Chương 5 Mã Minh (Aśvaghosa) và Trường Phái Của Ngài.

02/12/20154:15 CH(Xem: 1182)
Chương 5 Mã Minh (Aśvaghosa) và Trường Phái Của Ngài.
LỊCH SỬ VĂN HỌC PHẬT GIÁO TIẾNG SANSKRIT 
LITERARY HISTORY OF SANSKRIT BUDDHISM
J. K. NARIMAN
Thích Nhuận Châu dịch

CHƯƠNG V 
MÃ MINH (AŚVAGHOSA)
VÀ TRƯỜNG PHÁI CỦA NGÀI.

  

Tư liệu căn cứ:

Sylvain Levi, Le Buddhacarita d’Ashvaghosha, JA 1892, p. 8, vol. XIX, p. 201 S. Khi Levi ( ở trang 202) đánh giáPhật sở hành tán là một tác phẩm ‘rút gọn tinh yếu từ Kinh Phổ Diệu’ là ông đã sai lầm. Ít nhất Kinh Phổ Diệu trong bản được biên soạn hiện hành có lẽ không có kiểu mẫu nào như của ngài Mã Minh cả. Phật sở hành tán (Buddha-caritakāvya), đã được Cowell (Oxford 1893) biên tập, và được chính ông phiên dịch trong SBE, vol. XLIX. Về ngài Mã Minh và tầm quan trọng của ngài trong văn học Ấn Độ, Sylvain Lévi đề cập trong nghiên cứu toàn diện của ông nhan đề Ashvaghosha le Sutralankra et ses sources JA 1908, p. 10, vol. XII, p. 77. ff. Ông Anesaki trong ERE vol. II 159 f. Nay chúng ta biết từ phát hiện của Luders rằng ngài Mã Minh cũng là một nhà soạn kịch thơ (dramatic poet), ngài là tác giả của Hi khúc Xá-lị tử (Śāriputraprakaraṇa) SBA, 1911, p. 388 Phật. Tiểu sử của ngài Mã Minh do ngài Cưu-ma-la-thập (Kumārajīva) biên soạn đã được dịch sang tiếng Hán giữa năm 401 và 409. Wassiljew đã đưa ra một trích đọan trong tác phẩm Buddhism của ông dù tác phẩm trên hoàn toànmô tả về truyền thuyết.  

Trở lại năm 1892 khi học giả người Pháp Sylvain Lévi ấn hành chương đầu của Phật sở hành tán, người dân ở Châu Âu biết rất ít về ngài Mã Minh qua tên của ngài. Ngày nay, chúng ta biết đến ngài như một thi hào vĩ đại của nền văn học Sanskrit, vì ngài là kiểu mẫu của bậc thầy tài ba mẫu mực là Kalidasa[40] và là tác giả các thiên sử thi, kịch, và thơ trữ tình (lyrical). Tuy nhiên, không may, chúng ta chỉ biết về cuộc đời của ngài. Các truyền thống đều thống nhất rằng ngài là người đương thời với vua Ca-nị-sắc-ca[41] (khoảng năm 100 stl.), và ngài là một trong những thủ lĩnh, nếu không nói là người sáng lập nền giáo lý Đại thừa Phật giáo.  

Về việc không rõ ràng trong niên đại của vua Ca-nị-sắc-ca, xin xem trong tác phẩm nói trên, vol. I, p. 437; Franke và Fleete có kết luận độc lập rằng vua Ca-nị-sắc-ca lên ngôi vua năm 5253 ttl. Ngược lại, , R. G. Bhandarkar (BRAS, XX ff 19, 385 ff) có ý kiến rằng vua Ca-nị-sắc-ca sống vào thế kỷ thứ III stl. Ông A. D. Boyer trong JA 1900, V. XV. p. 526 11. Nói rằng có lẽ Ca-nị-sắc-ca sống vào thời kỳ cuối và đầu thế kỷ thứ II stl. Trong cuộc khảo sát gần nhất của mình về lãnh địa của vua Ca-nị-sắc-ca, Oldenberg có kinh luận rằng Ca-nị-sắc-ca có thể được xem là sống gần thế kỷ thứ nhất stl. (NGGW 1911, p. 421-427). Cùng một kết quả có từ căn cứ khác của Học giả Haraprasada Shastri (Sundaranandam Kavyam, p. 427). Ông ta cũng nhất trí rằng nhà thơ với Aśvaghoṣa Raja xuất hiện trong văn bia vào thời vua Ca-nị-sắc-ca (Ep. Ind, VIII, 171 f.) mà với mức độ nào đó, Vogel xem là một nỗ lực không thành công.  

 

Cuộc đời Mã Minh

 

Hoàn toàn xác thực là ngài Mã Minh xuất thân từ gia đình Bà-la-môn và có được một nền giáo dục hoàn thiện thuộc truyền thống Bà-la-môn trước khi đến với đạo Phật. Khi xuất gia trong đạo Phật, chúng ta ước đoán, ban đầu là với Nhất thiết hữu bộ, nhưng ngài có ấn tượng lớn lao với lòng sùng kính Đức Phật (Buddha bhakti) và thế nên chuẩn bị cho xu hướng Đại thừa. Ở nơi sinh ra hay quê hương của ngài, phần lớn đều đề cập đến thành phố Sāketa hay Ayodhyā, ngày nay là Oudh.[42] Nhưng thành Ba-la-nại (Benares) và Hoa Thị (Patna) cũng được đề cập đến trong mối liên hệ nầy. Mẹ ngài là Suvarnakśi. Cuộc đời ngài Mã Minh trong môth tác phẩm  bằng tiếng Tây Tạng ghi rằng, ‘Không có câu hỏi nào mà ngài không đáp được, không có sự bất bình nào mà ngài không gỡ ra được; ngài liệng bỏ các đổi thủ của mình nhanh chóng như gió lốc nhổ bật mọi gốc cây rừng đổ nát.’

