Tiếng Phạn Trong Phật Giáo

12/04/201212:00 SA(Xem: 35998)
Tiếng Phạn Trong Phật Giáo

TIẾNG PHẠN TRONG PHẬT GIÁO
Lê Tự Hỷ


I- Ngôn Ngữ Trong Kinh Phật :

Ngày nay chúng ta biết các tác phẩm Phật giao được kết tập trong ít nhất là 6 Đại Tạng Kinh(« 大藏經 » Tripitaka, The Great Treasury of Buddhist Canon ») như sau :

1. Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Vạn Tân Toản Tục Tạng Kinh ( 大正新脩大藏經, 卍新纂續藏經, Taisho Tripitaka & Successive Tripitaka)

2. Càn Long Đại Tạng Kinh ( 乾隆大藏經, Qianlong Tripitaka)

3. Vĩnh Lạc Bắc Tạng ( 永樂北藏, Yongle Tripitaka)(1)

4. Pāli Đại Tạng Kinh ( 巴利大藏經, Pali Tripitaka)

5. Phạn Văn Đại Tạng Kinh ( 梵文大藏經, Sanskrit Tripitaka )

6. Tây Tạng Văn Đại Tạng Kinh ( Tibetan Tripitaka)

 Thật ra các Đại Tang Kinh như Đại Chính Tân Tu, Càn Long, Vĩnh Lạc Bắc Tạng và Tây Tạng Đại Tạng Kinh đều được dịch ra từ các kinh bằng tiếng Phạn.

 Vậy mỗi khi đọc kinh Phật bằng các thứ tiếng như Hán, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam, Anh, ... mà cảm thấy khó hiểu hay nghi ngờ nghĩa lý thì có thể truy cứu câu văn gốc từ bản tiếng Phạn để tìm hiểu ý nghĩa đích thực.

 Điều đáng tiếc là toan bộ kinh sách Phật giáo bằng tiếng Phạn ở Ấn Độ đã bị hủy diệt vao thế kỷ 14 sau cuộc xâm lăng của Hồi giáo vào Ấn Độ.

Tiếng Phạn (Sanskrit) có tên nguyên tiếng Phạn là saṃskṛtā vāk hay saṃskṛta, nghĩa là ngôn ngữ “hoàn hảo” hay “ tao nhã” hay “hiến dâng”, luôn luôn được xem là ngôn ngữ “cao cấp” dành cho các nghi thức các tôn giáo: đạo Hindu, đạo Phật và đạo Jaina, và cho giới tinh hoa của Ấn Độ

Chúng ta cũng được biết là tiếng Phạn gắn liền với sự hình thành các kinh Vệ Đà của đạo Hindu cho nên người Ấn độ quan niệm rằng tiếng Phạn là ngôn ngữ do thần Śiva tạo ra và truyền xuống cho con người. Vì là do thần Śiva tạo ra, nên chữ viết của tiếng Phạn được gọi là Nāgarī, nghĩa là chữ viết miền đô thị hay Devanāgarī, nghĩa là chữ viết miền đô thị của Thiên thần.
Hệ quả của niềm tin ấy là người Ấn Độ cho rằng việc đọc kinhđặc biệt là các thần chú bằng tiếng Phạn sẽ dễ có sự cảm thông, trợ giúp, cứu độ từ Phạm Thiên và các Thiên thần trong truyền thống đạo Hindu.

 Vì Phật giáo phát xuất từ Ấn Độ nên niềm tin nầy cũng thấy có trong kinh sách của Phật giáo. Chẳng hạn, trong Đại Bát Niết Bàn Kinh 8 và 26, hay trong Đại Đường Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, ... đều có ý tưởng nầy.

 Nhưng trong giai đoạn đầu khi Phật giáo mới truyền sang Trung Quốc, do lòng tự tôn dân tộc của người Trung Quốc, tiếng Phạn bị gọi là Hồ ngữ là tiếng của rợ Hồ, mặc dầu ngài Cưu Ma La Thập đã dịch các Kinh Phật bằng tiêng Phạn ra tiếng Trung Quốc vào năm 402 sau dương lịch. Cho đến thời ngài Ngạn Tôn (557-610), một tác giả lớn của Phật Giáo Trung Quốc, thì tiếng Phạn mới chính thức được gọi là Phạn ngữ (2)

 Từ đó về sau, tiếng Phạn trong kinh Phật được các nhà sư Trung Quốc xem thiêng liêng như người Ấn đã từng quan niệm. Chẳng hạn câu tiếng Phạn mở đầu cho mọi Kinh Phật :

 Evaṃ mayā śrutam

nghĩa là “Tôi nghe như vầy” ( Như thị ngã văn) đã được giới Phật Giáo Trung Quốc tôn kính với câu :

 “Thử phạn tự giả cắng tam thế nhi thường hằng biến thập phươngbình đẳng. Học chi thư chi định đắc thương nhậm chi Phật trí, quán chi tụng chi tất chứng bất hoại chi pháp thân. Chư giáo chi căn bổn, chư tự chi phụ mẫu, kỳ tại tư hồ.”

 Nghĩa là : ” Mấy chữ Phạn nầy mãi thường hằng trong ba cõi, bình đẳng khắp mười phương. Ai học nó, viết nó nhất định sẽ đạt được Phật trí hiện tiền, ai quán nó, tụng nó nhất định sẽ chứng được pháp thân bất hoại. Nó là căn bổn của tất cả giáo pháp, là cha mẹ của tất cả văn tự, tất cả đều ở đây cả “ (3).

 Thời đức Phật Thích Ca tại thế (563-483 trước dương lịch) thì Phật pháp được giảng giải và trao truyền bằng lời nói, chứ chưa được ghi lại dưới dạng văn tự.

