Tháng 9: Nhà tù chật chỗ

21/03/20214:48 SA(Xem: 111)
Tháng 9: Nhà tù chật chỗ

HOA K GII MT
H SƠ VIT NAM 1963
DỊCH VÀ GHI NHẬN:

TÂM DIỆU, TRÍ TÁNH & NGUYÊN GIÁC
NHÀ XUẤT BẢN ANANDA VIET FOUNDATION


THÁNG 9
NHÀ TÙ CHT CH


GHI NHẬN:
Mỹ cho biết hy vọng TT Diệm trả tự do cho  tăng ni cư sĩ, gỡ Đạo dụ 10, thực thi 5 nguyện vọng trong bản Thông Cáo Chung với PG, đưa ông bà Nhu xuất ngoại, Mỹ sẽ tận lực giúp Diệm chiến thắng CS. Nhưng vô ích. Vẫn thiết quân luật. Dân biểu tình, SV bãi khóa. Lodge nhận định rằng chế độ gia đình trị của nhà Ngô y hệt như vua chúa thời Trung cổ. Bộ Trưởng Bộ Tổng Thống Nguyễn Đình Thuần nói, lo sợ bị Nhu ám sát. Thuần kể: Đại Tá Lạc (Ủy viên Thường trực, Ủy ban Liên bộ về Ấp Chiến Lược) nhận định, với chế độ TT Diệm hiện nay, tiếp tục thì Miền Nam hiện đang thua ở Miền Tây và toàn bộ VN sẽ hoàn toàn thua VC vào năm 1965. Có tin Trần Văn Khiêm (em bà Nhu, người chỉ huy lực lượng cảnh sát bí mật) lên danh sách các viên chức Mỹ để sẽ ám sát. Vatican thu xếp, đưa Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục qua Rome. Bà Nhu sang họp ở Belgrade, và sẽ đi vài nơi trên thế giới. Có tin Nhu thương thuyết với Hà Nội. Mỹ nói sẽ cắt giảm viện trợ VN, hy vọng các tướng phải đảo chánh vì cuộc chiến không thể kéo dài nếu mất viện trợ. Krulak và Mendenhall từ Việt Nam về Mỹ đưa ra 2 hình ảnh dị biệt lên TT Kennedy. Krulak nói quân VNCH đang chiến thắng. Mendenhall nói VN sắp sụp đổ, như ở Long An, 60% ấp chiến lược đã bị VC kiểm soát. Nguyễn Đình Thuần và Võ Văn Hải nói Nhu hút nha phiến trong 2 năm qua, nên có ảo tưởng. Tướng Dương Văn Minh bi quan: cảnh sát bắt liên tục, nhiều nhà tù hết chỗ. Gỡ thiết quân luật, nhưng vẫn bắt bớ. Các tướng xin TT Diệm lập nội các chiến tranh, vì quân VC mạnh tới mức nguy hiểm. Xuất hiện GS Smith. Bầu cử Quốc Hội VNCH.        

 

.

Ngày 2/9/1963. Truyền hình phỏng vấn TT Kennedy. Người phỏng vấn là Walter Cronkite của đài CBS News. TT Kennedy bày tỏ bất mãn đối với cách ông Diệm đàn áp Phật tửquan ngại rằng cần thêm nỗ lực về phía chính phủ VNCH để được công chúng ủng hộ, “nghĩa là cần đổi chính sách và có lẽ cả nhân sự.”

Lodge gặp ông Nhu. Tránh bất kỳ tiếp xúc nào với ông Diệm, Lodge gặp ông Nhu. Nhu nói có ý định rời chính phủ như dấu hiệu có tiến bộ trong cuộc chiến chống VC. Bà Nhu và Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục (anh của TT Diệm) sắp rời VN trong các chuyến đi ra hải ngoại.

.

Ngày 2/9/1963. 10 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Nhu sẽ từ chức, rời chính phủ và dọn lên Đà Lạt sau khi gỡ lệnh thiết quân luật. Việc Nhu từ chức sẽ được loan báo như một dấu hiệu thành công trong cuộc chiến chống Cộng. Bà Nhu sẽ xuất ngoại vào ngày 17/9/1963 để dự Hội nghị Liên Quốc Hội (Interparliamentary Union) tại Yugoslavia, rồi đi một chuyến tới Italy và có thể sau đó đi Mỹ, nơi bà được mời trong cương vị khách của tổ chức Nhu gọi là “Overseas Club”, mà tôi nghĩ đó có thể là Overseas Press Club tại New York. Nhiều biện pháp liên hệ tới các tù nhân Phật tử sẽ thực hiện để giảm căng thẳng.

Nhu nói đang cứu xét mở rộng nội các và sẽ có chức Thủ Tướng. Tôi nói chức Thủ Tướng có thể nhận một số chỉ trích hiện nay đang nhắm vào Tổng Thống Diệm và có thể dễ dàng thay thế. Nhu nói Nhu không thể rời VN vì đang có những liên lạc với một số Việt Cộng mà, Nhu nói, đang muốn về đầu hàng. Nhu nói, hồi 6 tháng trước, một đại tá VC đề nghị dẫn 3 tiểu đoàn về đầu hàng, nhưng Nhu nói là khoan, hãy cứ tạm ở mặt trận Lào quốc để chờ đúng thời điểm thì về hàng. Lúc đó, Nhu có nói với Tòa Đại sứ Mỹ chuyện này. Có một tướng lãnh VC ở Cambodia muốn gặp Nhu. Nhu nói không chỉ là Việt Cộng xuống tinh thần, mà họ cũng thấy đã bị Bắc Việt lợi dụng. Nhu đoán tương lai tiếp tế cho VC là phải dùng đường hàng không. Đường biển thì đã bị cấm, đường bộ thì kể như bất khả. Khi tiếp tế bằng hàng không, các phi cơ sẽ bị bắn rớt.

Đại sứ Ba Lan ghé thăm Nhu hôm nay để nêu chú ý về lời tuyên bố của De Gaulle và Hồ Chí Minh, và hỏi Nhu về những gì Đại sứ Ba Lan có thể báo cáo lại cho Thủ Tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng. Nhu kể là Nhu đáp: "Không gì cả. về chuyện De Gaulle, cho dù ông ta có quyền có ý kiến, nhưng những ai không tham dự cuộc chiến thì không có quyền can thiệp. Lòng trung thành của chúng tôi với người Mỹ cấm chúng tôi cứu xét các lời tuyên bố đó. Người Mỹ là những người duy nhất trên thế giới dám giúp đỡ Nam VN. Do vậy, tôi không có ý kiến."

--- Ghi chú của điện văn có nói về chuyện Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của Wilfred Burchett, trên báo New Times of Moscow ấn bản 29/5/1963. Khi Burchett hỏi cần những bước gì để ngưng chiến tại VN, Burchett ghi lời Hồ rằng ngoại quốc phải ngừng can thiệp, quân lính và vũ khí của ngoại bang phải rút khỏi VN, phải tôn trọng Hiệp định 1954, phải ngưng lùa dân vào trại tập trung (Hồ ám chi ấp chiến lược), lệnh ngưng bắn phải thu xếp giữa quân của chế độ Sài Gòn và Mặt Trận GPQG Miền Nam, và để dân Miền Nam tự do bầu lên chính quyền của họ.

--- Ghi nhận là vào ngày 29/8/1963, Tổng Thống Pháp Charles De Gaulle có tuyên bố về VN trong buổi họp Hội Đồng Bộ Trưởng Pháp. Cuối buổi họp, Bộ Trưởng Thông Tin Pháp Alain Peyrefitte đọc bản tuyên bố cho báo chí rằng Pháp muốn Việt Nam có hòa bình, thống nhất, tự chủ và Pháp sẵn sàng giúp bất kỳ nỗ lực quốc gia nào mà Việt Nam cần giúp.

.

Ngày 2/9/1963. Từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương. Nội dung: Rufus Phillips nói chuyện với Tướng Kim vào ngày 31/8/1963.

Gặp Tướng Kim lúc 5:30 PM, hỏi Kim về tình hình. Kim nói Nhu tiên đoán có nỗ lực đảo chánh, nên lực lượng đặc biệt của Tung đã cảnh giác, và ở vị trí ngăn chận đảo chánh lúc này. Kế hoạch sẽ tiếp tục, Kim nói. Tôi [Phillips] hỏi là Kim có biết chuyện Tướng Khiêm trước đó đã gặp Tướng Harkins sáng hôm đó, và có biết họ nói gì. Kim nói Kim không nghe gì về buổi gặp đó, và Kim bảo đảm rằng Tướng Minh không được thông báo gì.

Kê tiếp, tôi nói với Kim rằng Tướng Khiêm đã nói với Harkins rằng các tướng không thể làm gì, rằng toàn bộ kế hoạch đã ngừng, và có lẽ giải pháp tốt nhất là để cho Nhu giữ chức Thủ Tướng với hỗ trợ từ các tướng để đổi lấy thêm thẩm quyền cho quân đội. Kim phản ứng mạnh, và tôi tin là Kim chân thực, nói rằng Khiêm không nói gì với các tướng, thú nhận rằng có giảm bớt hoạt động vì lo an ninh, nhưng nói rằng các tướng không thể chấp nhận Nhu được nữa, và không hiểu sao Khiêm nói như thế, nhưng tin rằng có lẽ đó là nỗ lực làm Harkins nghĩ sai lạc. Kim nói, có lẽ Khiêm đã quyết định trở mặt chống các tướng đảo chánh, hay có thể Khiêm muốn làm riêng chuyện gì.

Kim nói Kim sẽ tức khắc nói chuyện với Tướng Minh, và sẽ tìm cách đưa Tướng Minh họp đêm đó với Đại Tá Conein và tôi, mặc dù Minh có thể không muôn gặp vì lý do an ninh. Như thế là Kim muốn xác nhận Khiêm không nói gì với Minh. Tôi đồng ý sẽ họp, nhưng nói rằng phía Mỹ bây giờ, sau lời nói của Khiêm, nghĩ rằng các tướng không muốn đảo chánh và rằng có thể cần thiết là người Mỹ nên tiếp tục ủng hộ chế độ Diệm như hiện nay. Cách tốt nhất, tôi nói, Tướng Minh nên nói thẳng thắn với Harkins. Kim nói, Kim tin là Minh sẽ muốn nói với Đại sứ Mỹ. Tôi nói chưa biết như thế có tiện không. Tôi nói sẽ gặp lại Kim 8 giờ tối đêm hôm đó.

Tại nhà của Đại sứ, tôi nói về tình hình với Dunn, thì Dunn khuyên tôi rằng không nên gặp Đại sứ. Sau đó, Conein và tôi về lại nơi hẹn, gặp lại Kim, thì Kim yêu cầu Conein đứng canh trong khi Kim nói với tôi. Kim nói Kim đã báo cáo với Minh, và Minh nói: Khiêm chưa báo cáo về buổi họp với Harkins; Minh có tin chắc chắn rằng Nhu đã biết các tướng đang dàn dựng đảo chánh; đã nhận được tin rằng một vài người Mỹ (không phải Conein) có liên lạc với một số sĩ quan VNCH cấp thấp hơn, thúc giục họ đảo chánh, cụ thể là Đại Tá Cường đã được gợi ý như thế; Lực Lượng Đặc Biệt đã cảnh giác sau khi Nhu biết các tướng âm mưu đảo chánh, và không thể làm gì lúc này và hễ làm bây giờ là thất bại; nhưng đảo chánh vẫn sẽ tiến hành vì không chấp nhận Nhu được; Minh hiểu không thể nói chuyện với Đại sứ, và Minh chưa muốn gặp Tướng Harkins lúc này. Cuối cùng, Kim nói Kim và Minh sẽ điều tra xem Khiêm có khả tín hay không.

.

Ngày 2/9/1963. Điện văn từ CA Sài Gòn gửi về trung ương. Viên chức CAS tìm hiểu một câu nói của Maneli, Ủy viên người Ba Lan trong Ủy hội Kiểm soát Quốc tế (International Control Commission - ICC), rằng Đại sứ Pháp Lalouette là cầu nối giữa Ngô Đình Nhu và Phạm Văn Đồng. Chính phủ Mỹ ngạc nhiên khi nghe được câu nói đó, trước đó cũng được báo cáo rằng Nhu có chính sách trung lập hóa và thống nhất hóa Việt Nam. Có một bí mật một số người trong giới ngoại giao biết là Nhu đã liên lạc với Bắc Việt. Chính sách của Pháp là làm cầu nối 2 miền VN. Maneli nhiều lần trong vài tháng qua đã hỏi một người (xóa đen, để ẩn danh) là bảo Nhu rằng ủy viên người Ba Lan có thể chuyển lời Nhu nhắn cho Đồng. Maneli cũng yêu cầu người khác (xóa đen, để ẩn danh) chuyển lời này cho Nhu. Cả 2 người đều từ chối, không muốn làm trung gian cho Nhu.

Một người (xóa đen, để ẩn danh) kể chi tiết về những giận dữ của Nhu đối với người Mỹ, dẫn lời Nhu trong một cuộc phỏng vấn báo chí đăng trên báo Washington Post ấn bản ngày 12/5/1963 khi được hỏi về sự kiện ngày 8/5/1963 trong đó Nhu nói muốn giảm sự trợ giúp của Mỹ. Những lời nói của Nhu như thế, căn bản là chống Mỹ.

Cả hai người (xóa đen, để ẩn danh) nói tệ hại nhất bây giờ cho chính phủ Mỹ sẽ là có hành động hấp tấp như trường hợp ở Lào với Phoumi. (Xóa đen, để ẩn danh) mới đề nghị giúp thương thuyết với Nhu. Cả hai nói, Nhu muốn thương thuyết.

(Xóa đen, để ẩn danh) nói ông rằng Nhu trong buổi họp với các tướng "vào đêm trước đó nữa" nói với họ rằng Nhu biết một vài tướng suy nghĩ về một hành động khẩn cấp vì họ sợ Miền Nam sẽ thua trận nếu không có viện trợ Mỹ. Nhu mới nói với họ là đừng lo, vì sẽ có nguồn tài trơ khác, nếu Mỹ cắt viện trợ, và nếu tệ hại hơn xảy ra thì Nhu, như các tướng biết, đã có liên lạc với các anh em Miền Bắc và có thể nhẹ thở hơn bằng cách yêu cầu Miền Bắc chỉ thị cho du kích Miền Nam ngưng hoạt động trong khi hai miền thương thuyết.

.

Ngày 3/9/1963. 9:35 p.m. Từ BNG Mỹ gửi Tòa Đại sứ Mỹ ở VN. Ký tên Rusk. Chủ yếu là ông (Lodge) nên nói chuyện trực tiếp với Diệm. Thương thuyết với Nhu sẽ chỉ làm tăng sức mạnh cho Nhu. Ông sẽ có bài nói chuyện của TT Kennedy trên đài phát thanh. Ông nên nhấn mạnh cho Diệm biết TT Knnedy bày tỏ quan điểm chỉ vì muốn nỗ lực chiến tranh thành cônghy vọng của TT Kennedy là chính phủ VN sẽ công nhận nhu cầu thay đổi chính sách và cải tiến công quyền.

Sau đây là hướng dẫn để ông nói chuyện với TT Diệm. Chúng ta [chính phủ Mỹ] khẳng đinh một cách công khai và một cách riêng tư rằng Mỹ không hài lòng với việc đàn áp Phật Tử, vì như thế sẽ làm hỏng mục tiêu chiến thắng trong cuộc chiến chống Cộng. Mỹ không tìm cách lật đổ chính phủ VN, nhưng đối thoại chân thựctích cực để cải tiến.

Nhắc với Diệm rằng Mỹ-Việt có mục tiêu chung là đánh thắng Việt Cộng, nêu lên khó khăn của chính phủ Mỹ để được dân Mỹ ủng hộ trong khi hàng ngày vừa viện trợ nhiều cho VN vừa có người Mỹ tử trận ở VN. Điểm nhắc thêm: yêu cầu Diệm trả tự do cho các sinh viên và nhà sư còn trong tù, kể cả bảo đảm an toàn cho 3 nhà sư hiện đang ẩn trú trong Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, gỡ bỏ kiểm duyệt báo chí, sửa chữa các chùa bị thiệt hại, gỡ bỏ Đạo Dụ 10, thương thuyết chân thực giữa chính phủ VN và các lãnh đạo Phật Giáo về các vấn đề tồn đọng. Ông có thể bảo đảm Diệm rằng nếu Diệm hành động thích nghi, chính phủ Mỹ sẽ làm tận lực để cải thiện dư luận về chính phủ VN tại Mỹ.

.

Ngày 4/9/1963. 8 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Tôi nghĩ rằng tôi nên nói chuyện với Nhu trước khi nói chuyện với Diệm. Cái gọi là về hưu của Nhu và chuyến đi hải ngoại của bà Nhu chỉ có thể thực hiện trực tiếp là qua Nhu. Nói chuyện với Nhu sẽ phải hỏi chi tiết về thay đổi cương vị của Nha; về thời gian bà Nhu sẽ vắng mặt. Tôi đoán nên là ba tháng, đủ để vận động chính phủ VN mở rộng nội các; trả tự do cho các sinh viên và nhà sư còn trong tù ra; và sửa chữa nhà chùa. Tôi được một người (cỏn ẩn danh) nói rằng gỡ bỏ Đạo Dụ 10 không cần nữa. Tuy nhiên, điều đó có giá trị trên Liên Hiệp Quốc và tôi cũng sẽ thử làm như thế. Không được chính phủ VN yêu cầu thả các nhà sư còn ẩn trú trong Tòa Đại sứ. Nếu được yêu cầu, tôi sẽ đòi bảo đảm an toàn cho họ. Có thể giải pháp tốt nhất cho chính phủ VN là đồng ý đưa nhà sư Trí Quang ra khỏi VN.

.

Ngày 5/9/1963. 3 p.m. Điện văn từ Tòa Đại sứ gửi về BNG. Ký tên Lodge. Tôi không tin lời nói của họ. Chuyện Nhu về hưu chắc chắn là chẳng có bao nhiêu ý nghĩa. Chuyện bà Nhu xuất ngoại hiển nhiên là chuyến đi thuyết giảng chiến thắng. Lời nói mở rộng nội các thực tế không đổi gì. Chuyện xoa dịu người Phật Tử, trong mức độ chính phủ VN quan tâm, thì phần lớn xong rồi. Thay vì tôi đi trực tiếp, tôi dự định bảo (xóa đen, còn ẩn danh) tới nói với Nhu rằng chúng ta không bận tâm chuyện Nhu nói như thế, tức là chuyện Nhu về hưu, chuyện bà Nhu xuất ngoại thuyết giảng, vân vân... Nếu họ có gì tốt hơn để thay đổi, tôi mới tới gặp. Nếu (xóa đen, còn ẩn danh) không dẫn tới gì khả quan, lúc đó tôi sẽ gặp Diệm và yêu cầu phải gỡ bỏ cả 2 ông bà Nhu, phải mở rộng nội các, phải xoa dịu Phật Tử, vân vân. Tôi không tin chính phủ VN thực sự hiểu chuyện "hậu thuẫn chính trị trong và ngoài" nước. Họ trong cốt tủy là một kiểu gia đình độc tài, kiểu thời trung cổ Đông phương, họ hiểu rất ít, nếu gọi là hiểu, về cái nghệ thuật công quyền quần chúng. Họ không thể nói chuyện với người dân, họ không thể thuyết phục báo chí, họ không thể trao được thẩm quyền hay gợi được lòng tin; họ không thể hiểu được khái niệm về chính quyền như là kẻ phục vụ cho người dân. Họ chỉ quan tâm tới an ninh thể chất và sống còn, chống lại bất kỳ hiểm họa nào -- dù là hiểm họa cộng sản hay phi cộng sản. Chúng tôi cũng đang nghiên cứu về chuyện cắt giảm một phần viện trợ.