Theo cùng một bản miêu tả, ngài là một nhạc sĩ tài ba, chính ngài đã soạn nhạc và cùng với đoàn hát rong của ngài, đàn ông và phụ nữ, đi trình diễn qua các phố chợ. Ở đó, ngài đánh đàn và hát với dàn hợp xướng những khúc sầu ca về sự vô hiệu của cuộc đời và đám đông đứng yênmê hoặc bởi giai điệu thể nhập của ngài. Theo cách này, ngài đã hàng phục nhiều ngoại đạo. Theo ngài Thế Thân (Vasubandhu), Mã Minh đã cộng sự cho Kātyāyanīputra (Ca-chiên-diên-diễn-ni-tử) trong sự trình bày luận giải của ngài về A-tỳ-đạt-ma.

 Nhà chiêm bái Trung Hoa Nghĩa Tịnh[43] người đã có cuộc hành trình sang Ấn Độ vào năm 671-695, đã có nói về vị tăng bác học, đã hoàn toàn chinh phục thành công các ngoại đạo, làm lớn mạnh đạo Phật, từ đó, ngài được mọi người đánh giá là cao hơn cả chư thiênloài người. Và ngài bổ sung vào một điều, trong mỗi thế hệ, chỉ có một cặp đôi dạng người như vậy–những người như Long Thụ, Đề-bà và Mã Minh của thời xa xưa.

Ngài Huyền Trang gọi ngài Mã Minh, Long Thụ, Đề-bà và Cưu-ma-la-đa (Kumaralabdha) là bốn mặt trời chiếu sáng thế gian (SBE. Vol. 49, p. 9). Tương tự, ngài Nghĩa Tịnh kể lại vào thời đó, ở Ấn Độ ngài đã đọc trước điện Phật, không kể những cái khác, một bản kinh được biên soạn bởi ngài Mã Minh. Ngài cũng được biết đến là tác giả của những bài tán ca (sử thi) như Trang nghiêm Kinh (Sūtra-laṃkāra), Phật sở hành tán (Buddhacarita) (Trong tác phẩm Record của ngài Nghĩa Tịnh do Takakusu dịch, p. 152, t 16j5, 181).

 

Tác phẩm vĩ đại của ngài Mã Minh:

Lịch sử cuộc đời Đức Phật

 

Về tác phẩm Phật sở hành tán, Nghĩa Tịnh nói rằng đó là một tác phẩm đồ sộ băng thơ, kể lại cuộc đờicông hạnh của Đức Phật ‘từ lúc ngài còn ở trong hoàng cung cho đến những giờ phút cuối cùng ở giữa rừng cây sala.’ Nghĩa Tịnh nói thêm ‘tác phẩm ấy được đọc rộng rãi trong năm miền của Ấn Độ và trong các quốc gia vùng biển phía Nam (Sumatra, Java và các đảo quốc láng giềng). Ngài gói trọn nhiều ý trong chỉ vài lời khiến cho tấm lòng người đọc phấn chấn để họ không bao giờ chán khi nghiên cứu kỹ vầng thơ đó. Lại nữa, đó được xem như một đức tính tốt khi đọc nó bởi vì nó chưa đựng những giáo lý cao quý trong một thể loại súc tích ngắn gọn.’ (I-tsing p. 165 X). Từ những gì Nghĩa Tịnh đã nói, qua đó, ngài biết được Phật sở hành tán qua bản dịch tiếng Hán, trong đó các chương hồi gồm 28 đoạn và câu chuyện được kết thúc khi Đức Phật nhập niết-bàn.

Chính trong cuốn Fo-sho-hing-t-tsan được Dharmarakaha dịch từ tiếng Sanskrit sang Hán văn từ năm 414 đến 421, và Beal dịch từ tiếng Hán sang Anh ngữ trong SBE XIX, Rhys Davids (JRAS'190], p. 405 f.) đã nhấn mạnh một cách có lý rằng bản dịch tiếng Hán nầy không phải là bản dịch theo cách hiểu của chúng ta. Chính xác nhất là bản dịch tiếng Tây Tạng vào thế kỷ thứ VII và VIII (Leumann, WZKM 7, 1893, p. 193 ff).

Nay do bản dịch tiếng Tây Tạng cũng gồm có 28 đoạn, nên quả thực chúng ta phải giả định rằng trong bản văn tiếng Sanskrit, nó chỉ gồm 17 đoạn và kết thúc bằng việc giảng pháp ở thành ở thành Ba-la-nại (Benares) mà chúng ta chỉ có một chi phần; mà trong thực tế cũng chỉ là một chi phần. Vì ngoài 17 đoạn nầy, chỉ có 13 đoạn đầu là cổ xưa và chân thật. Phần kết thúc được bổ sung do Amritananda, người sống bằng nghề chép mướn vào thế kỷ thứ IX, vì chính ông thú nhận không tìm ra được bản thảo toàn vẹn. Ngay cả bản thảo Phật sở hành tán do Haraprasada Shastri phát hiện cũng chỉ đến giữa đoạn thứ 14 (JASB Vol. 5 p. 47 ff.)