 Trong lần kết tập Kinh điển lần thứ nhất (khoảng 7 ngày sau khi đức Phật Thích Ca nhập diệt), ngài Ᾱnanda được mời đọc tụng thuộc lòng mỗi câu Kinh 80 lần để toàn thể hội chúng tụng theo cho đến thuộc nằm lòng.

 Trong lần kết tập Kinh điển thứ hai (khoảng 137 năm sau khi đức Phật nhập diệt), kinh Phật cũng chỉ được đọc tụng thuộc lòng chứ chưa ghi lại thành văn bản.

 Trong lần kết tập thứ ba, theo lệnh của vua A Dục (Aśoka : 268-233 tr. dl), Kinh Phật mới được ghi lại thành văn bản trên những miếng đồng để lưu trữ.

 Vào thời kỳ nầy thì tiếng Phạn đã được Pāṇini và các vị tiền bối chuẩn hóa thành tiếng Phạn mà người phương Tây gọi là tiếng Phạn Cổ điển (Classical Sanskrit) để phân biệt với tiếng Phạn thời trước đó trong kinh Vệ Đà, gọi là Vedic.

 Các mẫu tự Devanāgarī (Devanagari Script) dùng để viết tiếng Phạn và một số ngôn ngữ Ấn Độ khác đã tiến hóa từ các mẫu tự Brahmi (Brahmi script) đã có mặt vào khoảng năm 300 trước dương lịch.
Những câu khắc trên các trụ đá theo lệnh của Hoàng đế Aśoka vào khoảng năm 300 trước dương lịch đều bằng ký tự Brahmi. Nhưng nguồn gốc đích thực của chữ viếtẤn Độ thì không được xác nhận với bất kỳ mức độ chắc chắn nào mặc dù các học giả tin rằng điểm xuất phát là các ký tự Brahmi như đã dùng trong các câu khắc của Hoàng đế Aśoka.

 Ký tự Brahmi phù hợp với hệ thống viết chữ theo các âm (syllabic writing system : mỗi ký tự hoặc là một phụ âm hay một âm gồm phụ âm với nguyên âm a) và đã được dùng nhiều hơn trong việc viết chữ Prakit, là ngôn ngữ được nói bởi những người dân thường (giới bình dân). Nhưng ký tự Brahmi đã trải qua những biến đổi rất nhiều, hình dạng khác biệt đáng kể qua thời gian, dù rằng tập hợp các akṣara (mẫu âm) vẫn được giữ nguyên cho các nguyên âm và phụ âm cơ bản của tiếng Phạn.

 Từ khoảng năm 200 sau dương lịch về sau, Ấn Độ được trị vì bởi các vua theo đạo Hindu, và sự phổ biến thông tin qua việc khắc chữ trên đá được tiếp tục. Nhưng do sự biến đổi rất nhiều của các ký tự và các chỉ dụ hay sắc lệnh của nhà vua trên đá bị hủy hoại qua thời gian, khiến cho chính người Ấn Độ đương đại cũng không thể hiểu được nội dung các câu khắc ấy. Những học giả phương Tây đã giúp Ấn Độ giải quyết được vấn đề nầy. Năm 1838, học giả James Prinsep khám phá ra ý nghĩa của các câu Brahmi khắc trên đá từ thời Hoàng đế Aśoka. Về sau với sự giúp sức của nhiều học giả khác, đặc biệt là Georg Buhler đã thiết lập được mối liên hệ vững chắc giữa ngôn ngữ và các ký tự. Từ đó người ta khám phá ra được quá trình phát triển của mẫu tự từ Brahmi vào khoảng năm 300 trước dương lịch cho đến Devanāgarī đương đại như sau:

tieng_phan_01-content

 Các mẫu tự Devanāgarī mà thế giới đang dùng ngày nay đã được định hình vào khoảng năm 1700 sau dương lịch. Các sách tiếng Phạn được in sau năm 1900 có cùng các mẫu tự Devanāgarī như ngày nay, còn các sách in trước năm 1900 có thể chứa một khác dạng khác của một số akṣara. (4) 

 Thí dụ : Bát Nhã Tâm Kinh được viết bằng tiếng Phạn trên 2 lá bối được lưu trữ tại chùa Hōryū-ji ở Nhật Bản với ký tự thời thế kỷ thứ 7 (5):

tieng_phan_02-content

II- Bốn Ngôn Ngữ Lưu Giữ Kinh Phật Thời Xưa: 

