nhưng vì sao mẹ phải giữ nó kỹ như vậy?
 - Mẹ giữ để lâu lâu nhìn ngắm nó. Nó luôn nhắc nhở mẹ đừng quên những tháng ngày đói khổ nhọc nhằn, nhưng cũng rất thơ mộng vui tươi…
- Sao lại thơ mộng vui tươi hở mẹ?
- Hồi đó, mẹ thường mặc chiếc áo này, hằng ngày đạp xe trên hai mươi cây số đi và về trên con đường gập ghềnh, từ công trường thuỷ lợi ra đến chợ thị trấn, để lo cơm nước cho anh em công nhân. Và rồi mẹ gặp bố của con. Mẹ mặc chiếc áo này dường như là thường xuyên vì khi ấy mẹ chỉ có hai chiếc áo, mà chiếc áo còn lại kia thì đã quá rách, quá mỏng, mẹ chỉ mặc khi ngủ ban đêm. Vậy mà bố của con vẫn thương yêu mẹ, bố đâu có màng đến chuyện áo xấu áo đẹp, hay áo lành áo rách, mà bố chỉ quan tâm đến cái tính cái tình của mẹ thôi. Rồi bố và mẹ cùng vượt qua nhiều trở ngại thử thách về tôn giáo tín ngưỡng, về quan điểm chính trị, để nên duyên vợ chồng. Nhờ trời, từ ngày nên vợ nên chồng, cuộc sống trở nên dễ thở hơn, bố có công ăn việc làm ổn định, mẹ không còn phải đội nắng mưa quanh năm làm chị nuôi ở công trường thuỷ lợi nữa, mà chỉ lo bán quán tạp hoá để kiếm tiền xoay sở chi tiêu trong gia đình. Từ khi con chào đời, cuộc sống gia đình mình tuy không khá giả, nhưng cũng không đến nỗi bần cùng túng đói, nhờ bố mẹ luôn biết thiểu dục tri túc, biết cần kiệm để nuôi con ăn học lâu dài
- “Thiểu dục tri túc” là gì vậy mẹ?
- Thiểu dục là ít muốn, nghĩa là mình đừng có ham muốn nhiều, đừng tham vọng quá khả năng của mình đẻ rồi phải thất vọng, phải đau khổ khi không đạt được điều mình ao ước. Thí dụ như mình đang đi bộ, sau đó sắm được chiếc xe đạp là sướng rồi, nhưng mình lại chán xe đạp, lại ham muốn một chiếc xe máy, rồi không có khả năng sắm xe máy nên mình lo lắng, buồn tủi, đau khổ. Còn tri túc là biết đủ, nghĩa là nên hài lòng với những gì mình đã có được, không thèm ao ước thêm nữa. Thí dụ như cái quán nhỏ nhà mình đã đủ giúp cho mẹ có khoản thu nhập để lo chợ búa chi tiêu hằng ngày, và tháng lương của bố thì đủ để dành dụm, hay sắm sửa những thứ cần thiết… Được như vậy là hạnh phúc lắm rồi, vì quanh mình có biết bao người nghèo khổ bần hàn chỉ ao ước được như bố mẹ. Con hiểu chứ? Thiểu dục là vậy, tri túc là vậy. Và nhờ học giáo lý nhà Phật mà biết vậy, nên bố mẹ mới sống được thanh thản nhiều năm qua…
 Im lặng. Thuý Loan chau mày ngẫm nghĩ. Mẹ cất giọng nhỏ nhẹ:
- Hôm nay, mẹ lôi chiếc áo này ra để mặc là có ý gì con biết không?
Thuý Loan lắc đầu nguầy nguậy, nhỏng nhẻo:
- Con… con đang còn thắc mắc đây. Mẹ nói cho con biết đi!
 - Con người không thể sống mãi với quá khứ, nhưng cũng không nên quên dĩ vãng để gìn giữ cho hôm nay, và ngày mai cứ được mãi hương thơm và vị ngọt. Hôm nay, mẹ lôi chiếc áo ngày xưa ra mặc là để cho mẹ tự ngắm mình lại trước gương, và để cho tối nay khi bố con trở về nhà, bố sẽ được ngắm lại hình bóng thân thương ngày nào. Nhưng điều quan trọng nhất là để cho con ngay bây giờ được ngắm mẹ mình, mà tự rút ra một bài học tuy nhỏ nhoi nhưng rất quý báu cho mình…
 Nhướng mắt lên nhìn mẹ, Thuý Loan im lặng không biết phải nói gì. Chợt, mẹ hỏi:
 - Con hãy ngắm kỹ mẹ đi, mẹ có xấu xí đi vì chiếc áo cũ xì mốc meo này không?
 Thuý Loan bàng hoàng, quỳ xuống trước mẹ, nghẹn ngào:
- Không… không… Con thấy mẹ đẹp lắm. Mẹ đẹp tuyệt trần!
Mẹ nhoẻn miệng cười, âu yếm xoa đầu con gái, hỏi:
- Con đi sắm sửa hết tiền của chú Bình cho rồi, phải không?
Nghe mẹ hỏi, Thuý Loan ngước mặt lên thưa:
- Con lỡ đổi hết cả hai trăm đô-la… nhưng con chỉ mua sắm hết khoảng một nửa…
Vừa nói, Thuý Loan vừa móc hết xấp tiền trong túi đưa cho mẹ. Người mẹ đẩy tiền ra, hiền từ:
- Mẹ hỏi, không phải để lấy tiền của con. Chú Bình cho riêng con thì con cứ cất lấy. Nhưng con đừng chi tiêu hoang phí, mà hãy để dùng cho việc có ích, nhất là chuyện học hành của con.
Đưa tay chỉ hai túi xách trên bàn, mẹ trầm giọng nói tiếp:
- Mẹ muốn con hiểu ra một điều: Tuy rằng chú Bình có nhiều tiền khi về thăm quê hương, nhưng đó là tiền được đánh đổi bằng mồ hôi, nước mắt, và có khi bằng cả máu. Chú con bao năm phải lao động cật lực khổ nhọc, phải thức khuya dậy sớm đầu tắt mặt tối làm thuê làm mước cho người ta mới có tiền mà sống. Chú Bình tuy đã có nhà, có xe hơi riêng, nhưng mọi thứ đều là mua trả góp, phải thiếu nợ, phải cày còn hơn con trâu trên ruộng để trả nợ dần dần đâu phải ngồi phè phởn một chỗ để hưởng phú quý vinh hoa?! Khi con cầm đồng tiền của chú Bình cho để chi xài, thì hãy nhớ rằng chú rất khổ cực làm việc, chú phải chịu hi sinh rất nhiều để có được tiền mang về giúp bố của con. Con không thấy đến giờ này, tuy chú Bình đã trên 35 tuổi mà vẫn không dám lập gia đình hay sao? Và con không thấy chú của con đi làm ăn xa thâït xa đến mười lăm năm mới dành dụm được một số tiền để trở về cố hương sao?
Thuý Loan sững sờ. Làm sao mà mình nghĩ ra được những điều ấy với một đầu óc còn non nớt được? Nếu mẹ không nói ra thì mình cứ tưởng chú Bình là một Việt Kiều giàu có bảnh bao sang trọng, tiền chú cho là tiền để tiêu xài cho sướng tay sướng bụng. Lòng ăn năn day dứt, Thuý Loan gục đầu, nói với giọng ngắt quãng:
- Con có lỗi… con sai rồi… Con không biết…
 Rồi cô con gái sà vào lòng mẹ, úp mặt vào ngực mẹ mà khóc tấm tức, ngửi được hương thơm lạ lùng từ chiếc áo bạc mốc xa xưa của người mẹ yêu kính …


MÓN NỢ CUỐI NĂM


 Chiều một ngày cuối năm, mặc cho ngoài đường kia đang chộn rộân hối hả, thầy Trường ngồi lặng lẽ trong căn hộ vuông vắn chật chội nhưng ngăn nắp của mình, trầm tư cắn bút trước những trang thơ đầy cảm xúc còn chưa ráo mực, hồn thả về một vùng ký ức xa xăm đầy vui buồn nhung nhớ… Già bạc tóc cả rồi, thầy đâu còn muốn chen chân theo nhịp tất bật cùng thiên hạ. Hơn nữa, thầy sống độc thân bao năm nay, không viêïc gì phải bận rộn lo toan muốn sút cả vó như bao người có cặp có đôi, có tổ ấm đoàn tụ, có gia đình đông vui đầy đủ… 
 Thầy đã sống trên mười năm như vậy rồi, kể từ ngày người bạn đời yêu quý của thầy qua đời sau một cơn bệnh nặng hiểm nghèo, để cho thầy phải chịu cảnh gà trống chăn hai đứa con. May mà lúc ấy con thầy đã khôn lớn, đứa đang học năm cuối cấp 3, đứa đã ngồi ở giảng đường đại học được ba năm rồi, nên thầy khôâng phải vất vả. Rồi chúng trưởng thành, công thành danh toại, lần lượt rời xa vòng tay ôm ấp vuốt ve của thầy để xây tổ uyên ương, bỏ thầy ở lại cô thân lẻ bóng nơi căn hộ nhỏ nhắn nằm trong hẻm cụt của một khu dân cư bát nháo hỗn độn
 Dù gì, thầy vẫn yêu căn hộ đầy kỷ niệm khóc cười trầm thăng mà thầy đã gắn cuộc đời mình vào nó trên hai mươi năm qua. Thầy không muốn rời khỏi nơi thầy yêu thương và cả sự tôn kính, mặc dù con cái thầy đã bao lần nài nỉ van xin thầy dời sang ở một căn hộ mới rộng rãi khang trang hơn ở một khu yên tĩnh mà chúng có khả năng mua ngay cho thầy. Thầy thích sống một mình hơn. Tự do. Thoải mái. Không lệ thuộc bất cứ ai. Tiện nghi đầy đủ. Tiền bạc của hai đứa con cung cấp cho thầy hằng tháng, thêm khoản lương hưu, đủ cho thầy sống thư thả, nếu không muốn nói là thừa dư. Vậy thì hà cớ gì phải đi đâu cho mệt? Đi để tìm gì? Có một điều chỉ có thầy hiểu mình: thầy chôn kín trong sâu lắng tận đáy lòng một tình cảm đặc biệt dành cho cái xóm lao động phức tạp mà thầy đã sống được nhiều tháng năm đi đi về về gắn bó. Xóm nhỏ đông dân, có đủ thành phần của xã hội, có đủ thất tình lục dục, sinh tử thất tồn, hỉ nộ ái ố, vậy mới là cuộc sống, vậy mới sinh động, để cho một người yêu văn chương thi phú, yêu báo chí, mê sách kinh nhà Phật như thầy phải cảm thấy hứng thú, thấy vui mừng vì không sợ thiếu cảm xúc, thiếu ý tưởng, thiếu vốn sống, để cầm bút gieo ngôn từ trải lòng trên giấy. Thứ tình cảm đặc biệt ấy như một sợi dây thừng vô hình trói xiết đôi chân lẫn trái tim của thầy lại, không cho thầy rời bỏ cái nơi mà nhiều người lương thiện chân chính nghe nhắc đến phải sợ hãi đến rùng mình lạnh gáy.Vậy mà thầy ở được, sống được mới là hảo hớn trượng phu!