Và điều mà nhà chiêm bái Trung Hoa phát biểu trong bài tán dương về Phật sở hành tán, chúng ta có thể hoàn toàn chứng minh trên căn cứ của chi phầnchúng ta có được. Ở đây thực tế lần đầu chúng ta có một thiên sử thi (epic) được sáng tác bởi một nhà thơ chân thực–nhà thơ thấm nhuần tình thương và lòng tôn kính đối với nhân cách tối thắng của Đức Phật, và lòng kính trọng sâu sắc đối với tính chân xác của giáo lý đạo Phật, biểu tượng bằng cuộc đờigiáo lý của bậc Đạo sư trong ngôn ngữ rất cao sang với nghệ thuật vốn chẳng phải là giả tạo. Phật sở hành tán, gọi một cách kỹ thuật là mộtMahakavya hay Trường thiên sử thi–một dạng sử thi tao nhã mang tính nghệ thuật và được biên soạn theo phong cách tương tự như Kavya, mà khởi nguyên của nó được tìm thấy trong Kainayana. Valmiki và môn đệ của ông là hậu duệ trực tiếp của ngài Mã Minh ngay sau khi Mã Minh là người chọn được kế thừa của Kalidasa. Cả ba dạng Trường thiên sử thi, tuy vậy, thống nhất ở đây là trong sự vận hành của thể loại Alamkara hay được trang sức bằng thơ (poetic embellishment) từ đầu đến cuối đều là dịu dàng. Và dịu dàng ở trong ngôn ngữ và văn phong cũng chính là cách thức của ngài Mã Minh  tôn trọng sự trình bày tính huyền diệu trong truyền thuyết Đức Phật. Mã Minh tránh những cường điệu như chúng ta đã thấy trong ví dụ của Kinh Phổ Diệu. Ngược với sự hỗn độn không trật tự Đại sự và Kinh Phổ Diệu, chúng ta thấy trong Phật sở hành tán, sự sắp xếp tài liệu mang tính nghệ thuật và kỹ lưỡng hơn. Và dù nhà thơ lúc ở nhà có những bản kinh cổ xưa hơn, ngài vẫn đứng độc lập với những chất liệu ấy. Không phải dù sao khi ngài thay đổi truyền thống, ngài hiểu được làm sao dành mọi nỗ lực cho lớp áo thi ca mới về truyền thuyết cổ xưa và vay mượn nguồn gốc thể hiện giáo lý kinh điển đạo Phật nguyên thuỷ. Ngài Mã Minh luôn tác phẩm Phật sở hành tán của ngài. Như Windisch quán sát, ngài Mã Minh dường như đã hết sức cố gắng tránh khỏi cái vòng ngữ cú (phraseology) của kinh điển cổ xưa– (Demon and Buddha, p. 205).

 

Phật sở hành tán và Kālidāsa

 

Tính chất thi ca hoàn toàn khác biệt nhau, như với Kinh Phổ Diệu là hình ảnh hoàng tử trẻ ra khỏi hoàng cung đi dạo trong đoạn 3 và 4:

Ở đây, được diễn tả một cách diễm lệ khi tin tức loan báo rằng hoàng tử đã ra khỏi hoàng cung, phụ nữ ở trong thành bị thúc giục bởi lòng hiếu kỳ, từ khuê phòng của mình đã leo lên mái nhà và trên các cửa sổ, bị trở ngại bởi những cái đai thắt lưng, họ đã tháo ra, và lao vội ra phía trước với sự vội vã cấp bách nhất và xô đẩy nhau, tiếng va chạm loảng xoảng của đai nịt áo và vòng xuyến trang sức đã làm kinh hãi các loài chim trên mái nhà. Những khuôn mặt tươi đẹp diễm lệ như hoa sen, lấp ló xuất hiện bên ô cửa sổ, nhe thể các bức tường của các dãy nhà thực sự được tô điểm bằng các đoá hoa sen. Khi Cowell lưu ý điểm nầy trong lời tựa cho ấn bản của ông về Phật sở hành tán, Kālidāsa đã mô phỏng cảnh nầy từ Mã Minh (Buddha-carita, iii 13/24) trong tác phẩm Raghuvamsha (vii, 5/12) của ông. Cuộc găp gỡ của ông lão do chư thiên biến hoá hiện ra trước hoàng tử được mô tả một cách thú vị. Trong nỗi ngạc nhiên của mình, hoàng tử hỏi:  

Người già bên vệ đường

Là ai, hỡi Xa-nặc?

Tóc bạc, mắt trũng sâu

Lưng còng trên cây gậy,

Tay chân đều run rẩy?

Là tiến trình tự nhiên

Hay trò đùa số phận?

Người đánh xe trả lời:

Tuổi già huỷ hoại ông

Đánh cắp đi sắc đẹp

Kẻ phá huỷ sức mạnh,

Cội nguồn của u buồn

Kết thúc của niềm vui,

Kẻ thù của trí khôn,

Tiêu hoại bao ký ức.

Cũng uống dòng sữa mẹ

Như trẻ thơ học đi

Theo tiến trình thời gian.

Dần dần nên khôn lớn

Mạnh mẽ thành trai tráng,

Năm tháng, tuổi chất chồng

Già lão nặng trên vai.’

Sau khi Thái tử học được những điều qua ba chuyến đi chơi ngoài hoàng cung, về già bệnh và chết, Thái tử không còn thấy trên đời có niềm vui gì nữa cả. Thật vô ích khi vị thầy tế của hoàng tộc theo lệnh của vua triệu tập cung phi thể nữ trong hoàng cung bắt họ phải đem hết sức lực dùng nghệ thuật quyến rũ để làm nguôi ngoai Thái tử và kéo ngài trở lại với tâm tư thất vọng u buồn. Thái tử vẫn giữ không bị tiếp xúc với trò tiêu khiển êm dịu đó. Ngài chỉ nghĩ đến sự nông cạn của những người phụ nữ nầy và thốt lên (iv, 60 f.):

Thật vô nghĩa làm sao

Con người trước mắt ta

Láng giềng họ bệnh hoạn

Thấy già chết đến nơi

 Mà cứ ham giữ chặt

Những vật quý trên đời

Không rùng mình lo sợ.

Như cây bị bóc vỏ,

Hoa trái phải tàn rơi.

Không làm cây bên cạnh

Biết xúc động riêng mình.