 Theo Giáo sư Franklin Edgerton (6), các văn bản Phật giáo đã được lưu giữ trong ít nhất là 4 ngôn ngữ Indic (7)
1. Phạn Cổ Điển (Classical Sanskrit) : Tiếng Phạn chuẩn tức tiếng Phạn đã được chuẩn hóa bởi Pāṇini, phân biệt với tiếng Phạn trong kinh Vệ Đà là Vedic
2. Pāli, một ngôn ngữ Indic miền Trung Ấn (Middle Indic). Đây là ngôn ngữ chuyển tải phần lớn nhất của tác phẩm Phật giáo mà ngày nay được bảo lưu trong bất kỳ ngôn ngữ Indic nào , đó là ngôn ngữ thiêng liêng của Phật Giáo Miền Nam (Nam truyền, Nam tông, Nguyên thủy, Tiểu thừa). Ngày nay, hầu hết các học giả đều tin rằng Pāli chủ yếu là dựa trên một phương ngữ Middle Indic thuộc miền Tây hay Trung tây.
3. Prakrit Dharmapada : là phương ngữ dựa trên một Middle Indic miền Tây bắc mà Senart trong bài viết về văn bản Dutreuil de Rhins đăng trong Jas. IX.12 (1898), trang 193ff gọi là Prakrit Dharmapada.
4. Buddhist Hybrid Sanskrit : Ngôn ngữ mà Giáo sư Franklin Edgerton goi là Buddhist Hybrid Sanskrit (viết tắt là BHS). Hầu hết các tác phẩm Phật Giáo Bắc Ấn Độ (Bắc truyền, Bắc tông, Đại thừa) được viết bằng BHS. Chẳng hạn, toàn bộ các kinh trong bộ Đại Bát Nhã được viết bằng BHS. Ngôn ngữ nầy chủ yếu dựa trên một phương ngữ Middle Indic cổ xưa mà vẫn chưa xác định rõ, đồng thời chứa nhiều tiếng địa phương của các Middle Indic khác. Nhưng BHS cũng chịu ảnh hưởng sâu xa bởi tiếng Phạn khiến cho nhiều tác phẩm viết bằng BHS vẫn được gọi một cách đơn giản là “tiếng Phạn”.
Giáo sư Franklin Edgerton, trong bài viết “ Tiếng Prakrit Làm Nền Tảng Cho Buddhistic Hybrid Sanskrit (8), cho biết rằng những tác giả Phật giáo sử dụng tiếng Phạn chuẩn hóa ( Tiếng Phạn Cổ điển = Classical Sanskrit, hay Brahmanical Sanskrit, do Pāṇini và các vị tiền bối chuẩn hóa ) chỉ là một số nhỏ. Nhóm nầy dường như là đã được đào tạo trong truyền thống tăng lữ Bà La Môn chính thống (orthodox Brahmanical training) vào thời trẻ nên họ rành tiếng Phạn chuẩn, rồi sau họ mới chuyển qua đạo Phật, chẳng hạn như Aśvaghoṣa (Mã Minh), do đó họ dùng tiếng Phạn chuẩn hóa để viết kinh sách Phật giáo. Đa số tác phẩm Phật giáo viết bằng tiếng Phạn, chính là bằng Buddhist Hybrid Sanskrit . Vì vậy Buddhist Hybrit Sanskrit cũng còn gọi là Tiếng Phạn Phật Giáo (Buddhist Sanskrit) hay Tiếng Phạn Hỗn Hợp (Mixed Sanskrit).
Các tác phẩm Phật giáo viết bằng Buddhist Hybrid Sanskrit xuất hiện sau khi Pāṇini đã hoàn thành việc chuẩn hóa tiếng Phạn vào khoảng đầu thế kỷ thứ 4 trước dương lịch. Sau công trình của Pāṇini thì tiếng Phạn đã trở thànhngôn ngữ vượt trội trong văn họctriết họcẤn Độ. Cho nên các nhà sư Phật giáo bắt đầu làm thích nghi ngôn ngữ họ đã dùng (tiếng địa phương của họ) với tiếng Phạn trong khi vẫn còn ảnh hưởng của truyền thống ngôn ngữ thoát thai từ một dạng tiếng Prakrit dùng chính thức trong tôn giáo (protocanonical Prakit) của truyền thống truyền khẩu vào thời kỳ đầu của việc trao truyền Phật pháp. Có lẽ chính vì dưới sự ảnh hưởng đa phương ngữ như thế, mà các tác phẩm Phật giáo được viết bằng Buddhist Hybrid Sanskrit đã ra đời.
Trong khi có nhiều lý thuyết khá khác biệt nhau về mối liên hệ của Buddhist Hybrid Sanskrit với Pāli, thì điều chắc chắn là Pāli thì gần với ngôn ngữ nầy hơn là Sanskrit (9). Theo K.R. Norman, thì Pāli cũng nên được xem như một dạng của Buddhist Hybrid Sanskrit (10). Franklin Edgerton lại cho rằng Pāli về cơ bản là một loại tiếng Prakit (11). Ở những nơi mà BHS khác biệt với Sanskrit thì nó lại gần giống hay y hệt như Pāli. Tuy nhiên, hầu hết những tác phẩm viết bằng BHS hiện còn tới nay thì nguyên thủy được viết bằng BHS chứ không phải được viết lại hay dịch lại từ các tác phẩm đã viết bằng Pāli hay các ngôn ngữ khác (12). 

 III. Có Ngôn Ngữ Duy Nhất Ban Đầu Cho Phật Giáo Không? 

 Đây là câu hỏi thú vị đối với các nhà nghiên cứu

 III.1 Tinh Thần Tự Do Phóng Khoáng Của Đức Phật Trong Việc Sử Dụng Ngôn Ngữ Để Hoằng Pháp

 Trong Tạng Kinh Pāli (13) có một đoạn nổi tiếng, được tóm tắt như sau :
“ Có hai nhà sưanh em ruột, vốn xuất thân từ giai cấp quý tộc (brahman) với ngôn ngữ và cách phát âm rất tinh tế (tiếng Phạn chuẩn), đến trước đức Phật và thưa : Bạch Đức Thế Tôn, ở đây có nhiều nhà sư từ nhiều giai cấp xã hội và nhiều địa phương khác nhau đang làm hủy hoại lời đức Phật dạy bằng cách lập lại lời của Đức Thế Tôn theo ngôn ngữ địa phương của họ; hãy cho phép chúng con dịch tất cả lời dạy của Thế Tôn ra tiếng Phạn Vệ Đà

 Đức Phật đã bác bỏ đề nghị đó bằng cách dạy rằng : “ Hởi các nam tử bị lừa dối kia, làm sao các ông có thể nói điều đó ? Điều đó sẽ không thể chuyển đổi được cái đã không thể chuyển đổi...”. 

 Và ngài giảng một bài pháp rồi ra lệnh cho tất cả các nhà sư

 “ Các ông đừng có dịch các lời Phật dạy ra tiếng Phạn Vệ đà. Ai làm như thế là phạm tội. Hởi các tăng sĩ, ta cho phép các ông học lời Phật dạy theo ngôn ngữ địa phương của mỗi người.” 