 Đang mải mê bay bổng trên chín tầng mây với ý tưởng ngôn từ, chợt thầy Trường nghe một mùi hương lạ thoang thoảng đâu đây gần kề bên mình. Thầy giật mình, quay đầu lại nhìn sau. Đứng sát sau lưng thầy là một người phụ nữ tuổi trạc bốn mươi, ăn mặc hở hang, trang điểm mặt mày kỹ lưỡng, miệng đang nở một nụ cười tình tứ cùng với ánh mắt rực lên một sự trìu mến yêu thương. Thầy Trường lúng túng, chạy trốn đôi mắt của vị khách không mời, hỏi:
- Ủa … có chuyện gì vậy?
 Người phụ nứ vẫn đắm đuối đăm đăm nhìn thầy Trường, không nói không rằng, khẽ đưa tay vuốt lấy đôi vai thầy, rồi đặt nhẹ nhàng lên ấy. Thầy lật đật đứng dậy, lịch sự gỡ tay vị khách đường đột kia, kéo ghế mời khách, cất giọng hơi bực bội:
 - Cuối năm kẹt tiền lo cho hai thằng nhóc ăn Tết phải không?
 Khách cười tỏn tẻn. Thầy Trường chép miệng, xoay qua bên trái kéo ngăn hộc bàn. Người phụ nữ vội chồm tới, nắm lấy cánh tay thầy lại, giọng run run: 
 - Anh đã giúp đỡ em nhiều lần rồi. Em đã làm phiền anh cũng đã quá nhiều. Hai năm qua, trong những lúc bế tắt, những lần túng ngặt, không ai đoái hoài giúp đỡ, nếu không có anh thì … không biết bây giờ mẹ con em sống chết ra sao …
 - Thôi đi, đừng nói nữa!- Thầy Trường ngắt ngang- Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi, đừng có nhắc gì đến chuyện đó mà!
 - Em mắc nợ anh nhiều quá…
 - Bây giờ cô cần bao nhiê?
 Người phụ nữ mím môi, im lặng một lát, rồi dường như khó khăn lắm mới nói nên được lời:
 - Anh à… Em qua đây lần này không phải để xin, hay vay tiền mượn gạo của anh như bao lần trước…
- Vậy chớ qua làm gì? Trả nợ cho tôi chắc?
- Dạ… đúng là em qua để… trả nợ.
 - Trả nợ? –Thầy Trường trố mắt lên, nửa kinh ngạc nửa vui mừng – Ngon vậy à? Mới có lộc gì lớn lắm sao?
 - Dạ không ạ! Em đâu có tiền…
 - Ủa… lạ kìa, vậy chứ cô trả nợ cho tôi bằng gì? Cô trả bằng đồ đạc, hay giấy tờ nhà cửa? Nhưng ai nhắc đến nợ, ai bắt cô phải nợ kia chứ?
 Miệng thì hỏi lung tung mấy câu như vậy, nhưng trong đầu thầy đã chợt lóe lên ý nghĩ “phải cảnh giác, có chuyện rồi đây”, bụng thầy rộn lên lo lắng, vì thầy vừa nắm bắt được ý đồ của người phụ nữ hàng xóm qua cử chỉ điệu bộ lẳng lơ mà đầy tình cảm nồng nàn chân thật của chị ta. Người phụ nữ nở nụ cười chua chát:
 - Em làm gì có đồ đạc quý giá để gán nợ? Nhà thì ở nhờ ở đậu, làm gì có giấy tờ sở hữu mà đem cấn trừ trả nợ cho anh?
 - Vậy chứ cô muốn sao?
 - Em chỉ có một tấm lòng biết ơn sâu xa, và một thân xác héo úa của gái làng chơi về vườn này… Em nuốn dâng hiến cho anh, dâng hiến hết mình …
 Thầy Trường sững sờ. Đúng như thầy tiên đoán, nhưng vẫn thấy quá bất ngờ. Cặp mắt thầy long lên, tràn ngập nỗi thất vọng tức tối. Thầy xua tay, thả thân hình xuống ghế thật nặng nề, nhìn thẳng vào mắt vị khách mà nói:
 - Cô tưởng tôi chờ đợi điều ấy lâu nay sao? Cô xem tôi là hạng người gì mà tính trả nợ cho tôi bằng thứ đáng khiếp sợ ấy?
 Người phụ nữ bối rối, nói lắp bắp:
 - Em… em… em thấy anh sống khô khan, cứ làm gà trống nuôi con ăn học bao năm trời… nghĩ là chắc anh… thiếu thốn đàn bà lắm. Dương thịnh dương tồn mà âm thì suy hụt… Đó là chuyện thường tình mà anh… Đó là chuyện bản năng cơ bản mà tạo hoá đã ban cho con người…
Thầy Trường cười khẩy:
- Hay quá nhỉ? Chắc cô mới học được sau khi xem bộ phim khiêu dâm “Bản năng gốc”, rồi mang qua đây dạy đời cho tôi phải không?
 Người phụ nữ lộ vẻ hốt hoảng:
 - Không đâu … không đâu. Em không dám … em đời nào dám…
 Phẩy tay, mặt giận hờn, thầy Trường nói:
 - Vậy, cô còn muốn nói gì thì nói hết ra đi, trút ra đi. Sau đó, đến lượt tôi nói!
 - Em… em nghĩ … anh không dám nói lên … lời đề nghị với em… Em nghĩ… đâu phải bỗng dưng mà… bỗng dưng mà…
 - Bỗng dưng mà sao?
 - Bỗng dưng mà anh đem tiền cho không em hết đợt này đến đợt khác. Thường thì… sống ở đời… người ta quan niệm… có qua phải có lại chứ, phải không anh?
 - Cô im đi!
 Thầy Trường không còn kềm được lòng mình, quát lên giận dữ. Thầy quên hết mọi lời vàng trong kinh thư, quên hết muôn câu pháp cú trong chánh pháp, quên hết những điều cơ bản nhất của giáo lý nhà Phật mà bao năm qua chính thầy nghiền ngẫm, học và hành với niềm đam mê thích thú…. Rồi thầy đứng lên, lại ngồi phịch xuống, thở phì phò như vừa chạy vượt qua một ngọn đồi cao. Thầy nhắm nghiền mắt lại, hít thở từng hơi thật sâu, một chặp lâu mới mở mắt ra nhìn khách, nhìn một cách đờ đẫn vô hồn. Khẽ lắc đầu mấy cái lộ chán ngán, thầy chậm rãi buông từng tiếng:
 - Nghe tôi nói đây… Tôi không còn giận cô nữa đâu, mà tôi giận chính mình. Tôi giận mình bao nhiêu thì thương xót cho cô bấy nhiêu. Tôi cần cô hiểu cho một điều: không phải lòng tốt nào cũng đáng bị nghi ngờ. Nghe và nghiền ngẫm lại cho kỹ đi!
Thầy chấp hai tay sau lưng, bước lòng vòng quanh khoảng trống nhỏ hẹp còn lại trong nhà, rồi dừng lại, mắt đăm chiêu hướng về một phương trời xa hun hút bên ngoài cửa sổ… Giọng thầy thâït buồn nặng trĩu
- Sở dĩ lâu nay tôi giúp đỡ cô, san sẻ cho cô những đồng lương hưu và ít tiền nhuận bút viết báo, là vì… tôi khâm phục cô, tôi nghiêng mình bái phục khi thấy cô tuy là một phụ nữ mang lắm tiếng xấu nhất cái xóm này, nhưng cô vẫn cố gắng nuôi dạy hai đứa con không cha, cho chúng ăn học đàng hoàng, không chơi bời lêu lổng … Tôi giúp cô, tức là giúp cho hai cháu được tiếp tục học hành. Vậy nên, cô lo cho hai cháu đến trường là đã trả nợ cho tôi rồi đó!
 Im lặng. Nghe cả tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ treo tường, và cả tiếng của mấy con thằn lằn đang tặt lưỡi … Thầy trầm giọng:
 - Mà thật ra thì … tôi mới là người thiếu nợ đây!
 Người phụ nữ nhướng mắt lên nhìn thầy chăm chăm. Thầy Trường cười nửa miệng, một nụ cười trông thật thảm hại:
 - Tôi thiếu nợ tất cả những học sinh lâm vào cảnh nghèo khổ. Món nợ này quá lớn, mà sức khoẻ và tuổi tác của tôi đã không cho phép tôi làm gì được nữa… Nợ lớn lắm, tôi là một con nợ bị nợ ngập đầu, trả suốt cuộc đời cũng không xong …
 Nước mắt thầy Trường chảy tràn ra hai hàng. Nợ. Đúng là một mối nợ. Nợ nần nghiệp dĩ mà mình phải trả đây rồi. Thầy quay lưng, nhìn vào vách tường vô tri vô giác đang có treo một tấm lịch bằng gỗ sơn mài vẽ hình một chiếc đò trôi giữa dòng sông. Một mảnh trăng tròn vành vạnh lơ lững trên bầu trời soi rọi xuống nước óng ánh sắc vàng. Trên thuyền là hình bóng nhỏ nhoi của một người lái đò đơn độc. Một bức tranh lấp lánh, lấp lánh… Trăng kia. Bóng kia. Ngón tay chỉ trăng đâu rồi? Thầy biết mình đã vừa trải qua một khoảnh khắc vô cùng trọng đại giữa giác và mê, mà chính thầy đã quá tối tăm quên mất đi ngón tay chỉ trăng… 
 Ngay những giây phút tĩnh lặng với những giọt nước mắt thương xót cho nghiệp duyên của mình, thật buồn cười, không hiểu sao thầy Trường lại bỗng nhớ đến chuyện thiền sư Huyền Quang, vị đệ tam tổ rất “phiêu bồng nghệ sĩ” của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, với bài thơ “vu oan giá họa” của cô nàng Cung phi Điểm Bích tài sắc vẹn toàn mang về tấu trình lên vua Trần Minh Tông để lợi mình hại người:
Vằng vặc trăng mai ánh nước
Hiu hiu gió trúc ngâm sênh
Người hòa tươi tốt cảnh hòa lạ
Mâu Thích Ca nào thử hữu tình.
 Thầy hực lên một tiếng cười khô khốc, rồi tuôn liền ngay sau đó một tràng cười khanh khách thật sảng khoái chưa từng, hốt nhiên nhẹ tênh thân xác, trống rỗng cả đầu óc và cõi lòng…
 Người phụ nữ cúi gập người xuống, quỳ dưới đất, bật lên tiếng khóc đầy ray rứt hối hận, nghe thật xao lòng. 
 Chính vào lúc ấy, đôi mắt nhập nhoà của thầy Trường liếc nhìn ra cửa sổ, thầy dường như vừa trông thấy một bóng người vừa thoáng qua thật nhanh. Chắc chắn rằng có một bóng vừa thoáng nhanh qua như điện xẹt, không phải là bóng câu của thời gian, cũng không là bóng của nàng Xuân rực rỡ hoa hoè, mà thầy đinh ninh đó chính là hình bóng của nàng Thơ. 