  

Nghệ thuật lãnh đạo,

nghệ thuật thơ tình và chiến tranh

 

Sự trình bày các hình ảnh yêu thương thuộc về các yếu tố không thể thiếu được trong thi ca cũng như đặc điểm vốn có đối với triều đình. Và thi ca làm hài lòng yêu cầu nầy trong sự mô tả niềm vui của những người phụ nữ yêu kiều đang nỗ lực lôi cuốn Thái tử về với họ (iv, 24/53) cũng như trong chân dung sống động của cảnh trời đêm với những người phụ nữ kiều diễm khiến cho Thái tử bay ra khỏi hoàng cung. Những đề tài nầy cho Mã Minh cơ hội để trình bày nghệ thuật thơ trữ tình. Có thể lưu ý rằng sự mô tả (v, 48/62) trong hình ảnh nguyên sơ là được kể lại chi tiết bởi chàng Da-xá (Yasa) trong Luật tạng (Vinayapitaka) bằng tiếng Pāli. Chúng ta đã có cơ hội để nhận định có một cảnh tương tự trong sử thi Ramayana (v, 9/11) đã được sao chép từ  tác phẩm của nhà thơ Phật giáo Mã Minh nầy.

Nhà thơ cung đình, tuy vậy, cũng phải quen thuộc với học thuyết về nitiśastra hay là về thuật trị nước (statecraft). Và những nguyên lý vũ trụ phổ quát đều bị phong kín đối với Thái tử do các thầy tế giữ chặt trong nội cung để làm lệch hướng trầm tư của Thái tử (iv, 62/82). Cuối cùng, liên quan tới cùng một thể loại thi ca cung đìnhmô tả về cảnh chiến trường. Ở đây nhà thơ của chúng ta có cơ hội trong đoạn thứ 13, ngài gợi lên một cảnh sống động cuộc chiến đấu của Đức Phật với ma vương cùng quyến thuộc của ma.

 

Tình yêu và tín ngưỡng

 

Ngài Mã Minhtác giả của một tác phẩm thi ca khác được sắp xếp vào trong mục của thi ca cung đình, đó là tác phẩmTôn-già-lợi Nan-đà (Saudarananda-kāvya). May mắn người phát hiện và biên tập tác phẩm nầy là Học giả Haraprasada Shastri (A. Bastion, JA 1902, vol. xix, p. 79 ff and P. W. Thomas JRAS 1911, p. 1125). Tác phẩm cũng xoay quanh lịch sử cuộc đời Đức Phật, nhưng đặc biệt khắc hoạ những tình tiết và cảnh nầy vốn hoặc đã thấy đôi chút hoặc đã đề cập toàn bộ trong Phật sở hành tán. Thế nên trong đoạn đầu tiên, dành để mô tả tường tận lịch sử tìm kiếm thành Ca-tì-la-vệ (Kapilavastu). Tự nhiên, nội dung thực sự của tập thơ nầy, lại được dựng lên bởi tình yêu của nàng Tôn-đà-lợi (Sundari) và Nan-đà (Nanda), người em cùng cha khác mẹ với Đức Phật, ban đầu muốn xuất gia, sau đó chí lại muốn chống lại:

‘Chính như nàng Tôn-đà-lợi (Sundari), người vợ mới cưới của Nan-đà, khóc than và tiếc nuối người chồng vừa bỏ đi của mình, và Nan-đà cũng sầu khổ vì người thương của mình. Những nỗ lực của các vị sư huynh tìm cách làm dịu lòng ông. Ngay cả những lời nói của Phật cũng bất lực khi hoá giải cho ông. Rồi Đức Phật dùng bàn tay mình đưa ông lên dạo chơi cõi trời. Trên đường đi, ngang qua Hy-mã-lạp-sơn, Đức Phật chỉ cho Nan-đà thấy một con khỉ cái chột mắt, Đức Phật hỏi Nan-đà rằng chắc Tôn-đà-lợi đẹp hơn con khỉ ấy. Nan-đà mạnh dạn đáp ‘Phải.’ Tuy nhiên, sau đó, Đức Phật đưa Nan-đà vào cung trời và thấy các tiên nữ (upmras), Nan-đà thấy rằng họ và vợ mình khác biệt nhiều quá, cũng như khác biệt giữa với mình và con khỉ cái vậy. Từ đó trở đi, Nan-đà có lòng say đắm các tiên nữ và khi trở về hạ giới liền tu tập khổ hạnh để mong được sinh lên cõi trời. Do đó, A-nan, thị giả của Đức Phật, dạy cho Nan-đà thấy rằng hưởng lạc ở cõi trời cũng chỉ là vô ích và chẳng lâu bền. Cuối cùng Nan-đà tin nhận và đi đến chỗ Phật thưa rằng ông không muốn sắc đẹp tiên nữ cõi trời nữa. Đức Phật rất hài lòng và dạy ông vài lời những điều chính yếu  về giáo pháp tu tập. Bây giờ Nan-đà lui về trong rừng tu tập Tứ niệm xứ (four great meditations) và chứng quả A-la-hán. Với lòng tri ân, Nan-đà đi đến chỗ Phật để đảnh lễ ngài nhưng Đức Phật dạy ông rằng nay ông đã chứng được quả vị, hãy lên đường vì lòng thương tưởng đến mọi người mà giảng dạy giáo pháp giải thoát  giúp họ được giác ngộ.’

Tham khảo về sự chuyển biến đầy sức thuyết phục của Nan-đà còn diễn ra trong các nguồn thư tịch cổ hơn: Mahavagga, i. 54; Nidanakatha p. 91; Rhys Davids Buddhist Birth Stories, p. 128. A3 do Haraprasada Shastri (p. xiii) nêu ra, một dị bản lệch hướng rất nhiều với truyền thuyết nầy được thấy trong tạng Pāli khi chú giải về Kinh Pháp cú (Dhammapada). Xem thêm Spence Hardy, Manual of Buddhism; Kern, History of Buddhism. J, 155; Foucher, Greco Buddhist Art (i, 464).