 Điều nầy chứng tỏ bản thân Đức Phật và các đệ tử ban đầu của ngài chỉ dùng tiếng địa phương phổ thông làm phương tiện giảng dạy Phật pháp và từ chối dùng tiếng Phạn Vệ đà (Vedic) hay tiếng Phạn chuẩn được tôn kính của giới quý tộc

 Trong Luật tạng của phái bộ Mahīśāsaka, được dịch ra tiếng Trung Quốc bởi Buddhajīva năm 423-424 sau dương lịch, kể câu chuyện hơi khác một chút là hai anh em nhà sư vốn xuất thân giới quý tộc Bà La Môn khi nghe các nhà sư đọc tụng kinh “không chính xác” thì chế nhạo họ bằng cách nói rằng : “ Mặc dù họ đã trở thành nhà sư từ lâu, nhưng họ đọc tụng kinh theo cách nầy! không biết các từ thuộc nam tính hay nữ tính, số ít hay số nhiều, cũng không biết động từ ở thì hiện tại, quá khứ hay tương lai, cũng không biết thuộc âm tiết ngắn hay dài, cũng không biết nhịp thơ với âm nhẹ hay nặng”. 

 Khi hai người nầy đến khẩn khoản cầu xin đức Phật cho điều chỉnh, ngài ra lệnh rằng: “ kinh cần được đọc theo giọng âm của từng vùng, nhưng phải thận trọng không để làm sai lệch ý nghĩa. Điều cấm kỵ là biến lời Phật dạy thành ngôn ngữ ngoại đạo “ (14). 

 Trong Luật tạng của phái bộ Dharmagupta gần với Pāli tạng hơn cũng nêu câu chuyên trên, nhưng thay vì hai nhà sư thì nói chỉ có một nhà sư. Vị sư nầy phàn nàn với đức Phật rằng : “ Các nhà sư thuộc các giai cấp khác nhau và mang các tên khác nhau đã đang làm hỏng các kinh Phật” và đề nghị :” soạn lại các kinh theo ngôn ngữ tốt của thế giới “, thì hiển nhiên là Vedic hay tiếng Phạn chuẩn, ngôn ngữ của văn hóa. Trong việc phản bác ý tưởng đó, đức Phật cho rằng việc dùng “ngôn ngữ của người ngoại đạo” sẽ làm hủy hoại các kinh Phật, và ngài nói :
“ Được phép đọc tụng và học các kinh Phật bằng lời giải thích theo các ngôn ngữ phổ thông của các vùng khác nhau” (15). 

 Còn trong bản dịch ra chữ Hán ( trong khoảng năm 350-431 sau dương lịch) của văn bản đã thất lạc Vinayamātṛkā ( Tóm lược Giới Luật, Summary of the Discipline), thì câu chuyện là hai nhà sư có nguồn gốc quý tộc Bà La Môn bạch với đức Phật rằng : 

 “ Trong số các đệ tử của Đức Thế Tôn có những người thuộc các giai cấp xã hội khác nhau, thuộc những xứ sở khác nhau, thuộc quyền cai trị của quận hay huyện khác nhau . Giọng đọc của họ không giống nhau. Vì ngôn ngữ của họ là không đúng đắn, tất cả họ đang hủy hoại ý nghĩa đích thực của lời Phật dạy.” 

 Hai vị sư nầy muốn biên tậpđiều chỉnh lại các kinh sách theo quy luật được chấp thuận trong ngôn ngữ Vệ đà. Đức Phật đáp : 

 “ Trong tôn giáo của ta, ngôn ngữ tinh tế hoa mỹ là không cần thiết. Tất cả những gì ta muốn là ý nghĩalý luận phải đúng. Các ông phải thuyết pháp theo cách phát âm mà dân chúng hiểu được. Vì vậy, điều đúng đắnsử dụng ngôn ngữ tùy theo xứ sở mình thuyết pháp.”(16) 

 Theo tinh thần nầy của đức Phật thì người ViệtNamta cần phải được nghe giảng pháp và học kinh Phật bằng tiếng Việt. Điều nầy cũng đã được Hòa thượng tôn sư Trúc Lâm xúc tiến từ những năm 60 của thế kỷ 20, chẳng hạn, ngài dùng câu Việt hóa: 

 “Nammô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni” 

thay cho câu thuần Hán : 

 “Nammô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. 

 Hơn nữa, những vị tăng, ni mà có duyên được mời hoằng pháp tại nơi có dân tộc ít người thì nên học ngôn ngữ của dân tộc ấy để giảng pháp, mới mong việc hoằng pháp dễ thành công được. 

 III.2 Ngôn Ngữ Của Đức Phật Thích Ca

 Bản thân đức Phật Thích Ca Mâu Ni là một người miền Đông Ấn Độ, gia đình ngài sống ở Kapilavastu (Ca Tì La Vệ), ở miền đông bắc Kośala (Câu Tát La,Oudh). Các cuộc du hóa của ngài dường như chủ yếu bị giới hạn ở phía tây bởi Śrāvastī (Xá Vệ) và về phía đông bởi Rājagṛha (Vương Xá), thủ đô của Magadha ( Ma Kiệt Đà) miền nam Bihar của sông Ganges). Tất cả những vùng nầy có ngôn ngữ thuộc về một ngôn ngữ mà ngày nay gọi là Bihari hiện đại ( ngoại trừ Śrāvastī có lẽ chỉ cùng gần với ngôn ngữ Eastern Hindi). Không nghi ngờ gì là hầu hết đệ tử của đức Phật thuộc cùng vùng tổng quát ấy, và chúng ta có thể cho rằng, trong thời đức Phật còn tại thế, các bài giảng của ngài, it nhất, chủ yếu được học thuộc lòng theo các phương ngữ miền đông. Tuy vậy, không ai biết chính xác phương ngữ nào đức Phật đã dùng để giảng pháp; và có vẻ rõ ràng là những phương ngữ của các đệ tử của ngài khác biệt nhau một cách cảm nhận được. 