.

Ngày 5/9/1963. 8:42 p.m. Điện văn từ BNG Mỹ gửi tới Tòa Đại sứ ở VN. Ký tên Rusk. Tôi (Rusk) điều trần 2 tiếng đồng hồ hôm nay với Tiểu ban Viễn Đông của Ủy ban Đối ngoại Thượng viện. Nhận thấy nỗi nghi ngờ lớn, không chỉ về khả năng lãnh đạo của Diệm-Nhu mà cũng về chuyện Mỹ tiếp tục tham dự Cuộc chiến VN. Thái độ của tiểu ban cho thấy sẽ có bầu không khí nặng nề trong cuộc tranh luận sắp tới trên Thượng viện về viện trợ, cũng như sẽ có thể có nghị quyết lên án việc Mỹ hậu thuẫn thêm cho chính phủ VN; kiểu như "Đây là cảm nhận của Thượng Viện rằng người dân Mỹ không còn sẵn lòng hậu thuẫn cho một chế độ tại Nam VN đang đàn áp người dân và các giáo phái tôn giáo. Tiếp tục ủng hộ một chế độ như thế sẽ không phù hợp với các nguyên tắc căn bản của nền dân chủ Hoa Kỳ."

Các chủ đề chính trong buổi điều trần Thượng viện hôm nay là: hướng đi tai họa của nhà nước Diệm-Nhu; nguy hiểm tại VN và các nơi khác của việc Hoa Kỳ đồng hóa với chế độ đàn áp; các bản tin báo chí về chuyện Nhu liên lạc với Hà Nội; thất bại của Mỹ trong việc không tạo ra được giải pháp khác Diệm-Nhu; sự vắng mặt của các dấu chỉ về nơi chúng ta sẽ hướng tới. Nói cho ông biết cảnh giác về sóng gió từ Quốc Hội Hoa Kỳ trong việc tiếp cận với chính phủ VN.

.

Ngày 5/9/1963. Bản ghi nhớ từ Thứ Trưởng Ngoại Giao về Chính Trị (Harriman) gửi Bundy (Phụ tá Đặc biệt về An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống). Tôi (Harriman) nhận được lá thư này từ cựu Giám Đốc Nha Ngân Khố Việt Nam, người này có lẽ là bạn thân nhất của Hoa Kỳ cho tới khi ông từ chức ra khỏi chính phủ VN vài năm trước. Quan điểm trong thư này gần với quan điểm của cựu Ngoại Trưởng Vũ Văn Mẫu đã viết cho Chester Bowles -- đâ là những phê phán rất nghiêm túc, chúng ta nên chú ý. Tôi gửi ông 2 bản sao thư này, nghĩ rằng ông có thể trình một bản lên cho Tổng Thống Kennedy.

.

Thư của Vũ Văn Thái gửi Thứ Trưởng Ngoại Giao về Chính Trị (Harriman) - gửi từ Lome, Togo, ngày 24/8/1963. Thư viết bằng tiếng Anh, nơi đây sẽ chỉ dịch tóm lược.

Kính thưa Thứ Trưởng... (Lời người dịch: Vũ Văn Thái lúc gửi thư này đang là đại diện Liên Hiệp Quốc tại Togo. Nơi dây sẽ lược bỏ các phần chào hỏi.)

... Bây giờ, tôi tin rằng Hoa Kỳ làm tận lực để ngăn cản những cuộc đàn áp Phật Giáo và các cuộc biểu tình chính trị tiếp theo, vốn sinh khởi từ những bất mãn tổng quát và từ tình hình ông Diệm và gia đình đối phó với khủng hoảng tôn giáo... Nếu Mỹ không thẳng thắn lên án hành vi ông Diệm mới đây tấn công các chùa, sẽ không còn khả thể nào cho các chính phủ VN tương lai lấy được ủng hộ từ người dân trong khi làm đồng minh với Tây Phương. Cơ hội sinh tồn của chúng tôi tùy thuộc vào việc hòa giải của 2 điều kiện này. Ông Diệm và gia đình phải ra đi ngay bây giờ, ngay cả nếu chưa có ai thay thế, ngay cả nếu thay đổi sẽ dẫn tới các rủi ro quan trọng; những rủi ro đó phải thấy là chính ông Diệm đã trở thành giải pháp tệ hại nhất, giải pháp duy nhất dẫn tới viễn ảnh cộng sản chiếm trọn Miền Nam... Thư này viết không vì tham vọng chính trị, vì tôi bây giờ làm việc cho LHQ và vẫn sẽ làm với LHQ...

.

Ngày 6/9/1963. Bản ghi nhớ từ Giám Đốc Phòng Nghiên Cứu và Tình Báo (Hughes) gửi Ngoại Trưởng. Nội dung: suy nghĩ của ông bà Nhu. Có 2 bản báo cáo tình báo nhận được hôm nay, ghi nhận về thái độ hằn học của ông Nhu, bà Nhu và những người thân khác trong gia tộc nhà Ngô đối với Hoa Kỳ vì các diễn tiến mới đây tại VN.

Bản báo cáo đầu tiên, ký số (TDCS DB-3/656,446), về cuộc phỏng vấn Trần Văn Khiêm (em bà Nhu) hôm 31/8/1963 thực hiện bởi Denis Warner, một phóng viên khả tín Úc châu. Warner thông báo cho một viên chức Mỹ rằng Khiêm đưa cho ông xem một danh sách các nhân viên Đại sứ quán Mỹ, USIS, USOM, và MACV mà Khiêm lên kế hoạch ám sát. Warner nói rằng ám sát người Mỹ sẽ dẫn tới tình hình lính TQLC Mỹ đổ bộ trong vài giờ sau, thì Khiêm nói đang có 20,000 lính VN tại Sài Gòn sẽ đối phó chuyện đó. Tuy nhiên, Khiêm như dường ấn tượng khi Warner nói rằng một sư đoàn TQLC Mỹ sẽ nhanh chóng xóa sổ bất kỳ quân đối nghịch nào.

Chúng tôi không nghĩ rằng chính phủ VN lúc này sẽ làm như thế chống lại các viên chức Mỹ. Tuy nhiên, chúng ta có thể đoán rằng chiến dịch chống Mỹ trên báo chí nhà nước VN và trong các bản thông báo chính thức sẽ cứ tiếp tục; biểu tình chống Mỹ cũng sẽ như thế. Khiêm là em trai bà Nhu, và thân phụ Khiêm là Trần Văn Chương, cựu đại sứ VN tại Mỹ, người đã lên án Khiêm là hư hỏng, hèn nhất và bất tài. Lần cuối chúng tôi nghe về Khiêm là hôm 11/8/1963, khi Bộ Trưởng Bộ Tổng Thống Nguyễn Đình Thuần thông báo với Đại sứ Nolting rằng bà Nhu đã tổ chức một lực lượng cảnh sát bí mật riêng của bà và lãnh đạo là Khiêm. Thuần nói chính Nhu có lẽ cũng liên hệ chuyện đó. Nolting sau đó hỏi Diệm, thì Diệm bác bỏ là không có. Bản báo cáo trên cho thấy Khiêm có thể thực sự có vài trách nhiệm "an ninh đặc biệt" và Diệm hoặc là nói dối hoặc là bị giữ bí mật chuyện đó.

Bản báo cáo thứ nhì, ký số (TDCS DB-3/656,445), liên hệ tới bài báo ngày 2/9/1963 trên báo Times of Vietnam trong đó cáo buộc Mỹ, và đặc biệt là CIA, âm mưu kích động đảo chánh. Hôm 5/9/1963, Thư ký Thứ nhất của Tòa Đại sứ Đức chuyển tin gửi tới ông từ một phóng viên báo Der Spiegel, người trước đó phỏng vấn bà Nhu, nói với một viên chức Mỹ rằng bà Nhu nhìn nhận bà trước đó đã viết hầu hết, nếu không phải tất cả, trong bài báo đó. Bà cũng nói rằng hầu hết rắc rối của Nam VN là từ báo cáo sai lầm do báo chí Mỹ và từ phía Mỹ can thiệp. Bà cũng cáo buộc rằng Đại sứ Lodge dự định gỡ bỏ bà hay sẽ là, ám sát bà. Bà thêm rằng Diệm quá yếu và dựa vào để có hậu thuẫn và sức mạnh trong cuộc chiến chống Cộng và các kẻ thù khác.

Chúng tôi nghi ngờ rằng bài báo Times of Vietnam được viết, hay ít nhất được gợi ý, bởi ông bà Nhu. Dĩ nhiên, bà Nhu biết rằng chúng ta muốn bà ra đi, và có lẽ bà cảm thấy bà sẽ là mục tiêu chính trong bất kỳ cuộc đảo chánh nào chống chính phủ. Lời bà nói về Diệm y hệt như bà từng nói công khai một tháng trước.

--- Ghi chú: Báo Times of Vietnam của ông bà Nhu, ấn bản 2/9/1963, có bài nơi trang nhất với nhan đề “CIA Financing Planned Coup D’Etat” (CIA đang tài trợ cho cuộc đảo chánh) trong bài nói rằng CIA móc nối với Việt Cộng đã chi ra nhiều triệu đôla để cố gắng lật đổ chính phủ Diệm vào ngày 28/8/1963.

.

Ngày 6/9/1963. Điện văn từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương. Được Đại sứ Lodge cho phép, một viên chức CAS vào sáng ngày 6/9 xin phỏng vấn Ngô Đình Nhu. Nhu hẹn chiều. Buổi nói chuyện dài 2 giờ đồng hồ.

Bộ Trưởng Lương trước đó đã nói với Nhu về chuyện Trần Văn Khiêm. Nhu bảo đảm là không có chuyện đó [danh sách ám sát]. Nhu nói hoặc là Khiêm, hoặc là viên chức sở SEPES (Phòng Nghiên Cứu Chính Trị, tên gọi tổ chức mật vụ cũ của Nhu) muốn hồi phục lại SEPES. Nhu nói, Diệm không cho tái lập SEPES, Diệm cũng dị ứng với Khiêm và không cho Khiêm chức vụ nào hết. Khiêm không có cảnh sát hay mật vụ nào trong tay. Ngắn gọn, Nhu bảo đảm về Khiêm.

Về bài báo ngày 2/9/1963 trên báo Times of Vietnam, Nhu nói không liên hệ gì với bài này và nói Nhu chưa đọc bài đó. Nhu nói Nhu không ẩn nấp sau lưng người đàn bà (ám chỉ sau lưng chủ bút báo này là bà Gregory). Nhu nói Nhu đoán ông bà Gregory có thể lấy tin từ người Mỹ nào đó. Viên chức CAS không nêu câu hỏi về bà Nhu, mà Nhu cũng không nhắc tới.

Nhu nói Nhu tin là có vài người Mỹ (không chỉ danh) sắp xếp để 3 nhà sư vào ẩn trú trong Tòa Đại sứ Mỹ. Khi viên chức CAS nói là hoàn toàn không tin chuyện đó, Nhu nói chuyện 3 nhà sư vào sứ quán có thể là bất ngờ, nhưng tiếp tục nói là chính phủ VN theo dõi dây điện thoại thì thấy có người Mỹ (không chỉ danh) đứng sau chuyện này [chuyện 3 nhà sư tỵ nạn ở sứ quán Mỹ].

Về chuyện thương thuyết với Hà Nội, Nhu nói D’Orlandi (Đại sứ Italy) và Goburdhun (Cao Ủy Ấn Độ) đã yêu cầu Nhu gặp Maneli (Ủy viên ICC người Ba Lan)  để tìm hiểu. Maneli nói rằng Nhu nên lợi dụng các lời tuyên bố của De Gaulle và Hồ Chí Minh để thương thuyết với Hà Nội. Maneli nói được Phạm Văn Đồng mời làm trung gian. Maneli đề nghị Nhu rằng Nam VN có thể bán gạo và bia cho Bắc VN để đổi lấy than đá. Maneli nói với Nhu y là người duy nhất ở Nam VN dám làm móc nối thương thuyết như thế.

Nhu nói Nhu trả lời Maneli rằng, trong khi lời nói De Gaulle đáng quan tâm, nhưng chỉ có người chiến đấu trong cuộc chiến này mới có quyền nói và hàng động. Nam VN là đồng minh với Mỹ và sẽ là "hành vi phi đạo đức" để đơn phương làm như thế sau lưng người Mỹ. Nhu nói Nhu chống chủ trương trung lập hóa, mặc dù viên chức CAS không nêu đề tài này. Nhu nói, tương lai, Nam VN và Mỹ có thể thương thuyết với Bắc VN ở tư thế mạnh. Được hỏi, bao giờ sẽ gỡ thiết quân luật, Nhu nói không biết.

.

Ngày 6/9/1963. NSC họp. NSC quyết định chỉ thị cho Lodge mở lại các cuộc thương thuyết “gay go” với TT Diệm và bắt đầu nói rõ với ông Diệm về lập trường Hoa Kỳ. Bộ Trưởng Tư Pháp Robert Kennedy nêu lên rằng nếu cuộc chiến chống Cộng có thể chiến thắng mà không cần tới ông Diệm và cũng không cần tới một cuộc đảo chánh, thì người Mỹ có lẽ nên xem xét việc Mỹ tách rời khỏi các chuyện này. Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đề nghị có một chuyến đi tìm hiểu sự kiện do Tướng Krulak dẫn phái đoàn, và Bộ Ngoại Giao đề nghị nên có thêm Joseph Mendenhall, một nhà ngoại giao cao cấp có kinh nghiệm về VN. Trong cùng ngày, họ rời Mỹ.

.

Ngày 7/9/1963. Học sinh nhiều trường trung học bãi khóa, biểu tình, xuống đường. Cảnh sát đàn áp, bắt khoảng hai ngàn học sinh tại Sài Gòn. Học sinh một số tỉnh cũng đấu tranh, biểu tình tương tự.

.

Ngày 7/9/1963. Với can thiệp của Vatican và Khâm sứ Tòa thánh tại Sài Gòn, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục rời Việt Nam để tới Rome. 

.

Ngày 8/9/1963. David Bell, Giám đốc cơ quan viện trợ quốc tế của Hoa Kỳ AID (Agency for International Development) trả lời phỏng vấn trên TV, bày tỏ lo ngại rằng Quốc Hội Mỹ có thể cắt viện trợ đối với Nam Việt Nam nếu chính phủ TT Diệm không đổi chính sách đàn áp.

.

Ngày 9/9/1963. Bà Nhu rời Việt Nam để tham dự hội nghị World Parliamentarians Conference tại Belgrade và rồi đi thăm một vòng Châu Âu và có thể sẽ sang thăm Hoa Kỳ.

TT Kennedy trả lời phỏng vấn TV, khánh thành chương trình  NBC Huntley-Brinkley News, nói ông không tin hành động cắt viện trợ có lợi để thành tựu mục tiêu của Hoa Kỳ tại Việt Nam vào lúc này.

.

Ngày 9/9/1963. 5 p.m. Từ Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Tòa Đại sứ tin rằng trong khi yêu cầu chính phủ VN trả tự do cho các nhà sư, không nên nhắc tới sư Trí Quang. Niềm tin mạnh mẽ của Trí Quang trong việc cần gỡ bỏ gia tộc nhà Ngô, có lẽ trừ Diệm, ra khỏi quyền lực sẽ có hại cho nhà sư này, có thể bị giam lâu dài. Cho tới bây giờ, chính phủ VN chưa trả tự do các nhà sư cao cấp, và Trí Quang có thể đang bị nhà Ngô xem là nguy hiểm nhất cho họ. Trong tình hình hiện nay, có lẽ tốt nhất cho Trí Quang là xuất ngoại. Bản thân Trí Quang cũng đã hỏi chuyện xuất ngoại. Nhưng có thể chính phủ VN cũng không muốn cho đi, vì lo ngại rằng sau khi Trí Quang xuất ngoại sẽ vận động dư luận Phật Giáo quốc tế chống lại nhà Ngô.

.

Ngày 9/9/1963. Giữa trưa. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Sau đây là cuộc nói chuyện giữa Rufus Phillips và Thuần vào đêm 7/9/1963.

Thuần mở đầu cuộc nói chuyện, nói Thuần thấy vô dụng. Nhu nói rằng Thuần đã bị người Mỹ mua chuộc, và sẽ giết Thuần nếu Thuần tìm cách từ chức. Tuy nhiên, Thuần nói là muốn từ chức và muốn biết người Mỹ có thể giúp đưa Thuần ra nước ngoài, nếu Thuần quyết định từ chức. Theo Thuần, Nhu đang kiểm soát hoàn toàn cả nước. Nhu là người duy nhất Diệm tin tưởng. Trong các buổi họp, Nhu nói thay cho Diệm, và Diệm đồng ý. Trong vài trường hợp, Diệm chỉ đơn giản lập lại những gì Nhu yêu cầu Diệm nói. Cả Diệm và Nhu đều không thực tế về diễn tiến cuộc chiến, theo ý Thuần. Mỗi người đã hỏi Thuần, rằng Nam VN có thể tồn tại bao lâu nếu không có viện trợ Mỹ. Thuần trả lời, theo Thuần, có thể kéo dài 6 tháng nếu chỉ có viện trợ quân sự, nhưng nếu cắt viện trợ quân sự thì gần như sụp đổ tức khắc.

Khi nói chuyện này, Thuần gợi nhớ rằng trong cuộc nói chuyện gần đây với Đại Tá Lạc (Ủy viên Thường trực, Ủy ban Liên bộ về Ấp Chiến Lược), thì Lạc trả lời câu hỏi này, rằng trong ý Lạc thấy, với chính phủ hiện nay, nếu tiếp tục thì Miền Nam sẽ thua trận vào năm 1965. Lạc nói tiếp rằng, chính phủ VN đang thua cuộc chiến ở vùng Delta (Miền Tây Nam Bộ) hiện nay. Thuần thêm rằng, Thuần hoàn toàn đồng ý với Lạc về điểm này.

Thuần nói, nhiều tướng đã liên lạc với Thuần, hỏi ý về một cuộc đảo chánh. (Thuần không kể tên các tướng.) Thuần từ chối tham gia, không cảm thấy an toàn vì có thể trúng kế cò mồi.

Được hỏi là người Mỹ nên làm gì, Thuần nói nên cắt viện trợ, vì đó sẽ làm cho mọi người nhận ra thực tế. Thuần nhấn mạnh rằng trung thành cá nhân với Diệm là một phần trong tâm thức của nhiều viên chức, nhưng mọi người đều nhìn về người Mỹ để thuận theo.

Được hỏi là Thuần có tin là Nhu chuẩn bị ám sát các Bộ trưởng hay người Mỹ, hay sẽ hòa đàm với Bắc Việt, Thuần nói Thuần không nghĩ là có gì nguy hiểm như thế lúc này, vì Nhu đang hài lòng với tình thế này. Nhưng Thuần thêm, Nhu hoàn toàn có thể làm những chuyện như thế, nếu bị đẩy tới vị thế phải làm, do vậy, theo Thuần, người Mỹ phải sửa soạn cả các trường hợp đó.

Thuần nói, mọi chuyện gần như bế tắc ở các Bộ tại Sài Gòn. Thuần dẫn ra một thí dụ, khi mới đây được Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế Quốc Gia viếng thăm, ông này mang theo một turyện trinh thám. Thuần hỏi, Bộ Trưởng kia mới nói: "Tất cả chúng tôi, hay bất kỳ ai khác, làm việc trong văn phòng là đọc mấy truyện này. Chúng tôi đang chờ đợi."