 Nàng Thơ có lẽ đang muốn ghé đến để đòi nợ thầy cuối năm. Chắc vậy rồi.

 NỤ CƯỜI ĐỘ LƯỢNG 


 Mẹ ưu sầu suốt một tháng qua. Có lẽ giữa mẹ và cha có bất đồng xích mích về chuyện gì đó, mà tôi không được rõ. Cha mất việc làm, nói đúng là bị đuổi việc, bởi một sự trù dập trả đũa về chuyện cha viết bài báo tố cáo những hành vi tiêu cực của Ban Giám Đốc cơ quan. Bài báo của cha không đủ chứng cớ tối cần thiết, bị quật ngược, phản tác dụng, cha về nhà nằm dài trăn trở ôm giấy quyết định sa thải đã nữa năm trời. Nhưng chắc chắn không vì chuyện đó mà mẹ buồn rầu. Mẹ không hề cằn nhằn gây gổ với cha chuyện đấu tranh cho lẽ phải, mà còn là người bạn cổ vũ đồng tình với cha hết mực. Mẹ và cha đều là phật tử thuần thành, luôn tin và ghi nhớ giáo pháp của nhà Phật để áp dụng trong cuộc sống hằng ngày. Với chuyện cha đứng ra chống tiêu cực, mẹ đồng ý cho rằng đó là tư duy và hành động “chống lại cái ác, cái xấu, cái sai” để bảo vệ cái thiện và sự an lành cho mọi người. Vậy, mẹ buồn khổ về chuyện gì? Pháp Phật nhiệm mầu có đến tám vạn bốn ngàn pháp, từ cao siêu rườm rà cho đến bình dị đơn giản, từ bác học công phu cho đến bình dân tiện dụng, sao mẹ không áp dụng như đã từng áp dụng để tiêu trừ khổ đau triền phược trong cuộc sống, mà lại phải chịu mang nỗi buồn nặng nề cho mệt thân rối trí?
Từ ngày cha thất nghiệp, nằm nhà, cha thắp nhang trước bàn thờ Tam Bảo với lời thệ nguyện bỏ hẳn thuốc lá, bỏ rượu chè, bỏ luôn cả thối quen uống cà phê buổi sáng. Cha chỉ cần dùng hai bữa cơm hằng ngày, buổi sáng uống trà khan. Mẹ không biết vui hay buồn, đồng ý hay không tán thành, chỉ thấy mẹ vẫn chu cấp tiền đều đặn cho cha tiêu xài. Mẹ buôn bán ngoài chợ, sạp vải nằm trúng nơi đắc địa nên thu nhập kha khá, đủ để bảo bọc cho cha nghỉ ngơi nếu cha muốn. Nhưng cha không muốn ở nhà, cha thường đi vắng, nói là gặp bạn bè để tìm việc làm mới. Mẹ không muốn tìm hiểu, có muốn cũng không có thời giờ theo dõi cha. Tiền mẹ đưa cho cha dằn túi, đưa bao nhiêu hết bấy nhiêu, đưa nhiều hết nhiều, đưa ít hết ít, không hề nghe cha phàn nàn đòi hỏi gì thêm. Cha cứ lặng lẽ sáng đi, trưa về ăn cơm, nghỉ một giấc, rồi lại đi đến tối, ăn tối xong lại đi đến khuya, cả mấy tháng trời như vậy mà vẫn chưa nghe cha báo tin vui có việc mới, dù là việc tạm thời. Mẹ bảo nhỏ tôi:
 - Mẹ không có thời giờ để theo dõi cha con làm gì. Mẹ giao nhiệm vụ cho con từ ngày hôm nay. Mẹ nghi cha đã có người tình, đang lén lút đi lại với người đàn bà khác. Bao nhiêu tiền mẹ đưa hết sạch, chắc là cho người ta ăn hết rồi. Con hãy tìm hiểu thay mẹ, có tin gì báo cho mẹ biết ngay. Đừng để nước tới chân mới nhảy thì… sự đã rồi!
Tôi đau thắt cả tim gan. Thì ra là vậy. Ghê gớm quá. Nghiêm trọng quá. Không ngờ cha lại quá tệ đến thế. Tôi khóc một mình, thương mẹ, giận cha. Rồi quyết tâm tìm cho ra sự thật, quyết bắt quả tang cuộc ngoại tình…
Ăn tối xong, cha lại đi.
Tôi lén vào phòng riêng của cha, lục lọi hết các ngăn tủ, hộc bàn, dưới nệm, trong gối để tìm cho ra một manh mối nào đó của cuộc tình lén lút mà có thể cha giấu kín. 
Có một ngăn kéo khoá kỹ. Tôi tìm chìa khoá không ra, biết chắc cha đã mang theo mình. Tôi không dám cạy phá khoá. Tôi vội chạy qua nhà thím Tư để gọi mẹ về. Mẹ có chìa khoá ngăn kéo đó. 
Đang tính toán sổ sách tiền nong với thím Tư, nghe tôi bỏ nhỏ, mẹ vội vàng theo tôi về nhà ngay.
Hai mẹ con hồi hộp mở ngăn kéo. Ngăn kéo được mở ra.
Bên trong là một con heo đất to đùng.
Mẹ bưng heo lên rơm rớm nước mắt.
Tôi đọc thấy dòng chữ ghi dưới bụng heo đất:
“Thiểu dục tri túc. Phòng khi ốm đau. Tôi không xứng đáng được sử dụng!”.
Tôi bưng heo thử. Heo nặng tay. Tôi xốc thử. Không sột soạt, vậy tức là bên trong đang có tiền nghẹt chật. Tôi nhìn mẹ. Mẹ đang khóc. Tôi cũng không kềm được nước mắt.
Đúng lúc ấy, lúc mà hai mẹ con tôi còn đang bàng hoàng day dứt, cha bước vào phòng. Mẹ con tôi hốt hoảng, đứng chôn chân tại chỗ, chỉ còn biết trố mắt nhìn cha.
Cha mỉm cười.
 Một nụ cười thường thấy nở trên đôi môi, trên khóe miệng của các tượng Bồ Tát ở trong các chùa chiền tự viện.
 Một nụ cười độ lượng, nhưng sao trông lại tội nghiệp biết dường nào!


RỂ QÚY CỦA MẸ

 Sau một thời gian làm thuê cuốc mướn đất ở Long Thành – Đồng Nai, chịu khổ về vật chất thì nổi, nhưng khổ về tinh thần suốt ngày này qua tháng nọ thì tôi đã không còn đủ kiên nhẫn để sống chung trong nhà của chủ, buộc lòng tôi phải cuốn gói từ biệt để trở về quê cũ tìm kế mưu sinh khác. Trước khi về Nha Trang, tôi ghé lại tá túc ở nhà anh chị Tư tại Sài Gòn hoa lệ …
Ở đến ngày thứ hai, vào buổi trưa, lúc anh Tư từ cơ quan về đến nhà, tôi đang nằm đọc sách trong phòng, nghe giọng chị Tư hỏi chồng:
- Anh có lấy mớ tiền em để trên đầu tủ không?
- Tủ nào?
- Tủ có gương soi.
- À … à … anh có lấy. Anh lấy đó, nhưng quên nói với em1
Giọng chị Tư đay nghiến:
- Lấy hoài. Tiền đưa anh bao nhiêu cũng không đủ …
- Anh đâu có xài. Anh cho thằng bạn mượn, con nó bệnh…
- Con bạn bệnh, rồi cháu hàng xóm đói, rồi vợ của đồng gnhiệp đau nhập viện, rồi bố của láng giềng hết gạo, đủ thứ chuyện trên đời mà anh cứ tự gánh lấy chuốc lấy, tiền nào mà chịu nổi? Nhà mình đâu phải ngân hàng cho vay “xóa đói giảm nghèo” mà anh cứ làm từ thiện hoài vậy? 
- Suỵt… bài ca đó cũ mèm, sao em cứ ca lại hoài. Còn đó chớ có mất mát đi đâu mà em xót với tiếc?
Chị Tư tôi im lặng ngay, chắc là chị đã giật mình biết mình nói bậy, còn chồng mình thì luôn luôn nói hay nói đúng, một lúc sau mới nói:
- Lần sau có lấy thì nhớ nói em một tiếng, đừng để gây hiểu lầm … vì trong nhà đang có thằng Hồng, em ruột của em!
- Suỵt … nói nhỏ nhỏ.
Tôi đặt sách xuống, giả vờ ngủ say. Tôi nghe tiếng chân người anh rễ tiến về phía phòng tôi đang nằm, rồi tiếng chân bước đi khỏi nhẹ nhàng.
Anh rể tôi là một người đàn ông trầm lặng, hiền lành, có chút ít máu nghệ sĩ. Có lẽ nhờ trước kia đã từng trải qua mười năm xuất gia đầu Phật, đã thọ giới Tỳ Kheo đàng hoàng, nên anh mới trở thành một bậc đại trượng phu như vậy. Gia đình tôi quý anh ấy lắm. Nhất là mẹ tôi. Tôi nhớ hồi đó bà phản đối kịch liệt chuyện chị Tư tôi đến chùa lễ Phật mà lại lôi kéo một người tu hành phải hoàn tục để xây tổ uyên ương. Bà nghiêm khắc thường mắng chị Tư tôi “con ma nữ, con Mạn-Đà-La”. Nhưng sau, mẹ tôi nói “do cái nghiệp nặng quá”, rốt cuộc phải giơ tay đầu hàng, miễn cưỡng đồng ý cho con gái lập gia đình với một người trong đông đảo người khoác áo cà sa mà bà rất kính trọng mỗi khi ra vào cửa Từ Bi- Hỷ Xả. Chuyện hôn nhân của chị Tư tôi đã làm mẹ tôi lâm bệnh hơn cả tháng, rồi sinh ra bị trầm uất trầm cảm cũng cả năm sau mới khỏi, kể từ khi chị Tư tôi sinh ra hai đứa con sinh đôi đầu lòng kháu khỉnh đẹp xinh. Rồi thời gian đã làm cho mẹ tôi nguôi ngoai, bà rất yêu quý người con rể ở xa của bà, đôi khi nhìn thấy còn quý thương còn hơn cái đám “con trai ruột báo đời” của bà.
… Một tuần sau, vào buổi tối, tôi đang thu xếp hành trang chuẩn bị sáng sớm ngày mai lên tàu về quê, bên ngoài phòng khách có tiếng anh rể tôi hỏi vợ:
- Em có lấy xấp bạc trong bóp anh không?
- Bóp anh để đâu?
- Trong túi quần tây đen. Bóp thì còn mà bạc thì mất …
- Trời đất, em không có lấy. Đời nào em lục lọi túi anh, anh thử nhớ lại xem … Mất bao nhiêu tiền?
 - …
- Mất nhiều lắm à? Có thật là mất rồi không?