 Tuy nhiên các nhà nghiên cứu Lüders và Hiän-lin Dschi (17) tin rằng “Old Ardha-Māgadhī “, một dạng cổ của Ardha- Māgadhī là ngôn ngữ mẹ đẻ của Đức Phật và cũng là ngôn ngữ chính thống của Phật giáo trong dạng cổ xưa nhất. 

 Trong khi đó thì Edgerton cho rằng ý kiến của Lin Li-kouang (18) là hợp lý, có tính thuyết phục hơn. Ông ấy hỏi rằng :” Tuy nhiên, có thể nào đúng là các Phật tử đã từng dùng một ngôn ngữ duy nhất, ngay trong thời kỳ cổ xưa nhất ? Dưa trên tinh thần tự do và dễ bị ảnh hưởng mà các Phật tử tỏ ra trong việc sử dụng ngôn ngữ, chúng ta có thể nêu lên câu hỏi là ngay từ thời kỳ đầu của Phật giáo ( ít nhất là trong thời kỳ tại thế của đức Phật), phải chăng đã không có nhiều ngôn ngữ được dùng trong Phật giáo, mà Māgadhī chỉ là một trong những ngôn ngữ ấy? Tại sao chúng ta không nghĩ rằng những trung tâm Phật giáo cổ xưa khác như Vaiśālī (Vệ Xá Li), Kauśāmbī (Câu Thướng Di, Kiều Thướng Di), Mathurā (Ma Du La), Ujjayinī, và những nơi khác cũng có phương ngữ đặc biệt riêng đã được dùng như là các ngôn ngữ thiêng liêng cho các cộng đồng dân cư đã được thiết lập tại các trung tâm ấy, vậy theo nguyên tắc mà đức Phật đã chỉ ra thì ngôn ngữ để giảng Phật pháp cho các cộng đồng Phật giáo ấy phải nên là các ngôn ngữ địa phương ấy chứ?. 

 Với suy nghĩ ấy, Edgerton cho rằng các ngôn ngữ như Pali, BHS, và Prakrit Dharmapada (Prakrit trong bản chép Dutreuil de Rhins) tất cả đều phát xuất từ các ngôn ngữ địa phương ở các nơi mà các cộng đồng Phật giáo được thiết lập như đã nói trên. Vậy ít nhất là 3 ngôn ngữ nầy và có thể còn nhiều ngôn ngữ địa phương hơn nữa đã được xem như các ngôn ngữ được dùng trong việc hoằng pháp ngay vào thời kỳ đầu của Phật giáo

 Edgerton cho rằng hầu như tất cả các tác phẩm Phật giáo bằng tiếng Phạn đều thuộc về một truyền thống ngôn ngữ hợp nhất rộng rãi. Ngôn ngữ của những tác phẩm nầy tách biệt khỏi truyền thống tiếng Phạn chuẩn, và cuối cùng lùi về các dạng Phạn bán chuẩn (semi-Sanskritized form) của ngôn ngữ Prakrit chính thống dùng trong tôn giáo (protocanonical Prakit). Các từ vựng Phật giáo đặc biệt trong BHS là bằng chứng hiển nhiên rằng BHS là phần phụ thuộc vào một truyền thống ngôn ngữ riêng biệt, hoàn toàn tách biệt khỏi tiếng Phạn chuẩn (19). Ngoài ra, mỗi đoạn trong bài viết Phật giáo bằng BHS đều chứa những từ, và những cách diễn đạt ý tưởng mà dù không nhằm vào một đối tượng chính thức nào, vẫn không bao giờ được dùng bởi các tác giả phi Phật giáo(20). Nhiều từ tiếng Phạn hay cách dùng đặc biệt của những từ tiếng Phạn được ghi nhận chỉ có trong các tác phẩm Phật giáo. Một số lớn các tư nầy lại có trong tác phẩm Phật giáo bằng Pāli. Điều nầy khiến cho Edgerton nghĩ rằng dường như hầu hết các từ này thuộc về các từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ Prakrit trong sử dụng chính thống cho Phật giáo (21). 

 Tương tự như Buddhist Hybrid Sanskrit, các từ ngừ và văn phong đặc biệt trong tiếng Trung Quốc được dùng để dịch kinh sách Phật giáo ra tiếng Trung Quốc được gọi là Buddhist Hybrid Chinese, và tương tự trong Anh ngữ có Buddhist Hybrid English. 

 Điều đáng tiếc là sau khi Phật giáo bi hủy diệt tại Ấn Độ vào thế kỷ thứ 14 bởi quân người Hồi giáo thì toàn bộ kinh sách tài liệu Phật giáo bị hủy diệt tại Ấn Độ, tất nhiên trong đó gồm toàn bộ tài liệu Phật giáo bằng tiếng Phạn. 

 Do đó tài liệu lịch sử có tính hệ thống về các tác phẩm Phật giáo bằng tiếng Phạn hiện vẫn chưa sẵn có. 

 Có thể nói cuốn sách Lịch Sử Văn Học Phật Giáo Trong Phạn Ngữ của J.K. Nariman xuất bản năm 1992 (22) đã đáp ứng một phần sự thiếu hụt thông tin trên. Trong sách nầy J.K. Nariman giải thích rõ các sự kiện lịch sử bao gồm các tác phẩm của Aśvaghoṣa (Mã Minh), Nāgārjuna (Long Thọ), Āryadeva (Thánh Thiên, Đề Bà), Asaṅga (Vô Trước), Vasubandhu(Thế Thân) và các học giả Phật học khác thời cổ đại và trung đại. 