 

Tổng hợp các trường phái

 

Trong khi Phật sở hành tán chưa có biểu hiện giáo lý bắt nguồn cho Đại thừa, phần nội dung bao hàm trongSaundarananda-kavya đã bắt đầu đi ngược thiên hướng Đại thừa. Điều ấy chưa đủ khi chính Nan-đà sẽ trở thành bậc thánh chứng đắc niết-bàn. Nan-đà còn phải là một người truyền dạy niềm tin, dù việc ấy không bị bỏ quên, thậm chí như trong tạng kinh Tiểu thừa, có đề cập đến bổn phận truyền dạy đức tinquy y cho tín chúng là điều được tán dương cao cả, như trong kinh Anguttara-nikāya. Bên cạnh đó, tác phẩm vĩ đại thứ ba của ngài Mã Minh là Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra), mà đến bây giờ chúng ta chỉ biết qua một bản dịch bằng tiếng Pháp từ tiếng Hán phiên bản vào năm 405 stl., nhiều câu chuyện bán truyền kỳ được xây dựng từ trong truyền thống Tiểu thừa. Từ bản dịch Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra) từ tiếng Hán của ngài Cưu-ma-la-thập sang tiếng Pháp, ông Huber mới có thể theo dấu tích ba câu chuyện trong Divya-vadana (BEFEO, 1904, pp. 709-726), nhưng bản gốc tiếng Sanskrit vừa mới được phát hiện ở Thổ-phồn (Turfan) và được Luders nghiên cứu từ một bản thảo viết trên lá cọ (palm) thời xưa, (xem Fragments of Bhuddhist Drama, Berlin, 1911, và Valleé Poussin Le Museon, 1909, p. 86.)

 

Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra)

 

Trang nghiêm kinh[44] là một tập hợp gồm nhiều mẫu truyện đạo theo kiểu mẫu của truyện Bản sinh (Jātaka) và Thí dụ (Avadāna) được kể bằng văn xuôi và thể thơ với phong cách nghệ thuật thi ca Ấn Độ. Nhiều truyện nầy chúng ta đã được biết đến như trong Trường bộ kinh (Dirghayus) hay chuyện Thái tử Trường thọ (prince Long-life) và vua Shibi. Những chuyện khác biểu hiện nhiều tinh thần Đại thừa hay ít nhất là lòng tôn kính Đức Phật với nhiều chất Đại thừa hơn xu hướng của nó. Một minh hoạ được dành sẵn qua chuyện số 57, cũng cho thấy là một trong những chuyện hay nhất trong bộ nầy.

Có một người đến tinh xá và muốn được xuất gia. Ngài Xá-lợi-phất khảo nghiệm người nầy và biết được ông ta trong những đời trước chưa từng làm một việc hiện nào và tuyên bố rằng ông ta không xứng đáng được nhận vào tăng đoàn. Người kia rời khỏi tinh xá khóc ròng. Rồi Đức Phật gặp ông ta, với lòng tràn ngập lòng từ, ngài nỗ lực chuyển hoá cả nhân loại với lòng bi mẫn như người mẹ thương con. Đức Phật đặt tay trên đầu người kể lại ông ta đã bị Xá-lợi-phất từ chối như thế nào, Đức Phật an ủi ông ‘bằng lời nói vang vọng như sấm rền từ xa’ và nói thêm rằng Xá-lợi-phất chưa thông hiểu hết mọi sự. Chính Đức Phật đưa người nầy về tinh xá và ngài nói với đại chúng về nghiệp (karma). Có một thiện nghiệp mà nhờ đó người kia đã có ngay được sự giải thoát. Vào thời xa xưa, trong kiếp trước, người nầy là tiều phu nghèo thường vào rừng làm nghề đốn củi, một hôm gặp con cọp đuổi bắt ông. Qua sợ hãi ông ta la lên ‘Nam mô Phật!’[45] Nhờ những lời nầy, người kia được dự phần vào sự giải thoát khỏi buồn lo. Chính Đức Phật làm lễ xuất gia cho ông và hiện đời ông chứng quả A-la-hán.

Một ví dụ về lòng sùng kính Phật mang tính Đại thừa thực sự (Mahayanistic Buddha-bhakti) còn được trình bày trong chuyện số 68, trong đó bà Kiều-đàm-di (Gautami), mẹ kế của Đức Phật, chứng được niết-bàn nhờ vào thành tâm cầu nguyện đến Đức Phật.

Trang nghiêm kinh (Laṅkāra-sūtra) là có nguồn gốc trễ hơn Phật sở hành tán được chứng minh bởi thực tế là những dữ kiện trong Phật sở hành tán được trích từ trong Trang nghiêm kinh (Huber, page 192, 222). Vì trong 2 chuyện của Trang nghiêm kinh, một phần là vai trò của vua Ca-nị-sắc-ca, ngài Mã Minh ắt phải sống vào thời kỳ biên soạn tác phẩm nầy như là một nhân vật cựu trào trong triều đình của vua. Nhưng chúng ta lấy làm tiếc rằng mãi cho đến bây giờ chúng ta chỉ có được một bản dịch tiếng Hán của Trang nghiêm kinh. Bản tiếng Sanskrit từ lâu nay vẫn chưa được phát hiện. Không chỉ như vậy, trong đó một tác phẩm văn học quan trọng, phẩm chất chính nó gây ấn tượng lên chúng ta qua hai bản dịch, đầu tiên là bản tiếng Hán, và thứ hai là bản tiếng Pháp, như đã được xem xét chính xác bởi Lévi, nhưng nó không thuộc về ý nghĩa tầm thường trong lịch sử văn học và văn hoá Ấn Độ vì nó đề cập đến thiên anh hùng ca Mahabharata và Ramayana, nó tuyên chiến với học thuyết triết học của phái Số luận (Sāṃkhya) và Thắng luận (Vaiśeṣika) một cách mạnh mẽ cũng như chống lại quan niệm tôn giáo của đạo Bà-la-môn và Kỳ-na giáo (Jains) và đề cập với nhiều cách về chữ viết, về nghệ thuật và hội hoạ. Lại nữa, điều không chắc chắnvấn đề đáng tiếc về một vài tác phẩm khác được gán cho ngài Mã Minh. Một câu hỏi đặt ra là liệu chúng có thật là cuả ngài không? Điều nầy đặc biệthiệu lực đối với Vajrasuchi hay Diamond Needle, vốn trong vài trường hợp, sự quan tâm đến những tác phẩm nhỏ bé vốn đã gây ra những cuộc luận chiến kịch liệt chống lại giai cấp Bà-la-môn.