- À à … anh nhớ ra rồi. Anh đã đưa số tiền đó cho chị Ba Toại, nhờ chị Ba trả tiền điện nước tháng rồi …
- Xì … anh thật quá tệ. Có vậy mà không nhớ, chưa gì đã ầm lên mất tiền với mất bạc!
- Anh đâu có la ầm lên, anh chỉ hỏi em nhỏ nhẹ mà …
- Nhà có thằng em đang ở nhờ, mai nó về Nha Trang, anh cứ hô mất kiểu đó …
- Suỵt … thôi mà. Nói nho nhỏ, coi chừng nó nghe mà tội nghiệp. Mai nó về, em nhớ cho nó ít tiền đi đường, anh hết nhẵn túi rồi …
- Khỏi lo. Đợi anh nhắc, đợi anh cho, chắc nó … chết khô!
Tôi ngồi lặng người bên chiếc ba-lô đang căng cứng áo quần, tư trang … Hai bàn tay bỗng run lên nhè nhẹ, và nước mắt chực trào ra. Anh Tư bước vào phòng tôi. Tôi nhìn người anh rể. Anh Tư đang mỉm cười, rồi lắc đầu, lè lưỡi, tay chỉ ra phía phòng ngoài ý muốn nói gì đó về vợ mình. Rồi anh bước lại bên tôi, ngồi xuống cạnh, giọng trầm trầm:
- Để mai anh chở em đến nhà ga. Ngủ sớm đi cho khỏe!
Tôi nắm tay anh Tư, xúc động:
- Anh Tư à … em … em muốn nói là … 
Đưa ngón tay chặn nơi môi tôi, anh Tư ngắt lời:
- Không nói gì hết, ngủ một giấc đi, mai lên tàu, chiều là đã có mặt ở Nha Trang rồi. Về đó, ráng kiếm việc làm, kiếm không có thì tìm đến mấy chùa của mấy ni, xin làm công quả những công việc nặng nhọc mà mấy ni làm không nổi, để kiếm mấy chén cơm no bụng, được thọ hưởng cái lộc của Tam Bảo cũng quý báu lắm, đừng ăn ở không mà sinh chán chường lắm em trai à!
Anh Tư đứng dậy, bước ra khỏi phòng. Tôi nằm xuống, tay vắt lên trán suy nghĩ miên man. Đêm đó tôi ngủ không yên giấc vì cứ thấy ác mộng
Sáng sớm, chị Tư dậy chiên cơm trứng gà cho tôi ăn lót bụng, rồi dúi vào tay tôi mấy tờ bạc, nói sát vào tai tôi:
- Chuyện tế nhị đừng cho anh Tư mày biết là tao cho nhiều. Ổng có hỏi thì nói cho một tờ thôi, nhớ chưa?
Tôi cười mếu máo, gật đầu. Anh Tư chở tôi đến nhà ga. Xe dừng lại trước cổng, anh móc túi đưa cho tôi mấy tờ bạc được cuộn tròn lại, dặn dò:
- Chuyện chuyện tế nhị, nếu chị Tư em có hỏi thì nói anh không cho đồng nào hết, nghe chưa!
Tôi rơm rớm nước mắt, gật đầu. Chia tay anh Tư nói:
- Có gì thì quên hết đi, bỏ qua hết đi, đừng để bụng mà buồn rầu áy náy làm gì cho mệt óc mệt tim, nghe em!
… Ngồi trên tàu, nhìn cảnh vật vụt qua bên cửa sổ, tôi thầm chửi rủa mình thậm tệ. Tôi xấu hổ với gió. Tôi thẹn thùng với cây. Tôi tuổi nhục với mọi người. Tôi càng căm thù, khinh bỉ tôi bao nhiêu thì càng kính phục người anh rể của mình bấy nhiêu. Tôi tỉnh ngộ, khóc trong khuây khoả. Chỉ có nước mắt mới làm cho tôi vơi bớt nỗi tủi thẹn giấu kín trong lòng không ai hay. Không một ai hay, chỉ trừ một người biết rõ, biết chắc chắn rằng tôi chính là thủ phạm ăn cắp số tiền của chị Tư để trên đầu tủ có gương soi, và cuỗm hết mớ giấy bạc trong bóp để trong túi quần tây đen của người anh rể. Người đó chính là anh Tư. Những tờ giấy bạc đó đang nằm dưới đấy ba-lô của tôi từ mấy ngày qua, và mới tối hôm trước. 
Tàu chạy một quãng dài, bay giờ tôi mới buột miệng thốt lên: “Hèn chi mà mẹ yêu quý anh rể hơn những đứa con trai của mình!”. Bà già ngồi ghế kề bên tôi nghe được, liền trợn mắt lên nhìn tôi như nhìn… một vật thể lạ.
Từ đó về sau tôi không bao giờ làm một kẻ trộm cắp nữa. Cảm ơn anh Tư, người anh rể đáng quý của tôi. 


SÂN TRƯỚC MỘT DÁNG MAI


 Gia đình tôi dọn về nhà mới vào lúc gần Tết, cách đây ba năm, ba mùa Xuân vui tươi ở chốn phù hoa đô hội. Hồi đó, khi mới đặt chân vào ngôi nhà mới, gia đình tôi ai cũng reo mừng khi thấy bên cửa ngõ ra vào có sẵn một cây mai cao chừng hai thước, nhánh cành nụ lá xum xuê. Tôi được cha tôi giao việc lặt lá cho cây mai, để kịp đâm nụ nẩy chồi nở hoa đón cái Tết đầu tiên ở nhà mới. Đến ngày lặt lá, tôi chưa kịp làm gì thì cây mai đã tự rụng lá cả rồi. Cả nhà tôi ai cũng tưởng tôi lặt. Cha tôi khen, hỏi:
– Mới chiều tối hôm qua, ba còn thấy cây mai đầy lá. Vậy ra con đã một mình lặng lẽ lặt lá cho nó vào hồi khuya, phải không?
 Tôi định phủ nhận, nhưng không hiểu sao tôi lại mỉm cười gật đầu. Được khen, được thưởng công, dại gì mà từ chối kia chứ?! Tết năm đó, cây mai trổ hoa vàng rực cửa ngõ, ai cũng trầm trồ trước vẻ đẹp sang trọng của cây hoàng mai chốn sơn lâm xa vắng. Riêng tôi, tôi cứ băn khoăn trước câu hỏi chưa được giải đáp: “Ai chính là người lặt lá cho cây hoàng mai?”. Xuân qua, Tết tàn. Thời gian trôi đi mang theo nỗi băn khoăn khắc khoải trong tôi vào lãng quên… Mùa Xuân thứ hai đến. Một sáng thức dậy sớm, tôi kinh ngạc đứng chôn chân trố mắt nhìn cây mai trước ngõ khi thấy lá của nó đã tự rụng hết xuống quanh gốc. Tôi ngơ ngẫn đứng nhìn cây mai trơ trụi những nhánh chi mảnh khảnh. Chỉ qua một đêm mà cây mai đã trút bỏ được xiêm áo cũ để chuẩn bị khoác lên mình chiếc áo vàng rực mới mẻ! Ai đã lặt lá cho nó, nếu không phải là tôi? Tôi im lặng. Cả nhà lại tưởng tôi đã lặt lá mai, lại khen, không ai trong nhà tôi tự nhận mình làm công việc đó, vì đó là việc của tôi phải làm. Tôi bắt đầu khổ sở vì dấu hỏi to tướng cứ lởn vởn chập chờn trong đầu, trước mắt. Không lẽ cây mai này thuộc một giống mai rừng có đặc điểm… tự rụng lá? Tôi ngây thơ đi tìm tòi trong sách thư viện, hỏi thăm những bậc cao niên chuyên gia về cây cảnh, nhưng tuyệt đối không được một thông tin nào xác nhận có một loại mai rừng tự rụng lá. Mấy bác ở câu lạc bộ chim cây cá cảnh cười khề khà gọi tôi là thằng nhỏ “mát dây”. Tôi quả thật muốn “mát”vì chuyện lá mai rụng. Tôi ghi vào sổ nhật ký để nhớ ngày tự rụng lá của cây hoàng mai bí hiểm. Ghi để mùa xuân năm sau, tôi sẽ theo dõi. Tôi quyết phải khám phá bí mật… Mùa xuân lại về, về đến cổng nhà tôi, bên ngõ ra vào cây mai đang đứng đó chờ tôi lặt lá. Tôi xem lại sổ, đã đến ngày cây mai tự rụng lá. Tôi bồn chồn nôn nóng suốt từ sáng tới chiều, mong cho mau đến tối để âm thầm theo dõi cây mai. Tối đến, mọi người đều đã yên giấc cùng với phố xá tĩnh mịch. Tôi ngồi lặng lẽ giữa sân, nhìn chăm chăm về phía cây mai với nỗi phập phồng chờ đợi. Đã hơi 10 giờ đêm rồi, cây mai vẫn đứng đó lặng câm, không hề động đậy. Tôi chán nản định bỏ cuộc, nhưng rồi sự ấm ức khó chịu đã bắt tôi phải kiên nhẫn. Tôi tự nghĩ: “Ai dám bảo cây cỏ vô tình vô tri? Phải chăng cây mai kia cũng biết xấu hổ thẹn thùng khi đang cởi bỏ xiêm áo mà có tôi ngồi sờ sờ ra đó ngắm nghía?”. Nghĩ vậy, tôi đi vào nhà, đóng cửa và làm ra vẻ như đang đi ngủ. Tôi nín thở đứng sau cửa, nhìn qua khe ra sân trước, tập trung nhãn lực vào cây mai. Im ắng. Tôi nghe rõ tiếng tim mình đập thom thóp. Nghe cả tiếng muỗi bay vo ve. Muỗi bâu vào cắn tay chân tôi, tôi cắn răng chịu đựng, không dám đập đuổi vì sợ khinh động. Chờ khoảng nửa giờ, khi lũ muỗi chắc đã no nê, tôi ngứa ngáy và mờ cay cả hai mắt, định đầu hàng phứt, đi ngủ một giấc cho khỏe thân nhàn trí. Bất chợt, tôi giật mình lạnh gáy khi kịp nhìn thấy một bóng người xuất hiện thấp thoáng ngoài cửa ngõ. Tôi nín thở, mở trừng hai mắt lên, trừng hết cỡ trừng, nhìn ra không chớp mắt. Một bóng người nhỏ nhắn vừa leo qua tường nhảy vào nhà tôi, nhảy xuống sân, bước lại đứng bên cây mai. Người lạ có mái tóc dài. Con gái. Ma hay người? Ma ư? Tôi không dám nói là mình không tin vào chuyện ma quỷ, cũng không dám nói là tin, vì xưa nay tôi chỉ được nghe và đọc chuyện ma, chứ chưa bao giừo thấy ma. Tôi lại rất tin vào Phật. Không phải tôi tin vào những tượng Phật, mà tin vào giáo pháp nhiệm mầu của bậc Chánh đẳng Chánh giác. Học pháp Phật để áp dụng vào cuộc sống là những điều mà tôi đã và đang làm. Những kinh chú của Mật tông tôi cũng đã thuộc nhiều, thuộc để phòng thân, sẽ mang ra dùng khi lâm vào những tình huống, hoàn cảnh nguy nan bối rối. Vậy mà tôi vẫn không sao bình tĩnh được khi thấy tận mắt một bóng ma đang lẻn vào sân nhà mình. Tôi không nhớ gì đến chú Chuẩn đề, chú Dược Sư, hay chú niệm cầu đức Bồ tát Quan Thế Âm. Tôi kinh hãi đến trợn tròng, há hốc mồm. Người con gái đang đứng bên cây mai, miệng nói lẩm bẩm, lâm râm những lời gì không rõ. Rồi, người ấy bước lại sát bên cây mai, bắt đầu… lặt lá. Tôi nhìn chăm chăm vào hai chân người con gái lạ, nhìn để xem thử có hổng đất hay không. Tôi thường nghe nói ma quỷ đi chân không chạm đất. Nhưng, trước mặt tôi là con người. Tôi hít một hơi thật sâu để lấy được bình tĩnh, niệm lâm râm “Án ma ni bát mê hồng” mấy lần, rồi mở nhẹ cửa, bước nhanh ra, băng qua sân, tiến về phía cây mai. Nghe động, người con gái giật mình quay phắt lại. Qua ánh sáng từ ngọn đèn đường hắt xuống sân nhà, tôi nhận ra trước mặt mình là một người con gái trạc khoảng mười lăm, mười sáu tuổi có dung nhan xấu xí. Tôi hơi chột dạ, đứng khựng lại. Hai đứa tôi nhìn nhau thật lâu, không thốt một lời. Sau cùng, tôi phá tan bầu không khí im ắng đến rợn người, hỏi:
– Bạn làm gì ở đây vậy? Bạn là ai?