 Tuy nhiên, những bản viết có giá trị gốc thích đáng bằng tiếng Phạn về Phật giáo vẫn còn có thể tồn tại ở Nepal, Kashmir, Trung Á, Tây Tạng và ở một số nơi khác. Hiện nay, việc xác định vị trí và tìm lại các bản viết nầy không thể nói là đã hoàn tất, và các khám phá mới, đầy hấp dẫn vẫn tiếp tục được thực hiện. Trong bài thuyết trình : “A Never-ending Story - On the Rediscovery of Buddhist Sanskrit Texts”, “ Câu Chuyện Không Bao Giờ Kết Thúc – Việc Khám Phá Trở Lại Các Văn Bản Phật Giáo Bằng Tiếng Phạn” do Trung Tâm Nghiên Cứu Phât Giáo tại Đại Học Berkeley (Mỹ) tổ chức ngày 15 tháng 3 năm 2005, Giáo Sư Michael Hahn cho rằng việc khôi phục lại một sưu tập các tác phẩm theo thể văn kể chuyện về Phật giáo sẽ minh họa việc các khám phá mới có thể giúp khôi phục lại được các tác phẩm Phật giáo có tầm quan trong về giá trị nguyên thủy mà đã được tin rằng bị mất trong nguyên bản tiếng Phạn không thể truy cứu lại được. 

 IV. Tiếng Phạn Với Phật Giáo ViệtNam: 

 Mặc dầu trong qua khứ cũng như hiện tại, đại đa số giới Phật tử Việt Nam hầu như chỉ biết đến Phật pháp qua kinh sách chữ Hán, nhưng thật ra có thể nói rằng Phật pháp được truyền đến nước ta bằng tiếng Phạn trước tiếng Trung Quốc.
Thật vậy, vấn đề người Việt Nam chúng ta tiếp cận với Phật pháp qua tiếng Phạn khá sớm có thể được chỉ ra trong các tình huống sau đây (23):
1. Nhà sư Phật Quang : theo sử liệu thì Phật giáo được truyền vào nước ta đầu tiên dưới thời Hùng Vương bởi nhà sư Ấn Độ tên Phật Quang. Ngài truyền Phật pháp cho Chữ Đồng Tử tại núi Quỳnh Viên ở cửa Sốt thuộc Hà Tĩnh. Nhà sư nầy chắc chắn là người Ấn Độ, và Phật pháp ngài truyền tất nhiên qua tiếng Phạn. Và cũng tất nhiên là vào thời kỳ Chữ Đồng Tử chưa hề có sách Phật giáo bằng chữ Hán ở nước ta.
2. Nhà sư Khâu Đà La được biết rõ là người nước Tây Thiên Trúc vào khoảng năm 189 sau dương lịch đã đến truyền Phập pháp cho hai cha con Tu Định và Man Nương và lập nên hệ thống Tứ Pháp (Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi, Phật Pháp Điện) tại chùa Pháp Vân còn lưu lai đến ngày nay.(24)
3. Nhà sư Khương Tăng Hội : Trong thế kỷ thứ 3 sau dl, có Khương Tăng Hội sinh ra, lớn lên ở nước ta với mẹ người Viêt, cha người thuộc miền Đông bắc Ân Độ. Nhà sư Khương Tăng Hôị, thông thạo chữ Hán lẫn tiếng Phạn. Ngài đã chú giái kinh An Ban Thủ Ý. Ngài đã qua Trung Quốc truyền Phât pháp và viên tịchNam Kinh năm 280 sau dl.
4. Nhà sư Đạo Thanh, người Việt, là đệ tử của ngài Khâu Đà La và tất nhiên phải giỏi chữ Phạn vì đã bút thọ kinh Pháp Hoa Tam Muội do nhà sư Ấn độ Chi Cương Lương Tiếp dịch,...
5. Nhà sư Ma Ha Kỳ Vực đã đến nước ta vào thế kỷ thứ 4 sau dl.
6. Nhà sư Ma Ha Đề Bà đến nước ta vào thế kỷ thứ 5, dạy Thiền cho ngài Huệ Thắng tại chùa Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
7. Nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến nước ta vào thế kỷ thứ 6 sau dl, dịch kinh Tổng Trì tại chùa Pháp Vân, và tại đây đã lập nên dòng Thiền Pháp Vân.
8. Nhà sư Đại Thừa Đăng của nước ta đã cùng với một số khác đi chiêm bái và học tập tại Ấn Độ. Về sau ngài Đại Thừa Đăng là một thành viên trong ban dịch kinh chữ Phạn ra chữ Hán tại dịch trường chùa Từ Ân dưới sự chủ biên của ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang. Ngài đã để lại các tác phẩm như Câu Xá Luận Ký, Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Chú, v.v...oaHoa.

 9. Thiền sư Việt Nam Ma Ha Ma Da (Māhamāya) thuộc dòng Thiền Pháp Vân được Thiền Uyển Tập Anh ghi nhận là giỏi cả chữ Hán và chữ Phạn.
10. Thiền sư Việt Nam Sùng Phạm (1004-1087) cũng thuộc dòng Thiền Pháp Vân đã du học 9 năm tại Ấn Độ.
11. Nhà sư Bồ Đề Thất Lỵ (Bodhiṣrī ) đã đến nước ta vào thế kỷ 13, đã được vua Trần Nhân Tông (1258-1308) yêu cầu dịch các bài chú Lăng Nghiêm ra chữ Hán.
12. Thiền sư Việt Nam Pháp Tính trong thế kỷ 16, đã soạn quyển từ điển Hán-Việt đầu tiên còn lại , có tên Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa, trong đó ngài đã ghi một số từ phiên âm chữ Phạn ra chữ Hán.
13. Nhà bác học Lê Quý Đôn, trong quá trình biên soạn, nghiên cứu đã làm một bản tự điển nhỏ chữ Phạn phiên âm ra chữ Hán, đăng trong Kiến Văn Tiểu Lục 9.
14. Thiền sư Việt Nam An Thiền trong thế kỷ 19 đã viết Đạo Giáo Nguyên Lưu trong đó có một số trang dành để ghi lại những chữ Phạn với nghĩa chữ Hán. 