--- Tòa Đại sứ nhận định. Thuần trước đó đã nói với Trueheart về nỗi lo an toàn cá nhân, nói rằng Thuần nghiêm túc lo vì nằm trong danh sách sẽ ám sát của Trần Văn Khiêm. Thuần nói Thuần tin Khiêm chỉ huy một tổ chức mật vụ thực sự và nói rằng Đại Tá Phước (Tinh Trưởng Vĩnh Long) là nằm trong đơn vị đó. Thuần đặc biệt lo ngại khi D’Orlandi (Đại sứ Italy) ca ngợi Thuần thích nghi cho chức Thủ Tướng, "Ông ta muốn tôi bị ám sát à?"

Thuần nói Nhu đang tìm cách tiêu diệt Thuần. Nhu nói với Diệm rằng Thuần là gián điệp Mỹ, và Thuần cảm thấy thái độ Diệm thay đôi đối với Thuần. Nhu cũng cho Lực Lượng Đặc Biệt rải truyền đơn rằng Thuần và Bộ Trưởng Lương đã lãnh tiền Mỹ hàng trăm ngàn đôla. Thuần nói, Diệm đã kêu Thuần tới cho xem một trong các truyền đơn này. Thuần nói Nhu đã nói với nhiều người rằng Nhu được ủng hộ toàn diện từ Đại sứ Lodge. Chính Thuần có vẻ tin điều này và kể Nhu đã nói trực tiếp với Thuần rằng Đại sứ Lodge muốn Nhu làm cố vấn chính trị cho Đại sứ. Trueheart nhận định chung, rằng Thuần đã tuyệt vọng và chỉ nghĩ tới an nguy cá nhângia đình Thuần.

.

Ngày 9/9/1963. 11 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Ghi về cuộc nói chuyện dài 1 giờ 50 phút với TT Diệm.

Tôi (Lodge) nói với Diệm về phản ứng trên Thượng Viện Hoa Kỳ. (TNS Lausche truyên bố trong Thượng Viện rằng ông đồng ý về quan điểm TT Kennedy "chính phủ Nam VN phải thay đổi chính sách và có thể phải thay đổi nhân sự." Còn TNS Church nói, theo bản tin CBS ngày 8/9/1963, rằng "nếu chính phủ Diệm không cải tổ triệt để, ông có thể phải cắt toàn bộ viện trợ Mỹ đối với Nam VN.)

Tôi nói với Diệm rằng dư luận không hài lòng trong khi người Mỹ chết tại VN và viện trợ Mỹ dùng để đàn áp nhân quyền. Tôi nói với Diệm rằng có thể khuyên Nhu nên đi xa một chuyến, ít nhất cho tới cuối tháng 12, sau khi các quyết định chuẩn chi viện trợ được Quốc Hội Mỹ bỏ phiếu xong. Diệm bênh vực Nhu.

Tôi nêu đề nghị xóa bỏ kiểm duyệt báo chí. Diệm nói các nhà báo đang tự kiểm duyệt, và không có chuyện chính phủ kiểm duyệt trước. Thế rồi, hễ tôi nói chuyện Nhu nên ra đi hay chuyện gỡ bỏ kiểm duyệt báo chí, Diệm lại lảng sang chuyện khác. Diệm nói Diệm bực mình vì ông bà Trần Văn Chương vẫn còn ở trong tòa nhà sứ quán VN ở thủ đô DC. Diệm lại vu khống về tình hình đạo đức ở các chùa và các nhà sư... Tiếp theo Diệm chụp mũ các sinh viên biểu tình là cộng sản...

Tôi đọc cho Diệm nghe một đoạn bản tin AP, ghi lời Giám Mục Ngô Đình Thục nói rằng Mỹ đã xài 20 triệu đôla để tìm cách thay thế Diệm. Diệm nói Thục lẽ ra không nên nói như thế, nhưng Diệm thắc mắc không biết sự thật có phải như thế không. "Tôi sẽ nói với ông ta [Thục] về chuyện đó. Rồi tôi đọc một đoạn bản tin Reuters dẫn lời Giám Mục Thục nói rằng các nhà sư không phải tự thiêu mà đó là hồ sơ sát nhân, và các sư bị giết bằng búa. Diệm im lặng.

.

Ngày 9/9/1963. 8 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Nội dung: Mendenhall báo cáo về Hilsman. Ghi lại những quan sát và nói chuyện về Sài Gòn và một số tỉnh, sau khi tôi (Mendenhall) đi nhiều tỉnh ven biển Miền Trung VN nơi vấn đề Phật Giáo căng thẳng nhất.

Tôi (Mendenhall) kinh ngạc nhìn thấy sợ hãi bao trùm Sài Gòn, Huế, và Đà Nẵng. Các nơi này đang sống dưới chế độ khủng bố. Tôi được nghe Khoa Trưởng Đại Học Luật là Vũ Quốc Thúc nói trực tiếp với tôi là một lần nữa, hôm nay, hàng trăm sinh viên mới bị bắt. Hầu hết các gia đình của các viên chức chính phủ (cả dân sự và quân sự) trong các thành phố cảm thấy bàn tay đàn áp của chính phủ đè nặng lên các con của họ. Ngày càng thêm nhiều sinh viên nói về chuyện Việt Cộng có thể là một giải pháp khác thay cho chính phủ Diệm hiện nay (Tôi được nghe như thế, ở cả Sài Gòn và Huế).

Liên hệ của người Mỹ, cả viên chức và xã hội, với người Việt đã co cụm nhiều tại các thành phố kể từ ngày 20/8/1963 bởi vì người Việt lo sợ bị nhìn thấy nói chuyện với người Mỹ. Chính tôi trực tiếp kinh nghiệm sự bí mật đó, mà thái đội này có vẻ cần thiết để nói chuyện với người Việt trong bầu không khí của nhà nước cảnh sát hiện nay. Khi viếng thăm Huế và Đà Nẵng, tôi nhận thấy như sau về 4 tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam và Quảng Tín dựa vào các cuộc nói chuyện với các viên chức Lãnh sự quán, MAAG, USOM, USIS, [xóa đen vài chữ]: Quân đội cho thấy hình ảnh hỗn hợp. Các tư lệnh cao cấp đều là người trung thành với Diệm, người lộ ý kiến khác bị thay thế (như, Tướng Nghiêm không đồng ý về chính sách đàn áp Phật Giáo, bị thay bằng Tướng Trí, người ủng hộ chính sách đó). Bất mãn lộ ra nhiều nơi thấy rõ. Trong guồng máy hành chánh, các tỉnh trưởng vẫn trung thành và nếu có ai bị nghi ngờ thì thay thế ngay (như mới đây ở tỉnh Thừa Thiên). Các quan chức dân sự ở Huế và Đà Nẵng lộ rõ bất mãn.

Tình hình chiên sự có vẻ đi xuống ở các tỉnh này. Quảng Tín có tháng tệ hại nhất là tháng 8, tính kể từ tháng 11/1962. Nơi tỉnh Quảng Nam, nhiều sự kiện mới đây cho thấy VC đã bị đẩy ra khỏi các vùng ven biển bây giờ đang kéo trở lại. Không rõ có phải vì dân chúng bất mãnyếu tố dẫn tới các diễn tiến này, nhưng tại hai tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên, bất mãn về vấn đề Phật Giáo đã lan xuống tận các làng xã, và tại Huế bây giờ có báo cáo rằng dân làng nói rằng họ có thể sẽ dung dưỡng Việt Cộng cũng như với lính chính phủ VN.

Các biện pháp "hòa giải" của chính phủ VN không có hiệu quả gì. Tôi được nghe kể rằng, dù vừa mới trả tự do, vài người đã bị bắt, đợt thứ nhì bắt bớ lai xảy ra và một số người vừa được thả lại bị bắt lại trong đợt bố ráp thứ nhì. Các chùa và các trường học được chính thức nói là mở cửa lại, nhưng nhiều trường hợp vẫn chưa. Tôi cũng ghé thăm Nha Trang và nói chuyện với các sĩ quan quân đội Hoa Kỳ, những người này nói từ vị trí ở xa khối dân sự nhận thấy không có vấn đề Phật Giáo gì. Tôi không gặp được (xóa đen vài chữ) nhưng được thông báo tại Sài Gòn rằng ông này đã báo cáo rằng những người trong khu vực đó rất là giận dữ nhưng giữ im lặng vì sợ bị trả thù trong bầu không khí khủng bố này.

.

Ngày 10/9/1963. Bản báo cáo của Krulak (Phụ Tá Đặc Biệt về Chống Nổi Dậy và Hoạt Động Đặc Biệt của Tham Mưu Trưởng Liên Quân). Chuyến đi tìm hiểu tình hình Việt Nam. Thăm 4 vùng chiến thuật, các binh chủng Hải Lục Không Quân, nói với 87 viên chức trong hệ thống cố vấn Hoa Kỳ từ cấp cao tới cấp thấp. Hầu hết cuộc nói chuyện là nói với cá nhân, trong không khí đời thường, hoặc tại bản doanh hoặc trong khi họ công tác ở ngoài. Đôi khi, để tiết kiệm thời giờ, nhiều cố vấn được mời lại một nơi để tôi (Krulak) phỏng vấn. Các cuộc thảo luận cũng tổ chức với Đại sứ, Tướng Harkins và các viên chức phụ tá của Tướng này, cũng như với 22 sĩ quan người Việt. Sau đây là tóm lược nhận định.

Các trận giao chiến vẫn tiếp diễn, nhưng tình hình tốt. Có bị ảnh hưởng bất lợi từ khủng hoảng chánh trị, nhưng không nhiều. Còn cần nhiều nỗ lực chiến tranh, đặc biệt ở vùng Miền Tây, nơi VC vẫn còn mạnh mẽ. Sĩ quan người Việt các cấp đều biết có tình hình Phật Giáo, nhưng hầu hết xem đó là chuyện riêng biệt và không để dị biêt tôn giáo gây tác động nội bộ quân đội. Các cấp chỉ huy quân sự người Việt đều có kỷ luật, tuân lệnh, thực hiện nhiệm vụ. Quan hệ quân sư Mỹ-Việt không bị thiệt hại vì khủng hoảng chánh trị, trong bất kỳ mức độ quan trọng nào. Có một số bất mãn, trong giới sĩ quan người Việt, với chính phủ hiện nay, nhưng tập trung vào Ngô Đình Nhu thay vì Tổng Thống Diệm. Họ sẽ vui mừng nếu Nhu ra đi, nhưng rất ít người dám nói chuyện này. Nếu không có các yếu tố chính trị và quân sự nghiêm trọng bên ngoài tác động, Việt Cộng sẽ thất trận nếu các chương trình quân sự và xã hội của Hoa Kỳ hiện nay duy trì, bất kể các khuyết điểm tệ hại của chế độ hiện nay.

.

Ngày 10/9/1963. Bản ghi nhớ từ Mecklin (Cố Vấn về Công Vụ của Tòa Đại Sứ Mỹ tại VN) gửi Murrow (Giám Đốc Sở Thông Tin Hoa Kỳ). Nội dung: Chính sách về VN. Sau đây là sáu nhận định, tất cả đều sẽ gây tranh cãi.

--- VN cần phải có một chính phủ mới. Có nhiều chứng cớ cho thấy cuộc chiến chống Cộng sẽ thảm bại với chế độ hiện nay, đặc biệt là lòng dân không ủng hộ nữa vì khủng hoảng Phật Giáo. Dư luận tại Hoa Kỳ và trên trường quốc tế gây trở ngại cho cuộc chiến.

--- Quyền lực thực sự phải đến từ một người mới. Bất mãn hiện nay tập trung vào ông bà Nhu. Thực sự, hai ông bà Nhu chỉ là hậu quả yếu kém của chính phủ. Thất bại thực sự trong nhiều năm chính là Diệm, chính ông Diệm không tìm được ủng hộ từ dân VN. Diệm luôn luôn kiểm soát căn bản quyền lực. Có thể đoán rằng ngay cả khi gỡ bỏ Nhu ra khỏi chính phủ xong, cũng sẽ đẩy Diệm vào sâu hơn trong trạng thái cô lập đầy ngờ vực và sẽ kém hiệu quả hơn bao giờ hết. Diệm chỉ nên là một khuôn mặt lãnh đạo hình thức để ổn định thôi.

--- Xác suất rủi ro đối với việc lật đổ gia tộc Ngô Đình mà không đổ máu nhiều. Chế độ nhiều năm đã xây dựng các lực lượng trung thành và bây giờ tập trung quanh Sài Gòn. Để ngăn ngừa trường hợp bế tắc lâu dài, và cũng là không để cho VC tìm được lợi thế, chỉ có một hướng bảo đảm: quyết định trước, nếu cần, sử dụng tới quân tác chiến Mỹ.

--- Quyết tâm lớn của Hoa Kỳ. Nghĩa là, nếu cần, sử dụng quân tác chiến Mỹ, vừa giúp lật đổ chế độ hiện nay và chống lại VC, vừa bày tỏ ý chí chấp nhận tham chiến ở tầm mức như Cuộc Chiến Đại Hàn nếu VC quyết định leo thang. Bởi vì, nếu CS chiếm được VN, sẽ là thảm họa dây chuyền cho Đông Nam Á, khu vưc chiến lược cho an ninh Hoa Kỳ. Phản ứng mạnh của Mỹ nơi đây sẽ củng cố cuộc chiến chống Cộng khắp Châu Á và các vùng kém phát triển khác. Đó cũng sẽ là thảm bại lớn của thử nghiệm Trung Quốc tại VN về ý thức hệ chiến tranh của họ.

--- Quân lực Mỹ có thể dùng chống quân du kích CS Châu Á và chiến thắng. (Cũng sẽ trả giá cao, nếu không tránh được, chúng ta phải chấp nhận rủi ro.) Cái có thể gọi là hội chứng người Pháp là hoàn toàn ngụy biện. Người Pháp thất trận tại Đông Dương vì họ xử thế như là thực dân, không tìm cách thu phục lòng dân và không bao giờ có nỗ lực quân sự thích nghi trong bất cứ trường hợp nào. Quân Mỹ tại VN sẽ làm trái ngược lại, sẽ giúp người dân VN. Điển hình như kinh nghiệm ở Nam Hàn.

--- Mỹ phải chấp nhận rủi ro trong việc bí mật tổ chức đảo chánh, nếu cần. Chứng cớ cho thấy có dao động lớn trong giới sĩ quan VN để chấp nhận nguy hiểm trong việc dàn dựng đảo chánh. Do vậy, có thể việc lật đổ nhà Ngô sẽ không tự động xảy ra sau các biện pháp của Mỹ, thí dụ, ngừng viện trợ, với kết quả là gần như hỗn loạn. Cũng có thể chủ yếu rằng chế độ kế tiếp sẽ sẵn lòng hợp tác với Mỹ, bao gồm cả việc hợp tác với quân tác chiến Mỹ nếu cuộc chiến chỉ có thể được thắng với không lựa chọn khác.

Tình hình tại VN đã suy sụp tới mức tệ hại, tới mức Hoa Kỳ sẽ bị lôi kéo vào để đánh bạc bằng ý chí tột cùng trong việc sử dụng quân tác chiến. Ngay cả nếu lật đổ nhà Ngô xong, vẫn có nguy hiểm rằng chế độ kế tiếp sẽ chỉ tương đương hay kém hơn chế độ cũ trong cuộc chiến chống VC. Cũng có nguy hiểm là, quân lực VN lúc đó sẽ chia rẽ, thành các mảng đối nghịch nhau, với hậu quả tai hại. Một cách lý tưởng là, toàn bộ gia đình nhà Ngô phải ra đi, nhưng nên giữ Ngô Đình Diệm trong vị trí nguyên thủ hình thức. Cốt tủy là, ông bà Nhu phải rời VN vĩnh viễn.

.

Ngày 10/9/1963. NSC họp. Krulak và Mendenhall từ Việt Nam trở về Mỹ sau chuyến đi 4 ngày sóng gió và làm bản phúc trình lên NSC. Cùng với hai người là John Mecklin, Giám đốc cơ quan USIS tại Sài Gòn, và Rufus Phillips, Giám đốc Chương trình Nông thôn của USOM. Bản phúc trình của Krulak nhấn mạnh rằng cuộc chiến chống Cộng đang trên đà chiến thắng, và trong khi có một số bất mãn từ giới quân nhân đối với TT Diệm, không ai dám liều mạng ra đảo chánh TT Diệm. Tiếp tục chính sách hiện nay dưới quyền TT Diệm sẽ dẫn tới chiến thắng. Mendenhall đưa ra một cái nhìn hoàn toàn trái ngược về tình thế: sẽ có thể sụp đổ chính quyền dân sự và một cuộc nội chiến vì tôn giáo có thể xảy ra nếu còn TT Diệm. Nếu còn TT Diệm, cuộc chiến không thể dẫn tới chiến thắng. Phillips và Mecklin ủng hộ quan điểm của Mendenhall với nhiều mức độ. Rufus Phillips nêu hình ảnh bi quan, rằng cuộc chiến đang thảm bại, tệ hại nhất là ở Miền Tây; như ở tỉnh Long An, 60% ấp chiến lược đã bị VC tấn công, kiểm soát. Nhưng Nolting đồng ý với Krulak. Ý kiến dị biệt đã làm cho TT Kennedy phải hỏi 2 đặc sứ, “Hai ông đã tới thăm cùng một quốc gia, có phải không?”

.

Ngày 11/9/1963. Điện văn Tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, số 478. Lodge gợi ý về một nghiên cứu toàn diện về một hình thức ngưng viện trợ kinh tế để có thể dùng lật đổ chính phủ TT Diệm. Bạch Ốc họp, quyết định hoãn tái cấp viện trợ kinh tế trong khi xem xét toàn bộ về cách nào có thể áp lực TT Diệm thay đổi chính sách đàn áp Phật Giáo. Trả lời câu hỏi của TT Kennedy rằng có phải tình hình VN đang suy sụp và có phải đã suy sụp nghiêm trọng, McCone (Giám Đốc Sở Tình Báo CIA) đáp rằng trong ba tháng tới, tình hình có thể gọi là suy sụp nghiêm trọng. Trong ngày 11/9/1963, Bà Nhu tuyên bố trong hội nghị Interparliamentary Union tại Belgrade rằng, "TT Kennedy là một chính khách, và khi ông nghe dư luận ồn ào nói về một hướng nào đó, ông cố gắng làm dịu lại cách nào đó. Nếu ý kiến đó là thông tin sai, giải pháp không phải là chiều theo dư luận, nhưng giải pháp nên là có đủ thông tin." Trong khi đó, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục rời Rome hôm nay, để sẽ tới Hoa Kỳ. Mục đích TGM Thục tới Mỹ là để sắp xếp chuyến đi của bà Nhu sẽ thăm Mỹ. Hilsman nêu ý kiến, có thể sẽ để báo chí phỏng vấn nhà sư Thích Trí Quang để dư luận thấy rằng chính phủ VN chưa đáp ứng các nguyện vọng đã cam kết với PG, và để cho Diệm-Nhu thấy rằng Mỹ có thể xem xét nhà sư Trí Quang như một giải pháp chánh trị. Bản ghi nhớ từ  Thomas L. Hughes (Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Tình Báo) gửi Ngoại Trưởng Mỹ, nói rằng có nhiều tin cho biết Nhu tăng tốc thương thuyết bí mật với Hà Nội, có thể có hay không có trung gian của Pháp, về tương lai Nam VN.

.