Người con gái ngập ngừng, rồi hỏi với giọng yếu ớt:
– Anh có thật sự nhận tôi làm bạn hay không?
– Ừ, bạn thì bạn. Có thêm bạn thì tốt chứ sao đâu!
Cảm ơn anh. Anh đừng có đuổi em nghen!
– Tại sao phải đuổi?
– Vì em đã tự tiện vào đây, lặt lá cho cây mai, mà không hỏi ý kiến của chủ nhà!
 – Lặt lá mai là nhiệm vụ của tôi, cha tôi đã giao cho tôi. Nếu bạn lặt giùm, tức là đã giúp đỡ tôi, tôi phải cảm ơn và mời bạn vào nhà chơi, chứ sao lại đuổi đi được!
– Anh tốt quá, cảm ơn anh rất nhiều.
– Nhưng bạn chưa nói tên cho tôi biết. Tôi là Hưng.
– Em là Hoàng Mai, bằng tuổi với cây mai vàng này, thua nó năm tháng!
– Ủa? Vậy ra... 
– Đây là nhà cũ của gia đình em. Cha em mất đi, anh Hai bê tha rượu chè cờ bạc đến đổ nợ, buộc mẹ em phải bán nhà để chia gia tài…
– À, thì ra là vậy. Nhưng… tại sao Mai lại đến đây lặt lá mai?
– Chuyện dài lắm anh ơi. Em không thể quên những kỷ niệm ở ngôi nhà này. Bây giờ, gia đình em đã xa nó, sống ở một vùng quê yên tĩnh cách đây trên 30 cây số, hàng năm cứ đến ngày này, em phải đón chuyến xe đầu tiên trong ngày, về tá túc ở nhà một người bạn của anh Hai em, chờ đến giờ này, em lại lặt lá cho mai, xong việc, em về ngủ, mai sáng lại đón chuyến xe sớm nhất về nhà…
– Tại sao Mai lặn lội cực khổ như vậy? 
Giọng Hoàng Mai trầm buồn, kể:
 – Cây mai này do cha em trồng, trồng khi em đang còn nằm trong bụng mẹ, sau này khi em chào đời, cha em đã đặt tên cho em trùng với tên cây mai. Nó thuộc mai rừng, ở chốn rừng thiêng nước độc, học trò của cha em đã tặng cho ông trong thời gian ông dạy học ở một trường miền núi. Cha em xuất thân từ một gia đình bần cùng ở thôn quê, bà con trong dòng họ đều dốt chữ, nên ông càng quyết tâm ăn học… Em rất thương quý cha, nhớ cha rất nhiều, nhất là mỗi độ xuân về, nhìn cây mai là nghĩ tới cha…
Tôi lặng người vì xúc động. Giọng nghẹn ngào của Hoàng Mai giữa đêm khuya chầm chậm như một khúc nhạc u buồn.
– Em nhớ cha nên hàng năm phải về đây lặt lá cây mai. Nó đã thuộc về quyền sở hữu của nhà anh, nên em phải lén lút như vậy. Những năm cha em còn sống, ông thường gọi em ra phụ một tay lặt lá mai, khi Tết đến, hai cha con cùng đứng ngắm cây mai với lòng vui sướng tưởng không gì bằng…
Hoàng Mai khóc thút thít. Tôi cũng nghẹn ngào trước tâm sự của cô gái xấu xí nhưng bên trong có một tâm hồn cao đẹp, một trái tim trong sáng đến tuyệt vời. Hai đứa tôi cùng lặt lá cho cây mai giữa đêm hôm khuya khoắt. Tôi hỏi:
– Mai còn đi học chứ?
– Học chứ, anh, em đang học lớp 10 ở trường ngoại thành. Cha em trong những ngày cuối đời nằm liệt giường vì chứng ho lao tai ác, đã căn dặn em không biết bao nhiêu lần: “Đừng bao giờ làm một người dốt. Và phải luôn luôn giúp đỡ cho người khác đừng bao giờ dốt!”. Em ghi nhớ lời cha răn dạy, đó cũng đúng là lời trăn trối quý báu, nên em quyết tâm học đến nơi đến chốn, sau này em sẽ theo học ngành sư phạm, mai sau nối nghiệp cha lãnh nhận thiên chức “trồng người”. Nếu khó khăn quá, em sẽ chọn con đường… xuất gia, vào chùa vừa được đi tu vừa được học, sau này thế nào cũng có dịp phụng sự chúng sanh bằng kiến thứctình thương của mình, đó cũng là một ý nguyện của ba má em. Nhất quyết em sẽ không đầu hàng, em sẽ đi theo đến cùng dù cuộc sống gian truân vất vả!
– Mai có thể sẽ trở thành nhà văn, hay thi sĩ không chừng, đừng có đi tu mà … uổng. Vì khi Mai nói chuyện, nghe rất văn chương, có câu cú, có vần điệu chẳng thua gì thi sĩ!
Hoàng Mai tươi cười. Một nụ cười sáng rực trong đêm Xuân. Có lẽ Mai cười vì tôi đã nói một câu ngớ ngẩn “đi tu mà uổng”. Mà thiệt, tôi ngớ ngẩn quá, không hiểu con ma nào nhập mà khiến tôi buộc miệng nói ra cái câu vô duyên ngu muội đó, khi chính mình rất tôn kính những người đi theo con đường tu học chánh đạo. Mà đi tu cùng có thể trở thành nhà văn, nhà thơ được vậy, chứ có ai cấm cản? Hai đứa tôi chia tay nhau khi cây mai vàng trước ngõ không còn một chiếc lá trên thân…
 … Mùa xuân lại về. Tôi nôn nóng đến tối để gặp lại Hoàng Mai sau một năm trời không hề nhận một tin tức gì về cô bạn gái. Tôi ray rứt, tự trách mình đã vô tình không hỏi nơi ở của Hoàng Mai, để khi cần sẽ liên hệ. Đã đến ngày lặt lá cho cây mai rồi, tôi bỗng dưng nhớ Hoàng Mai kỳ lạ. Tối đến, tôi kê một chiếc bàn con trước thềm hiên, đặt hai chiếc ghế mây song song với nhau, trên bàn là bánh mức và hạt dưa, trà thơm và bánh mì thịt để ăn khuya. Tôi mở toang cửa để Hoàng Mai đi vào, khỏi phải leo trèo tường như mọi năm. Tất cả đang chờ Hoàng Mai đến. Tôi chờ, cây mai vàng đang chờ.
Nhưng Hoàng Mai đã không đến. 
Thôi thì, cứ tin vào nhân duyên. Mọi sự trên đời đều do nhân quả cơ duyên, mà giáo lý của Phật đã nói có đến “thập nhị nhân duyên” lận kìa! Khi duyên lành hội đủ, ắt có ngày mình cũng gặp lại cô gái mang tên loài hoa mai vàng của rừng xa… tôi tự nhủ lòng mình như vậy cho đỡ tủi buồn. Một chút hi vọng sáng lên vẫn hay hơn là tối thui tối mò vô vọngthất vọng.
Đến mười hai giờ khuya, tôi buồn bã lê bước nặng nề đến bên cây mai. Tôi thở dài một hơi đánh sượt vào khuya vắng lặng. Và, một mình tôi bắt đầu lặt lá cho cây mai. Chỉ một mình tôi. Sương đẫm trên những chiếc lá nhỏ nhắn. Sương lạnh ngắt. Lòng tôi cũng lạnh buồn, lạnh đến tê buốt, buồn đến bần thần rã rượi. Có những giọt sương khuya từ đâu rơi xuống mặt tôi lại nóng hổi. Tôi đưa tay rờ rẫm, và biết rằng đó là những giọt nước mắt của chính mình. Tôi đã khóc. Kệ, khóc đuọc cứ việc khóc. Trong “thập nhị nhân duyên” có vô minh, có thọ, có xúc, có thỷu, có hữu, có ái, có gì gì nữa không nhớ hết nổi, bấy giờ tôi chỉ biết là tôi đang bị vô minh che lấp, đang thọ cái sự “ái biệt ly khổ” thì phải khóc chứ biết làm sao?
 Tôi khóc thật lặng lẽ. Và cây mai vàng cũng lặng lẽ như tự bao giờ…


TRÚT BỎ OÁN THÙ

 Tôi và Huyền, đứa em gái thua tôi bốn tuổi, cùng lớn dần lên mang theo trong đầu những lời nhắc nhở răn đe của cha về một mối thù mà ông cho là không đội trời chung. Cho dù anh em tôi có cố gắng hết sức lục lọi, moi tìm trong ký ức của tuổi thơ nhạt nhòa xa xăm vẫn không sao nhớ, không sao thấy được một chút đỉnh manh mối, duyên cớ nào về mối hận thù giữa gia đình mình với gia đình chú thím Bằng. 