 

Vajrasuchi : luận chiến chống lại giai cấp

 

Vajrasuchi hay là sự bác bỏ những luận cứ hình thành đạo Bà-la-môn, giai cấp được hình thành bởi nhà học giả đạo Phật Mã Minh (Lancelot Wilkinson biên tập), cũng như trong tác phẩm Tunkii của Soobajee Bapoo, được hồi đáp lại bởi Wujra Soochi, 1839. A Weber, Uber die Vajrassuei (Abdhandlungen der Preuss. Akademie der Wissenschaften phil. hist. K1.7S59, S. 295 ff. und Indische Streifen I, 116 ff.) B. H. Hodgson Essays on the Languages, Literature and Religion of Nepal and Tibet, London 1874, p 126 11". Và S. Levi A. 1908, s. 10 fc, XII p. 70 f. 

Ở đây tác giả sử dụng rất có hiệu quả những quan điểm của Bà-la-môn và chứng minh về thẩm quyền các kinh văn và trích dẫn của Bà-la-môn từ những kinh Phệ-đà, sử thi Mahabharata và bộ luật Manu những yếu tính không còn hiệu lực từ tuyên bố của giai cấp được công nhận bởi tầng lớp Bà-la-môn. Khi năm 1829 Hodgson ấn hành bản dịch tác phẩm nầy và năm 1839 Wilkinson đưa ra một ấn bản, chúng đã làm sửng sốt giới học giả bởi tinh thần dân chủ của Châu Âu đã thể hiện qua cuốn sách. Trong luận văn nầy, học thuyết bình đẳng của nhân loại đã được tán trợ; vì mọi con người sinh là để ‘được tôn trọng bởi niềm vui và nỗi buồn, tình yêu, tri thức, tính cách, phương tiện, chết sống, sợ hãi, đều bình đẳng.’ Chúng ta có biết nhiều hơn về tác giảthời đại khi cuốn sách được biên soạn điều ấy sẽ rất quan trọng cho lịch sử văn học Ấn Độ về những trích dẫn từ kinh văn Bà-la-môn. Nói về thẩm quyền tác giả Mã Minh, trong Trang nghiêm Kinh số 77, thể chế Bà-la-môn công kích cùng với sự trợ lực trích dẫn từ sách luật Manu như trong Vajrasuchi. Mặt khác, Vajrasuchi không thấy được liệt kê trong tạng Tanjur của Tây Tạng cũng như trong các tác phẩm của Mã Minh do nghĩa Tịnh viết; và xa hơn nữa là trong Tam tạng Trung Hoa bằng tiếng Hán. Vajrasuchi được cho là ‘có sự bác bỏ Tứ thư Phệ-đà,’[46] mô tả là được dịch sang tiếng Hán từ năm 973 và 981, được gán cho là của ngài Pháp Xứng (Dharmakīrti) (Bunyo Nanjio, Catalogue of the Chinese translation of the Buddhist Tripitaka, No. 1303). Pháp Xứng[47] trong tiếng Hán là dịch chữ Dharmakīrti từ Sanskrit.

 

Các tác phẩm khác của Mã Minh

 

Hoàn toàn không xác định được những tác phẩmtác giả được gán cho ngài Mã Minh bằng tiếng Hán, Nhật Bản, và Tây Tạng, tác phẩm nào thực sự là cuả ngài. Sự nổi tiếng của ngài như là một Đại sư của Đại thừa là căn cứ trên tác phẩmĐại thừa Khởi tín luận,[48] một chuyên luận triết học được nghiên cứu trong các tu viện Nhật Bản như là nền tảng của giáo lý Đại thừa. Lévi nhận định, ‘Nhà thơ của Phật sở hành tán, đã thể hiện ở đây như một người gan dạ làm hồi sinh một giáo lý đã có trù định nhằm phục hưng Phật giáo.’ Tuy nhiên, có điều gì đó chắc chắn hoặc rất có thể là không chắc đó thực sự là tác phẩm của Mã Minh vì nó thể hiện những giáo lý vốn có thể được gán thêm vào sau nầy. Tuy vậy, quá lâu khi bản tiếng Sanskrit của cuốn sách đã phủ nhận chúng ta như là phán xét cuối cùng về thời đại của tác giả là điều không thể xảy ra.

Đại thừa Khởi tín luận đầu tiên được dịch sang tiếng Hán vào năm 534 và rồi lần thứ hai vào năm 710 stl. Từ bản dịch tiếng Hán lần thứ hai T. Suzuki[49] dịch sang tiếng Anh nhan đề Discourse of the awakening of Faith in the Mahāyāna. Suzuki cho rằng Mã Minh nhà thơ là tác giả và khẳng định chính nền tảng của tác phẩm, chính qua Đại thừa Khởi tín luậnmà ngài trở thành người thực sự xiển dương Đại thừa. Tuy vậy, học thuyết trong tác phẩm đó kết hợp chặt chẽ với trường phái Duy thức (Vijñānavāda)[50] do ngài Vô Trước khởi xướng, và giáo lý Như Lai tạng[51] (Tathāgatagarbha) và Chân như (Tathatā)

Xuất hiện trong Kinh Lăng già (Laṅkāvatāra).[52] Giáo sư Takakusu, những có thẩm quyền về nhà thơ Mã Minh cũng cho rằng vấn đề hoàn toàn không phải ở chỗ đó, ông nói rằng các thư tịch cổ của Trung Hoa không thấy có tên ngài Mã Minh như là một tác giả. Trong tạng Tanjur của Tây Tạng, ngài Mã Minh còn được mô tả như là người biên soạn Śata panacaśatikanamastora, tán ca (panegyric) gồm 150 câu kệ, theo ngài Nghĩa Tịnh, đó là tác phẩm của nhà thơ Matriceta. Thực tế, ngài Nghĩa Tịnh không thể nói quá nhiều về sự nổi bật nầy của Matriceta, người mà trong mọi sự kiện, đều thuộc về cùng một trường phái với ngài Mã Minh và do đó, nhầm lẫn với Mã Minh.