Ngày 12/9/1963. Với Bạch Ốc ưng thuận, Thượng nghị sĩ Frank Church đưa ra Thượng Viện một Nghị quyết lên án chính phủ Nam Việt Nam vì đã đàn áp người Phật Tử, và kêu gọi kết thúc viện trợ Mỹ trừ phi TT Diệm ngưng đàn áp. Tướng Harkins (Tư Lệnh Quân Viện Hoa Kỳ tại VN -- MACV) trong điện văn gửi Tướng Krulak (Phụ Tá Đặc Biệt của Tham Mưu Trưởng Liên Quân về Chống Nổi LoạnHoạt Động Đặc Biệt) nêu nghi ngờ nhà sư Trí Quang (đang tỵ nạn trong sứ quán Mỹ) có thể là Việt Cộng, vì tự nhận là có tư tưởng chống Diệm trước cả ngày 8/5/1963 (ngày xảy ra sự kiện quân chính phủ bắn vào Phật Tử ở Đài phát thanh Huế), cũng như nghi ngờ các cuộc biểu tình của Phật Tử và sinh viên có bàn tay VC hỗ trợ. McCone (Giám Đốc CIA) nói CIA không có bao nhiêu thông tin cụ thể về ý kiến của Tướng Harkins là VC đã trà trộn vào Phật Tử và sinh viên.

.

Ngày 13/9/1963. Đại sứ Lodge gửi điện văn về Ngoại Trưởng, bày tỏ lo ngại rằng Nhu trong khi thương thuyết với Hà Nội sẽ tới lúc yêu cầu người Mỹ rút ra khỏi VN, hay là phải giảm nhiều sự có mặt. Người Mỹ không thể rời bỏ cuộc chiến chống Cộng, nhưng lúc đó trả lời sẽ không đơn giản. Bản ghi nhớ về cuộc nói chuyện điện thoại giữa Harriman (Thứ Trưởng Ngoại Giao) với McCone (Giám Đốc CIA) ghi lời McCone lo ngại về các bản tin cho biết Nhu đang thương thuyết mật với Hà Nội. Cùng ngày, Lodge gửi mật thư tới Ngoại Trưởng Rusk, Lodge nói chính tay Lodge đánh máy để không ai khác biết về lá thư, trong đó Lodge xin Ngoại Trưởng trực tiếp gặp TT Kennedy gửi Tướng Lansdale tới Sài Gòn để chỉ huy Phòng CAS Sài Gòn (tức là: CIA Sài Gòn), thay cho đương nhiệm là John Richardson, tuy rằng Richardson nhiệt tình và xuất sắc. Lý do, theo Lodge, nhiều người VN nghĩ rằng Richardson ủng hộ ông Diệm vì tình thân nhiều năm, nên làm nhiều người Việt e dè. Tuy nhiên, McCone từ chối ý kiến đưa Lansdale sang.

Bản ghi nhớ trong ngày của McCone ghi rằng Đại sứ Lodge và Đại biện Trueheart tin cuộc chiến không thể thắng với chế độ Diệm; Mỹ cắt giảm viện trợ sẽ có phản ứng bất thường từ Diệm-Nhu; Đại sứ Lodge đang suy tính một cuộc đảo chánh xuyên qua Tướng Đôn với MACV; Đại sứ cảm thấy rằng nếu kế hoạch đó thất bại, Mỹ sẽ bị Diệm-Nhu mời ra khỏi Nam VN. Kế hoạch đảo chánh ban đầu của các tướng đã hủy bỏ vì bị lộ cho Nhu biết, làm cho Mỹ ở vào một vị trí suy yếu. Hiện thời Tướng Đính ủng hộ Nhu, và bản doanh tướng này đầy các gián điệp của Nhu. Do vậy, Mỹ bây giờ thiếu phương tiện để khởi động một cú đảo chánh khác. Những người ủng hộ kế hoạch cắt toàn bộ viện trợ cảm thấy như thế sẽ dẫn tới một cuộc đảo chánh chế độ Diệm-Nhu, nhưng tình hình thực tế là Nhu đã thiết lập một hệ thống kiểm soát quân đội hiệu quả để theo dõingăn cản các tướng hành động.

.

Ngày 14/9/1963. Điện văn Bộ Ngoại Giao số 411. Thông báo cho Lodge biết sẽ hoãn chương trình nhập cảng thương mại trị giá 18.5 triệu đôla cho tới khi có quyết định về chính sách căn bản đối với Việt Nam. Murrow (Giám Đốc Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, USIA) gửi bản ghi nhớ tới Bundy (Phụ Tá Đặc Biệt về An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống), về phản ứng thế giới về tình hình VN. Một số quốc gia bày tỏ lân mẫn đối với hoàn cảnh bế tắc của Mỹ tại VN, đặc biệt tại Tây Âu, và gần như  không chính phủ nào bênh vực chế độ Diệm, chỉ trừ Nam Hàn và Philippines xem Diệm như lãnh tụ chống Cộng cần thiết. Các giáo hội Phật Giáo tại Thái Lan, Miến Điện và Cam Bốt tiếp tục phản đối chính phủ Diệm về cách đối xử với PGVN. Đại sứ Lodge gửi điện văn về Bộ Ngoại Giao Mỹ, nói rằng TT Diệm cho biết bà Nhu nói sẽ tổ chức một buổi họp báo ở New York để làm sáng tỏ vấn đề và Diệm đã đồng ý. Lodge trả lời Diệm rằng chuyện đó sẽ có dư luận xấu tại Mỹ. Lodge viết cho BNG Mỹ rằng cả Diệm và Nhu đều chấp thuận ngôn phong của bà Nhu, và đó là điều sai căn bản trong gia đình nhà Ngô, vì họ ưa thích lớn tiếng dùng binh khí miệng lưỡi, và như thế lại không đem dư luận tốt tới, trong khi lẽ ra nên tập trung vào cuộc chiến chống Cộng, nơi sẽ mang dư luận tốt cho họ; họ như dường không bận tâm những gì người khác có thể suy nghĩ, nhưng chỉ đơn giản quan tâm chuyện bày tỏ cảm xúc của họ và tự hào riêng của họ. Họ không thực sự là chính khách.

.

Ngày 15/9/1963. Bản ghi nhớ từ Hughes (Giám Đốc Phòng Nghiên Cứu và Tình Báo) gửi Bộ Ngoại Giao. Nội dung: Vấn đề Ngô Đình Nhu.

Nhu đóng một vai chính trong cuộc chiến chống VC, là lực năng động trong chương trình ấp chiến lược, ảnh hưởng các khái niệm quân sự VN từ quy ước chiến tới chống du kích, đã thành lập các đoàn thể gây ý thức chính trị. Tuy nhiên, kể từ ngày 8/5/1963, Nhu trở thành bạo lực đàn áp chủ lực trong khủng hoảng Phât Giáo, và là nguyên nhân khủng hoảng công quyền. Bây giờ Nhu đã trở thành chướng ngại lớn đối với bất kỳ giải pháp nào chân thực để kết thúc khủng hoảng này.

Nhu là sức mạnh khống chế Diệm. Nhu đã bôi nhọ, vô hiệu hóa, hay gỡ bỏ nhiều cố vấn trung thànhtài năng của Diệm. Nguyễn Đình Thuần, Bộ Trưởng Bộ Tổng Thống, nói rằng Nhu là người duy nhất Diệm tin cậy. Võ Văn Hải, Chánh Văn Phòng của TT Diệm và là thẩm quyền tin cậy nhất bên trong Tổng Thống Phủ, đồng ý với Thuận rằng Nhu nói thay Diệm trong các buổi họp, viết các thư cho Diệm trả lời các báo chí phỏng vấn, và biến Diệm thành tiếng vang của chính các quan điểm của Nhu. Do vậy, Diệm tin lời Nhu quy chụp rằng vấn đề Phật Giáo căn bản là do Việt Cộng tạo ra. Điều này làm Diệm xuống cấp trong mắt người trung thành. Vũ Văn Mẫu, cựu Bộ Trưởng Ngoai Giao, và Tướng Lê Văn Kim, Phụ Tá Quyền Bộ Trưởng Quốc Phòng, nói Nhu bây giờ là sức mạnh khống chế ở Nam VN. Theo các viên chức cao cấp nhất của chính phủ VN và các quan chức khác ở cấp tỉnh, huyện, quyền lực thực sự ở Nhu, chớ không phải Diệm. Một đánh giá khác cho thấy Diệm không sẵn sàng rời bỏ Nhu, trong khi vài nhóm khác nghĩ rằng Diệm không thể cai trị nếu không có Nhu.

Sức mạnh độc lập của Nhu: Mật Vụ và Lực Lượng Đặc Biệt. Nhu có nguồn sức mạnh độc lập. Nhu chỉ huy mật vụ và Đảng Cần Lao, một tổ chức chính trị nửa bí mật. Nhu gài mật báo viên khắp hệ thống công quyền, quân đội và các nhóm phi chính phủ chính yếu. Hệ thống theo dõi của Nhu gây nên nỗi sợ và căm ghét khắp các tổ chức này.  Nhu kiểm soát Lực Lượng Đặc Biệt cùng với Mật Vụ, những người này là tác nhân bố ráp các chùa, bắt các nhà sư, sinh viên, và các nhà đối lập, va bịa đặt ra chứng cớ để chứng minhâm mưu Cộng sản phía sau các tổ chức đối lập. Những hành động như thế đã làm bùng nổ căng thẳng, tới điểm gần như nỏi loạn.

Nhu có tâm thù ghét người Mỹ. Và bộc lộ cảm xúc chống Mỹ ở cả nơi riêng tư và công lập. Nhu từng tố cáo Mỹ âm mưu với "bọn thực dân" và "phong kiến" để biến VN thành vệ tinh. Nhu đã phổ biến các bản tin trong đó ghi cụ thể một số viên chức Mỹ sẽ bị đánh dấumục tiêu ám sát. Nhu thường xuyên nói phải giảm bớt người Mỹ ở VN vì đó là đe dọa độc lập của VN. Nhu lập đi lập lại những lời nói dối với Đại sứ Mỹ và Trưởng phòng  CAS về vai trò của Nhu trong các sự kiện kể từ ngày 8/5/1963. Điều đó làm trở ngại cho chúng ta ở Nam VN. Đại Tá Lạc, phụ trách chương trình ấp chiến lược, nói rằng bước tiến đã chậm lại trong 3 tháng qua, vì thái độ chống Mỹ trong "vài phần tử" ở Sài Gòn.

Nhu liên hệ với Bắc Việt. Nhu nói riêng tư rằng nếu Mỹ cắt viện trợ, Nhu sẽ tìm nơi khác giúp. Nếu không tìm được, Nhu nói Nhu sẽ thương thuyết với Hà Nội. Nhu thuyết phục các nhà quan sát VN và quốc tế rằng viễn ảnh đó khả thi. Các bản báo cáo cho biết Nhu đã thực sự liên lạc với Hà Nội, và nhiều người biết, cho nên tình hình này làm xuống tinh thần trong quân đội VNCH và giới công chức Nam VN. Nhu tin là Nhu dàn dựng được lợi thế, cho dù là xuyên qua tác chiến chống Cộng hay là thương thuyết với VC. Lòng tự cao của Nhu dẫn tới lời tự khoe rằng chỉ có Nhu mới cứu được VN. Cả Nguyễn Đình Thuần và Võ Văn Hải xác nhận rằng Nhu hút nha phiến trong 2 năm qua, cho thấy ít nhất một phần giải thích của lòng tự tin quá độ và sự hoang tưởng về quyền lực.

Người Việt chống lại Nhu. Theo Tướng Harkins, cả trong cảm xúcthực tế tại Nam VN đã làm phân cực chống lại ông bà Nhu. Harkins tin rằng Nam VN sẽ "sống còn và phát triển mạnh" nếu ông bà Nhu ra đi và Diệm vẫn giữ chức Tổng Thống. Chúng tôi cũng đồng thuận với nhận định của Tướng Harkins về ông bà Nhu.

Tướng Krulak nói rằng Nhu ra đi sẽ làm các sĩ quan vui mừng. Krulak nghe từ vị Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù VN là ghét Nhu vô cùng. Đại Tá Lạc nói rằng Nhu sẽ không tồn tại nổi 24 giờ nếu Mỹ nói rõ là Mỹ không dung dưỡng tình thế này. Trần Quốc Bửu, lãnh tụ công đoàn lớn nhất VN, nói các đoàn viên của ông tin là Nhu phải ra đi. Bửu sợ là nếu Nhu chiến thắng từ khủng hoảng hiện nay, tình thế sẽ bi thảm hơn và rồi CS sẽ chiếm trọn VN. Võ Văn Hải tin là Diệm không thể lấy lại niềm tin từ người dân khi Nhu còn quyền lực.

Chúng tôi đồng ý với bản đánh giá tình hình rằng (1) Nhu bị ghét, bị căm thù, bị sợ hãi, bị bất tín trong mọi lĩnh vực công quyền, quân đội và giới trí thức thành thị; và (2) cảm xúc chống Nhu lan rộng và kéo dài bây giờ đã dày đặc căng thẳng, và hiển lộ qua các biện pháp đàn áp của chế độ. Chúng tôi cũng đồng ý với đánh giá của MACV rằng nhiều sĩ quan quân đội cao cấp tin rằng Nhu có thể thương lượng với Hà Nội và "đại đa số quân đội không thể chấp nhận Nhu như là lãnh đạo của Nam VN trong bất kỳ tình hình nào”.

.

Ngày 16/9/1963. Kết thúc thiết quân luật khắp VN. Mỹ đang tốn trung bình từ 1 triệu rưỡi đôla/ngày tại VN. Các viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ hài lòng vì bài báo của Joseph Alsop trên báo Washington Post  số hôm nay (16/9/1963), kể về diễn tiến tốt đẹp của cuộc chiến chống Cộng tại ấp chiến lược Bình Thạnh, gần Bình Đại, tỉnh Kiến Hòa. Bài báo cũng cho thấy tính đa dạng chiến tranh tại Việt Nam, có thể nhìn ra 7 hay 8 cuộc chiến dị biệt lồng vào nhau, tùy theo địa phương, tùy theo ai kể, và tùy theo thời điểm cuộc chiến. Trong khi đó, bài báo của phóng viên David Halberstam trên báo The New York Times, ấn bản ngày 16/9/1963, ghi nhận về bất đồng căn bản giữa Mỹ và Việt Nam về chương trình ấp chiến lược ở bán đảo Cà Mau, và ở mức độ nhẹ hơn là tại vùng Đồng Bằng Sông Mekong. Bài báo “Rift With Saigon on War Tactics Underlined by 2 Red Attacks” ghi rằng các viên chức Mỹ tại VN ngày càng quan ngại vì sự mong manh của các ấp chiến lược cô lập trong các khu vực từ lâu đã nằm dưới quyền kiểm  soát của Việt Cộng, và họ kêu gọi ngừng tức khắc các công trình xây dựng thêm các ấp chiến lược nơi đó. Halberstam ghi rằng các quan chức VN chống lại áp lực Mỹ và muốn tiếp tục xây dựng các ấp chiến lược cỡ nhỏ. TT Kennedy gửi bản ghi nhớ cho Robert McNamara với câu hỏi hôm 16/9: "Bản tin báo N.Y.T. có chính xác mức độ nào không? Có sự chia rẽ giữa các viên chức quân sự Mỹ, Việt về ấp chiến lược trong khu vực này phải không?"

.

Ngày 16/9/1963. 11 a.m. Bản ghi nhớ về một buổi họp ở Bộ Ngoại Giao Mỹ. Người viết bản ghi nhớ là: Tướng V.H. Krulak (USMC). Tham dự: Rusk, McNamara, Dillon, Ball, Gilpatric, Tướng Taylor, Bundy, McCone, Harriman, Bell, Forrestal, Hilsman, Colby, Janow, Manning, Sheldon, Smith, Tướng Krulak.

Ngoại Trưởng Rusk hỏi là đã có suy nghĩ gì về chuyện nên thảo luận với chính phủ VN về khả thể đưa nhà sư Trí Quang ra ngoài VN, thay vì trả tự do để tiếp tục bị xem là phiền nhiễu tại VN. Hilsman nói, theo ông biết là chưa nghĩ tới, nhưng ông sẽ gợi ý Đại sứ Lodge chuyện đó.

Rusk hỏi, có cơ sở nào về nỗi lo sinh viên có thể sẽ theo Việt Cộng. McCone nói 2 người này có thể trả lời -- Sheldon (từ bản doanh CIA) và Smith (từ Phòng CIA tại Saigon) vừa từ Sài Gòn về Mỹ sáng nay.

McCone hỏi: hai ông có tin rằng sinh viên bất mãn đang theo Việt Cộng? Trả lời: Có 3 trường tại Sài Gòn có lẽ đã bị Việt Cộng trà trộn, con số có lẽ không hơn 30 sinh viên đã theo VC.

McCone hỏi: còn giam bao nhiêu sinh viên? Trả lời: Chưa tới 200 sinh viên còn bị giam; 100 còn trong tù, 100 bị giam trong các đơn vị vũ trang. Bắt sinh viên tại các trường là rộng khắp, hầu hết là thả sớm.

Rusk hỏi: Nhu đang làm gì, trong khi tạo dư luận rằng Nhu được Mỹ hậu thuẫn trọn vẹn? Trả lời: Nhu đi diễn thuyết, nói như thế với LLĐB, Đảng Cần Lao, Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa, Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới.

Rusk hỏi: Có nghe phía người Việt nói gì về đảo chánh? Trả lời: Có. Nhiều viên chức VN tới gặp CIA với ý nghĩ về đảo chánh. Hầu hết là nói, vì chìa khóa là sự trung thành của các đơn vị quân đội, nhưng ít thấy bảo đảm từ lĩnh vực này. Vài người nói về đảo chánh nói đã được các sĩ quan cấp thấp và vài đơn vị ở Sài Gòn hứa ủng hộ, nhưng không cụ thể.

Hilsman hỏi: còn về các bản tin nói Nhu hút thuốc phiện? Trả lời: Tin đồn có từ vài năm nay, nhưng không khả tín.

Rusk hỏi: Nếu chính phủ Diệm hoàn toàn không thay đổi như hiện nay, có thể nào cuộc chiến chống Cộng thành công? Trả lời: Không ai tin như thế, từ quan điểm của Tòa Đại sứ, CIA, USIS hay USOM.

Rusk hỏi: Còn về chuyện Nhu tiếp cận với Bắc Việt? Sheldon trả lời: như một giả thuyết, rằng Nhu rất khôn ngoan, rằng nếu chúng ta vây Nhu và Nhu không còn hy vọng duy trì ảnh hưởng cách nào nữa, Nhu sẽ tìm tới Moscow -- có lẽ xuyên qua Yugoslavia— để đề nghị rằng Liên Xô và Pháp vào thay người Mỹ. Nghĩa là, lính Mỹ sẽ rút khỏi VN và có thể là lính Liên Xô sẽ vào VN. Harriman nhận định: người Nga sẽ không thực sự cần sắp xếp gì đâu, vì chúng ta sẽ tự rút ra khỏi VN trong bất kỳ trường hợp nào, ngay khi Việt Cộng ngưng tấn công Nam VN.

.

Ngày 16/9/1963. 8 p.m. Bản ghi nhớ về cuộc nói chuyện giữa Kattenburg (Giám Đốc Nhóm Làm Việc Về VN) và Bà Trần Văn Chương (mẹ bà Nhu). Bà Chương điện thoại cho tôi (Kattenburg) nhiều lần trong ngày, mời tôi tới thăm nhà mới của bà để thảo luận về một chuyện hệ trọng. Khi tôi tới lúc 8:00pm, tôi thấy bà một mình. Không thấy ông Đại sứ Chương, dù ông gọi tôi buổi sáng về một chuyện liên hệ.