 Trong cái trí nhớ tồi tệ của tôi chỉ hiện ra mơ hồ, mang máng cảnh chú Bằng đùng đùng cùng vợ con dọn gom đồ đạc rời khỏi ngôi nhà Từ đường mà cha tôi đang là trưởng nam, cháu đích tôn của ông nội, được hưởng cái quyền trông nom hương hỏa. Chỉ nhớ được bấy nhiêu, tôi không còn nhớ gì thêm được, vậy mà phải luôn luôn ghi nhớ trong đầu, ôm khư khư lấy trong lòng một mối hận thù ghê gớm và vô duyên thái thậm, đã vậy còn phải có nhiệm vụ nhắc nhở đứa em gái không được quên thù hằn như mình. Có như vậy thì cha mẹ mới vui lòng thỏa dạ. Phận làm con, ai không muốn làm cho cha mẹ vui, anh em tôi cũng vậy, bao giờ cũng tuân lệnh cha mẹ từ chuyện học đến chuyện chơi, và đến chuyện ứng xử với đời với người. Nhưng trong sâu lắng tận ngóc ngách của trái tim, tôi vẫn âm thầm nuôi dưỡng một sự bất bình, phản đối trước mối thù không đội trời chung mà mình mà phải miễn cưỡng ôm khiêng bao năm ròng… Nhiều khi hỏi dò, tôi cũng biết được cái tâm, cái bụng của Huyền rất giống mình, nó chẳng thích thú gì, chẳng hăm hở gì với cái trò hận thù căm ghét của cha mẹ đã huấn luyện, áp đặt cho cả hai anh em tôi từ thuở còn đủng đỉnh đi học cấp I phổ thông. Không thích, không ưa, nhưng không dám biểu lộ ra ngoài, hai anh em tôi đành chịu để cho mối hận thù an nhiên trú ngụ trong lòng mình, cứ như phải gách chịu một của nợ oái oăm bất đắc dĩ, hay một căn bệnh nan y tai ác luôn làm cho thân tâm bức rứt khó chịu. Một ao ước tầm thường nhất mà anh em tôi vẫn thường ngồi thủ thỉ với nhau, đó là vào một ngày trời tuyệt đẹp, trời êm ả, gia đình tôi cùng gia đình chú thím Bằng đoàn tụ, quây quần bên nhau với tiếng cười rộn rã, với những cái vỗ vai nắm tay thân thiết, cũng có thể là cùng khóc với nhau bằng sự cảm thông chia sẻ cay đắng... Nhưng, đó vẫn cứ là mộng mị chiêm bao, đôi khi còn là hoang tưởng. 
 Đã nhiều lần tôi dò hỏi nơi mẹ về mối thù ghê gờm kia, nhưng chưa bao giờ tôi được nghe giải thích rõ ràng, đầy đủ từ đầu đến đuôi câu chuyện. Mẹ chỉ cho hay là đôi bên có xích mích cãi vã, chiến tranh lạnh kéo dài một thời gian, rồi đến ngày bùng nổ ẩu đả. Cha tôi còn đánh thím Thúy, vợ chú Bằng, trong cơn tức giận không còn tự chủ được. Chú Bằng bênh vợ, đánh lại anh trai, tức cha tôi. Rồi mẹ bênh cha, xách cây rượt đánh em chồng, để cho thím Thúy phải bênh chồng nhảy vô vào đánh cản người chị em bạn dâu... nhờ có hàng xóm can gián khuyên răn kịp thời nên không đổ máu, chỉ bầm mắt bầm thịt và vỡ hư vài vật dụng. Nhưng cái tình anh em huyết thống thì tan tành nát vụn ngay cuộc chiến. Chú thím Bằng phải dọn đi sống ở một căn nhà cho thuê, cũng ở chung đường, cách nhà Từ đường chừng trăm thước, sau này chú thím làm ăn khá giả nên mua luôn căn nhà ấy ở cho đến nay... Hỏi về lỗi, mẹ tôi ầm ừ cho hay “Anh em máu mủ, bà con ruột thịt mà để xảy ra đánh nhau thì không ai không có lỗi!”. Sau, tôi dò hỏi nơi cha mới biết đôi bên gây nhau chỉ vì “những chuyện vặt vãnh cỏn con của đàn bà”. Cái sai lầm lớn nhất của cha là đã không kềm chế được nóng giận trong khi tranh cãi, nên vung tay đánh em dâu để “trị tội hỗn hào”. Từ hành động vũ phu ấy, thay vì phải ứng đối với nhau bằng lời hay lẽ phải, bằng tình lý rạch ròi, một mối hận thù nở bung lên, vùng vẫy, và loang thấm vào tận máu xương. Trước khi cuốn gói rời khỏi ngôi nhà từ đường mà mình đã từng được sinh ra, lớn lên, hít thở chung một bầu không khí an lành với anh trai suốt mấy mươi năm trời, chú Bằng đã đập một cái chén kiểu vỡ tan ngay cổng ngõ, rồi buông lời thề độc địa cắt đứt tình huynh đệ, chỉ bước vào nhà từ đường lại khi cái chén lành lặn như cũ. Từ hôm ấy, chú Bằng cùng vợ con tuyệt giao với gia đình tôi. Hai bên đã không tìm cách giảng hòa, xóa bỏ chuyện cũ, mà càng ngày càng đào sâu thêm hố ngăn cách, luân phiên nhau bón phân tưới nước cho mối hận thù nẩy nở bung to lên, và rể ăn sâu bám chặt chằng chịt trong lòng người…
 Anh em tôi được nghe cha, rồi mẹ kể lại nhiều tình tiết thật xót xa, nhưng cũng thật buồn cười, trong chuyện hai nhà đối xử với nhau suốt mười năm qua. Một lần, nghe người trong xóm báo cho hay “vợ thằng Bằng lâm cơn bệnh thập tử nhất sinh, ảnh hưởng đến cái thai sáu tháng trong bụng mà không đủ tiền chạy chữa”, cha tôi đau cắt ruột, bèn hỏi ý mẹ, mẹ tôi phán một câu chắc nịch “cho mẹ con nó chết luôn, đâu có quan hệ huyết thống gì ?”. Cha ngủ không yên, giữa khuya lén mẹ đi thẳng đến nhà em trai, với xấp tiền mấy triệu đồng mới rút từ quỹ tiết kiệm khi chiều. Đứng trước cửa nhà em, cha tôi lưỡng lự thật lâu, sau cùng mới dám gõ cửa. Cửa mở. Và đóng sầm lại ngay trước mặt cha. Bên trong còn vang tiếng chửi thề quát đuổi của chú Bằng. Cha về kể thật cho mẹ nghe, mẹ đùng đùng đi băng trong đêm sương rét buốt, đến trước cửa nhà em chồng mà tru tréo mạt sát gần cả giờ đồng hồ. Vậy mà bên trong nhà im lìm, cửa đóng then cài kín bưng, không hề có một mảy may phản ứng. Cha tôi phải năn nỉ khản cả giọng, mẹ mới chịu buông tha, về nhà, ngủ một giấc đến sáng quên hết mọi chuyện vì cả cha lẫn mẹ chẳng ai muốn nhắc lại cái chuyện “vô duyên thúi” xảy ra hồi hôm. Lần khác, mẹ tôi bị xe tông té nặng, nằm viện trong trạng thái hôn mê cả tuần lễ, một mình cha tôi chạy đôn chạy đáo, loay hoay lo cho con cái, chăm sóc cho vợ đến phờ phạc hốc hác… Thím Thúy lò dò vào bệnh viện với một giỏ đầy sữa đầy cam, nhưng cứ đứng lặng lẽ trước cửa phòng không dám vào, mắt thì nhìn chăm chăm xuống… đất để chạy trốn cái nhìn rực lửa căm hờn của người anh chồng. Rồi thím phải lặng lẽ về như khi lặng lẽ đến, sau hơn nửa giờ chờ đợi được nghe tiếng mời của ông anh chồng. Hôm sau, thím lại vào bệnh viện, lần này có chồng đi kè kè một bên với hai giỏ xách nặng trĩu. Nhưng, cha tôi đã gầm lên, đuổi thẳng tay chửi thẳng miệng, hùng hổ hung hăng, làm cho vợ chồng chú Bằng quay lưng chạy ra khỏi bệnh viện như bị ma đuổi quỷ rượt… 
 Cứ vậy, oán thù không được cởi, mà càng ngày bị buộc chặt thêm nhiều gút rối răm. Bên nào cũng có cục tự ái to đùng như trái đất. Trái đất đè bẹp cái tình thương, đè bẹp lòng nhân hậu tốt lành, đôi lúc tình thươnglòng nhân hậu đã cố ngoi lên, trồi lên được một cách khổ sở, yếu mềm, thoi thóp, rồi cũng phải tan biến vào hư vô. Nhiều người lớn tuổi trong xóm, cũng như bạn bè thân thiết của cả hai bên gia đình, đã nhiều lần đứng ra khuyên giải giảng hòa nhưng đều chào thua. Mối hận thù cứ vậy mà tăng trưởng, oán mới chồng lên oán cũ, thù sau đè lên thù trước, tưởng như không bao giờ được giải mở tiêu tan
 Hai anh em tôi bất đắc dĩ phải “nối tiếp và phát huy truyền thống hận thù của cha mẹ”, chưa bao giờ dám đặt chân đến đứng trước của nhà chú tím Bằng, chứ đừng nói đến chi chuyện bước qua cửa để vào trong. Nhiều khi tình cờ giáp mặt với chú, với thím, ở giữa đường giữa chợ, anh em tôi cũng nào đâu dám ngó, cứ tìm lối né tránh cho yên. Có nhiều lần chú Bằng gặp tôi trên phố, khi thì đang dứng trước một sạp báo, khi thì vào chung một tiệm tạp hóa, tôi phải làm bộ không thấy chú để khỏi rắc rối, chú cũng chẳng nói năng hỏi han gì, chỉ bước lại đưa tay xoa đầu tôi thật mạnh, làm rối tung cả tóc, rồi… thôi. Những lần như vậy, tôi chờ chú đi thật xa, mới dám đứng nhìn theo với nước mắt lưng tròng. Nhỏ Huyền kể cho tôi nghe nó cũng được chú bằng xoa đầu, bẹo má mấy lần giữa chợ mà không nói nửa lời, làm nó sợ đến run cầm cập, rồi nó ứa nước mắt. Anh em tôi đều biết rằng chú Bằng chẳng thù ghét gì hai đứa cháu, mà còn thương là đằng khác, nhưng mối hận thù khủng khiếp lại hiện ra sừng sửng, che mờ phủ khuất mọi thứ tình cảm trên đời, nên anh em tôi không dám làm gì hơn ngoài sự lặng thinh không kể lại cho cha mẹ hay. Còn thím Thúy thì đã đôi lần níu áo kéo tay tôi ngoài chợ, kêu tôi vào ngồi ăn chè, uống nước với thím… cho vui, nhưng lần nào tôi cũng giảy nảy từ chối, nên những lần sau có lỡ gặp tôi, thím không còn níu kéo mời mọc gì nữa. Nhỏ Huyền kể rằng thím Thúy cũng thường hay cho nó khi thì kem, khi thì bánh mỗi lần gặp nó trước cổng trường giờ tan học. Con của thím, nhỏ Ngọc, bằng tuổi Huyền, cũng học chung trường nhưng khác lớp. Thím mua cho Ngọc thứ gì, thì mua mời Huyền ăn thứ ấy. Huyền lần đầu từ chối, nhưng sau vì thấy thím thật tình năn nỉ mình, nên phải nhận. Nhận cho thím vui, và nhận cho nhỏ Ngọc vui, vì Huyền nhìn thấy trong ánh mắt người em chú bác với mình luôn đầy ắp nỗi buồn, và rực lên hi vọng khi nhìn đăm đăm vào mắt Huyền. Nhận rồi, nhỏ Huyền lại không dám ăn, không phải vì sợ bị trúng độc, mà chỉ vì một duyên cớ mơ hồ không thể xác định được, nó đem trao cho đứa bạn khác ăn giùm mình, dĩ nhiên không cho thím Thúy thấy… 