 

Matriceta.

 

Theo sử gia Tây Tạng Taranatha,[53] Matriceta chính là tên gọi khác của Mã Minh, (F.W, Thomas OC XIII, 1902, p. 40). Người ta không dám chắc rằng Matriceta nầy là một với Matriceta, tác giả của Maharajakanikalekha, (Thomas Ind. Ant,, 1903, p. 345 ff. and S. C. Vidyabhushana JASB, 1910, p. 477 ft.). Ngài Nghĩa Tịnh nói rằng ‘Đó là sự gia nhập vào một giáo đoàn tăng sĩ để nghe tụng bài tán ca gồm 150 hoặc 400 câu kệ. Những vầng thơ diễm lệ nầy như hoa trời với vẻ đẹp và nguyên lý thắng diệu mà mà chúng đua tranh phẩm tính trên đỉnh núi cao. Do vậy, các nhà sáng tác tán caẤn Độ đều bắt chước phong cách của ngài và xem ngài như là tị tổ của văn học. Ngay cả người như Bồ-tát Vô TrướcThế Thân cũng vô cùng tán thán ngài. Mọi tăng sĩ khắp cả Ấn Độ, ngay khi biết đọc tụng năm hoặc mười giới, chính là được học từ thánh thi của Matriceta.’ Tương truyền có lẽ đời trước của ngài là loài chim sơn ca từng tán dương Đức Phật bằng những giai điệu tuyệt diệu. Nghĩa Tịnh đã dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Hán. Tuy vậy, đến nay may mắnchúng ta đã phát hiện được ở vùng Trung Á những bản gốc tiếng Sanskrit những tán ca của Matriceta và từ những bản thảo bị rách nát được phát hiện ở Thổ-phồn, chúng ta đã nhờ vào đó rất nhiều, Siegling đã tiến hành cấu trúc lại hầu như ⅔ văn bản. Những bài kệ đều có tính nghệ thuật, nhưng không cường điệu như phong cách của Kavya. Tiến sĩ Siegling đã chuẩn bị ấn bản nầy để ấn hành tương tự như các bản rời được phát hiện ở Trung Á vừa được Levi in lại (JA 1910, page 455) và Vallee Poussin (1911, page 764) F. W. Thomas đã dịch một trong các tập thơ của Matriceta là Varnanartha-varnana, từ bản tiếng Tây Tạng dịch sang tiếng Anh (Ind. Ant. vol. 34, p. 145).

 

Shura, nhà thơ Phật giáo

 

Được biết đến nhiều nhất là nhà thơ Shura hay Aryashura, có lẽ cùng xuất thân từ cùng một trường phái, mặc dù nó thuộc về một niên đại sớm hơn với Jatakamala rất giống với kiểu thức của Trang nghiêm Kinh (Sutralaṃkāra). Tuy nhiên, Jatakamala (Garland of Jatakas) chỉ là danh xưng một thể loại. Vài nhà thơ đã sáng tác jatakamalas có nghĩa là, họ đã sáng tác thoải mái một thể thơ kể (poetic speech) độc đáo pha trộn những phần văn xuôivăn vần của Jatakas. Đó cũng không phải là việc của Aryashura khám phá ra những câu chuyện mới mà là mô phỏng lại truyện ký cổ điển với cách diễn đạt tao nhã và nghệ thuật hơn. Cách diễn tả của ông trong văn xuôi cũng như văn vần là thuộc loại kavya, nhưng quý phái và cao nhã hơn, nghệ thuật hơn là giả tạo. Đến chừng mực jataka với ý định được tận dụng của chư tăng trong các bài giảng của họ, jatakamala cũng xem những mục đích nầy cho việc giảng pháp. Chỉ có nhà thơ là có lẽ chính người giảng pháp giữa triều đình, không có ai ngoài nhà thơ trước mắt họ, cử hành những buổi thuyết pháp trong giới quý tộc nơi mà thi pháp Sanskrit được nhận biết và tán thưởng. Tác phẩm gồm 34 truyện bản sanh, giống như 35 truyện trong Cariyapitaka bằng tiếng Pāli minh hoạ tinh thần ba-la-mật-đa (pāramitā) hay tính chất ưu việt của Bồ-tát. Hầu như mọi câu chuyện cũng xuất hiện trong truyện bản sanh bằng tiếng Pāli và 12 chuyện tương tự như vậy được tìm thấy trong Cariyapitaka. Nhiều bài kệ tiếng Sanskrit hài hoà với truyện bản sanh bằng tiếng Pāli (Xem bản dịch của Speyer, p. 337.) Có ít chuyện thiếu trong bộ sưu tập Pāli thuộc về phần đầu, kể lại khi Bồ-tát gặp cọp đói sắp ăn con nó và ngài hy sinh để cứu nó. Đó là một cấu chuyện rất tiêu biểu và có thể sao lại ở đây như một ví dụ của văn học có tính giai thoại với ý định chuyển tải giáo lý từ bi rộng lớn của Đại thừa

 

Tình thương vô ngã của Đức Phật

 