Chính phủ bí mật. Bà Chương nói với tôi rằng "nhiều người Việt của nhiều đảng" đã yêu cầu ông Chương lãnh đạo một chính phủ đoàn kết quốc gia. Khi tôi hỏi cụ thể, bà Chương nhắc đến tên Nguyễn Tôn Hoàn (Đại Việt, Paris), Phạm Huy Cơ (lưu vong, Paris) Bùi Văn Tĩnh (cựu Bộ Trưởng Nọi Vụ và Đại sứ tại Nhật). Bà nói chồng bà không bao giờ muốn dính vào "chính trị lưu vong" nhưng áp lực vào ông bà Chương quá lớn từ nhiều người Việt muốn làm điều gì, nên bà đang xem xét và muốn xin ý kiến tôi "như một người bạn." Tôi nói tôi không có lời khuyên, ngay cả lời khuyên trong tư cách cá nhân, nhưng tôi nghĩ chúng tôi muốn được thông tin về các diễn tiến. Tôi nói tôi nghĩ chính phủ này nên là bí mật. Bà hỏi Hoa Kỳ sẽ hậu thuẫn cho chính phủ như thế không. Tôi không trả lời nhưng nói, tôi nghĩ một chính phủ nổi lên như thế khó được công nhận trong khi chính phủ Diệm còn ở Sài Gòn. Bà nói về một chính phủ bí mật và sự ủng hộ bí mật. Tôi chỉ nói tôi không trả lời được gì, tôi chỉ muốn được thông tin thêm thôi.

Bà Nhu. Tiếp theo, bà Chương nói rằng bà đã nói với cộng đồng người Việt ở New York và thủ đô Washington (những người thường xuyên xin bà lời khuyên và hướng dẫn) rằng khi "vợ ông Nhu" tới, họ nên "lái xe cán bà Nhu" (nguyên văn) và nếu họ không thể làm như thế, họ nên ném trứng và cà chua vào bà Nhu bất cứ khi nào bà Nhu ra trước công chúng. Bà Chương mới đây đã tổ chức một cuộc biểu tình trước Bạch Ốc, với tham dự là người Việt,  và bà có khả năng tổ chức tương tự chống lại "nữ quái" (“monster”, ám chỉ bà Nhu) này.

(Đại sứ Trần Văn Chương đã gọi tôi sớm hôm nay để nhấn mạnh rằng, trong mọi trường hợp, bà Nhu không nên được các quan chức cấp cao Hoa Kỳ tiếp đón. Nếu bà Nhu biết bà sẽ không được tiếp đón, bà nhiều phần sẽ không tới. Lý do bà Nhu tới chủ yếu là để nói với các quan chức cao cấp; báo chí và TV là quan tâm thứ yếu.)

Một điểm nêu ra, dù là gián tiếp, qua bà Chương: Mỹ đang mau chóng mất bạn tại VN và phản ứng quá chậm khi đối phó với tình hình. Chỉ có một giải pháp: gỡ bỏ cả Diệm và Nhu. Hoa Kỳ có trách nhiệm làm như thế, vì chỉ xuyên qua ủng hộ của Mỹ, chính phủ Diệm mới tồn tại. Tất cả người Việt đều ghét họ. Nhu là "một kẻ man rợ" (bà dùng tiếng Pháp: “un barbare”) và Diệm thì bất tài. Mỹ đang chờ đợi gì?

.

Ngày 17/9/1963. NSC họp. Thảo luận về 2 giải pháp trong việc đối phó với TT Diệm. Thứ nhất, sẽ dùng một số áp lực tăng dần để buộc TT Diệm hòa giải với Phật Tử. Thứ nhì, sẽ phải chấp nhận thỏa hiệp, phải công nhận rằng hai ông Diệm và Nhu không thể tách rời, và ra sức cứu vãn càng nhiều càng tốt để ra khỏi tình thế tệ hại. Quyết định buổi họp là chọn giải pháp thứ nhất, và cũng sẽ gửi Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor đi một chuyến tìm hiểu các sự kiện.

.

Ngày 17/9/1963. Bản ghi nhớ của Rufus C. Phillips (Phó Giám Đốc Chiến Dịch Nông Thôn) nhận định: Nhu không có sự trung thành sâu sắc từ người khác, dù là từ hai người thân tín là Đại Tá Tung và Tướng Đính, vì bản chất Nhu tàn bạo, làm người khác sợ mà theo chứ không ai tận trung với Nhu; các tướng chưa đảo chánh vì thiếu quân và chưa có cơ hội; Mỹ không nên biến VN thành chiến trường kiểu Đại Hànquân nhân Mỹ vào tác chiến trực diện với VC sẽ là sai lầm, chỉ nên hậu thuẫn cho một chính phủ VN sẵn sàng chống Cộng.

.

Ngày 17/9/1963. Điện văn từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương, ghi nhận: Tướng Khiêm cho biết, các tướng ngày càng lo ngại vì nhiều chứng cớ cho thấy Nhu thương thuyết với Bắc Việt. Nhu đã nói với một vài tướng (không có Khiêm, nhưng có Tướng Minh, Tướng Nghiêm và vài tướng khác) về cuộc nói chuyện của Nhu với Ủy viên Maneli, rằng Maneli chuyển lời Thủ Tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng muốn giao thương hai miền Nam-Bắc VN. Nhu nói, Maneli nói sẵn sàng bay tới Hà Nội bất kỳ lúc nào theo ý Nhu, và Đại sứ Pháp Lalouette cũng nói sẽ giúp tương tự. Khiêm nói, nhóm âm mưu đảo chánh bây giờ tập trung vào 3 tướng: Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, và Khiêm. Các tướng Kim, Chiểu và tướng khác sẽ được tham khảo khi lên kế hoạch. Khiêm nói, Tướng Đính hành động theo chỉ thị của Nhu, khi Conein được gọi vào phỏng vấn, Đính được lệnh là phải cố ý hăm dọa Conein, lúc đó chỉ tay vào dàn súng trong cuộc phỏng vấn. Người kể lại quên hỏi Khiêm nguồn về tin tướng Đính hăm dọa. Một chuyện khác, Khiêm nói Tướng Đính nói rằng một viên chức Mỹ đề nghị tặng Đính 20 triệu đồng nếu Đính lật đổ chính phủ và rồi Đính đã báo cáo lại với Nhu. Khiêm kết luận, lập lại rằng các tướng không thể đi theo Nhu nếu Nhu thương thuyết với Bắc Việt, hay thậm chí trung lập hóa kiều Lào quốc.

.

Ngày 18/9/1963. 5 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG. Ký tên Lodge. Xin chuyển tới Tổng Thống Kennedy trực tiếp. Nếu Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara và Tướng Taylor (Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ) tới Việt Nam, họ sẽ thăm Tổng Thống Diệm và tôi (Đại sứ Lodge) sẽ đi kèm. Như thế sẽ bị nhìn như cử chỉ chúng ta bỏ qua những chuyện đàn áp Phật Giáo của chính phủ VN kể từ tháng 5/1963, và sẽ dập tắt các nỗ lực thay đổi. Nhà Ngô sẽ tuyên truyền rằng mọi chuyện sáng tỏ rồi, và chỉ nên tiến hành cuộc chiến chống Cộng. Do vậy, Bộ Trưởng và Tướng Taylor nên biết sẽ có phản ứng như thế. Tôi đang giữ chính sách im lặng để buộc nhà Ngô phải có một số nhượng bộ; nhưng tác dụng đó sẽ biến mất khi Bộ Trưởng và Tướng Taylor tới VN.

.

Ngày 18/9/1963. 4:52 p.m. Điện văn từ BNG gửi Tòa Đại sứ Mỹ ở VN. Ký tên Rusk. Từ TT Kennedy gửi Đại sứ Lodge. Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor khi tới Sài Gòn có thể nói rõ với chính phủ VN, rằng chuyến đi là để cùng Đại sứ Lodge xem các cách thực tiễnphương tiện thực hiện chính sách nhằm hậu thuẫn các hoạt động đẩy mạnh cuộc chiến chống Cộng tại VN và tránh hậu thuẫn các hoạt động không làm được như thế. Quan tâm chính của tôi (TT Kennedy) khi gửi phái đoàn này đi là để các cố vấn quân sự cao cấp của tôi có hiểu biết cụ thể tại chỗ của tình thế, vừa có lợi cho nhiệm vụ cố vấn của họ nơi đây, vừa để chính phủ Mỹ trình bày với Quốc Hội về cuộc chiến quan trọng chống CS này.

.

Ngày 19/9/1963. Giữa trưa. Ký tên Lodge. Chỉ để Ngoại Trưởng Rusk đọc. Đêm qua, ăn tối với ông bà Goburdhun (Đại sứ Cộng Hòa Mauritius, và là Chủ tịch ICC tại Việt Nam), Cố vấn Nhu, Ngoại Trưởng Trương Công Cừu, vợ tôi và tôi (Lodge). Nhu nói rất nhiều. Nhu lập đi lập lại rằng Nhu sáng tạo ra ấp chiến lược, rằng mọi người, kể cả người Mỹ, đã nói là Nhu không thể làm được, nhưng Nhu đã làm được. Nhu lập đi lập lại rằng các nhà sư đã bị giết, chứ không hề có tự thiêu. Cừu là người hùa theo, nhưng khi Cừu nói rằng người ta thấy xác Phật Tử với 2 cánh tay duỗi thẳng chứ không phải chắp tay, bà Goburdhun chận lại và nói như thế là không đúng sự thật. Tôi im lặng vì nghĩ là Nhu có chuyện gì khác muốn nói. Sau một chặp, Nhu nói Nhu không thể hiểu vì sao người Mỹ một cách tự nhiên thấy kinh hoàng khi nghĩ rằng họ đang ủng hộ một tình hình tệ hại trong đó các nhà sư Phật Giáo phải tự thiêu. Và Nhu nói Nhu có thể hiểu tại sao Thượng nghị sĩ Church đã viết trong bản nghị quyết (Nghị quyết Thượng Viện Mỹ: nếu chính phủ Nam VN không từ bỏ chính sách đàn áp công dân của họ và có một nỗ lực quyết tâmhiệu quả để tìm lại được hậu thuẫn, thì viện trợ quân sự và kinh tế cho chính phủ VN sẽ không nên tiếp tục).

Tôi nói tôi vui vì Nhu đã hiểu vấn đề, và thêm rằng trong vài ngày qua đã có thêm 4 Thượng nghị sĩ ký tên vào nghị quyết đó, và sẽ không khó để lấy chữ ký tới mức đa số, nghĩa là viện trợ sẽ bị chận lại. Tôi nói, cần phải làm điều gì để giữ viện trợ, và tôi đề nghị Nhu nên đi xa một thời gian, ít nhất là tới tháng 12/1963 để lúc đó dự luật chuẩn chi [viện trợ] đã thông qua. Tôi nói, Tổng Thống Diệm nên làm một cử chỉ có vẻ biểu tượng với Phật Tử, nghĩa là điều gì cụ thể rồi để chụp tấm hình [hòa giải với các sư]. Nhu nói, Nhu sẵn lòng làm mọi thứ, nhưng nếu Nhu đi xa, Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa sẽ xuống tinh thần. Khi ra về, tôi nói nhiều lần, tôi hy vọng ông sớm liên lạc lại. Tôi thực sự không tin lời nói của Nhu. Nhu có khuôn mặt đẹp trai, thông minh, nhưng tàn bạo. Nhu bây giờ như là một linh hồn đã mất, một người như bị ma ám và bị rơi vào vòng tròn bất nhân. Nhu đã bị các vị thần Furies theo ám (LND: Lodge dùng hình ảnh thần thoại Hy Lạp, trong đó Furies là các hung thần.)

.

Ngày 19/9/1963. 4 p.m.Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG. Ký tên Lodge. Hãy trực tiếp chuyển tới Tổng Thống Kennedy. Tình hình chiến sự cho thấy Việt Cộng mạnh hơn, đó là ý kiến của Tướng Minh nói riêng hôm qua với tôi.  Tướng Minh nói, lòng dân đang nghiêng về VC, nhiều hơn là với chính phủ Diệm. Cảnh sát bắt liên tục, nhiều nhà tù hết chỗ giam; thêm nhiều sinh viên bỏ theo VC, thêm nhiều tin về các quan chức VN tham nhũng hàng viện trợ Mỹ. Và "trái tim của quân đội VNCH không đặt ở chiến tranh." Đó là lời của vị Tướng số 1 của Nam VN nói, vang lại y hệt lời Bộ Trưởng Thuần đã nói với tôi như thế, khi Thuần nói là muốn xuất ngoại.

.

Ngày 19/9/1963. 7:47 p.m. Điện văn từ Tướng Harkins (Tư Lệnh MACV) gửi Đô Đốc Harry Felt (Tư Lệnh Quân Lực Mỹ ở Thái Bình Dương). Cùng gửi tới Tướng Taylor, Tướng Krulak.

Các chương trình của chúng tôi là nhắm hỗ trợ quân lực VNCH và người dân miền quê, không nhắm vào Sài Gòn. Diễn tiến tốt đẹp. Tôi lạc quan về mặt quân sự. Lệnh thiết quân luật đã gỡ bỏ. Kiểm duyệt báo chí nới lỏng hơn. Quân lực VNCH phản ứng nhanh đối với các cuộc tấn công của VC, hạ sát nhiều VC hơn, tịch thu nhiều vũ khí hơn. Người Thượng (Behnar Montagnards) vùng Pleiku đồng ý định cư trong sự bảo vệ của quân chính phủ. Các đại diện USOM ở các tỉnh, ngoài vùng Đồng Bằng Cửu Long, hoạt động bình thường trở lại. Hoạt động các tỉnh bình thường hay gần bình thường trở lại, trừ Thừa Thiên. Dự án dẫn thủy nhập điền Tam Giang ở tỉnh Phú Yên chính thức hoạt động, đưa nước vào 2400 hectares đất trồng lúa. VC đang vận dụng mọi thứ: ám sát, phục kích, tuyên truyền, Phật Tửhọc sinh thiếu niên.

Ngày 19/9/1963. Bản ghi nhớ của Tướng Taylor (Tham Mưu Trưởng Liên Quân). Nội dung: Cựu Đại sứ Trần Văn Chương thăm.

Ông Chương ghé thăm tôi (Tướng Taylor), theo yêu cầu của ông. Mục đíchcảnh giác tôi về các bản báo cáo lạc quan từ các sĩ quan ở Nam VN. Ông nói tình hình sự thật bi quan, không thể có chiến thắng với chính phủ Diệm vì lòng dân căm ghét cao độ. Ông nhắc về chuyện ông từng chống chương trình của Diệm và đã muốn thay đổi nhân sự trong nội các Diệm. Tháng 7/1962, ông viết một lá thư cho Diệm, thúc giục Diệm hảy trở thành nguyên thủvị trí Tổng Thống hình thức và trao thực quyền cho một Thủ Tướng. Chương từ chức năm nay vì bất mãn chế độ Diệm. Chương nhấn mạnh tầm quan trọng của Sài Gòn, không chỉ là thủ đô và trung tâm dân số, nhưng cũng là "trái tim và khối óc" của Nam VN. Do vậy, Diệm mất lòng dân Sài Gòn là bi thảm lớn. Tôi nói với Chương, tôi sắp thăm Nam VN sớm và hỏi tôi có cách nào gặp vài viên chức dân sự cao cấp để nghe ý kiến thực. Chương nói không thể được, vì quá nguy hiểm cho các viên chức dân sự như thế nếu họ nói chuyện với tôi.

.

Ngày 20/9/1963. 5 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Tóm tắt lời Tướng Dương Văn Minh nói với một viên chức Mỹ ngày 18/9/1963. Cuộc nói chuyện là do viên chức Mỹ đề nghị Tướng Minh đánh giá tình hình VC.

Minh nghĩ rằng VN đang mạnh hơn, và 80% dân số VN bây giờ không còn ủng hộ chính phủ Diệm. Gỡ thiết quân luật chỉ là trình diễn cho người Mỹ xem, vì tình hình vẫn như cũ. Bắt bớ tiếp diễn. Minh nói 2 nhà khách bên ngoài tổng hành dinh của Minh bây giờ đầy các tù nhân. Vấn đề sinh viên tệ hại thêm. Minh nói Minh biết nhiều sinh viên ra đi theo VC, nhưng không dẫn ra số liệu nào. Sĩ quan trung cấp rất bất mãn, đang đòi hỏi một cuộc đảo chánh. Theo Minh, các sĩ quan không tích cực chiến đấu nữa vì lòng họ không vui. Nếu có chính phủ hợp lòng dân, họ sẽ "chiến đấu gấp 4 lần hăng say hơn." Minh nói Nhu chỉ huy toàn bộ. Nói khi Minh đem vấn đề quân sự lên nói với TT Diệm gần đây, Diệm hoặc là bảo nói với Nhu, hoặc gọi Nhu vào. Minh nói, tất cả các Tỉnh Trưởng và Quận Trưởng đều là đảng viên Cần Lao và nói họ đòi hỏi huê hồng từ dân nông thôn khi trao viện trợ Mỹ; tiền thu được đưa vào quỹ đảng. Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục, theo Minh, làm mọi chuyện đời, nhưng không lo chuyện nhà thờ. Minh cho ấn tượng rằng Minh suy nghĩ rất kỹ về đảo chánh, nhưng không cho biết có hay không Minh đang sắp xếp đảo chánh. Minh chỉ nói kiểu giả thuyết, rằng cú đảo chánh sẽ bùng nổ bất ngờ và thành công toàn diện, không để hở cơ hội cho VC lợi dụng và tránh một cuộc nội chiến. Được viên chức hỏi là ghé thăm Minh như thế có trở ngại không, Minh nói lo ngai, vì moi người được lệnh tránh xa người Mỹ, nhưng lệnh này không viết xuống chữ, và trước đó Minh đã nói rõ là Minh không thể hy sinh tình bạn cũ [với các viên chức Mỹ]. Minh nói Minh vui khi gặp viên chức Mỹ này (không nêu rõ tên) bất cứ khi nào.

.

Ngày 20/9/1963. 6:55 p.m. Từ Sài Gòn. Tướng Harkins (Tư Lệnh MACV) gửi Đô Đốc Felt (Tư Lệnh Quân Lực Mỹ Thái Bình Dương). Tôi (Harkins) đã gặp Bộ Trưởng Thuần chiều nay, thảo luận về chiến sự, chương trình Ấp Chiến Lược, và các tin đồn ở Sài Gòn. Tôi nói một trong các tin đồn là Thuần muốn từ chức và rời VN. Thuần bác bỏ, nói không có chuyện đó, và tin đồn như thế sẽ hại cho sinh mạng Thuần. Thuần nói có lúc Thuần xuống tinh thần, và sức khỏe không tốt, và nghĩ là muốn giữ chức Đại sứ nào đó ở ngoài nước. Thuần yêu cầu tôi dẹp tin đồn Thuần muốn  từ chức, nếu không sẽ có người tới hại sinh mạng Thuần. Còn chuyện Tướng Minh, tôi quen Minh một năm rưỡi, mặc dù tôi đánh giá cao Minh về khả năng lãnh đạo, nhưng Minh không còn trực tiếp cầm quân và cũng không còn là cố vấn cho TT Diệm. Từ khi tôi tới đây, chỉ thấy Minh ngồi một chỗ và than phiền. Tướng Minh bị nghi ngờtheo dõi từ năm 1960 và không cho cầm quân từ lúc đó, trong khi luôn luôn bị theo sát. Minh có lẽ đang muốn thúc đẩy người Mỹ nói minh bạchủng hộ một cuộc đảo chánh. Còn nói 80% dân số VN không còn ủng hộ chính phủ Diệm thì chắc chắn không thể xác minh. Chúng tôi cũng không có chứng cớ về số lượng sinh viên trong khi tuyệt vọng đã đi theo VC, dù là có gặp gỡ giữa vài lãnh tụ sinh viên và Mặt Trận Giải Phóng Dân Tộc (VC). Cũng không thấy chứng cớ các sĩ quan trung cấp bất mãn. Chúng tôi sẽ tiếp tục đánh giá tất cả tình hình khi có thể.