 Rồi, niên học mới, trời run rủi cho Huyền và Ngọc vào ngồi học chung lớp, ngồi bên nhau cùng bàn, trước còn giữ khoảng cách bằng giới hạn tình bạn bè, nhưng sau thì tình chị em con bác con chú đã vùng dậy dữ dội, mãnh liệt, quật ngã và xóa nhòa đi mọi thứ cấm kỵ khô khốc đã bao năm dựng thành rào chắn lạnh lùng giữa những con người có mang bên trong một trái tim rạo rực cùng một dòng máu. Hai đứa quấn quít, chung vai thích cánh bên nhau từ nhà đến trường, từ sân vào lớp, từ lớp về nhà… bất chấp những lời nhắc nhở răn đe của những người lớn cố chấp. Đã mấy lần nhỏ Huyền bị mẹ mắng rủa rát mặt bỏng mũi, đã mấy lần bị cha bộp tai thấy trăng sao nhảy múa, vì cái tội cả gan đi chung, gần gũi thân thiện với “con nhỏ con nhà mấy dạy” hoặc “cái con người dưng nước lã vô giáo dục bên nhà vợ chồng thằng cà chớn”. Nhưng nhỏ Huyền không ngán sợ, nó chấp nhận đòn roi và mắng chửi để đổi lấy những giờ phút vui tươi ấm áp bên người bạn thân thiết, và cũng là người em con chú con bác, có lẽ vì nó đã cảm nhận được, biết chắc được thứ nào quý hóa hơn, đáng giữ gìn hơn thứ nào… Thấy em gái mình chứng tỏ bản lĩnh, tôi nghiêng mình bái phục, và rồi cũng ăn theo, nhiều lần tạt qua trường em gái vào giờ chơi, để được trò chuyện thăm hỏi đứa em con ông chú. Chúng tôi đã gần gũi bên nhau, động viên khích lệ nhau đừng nhớ nghĩ đến mối hận thù của hai gia đình, mà phải dần hồi tìm mọi cách nối lại tình bà con huyết mạch đã đứt đoạn bao năm bởi những người lớn khư khư ôm cục tự ái to ầm. Anh em tôi đã lén cùng với nhỏ Ngọc đến nhà trẻ để thăm thằng Bính, em của Ngọc, cho nó biết anh em, nhận bà con. Thật là vui, thật là sướng và hào hứng, cứ như chúng tôi là những nhà thám hiểm đi tìm kiếm khám phá những điều mới mẻ, và cả những điều cũ kỹ vốn đã bị vùi lấp bởi bụi bặm rêu rong có tên gọi đáng ghétHận Thù. Chú Bằng bắt gặp chúng tôi vui vẻ bên nhau, ban đầu chú trợn mắt bĩu môi, nhưng những lần sau chú mỉm cười. Thím Thúy thì mừng ra mặt, hỏi han đủ chuyện, nhưng tuyệt đối không hề nhắc đến cha mẹ tôi bao giờ. Chú thím Bằng không có ý kiến gì, hình như cùng muốn “có sao cứ để vậy, tới đâu thì tới”, nên chúng tôi mạnh dạn tìm đến với nhau nhiều hơn trước… 
 Cho đến một ngày, ngày mà tôi sẽ nhớ suốt đời không quên, chuyện như được ông Trời sắp đặt bài bố đã xảy đến. Vào buổi chiều tan học, Huyền và Ngọc sánh vai đi ra khỏi cổng trường, đến khúc cua vắng, bị hai thằng con trai chận lại để “xin đểu”, chúng dí dao hăm dọa, lột chiếc đồng hồ của nhỏ Ngọc, giật sợi dây chuyền của nhỏ Huyền, bứt luôn chiếc lắc vàng mà mẹ tôi đã làm quà cho nhỏ Huyền hôm sinh nhật của nó. Chưa hết, một thằng lục cặp lấy hết tiền của nhỏ Ngọc, lại giở trò sàm sở đòi hun với hít… Nhỏ Ngọc sợ đến phát run, cứ đứng ì ra không dám phản ứng. Nhưng nhỏ Huyền thì không nhẫn nhịn được nữa, dù con dao Thái Lan cán vàng của thằng kia đang còn dí vào bên hông mình, nó bất thần vung cái cặp táp nặng trịch vào mặt thằng dí dao, nhanh như cắt lại đập qua đầu thằng sàm sở đang uy hiếp nhỏ Ngọc. Rồi nó la toáng lên, kéo ta nhỏ Ngọc chạy băng ra giữa đường, nhằm lúc một chiếc xe gắn máy vừa ôm cua phóng vụt tới, nhỏ Ngọc vội ôm người Huyền kéo lại, hai đứa cũng ngã nhào xuống đất phía sát lề, tránh được một tai nạn hiểm nghèo. Chiếc xe thắng kít rợn người, người điều khiển xe nhảy vội xuống khi chưa biết rõ có chuyện gì đang xảy ra với hai cô nữ sinh. Nhỏ Ngọc chỉ về phía hai thằng lưu manh, thét lên “chú ơi… ăn cướp kìa! Mấy thằng đó…” hai thằng cô hồn lật đật co giò phóng chạy, mang theo luôn những thứ chúng “xin đểu”, chẳng ai chận bắt được. Khi hoàn hồn rồi, nhỏ Ngọc mới nhớ ra “em biết mặt một thằng, cái thằng dí dao vào chị, nó là anh ruột của thằng Tuấn lớp 9B”. Chuyện đến tai cha mẹ tôi, và đương nhiên bên chú thím Bằng cũng được rõ. Cha mẹ tôi bảo: “Mất của được người là quý rồi, thôi bỏ đi!”. Còn nhỏ Ngọc kể lại, chú thím Bằng bảo con: “Thí cô hồn cho tụi nó đi, đừng đụng tới cái lũ lưu manh đó, chúng có băng bè dữ tợn lắm, chúng mà trả thù thì… mệt!”. Người lớn hai bên nghe chuyện xong chỉ phát biểu bấy nhiêu, tuyệt nhiên không bàn luận gì về chuyện nhỏ Huyền bênh vực em, nhỏ Ngọc cứu nạn chị, chẳng khen cũng chẳng trách, nhưng chúng tôi biết tỏng bên trong của họ đều đang rúng động, ray rứt dữ dội lắm mà cố ghìm nén giấu che đi. Tôi nổi máu anh hùng, qua hôm sau, rủ thêm sáu đứa bạn cùng lớp cũng “mang máu anh hùng”, chuẩn bị đầy đủ khí giới phòng thân, kéo nhau đến lớp 9B để kéo cổ thằng Tuấn ra tra hỏi về anh nó. Thằng Tuấn sợ quá, ngoan ngỗn dẫn đám chúng tôi đi tìm thằng anh tên Ngọt, cùng đi theo “những anh hùng” còn có cả hai nhỏ Huyền và Ngọc. Thời may gặp hai thằng “xin đểu” đang ngồi uống cà phê ở quán cóc bên đường, trước một quán Bi-Da, đám “anh hùng” chúng tôi vây lại, đòi lại những gì đã mất hôm qua. Hai thằng lưu manh chửi thề, hỏi bằng chứng, nhân chứng với giọng xấc láo. Tôi sùng gan đấm vào mặt thằng Ngọt một cú thôi sơn bạt hải, nó bật ngửa ra sau, loạng choạng xém té. Ngay lập tức, đám bạn tôi nhập trận, hai thằng lưu manh ăn no đòn, chạy không kịp, vừa lết vừa la, vừa van xin vừa khóc lóc đến thảm hại. Khi các anh lớn bên trong quán Bi–da túa ra can gián, đám anh hùng chúng tôi mới buông tha kéo quân về với lòng hả hê thỏa mãn. Tưởng vậy là xong, không ngờ đến chạng vạng, tụi thằng Ngọt dò hỏi ra nhà tôi, kéo nguyên băng du đãng hung tợn với mã tấu dao lê, xích sắt, côn nhị khúc như trong phim võ Hồng Kông, vây trước nhà, réo rống lên đòi “trả nợ máu”, làm náo động cả xóm. Cha mẹ tôi run bần bật, đóng chặt cửa sắt, rút vào nhà trong. Bọn du đãng chửi rủa vang trời, đập cửa rầm rầm. Một hồi, bỗng nghe lao nhao bên ngoài, rồi tiếng nhảy tiếng chạy lịch bịch. Chừng năm phút sau, có người đập cửa, gọi: “Xong rồi, tụi nó biến hết rồi. Không sao đâu mở cửa đi… anh Hai ơi!”. Tôi và nhỏ Huyền trố mắt nhìn nhau, rồi cùng vụt chạy đến mở cửa. Không lầm vào đâu được nữa, chính là tiếng gọi của chú Bằng. Hai anh em chúng tôi mở toang hai cánh cửa sắt sang hai bên. Trước nhà, đứng thẳng và uy nghiêm như pho tượng, mắt đăm đăm nhìn vào bên trong nhà tôi là người em ruột của cha tôi. Cha tôi từ nhà trong bước ra, tiến về phía cửa, rồi đứng lại, bất động. Duy đôi mắt ông sáng quắc lên, long lanh, rực chiếu một niềm vui mừng xúc động. Chú Bằng vẫn đứng im, mắt nhìn anh ruột không chớp. Phía sau lưng chú là bà con lối xóm chen lấn nhau, xì xầm bàn tán, và rồi dường như cùng nín thở để chứng kiến “sự kiện lịch sử trong đời”. Chú Bằng tằng hắng một tiếng, rồi kêu lên: “Anh Hai! Tha lỗi cho em…”. Cha tôi chỉ chờ bấy nhiêu, bước liền ra khỏi cửa. Hai người ôm nhau, xiết nhau. Hận thù đã được trút bỏ ngay dưới chân họ, dưới chân hai anh em tôi, và kia, phía sau lưng chú Bằng đã thấy thím Thúy cùng hai đứa con hiện diện với tấm thân đều nhẹ tênh vì cũng vừa trút bỏ được hận thù. Mẹ tôi từ bên trong cũng bước ra, cất giọng rổn rảng: “Mời chú thím với mấy cháu vào nhà, sao còn đứng chi ngoài đó?”. Tôi cùng nhỏ Huyền nhảy ào ra đón hai đứa em trong nước mắt nghẹn ngào…
 Chú Bằng nghe người trong xóm báo tin có băng du đãng vây nhà tôi, chú vội chụp ngay cây rựa chẻ củi, một thân một mình hiên ngang đi giải vây cho “Kẻ thù không đội trời chung”. Bọn du đãng miệng hùm gan sứa gặp phải một ông trinh sát thứ thiệt, tuy đã xuất ngũ về vườn từ lâu nhưng vẫn còn phong độ, nên mới giao tranh thử mấy đòn đã hè nhau chạy thục mạng. Ghê gớm hơn nữa là phía sau chú Bằng còn có một đám bà con hậu thuẫn bằng gậy gộc lăm lăm, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ an ninh xóm làng. Ai nấy đều vui vui mừng hả hê. Nhưng cái vui “đánh đuổi thắng giặc” cũng không bằng cái vui nhìn thấy tận mắt cảnh anh em trùng phùng, hận thù xóa bỏ, tình máu mủ ruột thịt giữa hai gia đình được gắn bó lành lặn lại sau nhiều năm nát tan dai dẳng. Cha tôi cười nói với chú thím Bằng: “Mấy năm qua, nhờ đi chùa nghe pháp Phật, nghiền ngẫm về Mười Điều Tâm Niệm trong kinh Luận Bảo Vương Tam Muội, anh mới ray rứt ăn năn sám hối, biết mình đã quá u mê. Oán thù nên cởi chớ không nên buộc. Cởi được thì nhẹ nhàng thanh thoát. Với người dưng ta còn phải vậy, huống chi là anh em máu mủ!”. Chú Bằng thẹn thùng: “Anh nói chí phải… Phật dạy biết bao điều hay lẽ phải, quan trọng là mình có chịu nghe nhớ và thực hành hay không thôi!”. Cha tôi gật gù, cười hiền hòa: “Nè, chén bể thì bỏ, mình chơi chén khác chớ hơi sức nào phải lượm nhặt và ghép từng mẫu vụn mảnh nát?”. Chú Bằng mắc cỡ đỏ mặt, đánh trống lãng: “Phải cảm ơn mấy đứa nhỏ, anh Hai à!”. 