 Những sự kiện trên cho thấy tiếng Phạn với Phật pháp đã đến dân tộc ta khá sớm, sớm hơn Phập pháp bằng chữ Hán. 

 Tuy nhiên do nước ta bị phương Bắc đô hộ trong 1000 năm, và chữ Hán đã trở thành chữ viết chính thống trong hệ thống chính trị, xã hội nước ta cho mãi tới các thập niên đầu thế kỷ 20 (mãi tới năm 1919 các khoa thi bằng chữ Hán mới được bãi bỏ) cho nên Kinh sách Phật Giáo bằng Hán văn đã chiếm lĩnh vị trí tuyệt đối trong thiền môn nước ta trong thời gian khá dài. 

 Vì vậy có thể nói rằng giới Phật tử ViệtNamít quan tâm tới tiếng Phạn từ trong quá khứ đến hiện tại

 Ngày nay, các thế hệ trẻ của Phật giáo Việt Nam, không những cần am hiểu chữ Hán mà còn cần am hiểu chữ Phạn (theo Phật giáo Bắc tông (Đại Thừa)), Pāli (theo Phật giáo Nam tông, Nguyên Thủy (Tiểu Thừa)) để học tập, nghiên cứu và khi cần có thể truy cứu ý nghĩa đích thực của lời Phật dạy và lời của các Thánh tăng từ các nguồn kinh tiếng Phạn, Pāli. 

 Việc truy tìm nguyên gốc tiếng Phạn sẽ có ý nghĩa đặc biệt trong việc giúp cho người Phật tử ViệtNamđọc tương đối đúng âm của các từ tiếng Phạn vốn được phiên âm ra tiếng Trung Quốc trong kinh văn mà không dịch nghĩa. Chẳng hạn, câu thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh, nguyên văn tiếng Phạn là : 

 Gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā 

Nếu phiên âm trực tiếp ra tiếng Việt thì có thể đọc là : 

 Ga-tê ga-tê paa-ra-ga-tê paa-ra-xân-ga-tê bô-đi xoaa-haa 

(aa đọc a với trường độ dài gấp 2 lần a) sẽ tạo ra âm thanh tương đối gần với âm thanh của nguyên văn tiếng Phạn. 

Nhưng từ lâu nay chúng ta đọc các từ phiên âm của người Trung Quốc

 揭帝 揭帝 般羅揭帝 般羅僧揭帝菩提 僧莎訶 

 theo âm Hán Việt cho nên là : 

 Yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề tát bà ha 

thì rõ ràng có lệch nhiều so với âm của nguyên câu tiếng Phạn. Tất nhiên người Trung Quốc đọc câu phiên âm của họ thì nghe âm thanh gần với âm tiếng Phạn. 

 Vậy xin đề nghị là đối với các từ Phạn không thể dịch mà phiên âm, đặc biệttoàn bộ các câu chú thì người Việt chúng ta nên phiên âm trực tiếp từ tiếng Phạn ra tiếng Việt để đọc, chứ không nên chỉ biết và chỉ đọc câu phiên âm ra tiếng Trung Quốc theo âm Hán Việt mà thôi. 

 Ngoài ra, ngày nay trong xu hướng toàn câu hóa, và đặc biệt là người Phương Tây càng ngày càng quy ngưỡng Phật pháp, cho nên giới Phật tử trẻ của Việt Nam nên học thêm tiếng Anh để có điều kiện tìm đọc nhiều tài liệu Phật pháp bằng tiếng Anh rất phong phú đang được phổ biến trên thế giới qua sách, báo, Internet, đồng thời có thể đáp ứng được sự giao lưu, hội nhập của Phật giáo Việt Nam với Phật giáo của thế giới trong nhiệm vụ hoằng pháp cho người phương Tây khi họ tới với Thiền viện hay chùa của ta (hay tăng ni chúng ta tới xứ họ) hay tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế như trong Đại Lễ Phật Đản Quốc Tế được tổ chức hàng năm dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc ( năm 2008 thủ đô Hà Nội đã vinh dự được Liên Hiệp Quốc chọn làm nơi cử hành Đại Lễ Vesak). 

Lê Tự Hỷ 

Tài liệu tham khảo và chú thích : 

 1. Vĩnh Lạc Bắc Tạng là Đại Tạng Kinh được biên dịch hoàn thành dưới thời Hoàng đế Vĩnh Lạc nhà Minh, Trung quốc. Đại Tạng Kinh nầy là công trình biên dịch, hiệu đính từng chữ một của 136 nhà Phật học hàn lâm do Hoàng đế Trung Quốc triệu tập trong 3 năm để bảo đảm tính xác thực của nguyên bản. Nhưng bộ Vĩnh Lạc Bắc Tạng được biên dịchđể dành riêng cho Hoàng đế và để tặng thưởng cho những người xứng đáng, vì vậy không phải là bộ Đại Tang Kinh được phổ biến rộng rãi. Đây là xuất bản phẩm Phật giáo vĩ đại với giá trị cao, quí hiếm, đầu tiên, chưa từng có trên thế giới trong hơn 600 năm qua, hiện còn được lưu giữ trong Viện Bảo Tàng Của Hoàng CungTrung Quốc. 