.

Ngày 21/9/1963. Thông cáo báo chí của Bạch Ốc về phái đoàn sắp tới, chỉ thị hai người McNamara và Taylor phải (1) đánh giá về các nỗ lực quân sự; (2) ước tính ảnh hưởng cuộc khủng hoảng Phật Giáo đối với nỗ lực cuộc chiến chống Cộng; (3) khuyến cáo một số hành động để chính phủ VN điều chỉnh vấn đề và để Hoa Kỳ yêu cầu chính phủ ông Diệm thực hiện; và (4) khảo sát xem viện trợ Mỹ có thể tăng lực cho khoản số (3) nêu trên.

.

Ngày 23/9/1963. Phái đoàn McNamara-Taylor rời Hoa Kỳ để tới Việt Nam cho chuyến khảo sát kéo dài 10 ngày.

.

Ngày 25/9/1963. Buổi họp giữa nhóm McNamara-Taylor với các quan chức Mỹ tại Việt Nam. Bất đồng ý kiến giữa Harkins và Lodge về tình hình tại Việt Nam và về tiến độ chiến tranh xuất hiện ngay tức khắc trong buổi họp đầu tiên này. McNamara trong nhiều ngày kế tiếp sau đó đã đi nhiều nơi tại VN để đánh giá về cuộc chiến trực tiếp và nói chuyện với nhiều sĩ quan Mỹ và VNCH.

.

Ngày 26/9/1963. Từ CIA Sài Gòn gửi về trung ương Hoa Kỳ. Sau đây là tóm tắt nội dung cuộc nói chuyện dài nửa giờ với Tướng Khiêm vào sáng ngày 26/9/1963 theo Khiêm mời tới. Khiêm giải thích rằng Khiêm yêu cầu nói chuyện theo lệnh Tướng Dương Văn Minh, muốn tiếp tục liên lạc thế này. Khiêm nói về nội dung cuộc nói chuyện giữa Khiêm với Minh, chỉ với Minh thôi, và xin đừng để lộ ra. Tướng Khiêm nói Việt Cộng mới đây cho thấy sức mạnh ở chiến trường, nơi thiệt hại của quân đội VNCH lần đầu tiên nặng nề như của VC. Khiêm thêm rằng xuyên qua các chiến dịch mới đây chỉ huy do Đại Tá Phước của ARVN J-2 (Tình Báo Quân Đội, VNCH) cho thấy nhiều chứng cớ rằng VC đã rất mạnh, đã có kế hoạch kỹ lưỡng và có nguồn lực tại chỗ để nỗ lực tấn công Sài Gòn nếu có bất kỳ hõn loạn nào xảy ra. Khiêm nói có biết phía "dân sự" cũng đang âm mưu đảo chánh, nhưng phía "dân sự" không biết gì về tình hình sức mạnh Việt Cộng. Do vậy, nên các tướng (tức là, Minh, Khiêm và Khánh) quyết định hủy bỏ kế hoạch đảo chánh trong khi chờ chính phủ Diệm cải tổ theo yêu cầu của các tướng lãnh.

(LND: Trong tuần lễ thứ nhì của tháng 9/1963, các tướng lo ngại Nhu sẽ thương thuyết với Hà Nội và sẽ từ từ nhuộm đỏ Miền Nam, nên đề nghị với TT Diệm cải tổ chính phủ, để quân nhân nắm chức Bộ Trưởng các Bộ Quốc Phòng, Bộ Nội Vụ, Bộ Tâm Lý Chiến và Bộ Giáo Dục. TT Diệm nói sẽ trả lời sau. Các tướng đề nghị với TT Diệm rằng, Bộ Quốc Phòng giao cho hoặc Tướng Minh, Đôn hoặc Khánh. Các tướng tiên đoán TT Diệm sẽ chọn Tướng Đôn nắm Bộ Trưởng Quốc Phòng. Đề nghị Tướng Tôn Thất Đính nắm Bộ Nội Vụ, và tin là TT Diệm sẽ đồng ý. Bộ Tâm Lý Chiến đề nghị hoặc Tướng Trần Tử Oai hay Lê Văn Kim. Bộ Giáo Dục, hoặc tướng Trần Văn Minh hoặc Phạm Xuân Chiểu.)

Tướng Khiêm tin rằng TT Diệm sẽ đồng ý. Khiêm dự trù rằng ngày 4/10/9163 sẽ là hạn chót các tướng để TT Diệm chấp nhận thay đổi chính phủ, nếu không thì các tướng sẽ có kế hoạch khác. Các tướng tin rằng TT Diệm sẽ chấp thuận nội các chiến tranh đó, vì quân VC đã cho thấy có sức mạnh nguy hiểm là từ kết quả chính phủ Diệm-Nhu trong quá khứ đã có những sai lầm chính sách cho tới giờ này. Các tướng tin rằng nếu các bộ quan trọng thay đổi (tốt nhất là, Tướng Dương Văn Minh nắm Bộ Quốc Phòng, Tướng Trần Văn Đôn nắm Bộ Nội Vụ) thì đường dây chỉ huy các mặt trận, và xuống tới các tỉnh, huyện sẽ hiệu quả chống lại hiểm họa từ trong (nội bộ chính phủ Diệm-Nhu) cho tới ngoài là Bắc VN. Diệm đã có một bước như các tướng muốn là mới vài ngày trước đã ký lệnh đưa Đại Tá Tung và Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt của Tung nằm trực tiếp dưới quyền Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Chưa rõ lệnh này hiệu quả ra sao. Diệm cũng có hành động khác làm hài lòng các tướng là đưa Bác sĩ Trần Kim Tuyến (chỉ huy mật vụ, an ninh) ra ngoài VN. Tướng Khiêm xem Tuyến là một trong những người của Nhu chịu trách nhiệm nhiều nhất về tính kém hiệu quả của các cơ quan dân sự trong cuộc chiến chống VC. Khiêm nói, nếu tân chính phủ cải tổ như ý các tướng, ảnh hưởng của Cố vấn Nhu đối với hướng đi của VN sẽ thành tối thiểu. (Nhận định từ CIA Sài Gòn: Chúng tôi không chia sẻ niềm tin của Khiêm rằng Diệm sẽ chấp thuận đề nghị trao các Bộ đó cho các tướng nắm giữ.)

.

Ngày 26/9/1963. Bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara. Viết từ Sài Gòn. Nội dung: McNamara phỏng vấn Giáo sư Smith. Ghi chú cho biết, theo William P. Bundy, người tháp tùng McNamara tới Việt Nam, GS Smith là tên giả. Smith lúc đó ở Sài Gòn, là một nhà nghiên cứu và là nhà văn về Việt Nam, trước đó là người ủng hộ Diệm nồng nhiệt tới lúc đó. Bundy về sau nhớ lại rằng ý kiến của Smith ảnh hưởng mạnh vào McNamara. Sau đây là tóm lược bài phỏng vấn.

Smith, một giáo sư tại đại học hàng đầu American University, nói tiếng Việt lưu loát, học giả về Đông Phương, quen biết rộng với các lãnh đạo cả Nam và Bắc VN, công việc hàng ngày tiếp cận các bản chép lại các bài phát thanh của Bắc Việt và các lá thư cá nhân và các tài liệu khác được đưa lậu ra khỏi Bắc VN. Smith vừa hoàn tất chuyến thăm Nam VN, các lần viếng thăm trước đó là năm 1960 và 1953. Trong chuyến đi này, Smith không đi nhiều ra ngoài Sài Gòn. Smith nói với McNamara như sau.

Khi tới thăm Nam VN, Smith nghĩ rằng sẽ nguy hiểm nếu cuộc chiến chống Cộng không có TT Diệm. Sau nhiều tuần lễ ở đây, ông đổi ý kiến. Diệm già kinh khủng kề từ 1960, bây giờ trí não trì trệ. Nhu là người, với lưng đã bị đẩy vào tường; bản thân Nhu đã rơi vào kinh hoàng và đã tới một giai đoạn phản ứng tuyệt vọng; và rồi, ngay cả với các thành phần không liên hệ tới chính trị tại Sài Gòn cũng lo sợ bị Nhu bắt giam. Diệm sẽ không tồn tại quá 24 giờ nếu không có Nhu, người tiếp nhận các khoản tiền hối lộ và quấy động quyền lực để sống còn. Nhu sẽ không tồn tại quá 24 giờ nếu không có vẻ ngoài uy tín của Diệm. Họ cần nhau. Không thể làm cho chế độ cởi mở. Diệm không có khả năng thay đổi. Do vậy, Mỹ phải chọn giữa việc chiến thắng cùng với chế độ này, hay là ủng hộ sự thay đổi để có chế độ khác. Trong nhiều năm, công chúng chỉ trích chế độ, nhưng là chỗ riêng tư. Bây giờ là chỉ trích công khai, từ người dân ngoài đường phố, và chỉ trích cũng công khai từ quân nhân và cảnh sát. Chế độ đàn áp Phật Tử đã gây bất mãn cho mọi thành phần người Việt. Họ kinh hoàng khi cảnh sát tấn công các chùa. Cả người Thiên Chúa Giáo cũng bất mãn như Phật Tử. Không có chuyện xô xát Phật Tử với giáo dân Thiên Chúa Giáo. Trong quá khứ chưa từng có giáo hội chính thức nào của Phật Giáo, thế rồi đột nhiên họ phải tổ chức lại, vv. Từ lâu đã có sự chống đối chế độ một cách tiêu cực khắp VN, nhưng đã hiển lộ quanh người Phật Tử sau khi xảy ra sự kiện Huế. Bây giờ, không chỉ là phong trào tôn giáo, mà còn là chính trị.

Điểm đầu tiên để nghiên cứu kỹ lưỡng là: Chúng ta có thể chiến thắng với chế độ Diệm không? GS Smith tin là không thể chiến thắng. Như vậy, là phải thay thế. Bất kỳ vận động nào tách rời chế độ đều rất rủi ro. Sinh viên và Phật Tử không thể lật đổ chính phủ. Chỉ có đảo chánh quân sự hay một cú ám sát mới hiệu quả, và một trong 2 viễn ảnh đó thế nào cũng sẽ xảy ra. Trong các viễn ảnh đó, Hoa Kỳ có 50% cơ may sẽ có được điều tốt đẹp hơn. Thompson tuần trước nói rằng chương trình Ấp Chiến Lược tiến triển khả quan; đài phát thanh Bắc Việt chỉ trích nặng nề nhất là chương trình đó. Qua các nguồn tin độc lập, Smith xác nhận rằng Nhu nói với phóng viên Alsop (của báo Washington Post) và rồi Alsop viết lên báo, và rằng Bắc Việt đã nói chuyện với Nhu xuyên qua người Pháp, như Nhu đã nói. Một Đại tá quân đội, bạn chung của Nhu và của GS Smith, nói rằng mới vài ngày trước, Nhu hỏi rằng quân đội VNCH sẽ phản ứng ra sao đối với việc thương thuyết hai miền. Đại Tá nói với Nhu rằng ông sẽ không sống sót quá 24 giờ sau khi khởi động thương thuyết như thế. Nếu CS chiếm trọn Miền Nam VN, sẽ không có lãnh tụ chính trị nào tại Châu Á còn tin vào thế giới Phương Tây nữa. Thực sự, mất lòng tin sẽ không riêng ở các lãnh đạo Châu Á. Chính phủ Mỹ không thể làm gì khác hơn là hoặc công khai ủng hộ Diệm, hoặc im lặng. Nếu Mỹ im lặng, sẽ có một cuộc đảo chánh có lẽ xảy ra trong vòng 4 tuần lễ nữa. Đó sẽ là ván cờ bạc để xem ai sẽ nắm quyền sau chế độ quân sự lâm thời. Các giáo sư tại Đại Học Sài Gòn nói rằng đời sống y hệt như địa ngục. Nếu đại học mở cửa lại, sinh viên sẽ lại xuống đường và Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa sẽ cùng với sinh viên biểu tình. Nhu đang bắt giam nhiều người thêm, và căng thẳng không ngừng. Do vậy, tinh thần quân nhân cũng xuống. Gỡ bỏ thiết quân luật và giới nghiêm nhưng tăng tốc bắt giam. Thế là nhà tù đầy thêm. Nếu Mỹ âm mưu đảo chánh, thì lại thất bại, vì chính phủ mới sẽ bị tai tiếng  là búp-bê của Mỹ. VC chưa lợi dụng được bất ổn chính trị, và Bắc Việt đang thiếu lương thực thê thảm. Theo ý tôi (GS Smith), nếu chính phủ Mỹ không nói gì để ủng hộ chính phủ Diệm, sự bùng nổ sẽ xảy ra trong vòng 2 hay 3, hay 4 tuần lễ tới.

.

Ngày 27/9/1963. Bầu cử Quốc Hội VNCH trên toàn lãnh thổ Nam VN, với tiên đoán được là tỷ lệ đi bầu sẽ đông và đa số ứng cử viên là người của chính phủ Diệm. Bản ghi chú của Bộ Ngoại Giao Mỹ ghi rằng một ứng cử viên nổi tiếng với các quan điểm độc lập, Nguyễn Trân, bị chính phủ cho là bất hợp lệ. Không có nhà hoạt động đối lập nào được tranh cử. Có một số nghi ngờ rằng chính quyền gian lận bằng cách cấp cho các cá nhân tin cậy mỗi người nhiều hơn một phiếu bầu, và cũng gian lận bằng cách đếm sai, trong khi chính phủ có một danh sách các ứng cử viên được ưa thích sẵn và đã giúp cho các ứng cử viên này. Các ứng cử viên thắng phiếu sẽ vào 123 ghế, trong đó có 60 ghế đương nhiệm (có 25 người đương nhiệm thất cử). Theo báo cáo của CAS, 96 ứng cử viên được chính phủ Diệm hỗ trợ đã thắng cử. Trong đó bao gồm 55 thành viên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia (NRM) và 19 phụ nữ, tất cả đều có lẽ là thành viên Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới (WSM). Mặt khác, dựa vào báo cáo CAS, có 15 trường hợp được chính phủ VN hỗ trợ như thất cử (chính phủ VN giữ trung lập trong phần còn lại cùa các ứng cử viên). Chưa rõ tất cả nhóm 15 người thất cử này sẽ chấp nhận thua hay không, vì có tin vài người nộp đơn khiếu nại. Khuôn mặt mới có 2 đại biểu người gốc Hoa, và là lần đầu tiên người Hoa ở Chợ Lớn gia nhập chính trị VN. Vắng mặt trong Quốc Hội mới sẽ là các khuôn mặt tương đối độc lập, những người có khuynh hướng gần với nghiệp đoàn lao động, như Phạm Văn Tùng và Trần Sanh Bửu. Điều chú ý là, 2 người này thua phiếu 2 ứng cử viên gốc Hoa kia. Trong tình hình Quốc Hội cũ vốn đã bất lực, các nhân sự mới không có vẻ gì sẽ là vai trò sáng tạo. Các viên chức ngoại giao Hoa Kỳ không sẵn sàng chấp nhận con số do chính phủ VN đưa ra là 92.82% dân số đi bầu là khả tín, nhưng xác nhận rằng người dân đông đảo đi bầu, một phần vì áp lực từ các viên chức địa phương, một phần vì không khí lễ hội trong ngày bầu cử.  Biết rằng Bộ Trưởng McNamara và Tướng Taylor sẽ đề nghị dùng chương trình viện trợ áp lực TT Diệm, cho nên cả Đại sứ Lodge và Brent (Giám Đốc USOM) đều chống lại phương pháp đó. Lodge gửi điện văn lúc giữa trưa về, nói rằng nếu Mỹ cắt giảm viện trợ sẽ làm đời sống người dân khổ hơn, và sẽ bất lợi cho cuộc chiến chống Cộng.

.

Ngày 27/9/1963. 6 p.m. Gửi từ Tòa Đại sứ về BNG. Ký tên Lodge. Hãy chuyển tới USIA cho Murrow. Tôi đề nghị nghiên cứu tức khắc về khả năng làm một loạt chương trình trên đài VOA, sẽ nói bằng tiếng Việt trên làn sóng phủ khắp Nam VN đều đặn, trình bày các lý tưởng Hoa Kỳ như tự do phát biểu, tự do báo chí, quyền được ra tòa nếu bị bắt, phẩm chất cá nhân phải được tôn trọng, quyền tìm hạnh phúc, mọi người đều bình đẳng, chính quyền là đầy tớ của dân, vân vân. Hiện nay tất cả các nguyên tắc đều bị vi phạm tàn bạo ở VN. Thực sự, tôi vừa nhận được bản báo cáo khả tin về chuyện cảnh sát nửa đêm gõ cửa nhà dân và bắt đi các phụ nữ trong một gia đình về nhà giam để thẩm vấn. Mục đích chiến dịch thông tin này để dân VN ý thức về quyền của họ, tới mức gây lo ngại cho Diệm-Nhu và sẽ giúp Mỹ có sức ép. Tôi tin rằng sức mạnh của lý tưởng chúng ta sẽ mạnh hơn là tiền hay là thế lực của chúng ta. Tôi có ý nghĩ trên vì tin rằng đài VOA có đông thính giả tại VN. Mecklin cũng nghĩ thế.

.

Từ Sài Gòn. Không ghi ngày. Bản báo cáo của Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara. Về buổi nói chuyện ngày 27/9/1963 với Richardson (Trưởng Phòng CIA Sài Gòn). Buổi nói chuyện dài 2 giờ đồng hồ. Sau đây là nhận xét của Richardson.