 Trong nhà chợt nghe mấy tiếng chuông ngân lên. Mẹ tôi đánh chuông đó.

 

VÁN CỜ BÊN HIÊN CHÙA
Anh Ba rủ tôi đi theo chơi, xem anh đánh cờ độ kiếm tiền về nhậu một trận xả láng với bạn bè ngày tất niên. Biết anh Ba nổi danh là kỳ thủû, bất khả chiến bại, đánh cờ lúc nào cũng chấp đối phương, khi thì chấp phaó mã, khi thì chấp ba nước tiên, khi chấp cả cặp xe, vậy mà vẫn thắng… Nhưng tôi từ chối không đi vì việc nhà quá bề bộn. Sau lại nghe anh cho biết, trận thư hùng trưa nay cá độ đến một triệu đồng, và địch thủ của anh là một tay cao cơ ø, vô địch xóm Cây Me, nên trận đấu sẽ rất gay cấn, chưa biết mèo nào cắn mĩu nào, tôi không thể bỏ qua cơ hội hy hữu này, phải trốn nhà mà đi theo anh…
 Trận thư hùng diễn ra bên vỉa hè của chùa sư nữ im ắng. Thỉnh thoảng nghe ngân vang một hồi chuông công phu trầm trầm, làm cho không khí như lắng chùng đi trong khoảnh khắc… Ngồi xem chung quanh có hơn mười người, cũng đều là dân mê ghiền cờ tướng, cá độ có máu mặt, nên rất biết tuân luật lệ, không ai dám mở miệng động môi. Hai đối thủ đánh đồng. Bốc thăm, anh Ba đi sau. Kỳ thủ vô địch xóm Cây Me, tên Sáu Mạt, đi trước khai cuộc với thế pháo đầu mã đội chằm hăm cung tướng đối phương. Căng thẳng. Sẽ đánh ba ván, ai thắng hai xem như bỏ túi một triệu đồng. Anh Ba thắng ván đầu chật vật. Ván thứ hai, Sáu Mạt tập trung ở chính diện, chơi liên hoàn ngoạ tâm pháo cực kỳ lợi hại, tấn công ào ạt và ráo riết. Anh Ba chống đỡ, phòng thủ mệt muốn đứt hơi, và sau cùng bị tan nát một cánh sĩ tượng, thế thủ tan vỡ, tướng xính vính phải nhờ hai xe rút về yểm trợ, lại phải đổi xe lấy pháo mã đối phương, bị mã tiền pháo hậu cánh bên kia chiếu bí. Hoà. Ván thứ ba gay cấn hơn lên. Anh Ba nổi máu quân tử Tàu, hùng hồn tuyên bố:
 - Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy. Nếu ván này mà hoà thì xem như tui thua anh!
 - Được! -Sáu Mạt mừng rỡ – Có anh em làm chứng nhé. Đi đi!
 Anh Ba thua, được đi trước, không công mà thủ, rất cẩn trọng từng nước, không sơ hở, sẵn sàng mạng đổi mạng nếu đối phương xua quân qua sông. Trận ác chiến xảy ra, tiếng cờ gõ đầu nhau kêu cộp cộp liên hồi, chừng nửa giờ trôi qua, trên chiến địa ván gỗ sọc dọc kẽ ngang thấy chỉ còn lại năm quân cờ. Bên anh Ba còn một xe, pháo và tướng. Bên Sáu Mạt còn tướng với xe. Sáu Mạt cười, hô:
- Hoà rồi. Lấy gì mà ăn nữa?
 Anh Ba mỉm cười
- Thiệt không?
 Sáu Mạt chắc nịch: 
- Hoà. Thua đi, cha nội!
Đám chầu rìa chúng tôi ngậm câm như hến, nhưng bụng đều quyết chắc là anh Ba sẽ đâm xe chiếu cho tướng địch lên, đẩy pháo chui vào nằm dưới đít tướng, đuổi không cho xe giữ mặt tướng, rút xe về để chiếu bí. Thế cờ tàn “độc” này anh Ba chơi thắng nhiều lần, ai cũng kinh phục và ghi nhớ vào bộ não. Nhưng, anh Ba chưa kịp cầm cờ đi, chợt nghe một giọng con nít kêu lên:
 - Ba ơi… Má biểu con đi kêu ba về. Đem tiền về cho má lo mua gạo, mua mắm, trả nợ quán cho bà Năm Cú, chớ bả qua nhà chửi quá xá…
 Ai nấy đều ngước nhìn lên. Một thằng bé tuổi chừng mười hai, ăn mặc rách rưới, mặt mày lấm lem đang rơm rớm nhìn Sáu Mạt. Cuộc chơi đang hứng bỗng bị cắt ngang, cả tôi lẫn những người chầu rìa đều sừng sộ, trợn trừng lên ngó thằng bé. Sáu Mạt giận dữ:
 - Cút về đi! Để tao xong ván này đã. Đứng đó coi chừng tao vặn cổ chết cha mày bây giờ! Biến, biến ngay!
 Thằng bé hoảng sợ, lật đật cắm cổ chạy vù đi. Sáu Mạt nhìn anh Ba, hỏi:
 - Sao rồi? Chưa chịu hoà à? Hoà là thua. Thua thì chung đây cho rồi chớ còn nghĩ ngợi gì nữa kìa? Tui gia hạn cho anh đi mười nước nữa thôi đó!
 Anh Ba thở dài thậm thượt, đưa mắt nhìn tôi và những người khác, thoáng nhìn vào sân chùa, tay bóp những quân cờ, rồi ném cái xào xuống bàn ván gỗ, hô thật to dõng dạc:
 - Hoà rồi. Thua!
 Trước sự ngỡ ngàng sửng sốt của đám chầu rìa chúng tôi, anh Ba móc túi lấy ra xấp bạc một triệu đồng, trao cho Sáu Mạt, rồi đứng dậy ngay. Sáu Mạt không kịp cảm ơn, không kịp đếm lại tiền, nhét cả xấp vào túi quần, rồi hớn hở leo lên xe đạp phóng đi… Anh Ba cũng phủi đít, xoa hai bàn tay, rồi bỏ đi một lèo không nói một lời. Tôi chạy theo anh Ba, tức tối:
- Ván đó sao hoà được, anh Ba?
- Được chớ sao không? Thì hoà rồi đó!
- Nhưng…
 Anh Ba vỗ vai tôi, cười khề khà, nói:
- Đừng nói. Có nói thì tiền cũng đã vào túi người ta rồi…
- Anh Ba chấp nhận hoà, chịu chung độ là vì…?
 - Nếu thắng, anh em tụi mình đi nhậu nhẹt cũng hết .Chi bằng cho mang về lo cho vợ con ba ngày Tết. Nếu thắng, ăn đồng tiền của nó cũng chẳng sướng ích gì, thôi thì chịu thua một keo, tối về ngủ ngon khỏi ác mộng. Ra Giêng sẽ tái đấu, lúc đó sẽ không nương tay nữa đâu. Thôi, cứ xem như mình đãi gia đình nó một chầu nhậu vậy. Đừng ấm ức nữa, chú em!
 Tôi bàng hoàng xúc động, đi bên anh mà cứ tưởng như đang song hành với một ngọn núi hùng vĩ, và cảm thấy mình nhỏ nhoi bé xíu bởi cái lòng dạ hẹp hòi của tục tử phàm phu. Anh Ba chợt phì cười, nói:
 - Còn một điều khiến tao tĩnh tâm lại chỉ trong một thời khắc chớp nhoáng, chắc là chú em cũng như những thằng ngồi quanh không ai hay biết…
 Tôi ngạc nhiên, tò mò:
 - Chuyện gì vậy anh Ba?
 - Đang lúc chuẩn bị kết thúc cuộc chiến, tao chợt linh cảm có ai đó đang nhìn mình chăm chăm, ngó vào sân chùa, tao thấy có… ni sư trụ trì đứng sát nơi cổng sắt từ khi nào, nhìn tao bằng ánh mắt hiền từ, và hình như đôi mắt đang nói lời thỉnh cầu tao tha cho đối thủ tội nghiệp kia. Vậy là sự hiếu thắng ngạo mạn trong tao bỗng tan biến đi, tao quyết định … nhường bước phen này!
 Tôi buột miệng:
 - Anh bao giờ cũng thắng. Thắng cả trong khi thua!
 Tôi tưởng tượng ra ngay được cảnh gia đình Sáu Mạt đang hí hửng vui mừng với số tiền thắng độ. Xài một triệu đồng của kỳ thủ vô địch, một đại cao thủ của làng cờ tướng, thì đúng là sướng thật. Quá sướng.


Tạo bài viết
Fountain Valley, Nam California (VB) – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hoa Kỳ, Cộng Đồng Phật Giáo Việt Nam Nam California đã long trọng tổ chức Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2563 vào Thứ Bảy và Chủ Nhật, ngày 13 và 14 tháng 4 năm 2019 tại Công Viên Mile Square Park, thành phố Fountain Valley, Nam California,
Chùa Hương Sen tổ chức 3 tours hành hương từ ngày 02/09/2019 đến ngày 07/10/2019
Trong hoàn cảnh xã hội đầy bất an, khủng hoảng và tai ương hiện nay, Giáo Pháp giác ngộ và giải thoát của Đức Phật lại càng cần thiết hơn bao giờ hết trong việc góp phần xây dựng cuộc sống an lạc cho từng cá nhân, và đóng góp hữu hiệu vào việc hóa giải những bạo tàn, thù hận và bất công trong xã hội.