Câu chuyện tiêu biểu nhất có nội dung như sau:– Trong những đời trước, ngài đã thể hiện tình thương vô ngã đối với mọi chúng sinh và khiến cho mình miệt mài chăm sóc các loài khác. Do vậy, con người được Đức Phật Thế tôn yêu thương ắt phải có lòng quyến luyến. Khi câu chuyện kỳ diệu sau đây về một phần trong kiếp trước của Đức Phật được kể lại–một công hạnh nổi bật của bậc Đạo sư tôn kính của mình, một trong ba ngôi báu (Tam bảo) đã có sự toại nguyện đối với thầy dạy của mình bởi nội quán của ngài và chính ngài trở thành một bậc Đạo sư lỗi lạc trong việc tìm cầu chân lý. Trong những ngày nầy, Bồ-tát mà bây giờ là Thế tôn, khi theo đuổi lời nguyện cao cả của mình vì lòng nhân từ, yêu thương, giúp đỡ người nghèo ban tặng cho thế gian lòng từ ái phát xuất từ dòng suối trí tuệ sáng suốttừ bi được sinh trong một gia đình Bà-la-môn, hiến mình cho bổn phận và tính ưu việt, tri thứcnăng lực.” Đến khi trưởng thành, ngài liền thông thạo mọi ngành nghệ thuật và khoa học. Ngài đạt được nhiều danh dựsang trọng. Tuy nhiên, ngài không thấy vui thích cuộc sống ở thế gian, và chẳng bao lâu, ngài từ bỏ tất cả. Như một đạo sĩ khổ hạnh, ngài sống trong rừng. Một hôm, ngài đi qua rừng cùng với một môn đệ, ngài thấy trong hang có một con cọp đã kiệt sức vì đói và nó đang muốn ăn con của nó đang tin tưởng đến gần cọp mẹ để được bú.

Khi Bồ-tát thấy vậy,

Rung động, ngài can đảm,

Lòng từ ái tràn ngập,

Với nỗi buồn cận kề.

Như hoàng tử sơn vương

Trong một cơn động đất.

Lạ thay lòng trắc ẩn

Vẫn giữ tâm dũng cảm

Dù gặp nỗi đau buồn.

Nhưng khi bị ray rứt

Vẫn có phần nao núng.

 

 Ngài sai đệ tử đi kiếm thịt. Nhưng đây chỉ là cái cớ để ngài chỉ còn một mình. Ngài đã quyết định tự gieo thân mình xuống vực sâu để cứu mạng chúng sinh bằng cách làm thức ăn cho cọp mẹ. Ngài chọn giải pháp nầy vì thấy cuộc sống trần gian vô nghĩa nầy chẳng có giá trị gì ngoài việc phụng sự cho kẻ khác. Lại nữa, ngài muốn đưa ra một ví dụ để khích lệ những ai muốn làm lợi ích cho thế gian, nêu sự xấu hổ cho những người tự tư tự lợi, nhắm vào sự vui sướng tuyệt trần, và chỉ mình đạt được giác ngộ sau cùng. Ngài chẳng có mong muốn gì khác hơn:–Không phải vì lòng tham, không mong cầu tiếng khen, cũng chẳng mogn hưởng thú vui cõi trời hay đạt đến địa vị vua chúa; cũng chẳng mong cầu dục lạc đời đời; mà chỉ làm những điều tốt lành cho người bên cạnh, nên ta làm như vậy. Chắc chắn điều nầy là đúng đắn, thế nên ta cứ cho là như vậy để thoát khỏi khổ đau trần thế và đem sự cứu độ đến cho họ, ngay cả khi mặt trời toả ánh sáng mà đêm tối muốt chửng mất ánh sáng ấy.”

 Với những lời nầy, Bồ-tát gieo mình xuống vực sâu. Cọp mẹ đang có dự định ăn thịt con nghe thấy tiếng động liền rời xa con mình, nhảy vào ngay thân thể Bồ-tát để ăn. Khi người đệ tử trở về chứng kiến cảnh tượng, chú vô cùng xúc động và phát ra những câu kệ thể hiện sự sùng kính bậc Đạo sư tối thượng. Loài người, chư thần, chư thiên đều tỏ lòng thán phục Thế tôn bằng cách kết những tràng hoa và đá quý phủ lên trên những nắm xương của ngài còn sót lại.

Sự xúc cảm vô cùng tận về công hạnh Bồ-tát còn được ca tụng trong nhiều câu chuyện khác.Nf  Nghĩa Tịnh tán dươngJatakamala hay Jatakamalas trong số những tác phẩm trong thời đại của ngài là những tác phẩm được ưa chuộng nhát và được đọc nhiều nhất ở Ấn Độ. Trong số những tranh vẽ trên tường (frescoes) trong động đá Ajanta có những cảnh lấy nội dung trong truyện Jatakamala được khắc stophes từ Aryashura. Nét khắc thuộc đồ hình cổ sinh vật học (palaeographically) vào thế kỷ thứ 6 stl. và từ đó các tác phẩm khác của Aryashura đã được dịch sang tiếng Hán vào năm 434, nhà thơ chắc đã sống vào thế kỷ thứ IV.

 Nghĩa Tịnh (I-tsing), Bản dịch của Tatakusu, p. 166 f.; H. Luders, NGGW 1902, p. 758 ff B. Nanjio, Hatalogoe of the Chinese Tripitaka, No. 1349 ; The Zachariae, GGA, 1888, p. 850, F. W, Thomas in Album Kern, p. 405, S.

 Bản dịch tiếng Hán về Jatakamala đề cập đến Aryashura như là tác giả. Chỉ có 14 truyện, xin xem Ivanovski trong BHB, 1903 V. 47, p. 298 fi.

Tạo bài viết
25/04/2010(Xem: 113199)
Trong một cuộc gặp với các du khách quốc tế hôm thứ Hai vừa qua, 16-4, Đức Dalai Lama đã nhắc đến hệ thống giai cấp của Ấn Độ đã tạo ra sự chia rẽ và nhấn mạnh đến sự bất bình đẳng. Ngài đã nói rằng "đã đến lúc phải từ bỏ quan niệm cũ" và thêm rằng: "Đã đến lúc phải thừa nhận rằng hiến pháp Ấn Độ cho phép mọi công dân có quyền bình đẳng, do đó không có chỗ cho sự phân biệt đối xử trên cơ sở đẳng cấp - tất cả chúng ta đều là anh chị em".
Hội thảo do khoa Phật học phối hợp với Viện lịch sử Phật giáo Hàn Quốc thuộc Trường Đại học Dongguk (Đông Quốc, Hàn Quốc) đồng tổ chức vào chiều ngày 5-4.