Khủng hoảng Phật Giáo chỉ là cao điểm của những bất mãn đã ẩn tàng từ lâu. Tương lai bất định, khó đoán. Tình hình bắt giam hàng loạt sinh viên là rất tệ hại. Các vụ bắt giam này có cả các con của các sĩ quan và các công chức cao cấp. Các vụ bắt trong đêm chỉ làm người dân căm ghét thêm. R (bí danh của Bộ Trưởng Nguyễn Đình Thuần) nói với Diệm rằng cứ mỗi viên chức trong nội các là đều có một khủng hoảng cá nhân. Điều R muốn nói chính là bầu không khí của những nỗi nghi ngờ. Họ kính trọng Diệm, nhưng không chịu nổi gia đình nhà Ngô. R đặc biệt lo sợ hành động của các cấp cao nhất trong quân đội. Hai lần trong vài ngày qua, R từ chối đề nghị rằng R sẽ lên nắm chức Tổng Thư Ký Hội Đồng Chính Phủ (Secretary General of the Council); Diệm nói như thế là đưa R vào chức Thủ Tướng, nhưng R nói R không thể chấp nhận chức vụ đó trong chính phủ này. R được báo cáo là R đang bị theo dõi, gia đình nhà Ngô nhìn R như một người Mỹ. R nói R không thấy có ai có đủ đạo đức cá nhân để thay thê Diệm, nhưng hướng đi mà Diệm và nhà Ngô đang dẫn đi sẽ đưa tới thảm họa. Diệm là người yêu nước nhưng gắn bó với gia tộc nhà Ngô. Quan hệ giữa các cố vấn quân sự Hoa Kỳ và người tương nhiệm (VN) là tốt, nhưng nếu bầu không khí nghi ngờ không hết, các cấp thấp phía người Việt sẽ rút ra khỏi quan hệ này -- R nói có thấy tiến trình xấu này. Richardson nói, "Tôi yêu cầu Bộ Trưởng hãy rất cứng rắn; đây là con đường duy nhất. Đừng cắt đứt viện trợ; chỉ treo viện trợ thôi." Diệm lo lắng về chuyện chậm trễ viện trợ thương mại. R nói, có 4 tướng xin được giữ chức trong nội các chính phủ. Họ rất nguy hiểm. Để cứu VN, chúng ta phải áp lực Diệm để buộc ngưng các biện pháp đàn áp dân và phải buộc Nhu ra đi. Nếu không, đảo chánh sẽ xảy ra và sẽ là thảm họa. Nhu là kẻ chủ mưu, chỉ huy trận tấn công các chùa. Đừng tin những gì nhìn thấy, vì người dân đang nổi giận. Chuỵện các sinh viên thì cực kỳ kinh hoàng. Trong thâm tâm, nhiều sĩ quan đã bất mãn lớn với chính phủ. Tư Lệnh Hải Quân, người đã cứu sinh mạng Diệm trong năm 1960, bây giờ không thuyết phục nổi chính thân phụ của mình về cái gì là tốt đẹp của chính phủ. Dân chúng ghét bà Nhu và cậu em (Trần Văn Khiêm). Nếu Nhu tìm cách nối ngôi Diệm, sẽ có chiến tranh liền. Không chỉ có chuyện bắt người ban đêm, cũng có chuyện Mật Vụ bắt cóc người. Có bao nhiêu người bị bắt, bao nhiêu được thả ra? Tôi không biết. Tổng Thư Ký tờ Trudo (có  lẽ  là “Tự Do”?), tờ báo bị nghi là ủng hộ người Mỹ, bây giờ đã bị bắt giam. Nhiều thành viên nội các chính phủ đã chán rồi, muốn từ chức, nhưng nếu từ chức là sẽ có chuyện bất thường. Có 36 mật vụ trong nhà (Ngoại trưởng) Mẫu khi Mẫu tìm cách rời VN. R nói với Diệm: Tổng Thống không thể sống sót nếu không có viện trợ Mỹ. Đồng tiền sẽ sụt giá, lúc đó đồng tiền đã sụt giá rồi. Khiêm, em trai bà Nhu và là chỉ huy cảnh sát bí mật, là một người điên khủng và bị ám ảnh tình dục. R nằm trong danh sách ám sát của Khiêm. Bộ Trưởng Kinh Tế, một tín đồ Thiên Chúa Giáo thuần thành, nói với R rằng ông không thể ngủ đêm qua khi nghĩ về các lời tuyên bố chống Mỹ của Nhu; ông tin như thế hưởng lợi nhiều nhất là người Cộng sản và ông kết luận rằng hẳn là có một người Cộng sản phía sau Nhu. Bản báo cáo này có chữ ký được đánh máy của Bộ Trưởng Robert S. McNamara.

.

Ngày 28/9/1963. 1:30 p.m. Từ Bộ Ngoại Giao gửi tới Tòa Đại sứ Mỹ tại VN. Ký tên Ball (LND: George Ball là Thứ Trưởng Ngoại Giao). Chỉ để Đại sứ Lodge đọc. Chỉ là gợi ý dựa trên nhiều giả thuyết về cấu trúc chính phủ VN. Các giả thuyết nơi đây là: (a) Cải tổ và mở rộng chính phủ Diệm, có hay không có Nhu trong chính phủ; (b) chính phủ kế tiếp do Thơ lãnh đạo; và (c) chính phủ với ưu thế do quân nhân lãnh đạo. Các nghiên cứu của chúng ta cho thấy VN có nhiều lãnh tụ tài năng chưa được vận dụng hiệu quả.

Nguyên tắc. Trong cả ba giả thuyết trên, điều quan trọng là cần đại diện các khu vực trong chính phủ. Người dân các tỉnh phía Nam cảm thấy chính phủ Diệm kỳ thị họ, để nâng đỡ người Bắc và Trung nhiều hơn. Trong khi Miền Nam là chủ lực cho VN và là cần thiết để chiến thắng cuộc chiến, và nên có đại diện thích nghi trong chính phủ. Chúng tôi nghĩ là VN nên có một Hội Đồng Tham Vấn Chính Trị, trong đó những khuôn mặt lãnh đạo nổi bật nên được mời vào đây, và bất kỳ viên chức nội các chính phủ đều có quyền đề cử những người tài năng vào Hội Đồng này và nên chấp thuận bởi 2/3 phiếu của nội các. Hội đồng này chỉ là cố vấn thôi, còn quyết định là quyền của nội các. Lý do cần Hội Đồng này vì Quốc Hội quá hèn yếu, mà bầu cử mới đây không cải thiện nổi. Hội Đồng có thể hữu dụng khi cho giới trí thức VN một nơi bày tỏ ý kiến chính trị mà trước giờ gia tộc nhà Ngô không muốn nghe và không muốn ai nói dị kiến.

Nhân sự. Mở rộng chính phủ Diệm một cách hiệu quả sẽ cần dựa vào giả thiết (có vẻ khó xảy ra) rằng Diệm (và Nhu, nếu Nhu sẽ còn quyền lực) sẵn sàng thay đổi về chính trị và phương pháp cầm quyền. Nếu không, thì có nhân sự mới trong nội các cũng chỉ là trình diễn mặt ngoài như quá khứ cho thấy. Khi cải tổ chính phủ Diệm, chúng tôi đề nghị Phó Tổng Thống Thơ nên có nhiều quyền hơn (có lẽ, trong chức Thủ Tướng nên lập ra). Thuần có thể giữ chức hiện nay là Tổng Thống Phủ Tổng Thống, nhưng nên rời chức Thứ Trưởng Quốc Phòng đang kiêm nhiệm, vì 2 chức này kiêm nhiệm là quá nặng. Đề nghị Tướng Dương Văn Minh nên là Bộ Trưởng Quốc Phòng và Tướng Kim nên là Thứ Trưởng Quốc Phòng. Tướng Đôn có thể là Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Bộ Nội Vụ nên lãnh đạo bởi Tướng (Khiêm, Khánh hay Chiểu) vì những người này quen làm việc từ lâu với Minh và Kim.

Các chức Bộ Trưởng khác có thể là những người tài năng như sau: [xóa 1 hay 2 tên người], Vũ Văn Thái, Nguyễn Hữu Châu, Vũ Quốc Thúc, Võ Văn Hải, [xóa 1 hay 2 tên người], Nguyễn Thành Lập, Trần Quốc Bửu, Trần Đình Đệ (đương nhiệm), Trần Ngọc Liễn, Trần Lê Quang (đương nhiệm), [xóa 1 hay 2 tên người], Bùi Văn Thịnh, Nguyễn Quốc Định, Trần Văn Chương, Trần Văn Lắm, [xóa 1 hay 2 tên người]. Nếu giả thiết rằng chính phủ kế tiếp do Thơ lãnh đạo, chính phủ sẽ phần lớn gồm những người như vừa nói. Nhưng có lẽ Thơ sẽ không dùng Thuần, vì Thuần trong thời kỳ được Diệm ưa thích đã tỏ ra xem thường Thơ ra mặt.

Trường hợp giả thuyết thứ ba, khi ưu thế lãnh đạo là quân sự, thì nhiều phần sẽ là các tướng nêu trên, với Dương Văn Minh lãnh đạo vì được ưa chuộng bởi quân đội và các tướng. Các tướng có thể nắm giữ vài bộ quan trọng, nhưng các bộ khác nên để dân sự nắm.

Hội Đồng Tham Vấn Chính Trị trong cả 3 giả thuyết trên, nên bao gồm các nhà đối lập như Phan Huy Quát, Phan Quang Đán, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Tôn Hoàn, [xóa bớt vài chữ], Hoàng Cơ Thụy (hầu hết các người vừa nói bây giờ đang ở trong tù hay lưu vong). Nhà sư Trí Quang và [xóa bới vài chữ] vào với tư cách các khuôn mặt lãnh đạo Phật Giáo và Công Giáo có thể được đề cử vào Hội Đồng. Đại Tá Phạm Ngọc Thảo cũng có thể được mời vào Hội Đồng, bởi vì có lẽ các tướng không muốn Thảo vào chính phủ. Các chuyên gia như [xóa bớt vài chữ] cũng có thể được mời vào, cùng với các nhà kinh doanh như [xóa bớt vài chữ], Nguyễn Văn Bửu. Đại sứ Lodge có ý kiến gì về các nghiên cứu vừa rồi thì cứ cho biết.

.

Ngày 29/9/1963. 2:30-5:30 p.m. Bản ghi nhớ về cuộc nói chuyện. Tham dự: Ngô Đình Diệm (Tổng Thống VNCH), Nguyễn Đình Thuần (Bộ Trưởng Tổng Thống Phủ kiêm Thứ Trưởng Quốc Phòng, Henry Cabot Lodge (Đại sứ Hoa Kỳ), Robert S. McNamara (Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ), Tướng Maxwell D. Taylor (Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ), Tướng Paul D. Harkins (Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự tại VN -- MACV), Frederick W. Flott (Thư ký Thứ nhất Tòa Đại sứ, thông ngôn). Tóm lược buổi nói chuyện.

Trong 2 tiếng đồng hồ đầu tiên, TT Diệm nói về diễn tiến cuộc chiến, về vai trò ấp chiến lược, về sự khôn ngoại của các quyết định của chính phủ Diệm. Trong giờ thứ ba, Bộ Trưởng McNamara giải thích, ngắn về quan tâm của chính phủ Mỹ về các bất ổn chính trị ở VN. Ông nói, bất ổn và việc đàn áp Phật Tử đã gây nguy hiểm cho cuộc chiến chống Cộng và cho sự hỗ trợ của Mỹ cho cuộc chiến. Bộ Trưởng McNamara nêu lên vài lời tuyên bố độc hại của bà Nhu. Sau khi Diệm bác bỏ, và rồi giải thích, Tướng Taylor nhấn mạnh tầm quan trọng về cách đáp ứng đối với nỗi quan ngại tại Hoa Kỳ, về những gì chính phủ Mỹ quan ngạikhông chấp thuận.

Độc Thoại. Trong 2 giờ đầu buổi họp, Diệm nói hầu hết, thường dùng nhiều bản đồ trong khi nói về cuộc chiến. Nói về ấp chiến lược, đang gây khó khăn cho VC trong việc tìm lương thực và tuyển mộ du kích. Diệm nói người Mỹ viện trợ lương thực đã giúp chương trình ấp chiến lược thành công, nói VN làm ấp chiến lược theo kinh nghiệm người Anh ở Mã Lai hiệu quả tốt đẹp. Diệm nhìn nhận ấp chiến lược nhiều nơi trải mỏng, cho nên vài nơi bị VC tấn công và tràn ngập, cũng như dân vệ trong ấp chiến lược nhiều nơi kém huấn luyện và kém vũ khí, nhưng quân bình giữa lợi và hại là chấp nhận được. Diệm nói các định chế tại VN chưa toàn hảo, được củng cố nhờ ấp chiến lược; cần 2 hay 3 năm nữa, VN sẽ là nền dân chủ kiểu mẫu.

Nhân sự. Diệm nói rằng cán bộ là giải pháp cho mọi vấn đề VN. Khi mới độc lập, chỉ có 5 thẩm phán tại VN, trong khi lẽ ra mỗi tỉnh cần có ít nhất 1 thẩm phán. Bây giờ phân nửa số tỉnh đã có 1 thẩm phán/tỉnh, và nửa còn lại thì 2 hay 3 tỉnh một thẩm phán. Do vậy, khó để áp dụng quy tắc hễ bị bắt là phải ra tòa. Diệm nói, nhưng đang có tiến bộ. Vì cán bộ ấp chiến lược được đưa về huấn luyện ở một trung tâm huấn luyện bên ngoài Sài Gòn khoảng 15 kilômét, mỗi Thứ Sáu đều có thảo luận chính trị, hết khóa học sẽ về lại ấp chiến lược làm việc và nơi đó sẽ lập ra các nhóm thảo luận mới. Sau đó, trong buổi nói chuyện, Diệm nói rằng thiếu cán bộ cho nên gây ra bất ổn chính trị mới đây và dẫn tới các cuộc biểu tình của Phật Tử và sinh viên.

Bầu cử. Diệm nói bầu cử mới đây đã thành công, vì nhiều người đi bầu hơn, trong khi thùng phiếu nhiều hơn 50% so với kỳ bầu cử trước. VC không gây rối được bầu cử. Diệm nói, chỉ có 2 người bị VC ám sát vì đi bầu. Các nhóm thảo luận trong các ấp chiến lược đã làm dân chúng thêm quan tâm để bầu cử.

(Đại sứ Lodge nhận định trong Bản ghi nhớ: Điều đó trái nghịch với sự quan sát rằng nhiều xe chở đầy các quân nhân đi lòng vòng để họ có thể bầu phiếu nhiều lần trong một ngày.)

Phá hủy mùa màng và khai quang. Các chương trình này hữu dụng, theo lời Diệm. Ông nói tại nhiều nơi, VC đang dùng 1/2 lực lượng binh sĩ để trồng lương thực, và ngoại trừ các vùng Miền Tây, nơi lương thực dư thừa tới mức không kiểm soát nổi, VN rất khó khăn tìm lương thực, vì ngày càng khó vào làng hay buộc nông dân tặng cho thực phẩm. Do vậy, phá hủy mùa màng và khai quang là một cách để chiến thắng VC.

Các đơn vị VC lớn hơn. Diệm nói rằng trong khi tổng số lính VC giảm trong năm qua, số lượng các đơn vị tương đối lớn -- cấp đại đội và tiểu đoàn --  lại tăng thêm. Diệm nói, lý do vì ấp chiến lược thành công. Trong quá khứ, chỉ vài lính VC là có thể vào làng kiếm lương thực và tân binh. Bây giờ cần tới cấp đại đội mới tấn công được để chiếm lương thực và bắt lính.

Trong khi nói chuyện về kinh tế, Tướng Harkins nói về khu vực Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở tây nam Sài Gòn, nói rằng tình Kiến Phong được điều hành khéo, và Tỉnh Trưởng là Trung Tá Đinh Văn Phát rất có khả năng. TT Diệm xác nhận như thế. Tướng Harkins tiếp tục nói rằng tình hình tỉnh kế bên là Kiến Tường lại tệ hại, và Tỉnh Trưởng Lê Thanh Nhựt không làm tốt, nên bị thay thế. Diệm bất đồng, nói rằng chỉ vì kinh tế địa phương nên làm ra khó khăn. Tướng Harkins nói rằng ông nghi ngờ khả năng của lãnh đạo tỉnh Kiến Tường.

Việt Cộng về hàng. Diệm nói đang có nhiều VC về đầu hàng. Nhiều cán bộ tập kết, từ Bắc vào Nam chiến đấu, thấy đời sống Miễn Nam tiến bộ hơn Miền Bắc, nên ra đầu hàng; đây cũng là lý do VC phải lập các đơn vị lớn hơn. Một yếu tổ nữa: chương trình cải cách ruộng đất là một yếu tố thu hút VC ra đầu hàng. Diệm nói cuộc chiến thực sự gian nan ở các vùng ruộng lúa sình lầy và các vườn dừa, rừng dừa rợp lá che khuất. Tướng Harkins nói rằng cuộc chiến ở các đồn điền dừa sẽ khá hơn, nếu Diệm gỡ lệnh cấm xài bom 500-pound (=227 kilôgram) (lý do cấm xài bom lớn này là sau khi có đảo chánh tháng 2/1962, phi cơ quân đảo chánh dùng bom này tấn công Dinh Tổng Thống.) Diệm nói nửa đùa rằng nếu dùng bom đó mà chiến thắng được thì Diệm đã cho phép xài rồi. (Mặc dù cuộc nói chuyện bằng tiếng Pháp, Diệm xài chữ tiếng Anh "clearance" khi nói về cho xài bom này hay không, và vài trường hợp khác dùng từ ngữ tiếng Anh về quân sự.)

Phái Đoàn Mỹ trình bày.

Sau khi Diệm nói gần như độc thoại, Bộ Trưởng McNamara bắt đầu nói. Rằng ông thăm VN vì muốn giúp VN chiến thắng VC. Ông nhấn mạnh đây là cuộc chiến của người Việt, và phía Mỹ chỉ muốn giúp để thắng. Ông nói tiến độ cuộc chiến hài lòng, nhưng ông lo ngại nhiều chuyện. Bất ổn chính trị ở Sài Gòn, và chính phủ VN không muốn cởi mở chính trị. Như thế, nỗ lực chiến tranh sẽ thiệt hạiyếu kém chính trị và sẽ mất lòng dân. Các đợt đàn áp [Phật Tử và sinh viên] mới đây làm mất dư luận công chúng ở cả Mỹ và VN. Diệm nói đó là ngộ nhận từ phía Mỹ về lập trường chính phủ VN, là do báo chí Mỹ tấn công chính phủ VN, gia đình ông và chính ông. Diệm nói không có gì gọi là vấn đề, và thái độ của Diệm là bác bỏ các lời trình bày của McNamara. Bộ Trưởng nói tiếp, ông biết có chuyện báo chí tấn công, và ông tin có một số bản tin báo chí có thể sai lầm, nhưng sự kiện là có khủng hoảng chính trị nghiêm trọng, khủng hoảng về lòng tin vào chính phủ VN tại cả VN lẫn tại Hoa Kỳ. Chứng cớ là sự từ chức của Ngoại Trưởng (Vũ Văn Mẫu), sự triệu hồi hay từ chức của Đại sứ Trần Văn Chương (thân phụ bà Nhu) tại thủ đô Hoa Kỳ, và sự kiện rằng Đại Học Sài Gòn đóng cửa. Bộ Trưởng nói với Diệm rằng dư luận công chúng tại Mỹ nghiêm trọng chất vấn về sự cần thiết của chính phủ Mỹ giúp cho một chính phủ mà lòng dân VN bất mãn và ngày càng gây rạn vỡ đoàn kết quốc gia để đưa cuộc chiến tới chỗ chiến thắng. TT Diệm trả lời, nói Ngoại Trưởng Mẫu từ chức là chuyện cá nhân, không phải bất mãn chính trị, rằng gia đình vợ ông Mẫu gặp vài tai nạn chết chóc và vợ Mẫu thúc giục Mẫu đi hành hương để gỡ lời nguyền xui xẻo trên gia đình vợ Mẫu. Còn chuyện Đại sứ Trần Văn Chương từ chức, Diệm nói, nội các bỏ phiếu đồng thuận cho Chương về vườn, và lúc đó Vũ Văn Mẫu cũng bỏ phiếu như thế. Về sinh viên biểu tình, Diệm nói vì các ban đại diện sinh viên và ngay cả ban giảng huấn các đại học hầu hết là vô trách nhiệm, kém huấn luyện và kém chín chắn. Diệm nói Khoa Trưởng Khoa Học Viện Đại Học Sài Gòn mới có 32 tuổi. Trong khi sinh viên bị kích động cả từ ban đại diện SV và từ ban giảng huấn đại học. Do vậy, Diệm nói, chính phủ phải bắt giam họ. Diệm nói, một số sinh viên sau khi bị bắt đã tỉnh ngộ, bây giờ nhiều người ủng hộ chính phủ VN.