 Vĩnh Lạc (Yongle, Wade-Giles: Yung-lo; 02/05/1360 – 12/08/1424) là hiệu của Hoàng đế Minh Thành Tổ, ông vua thứ 3 của nhà Minh, lên làm vua năm 1402 sau khi chiếm được ngôi trong một cuộc tranh giành quyền lực, được xem như người thiết lập thứ hai của triểu đại nhà Minh. Ông là vị Hoàng đế vĩ đại nhất của triều Minh, và là một trong những Hoàng đế vĩ đại của Trung Quốc. Ông đã dời kinh đô từ Nam Kinh đến Bắc Kinh, xây Tử Cấm Thành, cho sửa chữa và mở lại con kênh lớn của Trung quốc đã bỏ hoang hư hại từ thời nhà Đường, để cung cấp lương thực và hoàng hóa cho thủ đô mới Bắc Kinh. Ông cũng đã cũng cố, nâng cấp, chỉnh đốn việc thi cử để tuyển chọn người có tài học vào làm quan thay cho việc tiến cử và bổ nhiệm do giới quan lai thực hiện trước đây. Trong thời của Vĩnh Lạc, một bộ Bách Khoa Toàn Thư vĩ đại đã được biên soạn hoàn thành. (Cũng nên biết Vĩnh Lạc đã cho quân qua xâm lược nước ta vào thời nhà Hồ và quân xâm lược nầy đã bị Bình Định Vương Lê Lợi đánh bại trong cuộc kháng chiến 10 năm 1418-1428). 

 2. Lê Mạnh Thát, Nguyên Giác, và Như Minh, Ngữ Pháp Tiếng Phạn, Nhà Xuất Bản Tp Hồ Chí Minh, 2000, tr. ii.
3. Theo Tôn Thất Qụy, Giáo sư tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Huế
 

 4. The Devanagari Script, trong http://acharya.ittm.ac.in/sanskrit/lessons/Devan/devan.html 

 5. F.Max Muller, Bunyiu Nanjio, The Ancient Palm-Leaves: Containing The Prajnaparamita-Hridaya-Sutra And The Ushnisha_Vigaya-Dharani, Oxford At The Claredon Press. 

 6. Franklin Edgerton, Buddhist Hybrid Sanskrit, vol. I Grammar, Motilal Banarsidass, 1998, tr.1.
 7. Indic languages tức là các ngôn ngữ thuộc nhóm các ngôn ngữ Ấn-Iran, là họ con của họ các ngôn ngữ Ấn- Âu.

 8.Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 504. 

 9. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 502. 

 10. Jagajjyoti, Buddha Jayanti Annual, 1984, tr. 4, được in lại trong K.R. Norman, Collected Papers, vol. III,1992, Pāli Text Society, tr. 37

 11. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 503. 

 12. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 502. 

13, 14, 15, 16 (10: Cullavagga 5.33; Vin.ii.139.1ff.) Franklin Edgerton, Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar And Dictionary, Vol. I, tr. 1-2 

 17. Franklin Edgerton, Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar And Dictionary, Vol. I, tr. 3.

18. Franklin Edgerton, Buddhist Hybrid Sanskrit Grammar And Dictionary, Vol. I, tr. 4. Lin Li-kouang (Aide-mémoire, p. 227-8 ). 

 19, 20. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 503-505. 

 21. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No. 2/3, tr. 504. 

 22. J.K. Nariman, Literary History Of Sanskrit Buddhism, Motilal Banarsidas Publishers Pvt. Ltd, 1992.
23. Như số 2.
 

 24. Theo Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hành Ngữ Lục – Có thể xem Thích Phước Đạt, Tín Ngưỡng Tứ Pháp Trong Vai Trò Chấn Hưng Văn Hóa Đại Việt, Nguyệt San Giác Ngộ, số 152, tháng 11/2008, tr. 50-58). 

_________________________________________

Tuesday, March 15, 2005, 5:00-7:30 p.m.

Michael Hahn, Numata Visiting Professor in Buddhist Studies, UC Berkeley
A Never-ending Story - On the Rediscovery of Buddhist Sanskrit Texts
IEAS Conference Room, 2223 Fulton St., 6th Floor 

After the demise of Buddhism in the fourteenth century almost the entire body of Buddhist texts was lost inIndia. However, outsideIndiaproper Buddhist Sanskrit manuscripts survived inNepal, Kashmir, Central Asia,Tibetand elsewhere. The process of locating and accessing these manuscripts is by no means completed, and new and exciting discoveries continue to be made. Reconstituting a particular corpus of Buddhist narrative literature, Michael Hahn will illustrate how recent discoveries can make it possible to regain works of seminal importance that have been believed to be irretrievably lost in the Sanskrit original. 

Michael Hahn is the current Numata Visiting Professor in Buddhist Studies at theUniversityofCalifornia,Berkeley. A professor of Indology and Tibetology at Philipps-University inMarburg(Germany), his research interests focus on classical Sanskrit and Buddhist literature, in particular narrative works and didactic and epistolary texts. He is the author of numerous articles and books, among them a primer of the Tibetan language that has been reprinted seven times and is now forthcoming in an English translation.

 

 

Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113903)
Có một câu chuyện thú vị rằng năm 1994, thiền sư Phật Giáo người Hàn Quốc, tiến sỹ Seo Kyung-Bo đã có chuyến viếng thăm đặc biệt Đức Cha John Bogomil và đã tặng Đức Cha vương miện của Bồ tát Quan Thế Âm bằng ngọc. Lúc đó Đức Cha John Bogomil có hỏi thiền sư Seo Kyung-Bo về sự liên kết giữa Thiên chúa giáo và Phật giáo và câu trả lời rằng đó là 2 cánh của 1 con chim.
Bức tượng “lưu lạc” đúng 50 năm. Trong khoảng thời gian đó có gần bốn mươi năm là dằng dặc ám ảnh chiến tranh của người cựu binh Mỹ Muller và hơn mười năm ông Anderson day dứt thực hiện nguyện vọng sau cùng của bạn. Nên dù đến vào giờ chỉ tịnh chốn thiền môn của một buổi trưa nắng nóng Quảng Trị, Anderson vẫn phải làm phiền nhà chùa để được vào trả lại bức tượng. Người bạn quá cố Muller và cả ông nữa, đã chờ đợi giây phút này quá lâu rồi!