Bộ Trưởng nói nhiều khó khăn của chính phủ VN với dư luận công chúng Mỹ là từ các lời tuyên bố bất lợi của bà Nhu. Bộ Trưởng lấy từ trong túi ra một mẩu báo cắt ra, nói rằng khi ông lên phi cơ ở Washington, ông được đọc bài báo về bà Nhu nói rằng các sĩ quan cấp thấp Hoa Kỳ ở VN cư xửtrách nhiệm và chẳng biết gì. Bộ Trưởng nhấn mạnh, và Đại sứ cũng xác định lời Bộ Trưởng McNamara, rằng các tuyên bố của bà Nhu là xúc phạm lớn nhất đối với dư luận dân Mỹ. Bộ Trưởng nói dân Mỹ sẽ từ chối gửi các thành phần ưu tú trong các sĩ quan trẻ tới để hậu thuẫn một nỗ lực mà nơi đây có những người phát ngôn vô trách nhiệm như thế. Một viên chức Mỹ trong phái đoàn hỏi là có cách nào để bà Nhu im miệng? Diệm lúc đó lộ ra như dường kiệt sức, và ít nhất đã thấy các vị khách muốn nói gì, đặc biệt là khi Đại sứ (Lodge) nói rằng chính bà Tưởng Giới Thạch đã giữ vai trò quyết định làm mất Trung Quốc về tay người Cộng sản. Tuy nhiên, Diệm bênh rằng bà Nhu là một thành viên Quốc Hội, có quyền nói những gì bà suy nghĩ, vừa là tư cách đại biểu Quốc Hội vừa tư cách cá nhân trong một xã hội tự do. Diệm nói, bà Nhu cũng có quyền trả lời khi bị chỉ trích. Diệm nói, nếu đọc kỹ những gì bà Nhu nói, vấn đề sẽ được sáng tỏ. Bộ Trưởng McNamara nói vấn đề đó có thực và là nghiêm trọng, cần giải quyết mới có thể chiến thắng trong cuộc chiến chống CS, và cũng để được Mỹ hậu thuẫn.

Vấn đề Phật Giáo. TT Diệm nói dài dòng về vấn đề Phật Giáo. Diệm nói Diệm chịu trách nhiệm cho toàn bộ chuyện này: trước đó, Diệm quá tử tế với người Phật Tử. Diệm nói Diệm đã giúp nhiều tới nỗi số lượng chùa tại VN tăng gấp đôi trong thời gian Diệm cầm quyền. Diệm nói khoảng 20 phút về vấn đề Phật Giáo, nhưng không nói gì về chuyện các báo thân chính phủ viết về chuyện này. Diệm lập lại các cáo buộc về PG, và nhấn mạnh rằng trung tâm vấn đềsự kiện rằng "bất kỳ ai cũng có thể trở thành một nhà sư, khi cạo đầu và mặc áo vàng." Diệm nói rằng một trong 3 nhà sư tỵ nạn trong Tòa Đại sứ Mỹ trước đó là một cảnh sát, cho tới khi bị trục xuất hồi 2 năm trước vì không thích nghithành quả kém. Người đó lang thang cho tới khoảng 2 hay 3 tháng trước, khi tự tuyên bố là một nhà sư và vào tỵ nạn ở Tòa Đại sứ. Đột nhiên Diệm nói trầm giọng rằng "có vài dịch vụ Hoa Kỳ tại Sài Gòn" đang dàn dựng một kế hoạch chống chế độ, và Diệm đang "sửa soạn một hồ sơ" và có thể trở lại đề tài này khi thích nghi. Diệm không giải thích thêm (chuyện hồ sơ) rồi nhanh chóng trở lại chuyện giận dữ về vấn đề Phật Giáo. Diệm nói hầu hết giáo phái PG tại VN ủng hộ lập trường chính phủ và chỉ trích thái độ một thiểu số cực đoan đang gây ra vấn đề rắc rối. Diệm nói vấn đề PG là vì tăng trưởng quá nhanh và thiếu tổ chức. Thí dụ, Diệm nói, không có hồ sơ về ai là nhà sư hay không phải nhà sư, và không có tiêu chuẩn chấp nhận chung cho nghi lễ thành nhà sư. Diệm đã đề nghị  làm một sổ bộ các nhà sư toàn quốc. Công việc đã bắt đầu và sẽ được tăng tốc làm nhanh. Một người trong phái đoàn Mỹ nói rằng tình hình quá tệ tới mức Liên Hiệp Quốc đang xem xét gửi một phái đoàn tới VN nghiên cứu về vấn đề đàn áp Phật Giáo. Diệm nói, "Hãy để họ tới và xem xét, chúng tôi sẽ để họ xem tình hình thực ra sao." Diệm cũng nói rằng giáo hội Phật Giáo tại Tích Lan là tràn ngập người Cộng sản, và rằng Diệm đã nghe từ một nguồn tin từ Đức quốc rằng một nhà sư PG từ ngoài nước vào Việt Nam thực ra là một người CS. Do vậy, Diệm nói, quân đội và cảnh sát VN đã đoàn kết sau lưng Diệm để tuyên bố thiết quân luật và cho họ đàn áp các hỗn loạn gây ra từ vài người Phật Tử cực đoan. Tướng Taylor nêu lên điểm đã nêu lên bởi Đại sứ Lodge và Bộ Trưởng McNamara và nhắc TT Diệm rằng bất kể Diệm giải thích như thế nào về chuyện hỗn loạn, cuộc khủng hoảng lòng tin nghiêm trọng đang diễn ra tại Hoa Kỳ và đó là điểm chủ yếu để chính phủ VN đáp ứng cho nỗi lo ngại chính đáng này.

Bộ Trưởng kết thúc bằng cách lập lại rằng ông đã trình bày quan điểm trong cương vị người bạn muốn giúp VN trong nỗ lực chiến tranh. Bộ Trưởng và Đại sứ dự kiến sẽ trở lại Dinh trong hai giờ nữa để dự tiệc ăn tối. Trong suốt buổi họp, Bộ Trưởng Thuần im lặng.

Ghi chú: Buổi họp diễn ra tại Dinh Gia Long. Bộ Trưởng McNamara nói rất rõ với TT Diệm rằng chính phủ Mỹ không hài lòng về tình hình tại VN. Rất rõ cho Diệm thấy rằng giữa Bộ Quốc Phòng Mỹ và Bộ Ngoại Giao Mỹ không có ý kiến dị biệt. Diệm không đưa ra bảo đảm là Diệm sẽ làm gì để đáp ứng các vấn đề Mỹ nêu ra. Thực sự, Diệm không nói gì để cho biết rằng Diệm trước đó đã đón nhận các lời khuyên thân thiện. Kiểu của Diệm là bề ngoài lạnh nhạt, và của một người kiên nhẫn giải thích dài dòng, và của một người đã hy vọng trước đó đã điều chỉnh nhiều ngộ nhận.

.

Ngày 30/9/1963. 7 p.m. Từ Tòa Đại sứ gửi về BNG Mỹ. Ký tên Lodge. Bộ Trưởng Quốc Phòng

McNamara, Tướng Taylor, và tôi (Lodge) đã có buổi nói chuyện với Phó Tổng Thống Thơ. Thơ mở đầu buổi nói chuyện tức khắc rằng hồi 2 năm trước Thơ đã nói với Tướng Taylor rằng nỗ lực Hoa Kỳ tại VN nên có 3 đặc tính: phải nhanh, phải hiệu quả, và phải thông minh. Chúng ta đã thành công nơi 2 phần đầu, nhưng thất bại ở phần thứ ba: chúng ta không dùng sức mạnh của chúng ta một cách thông minh.

Khi được hỏi chi tiết, Thơ nói rằng hiển nhiên rằng các phương pháp nhà nước cảnh sát đang được sử dụng và rằng điều này tạo ra bất mãn sâu sắc, và chúng ta không có thể làm bất cứ gì về điều này. Thơ cảm thấy rất tiếc là phải nói thẳng, nhưng tình hình rất là nghiêm trọng. Khi được hỏi là chúng ta nên làm gì cho thông minh và để ảnh hưởng của chúng tahiệu quả, Thơ nói Thơ không cảm thấy tự do để nói với chúng ta. Nhiệm vụ của Thơ không cho Thơ tách rời Tổng Thống Diệm, rằng Thơ đã đi quá xa khi nói những gì Thơ vừa nói. Chúng tôi nói rằng nhiều phương pháp khác nhau đã được đề ra rồi. Thơ đồng ý rằng những sự phản đốilời nói của các Đại sứ và những người khác thì hoàn toàn vô hiệu quả. Thơ nói rằng [Mỹ] treo lại viện trợ kinh tế cũng vô ích, vì VN đã xảy ra lạm phát rồi; còn việc đưa lính Mỹ vào sẽ là "ngu ngốc" vì sẽ bị xem là âm mưu của Mỹ sẽ tổ chức một cuộc đảo chánh.

Khi chúng tôi hỏi Thơ rằng có bất kỳ người Việt hay ngoại quốc nào tại Sài Gòn mà chúng tôi nên nghe lời khuyên của họ, Thơ nói rằng những người xuất sắc nhất đã chạy ra khỏi VN rồi, nhưng họ không thể cố vấn cho chúng ta về chi tiết. Khi được hỏi về nên hỏi ý người nào ngoài nước, Thơ nói đó là Vũ Văn Mẫu. Khi được hỏi có phải đúng là có bất mãn trong các thành phố nhưng không hề có bất mãn ở nông thôn, Thơ nói điều đó không đúng, rằng Thơ đã có trọn đời sống trong vùng nông thôn Miền Nam và biết họ rất là thân thiết. Đã có bất mãn nghiêm trọng trong các làng xã nông thôn, nhưng không phải vì các phương pháp nhà nước cảnh sát áp dụng trong thành phố. Người dân làng bất mãn vì nhiều lý do: thứ nhất, người dân phải trả quá nhiều tiền cho ông xã trưởng, người này đòi hơn 100 đồng bạc và 10 ngày công mà dân làng bắt buộc phải làm. Rồi thì, theo lời Thơ, khi dân làng rời ấp vào buổi sáng để đi làm việc trên cánh đồng, lại gặp Việt Cộng và lại bị VC đòi nộp thuế nữa. Khi Tướng Taylor nói điều đó lẽ ra không thể xảy ra trong một ấp có rào phòng thủ vững chắc, Thơ nói rằng chuyện đó không xảy ra trong ấp, mà xảy ra khi dân làng bước ra ngoài ấp và làm việc trên cánh đồng. Khi Tướng Taylor nói trong một ấp chiến lược được phòng thủ thích nghi, điều đó không thể xảy ra, Thơ  nói rằng không có nhiều hơn từ 20 tới 30 ấp phòng thủ thích nghi trên toàn lãnh thổ VN.

Với giọng nồng ấm, Thơ nói: Tại sao, quý ông hãy nghĩ xem vì sao Việt Cộng vẫn còn được ưa chuộng? Mới 2 năm trước, có khoảng 20-30,000 lính trong hàng ngũ Việt Cộng; và trong 2 năm qua, chúng ta giết trung bình 1,000 Việt Cộng mỗi tháng; và Việt Cộng bây giờ còn đông hơn. Tại sao điều này xảy ra?  Khi Tướng Taylor và tôi nói có thể là bị hăm dọa, Thơ nói: Hăm dọa có thể buộc họ gia nhập, nhưng không thể cản họ đào ngũ được. Trong khi vài lính VC đào ngũ, thì còn nhiều hơn nữa đã ở lại hàng ngũ. Tại sao? Khi tôi nói có thể là các lời hứa Việt Cộng đưa ra, Thơ nói: Họ không thể hứa một thứ gì, không thực phẩm, không nơi ở, không an ninh. Câu trả lời vì họ ở với VC vì họ muốn ở lại, vì lý do họ muốn ở lại với VC vì họ cực kỳ bất mãn chính phủ Sài Gòn.

Nhận xét (của Lodge ghi trong điện văn): Phó Tổng Thống Thơ muốn chúng ta xem xét thẳng thắn toàn bộ tình hình ở đây, và không do dự để bác bỏ bất kỳ phương pháp nào trong khi làm như thế. Nhưng phân tích của Thơ về tình hình làng xã rất đáng phải xem xét.

.

Ngày 30/9/1963. Từ Sài Gòn. Bản ghi nhớ về một cuộc nói chuyện. Ký tên Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara. McNamara đã nói chuyện với một số nhà quan sát đang rải rác khắp VN và một số giáo sư đại học tại Đà Lạt, Huế và Sài Gòn. Nhiều người, nếu không phải hầu hết, trong nhóm này trước đó từng có kinh nghiệm với Trung Quốc Cộng Sản như là một căn bản để so sánh với Nam Việt Nam.

Những gì người ta thấy tại Nam VN là sự yên tĩnh bề mặt, nhưng phía dưới là sự bất mãn của người dân đang bị chính phủ kiểm soát. Guồng máy khống chế người dân cũng tuyệt hải y hệt dưới chế độ Cộng sản. Chính phủ VN đã thiết lập một nhà nước cảnh sát, cho dù nhà Ngô đã che giấu thành công guồng máy này. [Bị xóa bỏ vài chữ] sẽ gửi chúng tôi một danh sách điển hình các hoạt động của nhà nước cảnh sát tại Nam VN. Ban đầu, những người bị tra tấn đã sợ hãi không muốn nói ra, nhưng bây giờ thì họ nói. "Tuyệt nhiên là có tra tấn. "Người này" đã bị sách nhiễu vì tình thế tới mức phải tự hỏi anh ta là “tại sao Giáo hội [Công Giáo] không nói ra và công bố ra trước thế giới?" Khi viên chức [xóa bỏ vài chữ] tới thăm VN, chế độ Diệm và Giáo hội cùng ngồi trong vị trí nhân chứng, nhưng bây giờ người này đã bị tách ra rồi. Chính phủ VN đã đi quá xa tới mức kiểm duyệt các bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng.

Việc tra tấn tù nhân đang tiếp diễn và là cách đối phó với bất kỳ ai đối lập với chế độ. Sinh viên và trí thức nhìn thấy tất cả các người đối lập đang bị trừ khử. Họ không được giúp đỡ gì từ Giáo Hội CG và Hoa Kỳ. Do vậy, họ bị buộc tìm giải pháp khác: một số đang theo và tiếp tục đi theo Việt Cộng, nhưng đa số chuyển sang lập trường trung lập. Với chủ trương trung lập, họ tin là "chúng ta sẽ không còn chiến tranh và ít nhấthy vọng sẽ lật đổ chính phủ Diệm." Nhiều người trí thức tin là hiện diện tiếp tục của Diệm có thể là hữu dụng (họ nói Diệm không thông minh lắm, nhưng Diệm được nhiều người dân tôn trọng). Điều người ta tin hiện nay là, nếu nhà Ngô vẫn giữ quyền lực, họ (giới trí thức) sẽ chuyển sang làm việc với Việt cộng. Nếu Hoa Kỳ và Giáo Hội CG không tìm ra một giải pháp, họ sẽ chuyển sang làm việc với Việt cộng. Chúng ta có thể mất VN vào tay người CS, cho dù chúng ta vẫn có những thành công quân sự kỹ thuật. [Xóa vài chữ] (LND: có lẽ người này là một trí thức hay linh mục Công Giáo quốc tế) nói rằng ông là một người dân Sicilian, người hiểu về tâm thức của bọn Mafia. Nơi đây là một Mafia khổng lồ, kiểu Việt Cộng. Vào một thời gian nào đó, tất cả đều yên bình, bởi vì Mafia ra lệnh bảo làm như thế. Nhưng nếu chính sách Mafia thay đổi, sự yên bình biến mất và hỗn loạn bùng lên. Tại Nam VN, có những quận huyện mà chúng ta tin là yên bình, nhưng chỉ là như thế bởi vì Việt Cộng có lợi ích khi làm mặt ngoài như thế. Xuyên qua [xóa vài chữ] biết là có nhiều quận huyện nói bề ngoài bình yên, nơi người dân đang làm việc, và nơi các trận tấn công của VC đã giảm, nhưng là nơi nhiều VC chỉ nhẩn nha chờ đợi và ngừơi dân có vẻ như lên án họ.

Nếu Nhu lên nắm toàn quyền, điều đầu tiên Nhu làm sẽ là yêu cầu Mỹ về lại Mỹ, và rồi Nhu sẽ  thương lượng với Cộng sản vì Nhu tin là Nhu có thể làm như thế để trở thành lãnh tụ cho toàn thể Việt Nam, nhưng dĩ nhiên, người Cộng  sản sẽ không bao giờ cho Nhu làm như thế. Các ý tưởng mà Nhu đang giảng dạy cho thanh niên Cộng Hòa thực raý thức hệ Cộng sản --- như đặt nền móng cho chủ nghĩa cộng sản. Vẫn còn thời giờ để cứu Nam VN, nhưng yêu cầu phải là gỡ Nhu ra tức khắc. Sẽ có một vài hỗn loạn, nhưng lợi ích sẽ là vô cùng. Không một ai, không vị Giám Mục nào có đủ can đảm để nói ngược với Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục. Ông ta [Thục] đã gây sợ hãi tận sâu trong tim mọi người. Và không thể nào lý luận với Nhu, bà Nhu và Thục. Họ từ chối nghe lời khuyên của [xóa vài chữ]. Đã quá trễ để giúp họ điều chỉnh chính sách. Cách duy nhất thay đổi tình hình là buộc Nhu phải ra đi. Sẽ khó để tiên đoán về cách Quân đội phản ứng nếu Nhu tiếp tục nắm quyền, vì chế độ sử dụng kỹ thuật "hai vòng kiểm soát" (“double controls”) -- tương tự, nhưng hiệu quả hơn cả kỹ thuật kiểm soát này của Quân Đội Sô Viết. Thẩm quyền của các tướng bị hạn chế. Họ bị luân chuyển thường xuyên để hạn chế quyền lực. Người ta không biết chắc về lập trường của Mỹ bởi vì trong hai cuộc đảo chánh tháng 11/1960 và tháng 2/1962, Hoa Kỳ có vẻ như ủng hộ chế độ Diệm để chống lại những người muốn đảo chánh. Chính phủ Mỹ đã không nói một tiếng nói tại Sài Gòn. Điều này làm mờ nhạt chính sách Mỹ trong tâm trí những người đối lập và gây khó hiểu cho người ta. Bản ghi nhớ có chữ ký đánh máy của Bộ Trưởng Robert S. McNamara.

.

Ngày 30/9/1963. Bản ghi nhớ của Sullivan (Phụ tá Đặc biệt của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ về Chính Trị). Tôi (Sullivan) nói chuyện với Đại biện Ngoại giao Pháp, Ủy viên ICC người Canada, và Ủy viên ICC người Ấn Độ về quan hệ giữa Nam và Bắc VN. Cả ba người đều có vẻ ngờ vực các tin đồn về thương lượng 2 miền Nam, Bắc VN. Dù vậy, tất cả đều nói không nên bác bỏ khả năng về Hiệp định thương lượng đó trong tương lai gần. (Đại biện Ngoại giao Pháp nói "ba hay bốn tháng nữa.") Lý luận của họ như nhau. Cả ba đều cảm thấy Miền Bắc đang thiệt hại kinh tế, và biết rằng Việt Cộng đang thiệt hại tại Miền Nam. Họ nghĩ Bắc VN sẵn sàng thương thuyết xin ngưng bắn với Nam VN. Hai điều kiện tiên quyết là: Thương mại Nam-Bắc VN, và quân Mỹ phải ra đi. Thêm một yếu tố mà [xóa vài chữ] cảm thấy có thể buộc Bắc VN tìm thương lượng đó là áp lực từ Trung Quốc. Nếu quân Mỹ rời khỏi VN, TQ có thể giảm áp lực lên Hà Nội và trao cho Bắc VN thêm quyền tự trị. Cả ba đều cảm thấy Cố vấn Nhu sẵn sàng thương thuyết như thế vì 2 lý do. Thứ nhất, Nhu tin tuyệt đối vào khả năng của Nhu là "thắng quân CS chính trong ván cờ của họ"; và thứ nhì, Nhu muốn người Mỹ rời khỏi VN. Đại biện Ngoại giao Pháp thú nhận rằng Đại sứ Pháp Lalouette trước đó đã nói chuyện với Nhu về các điều kiện này. Cả Nhu và Lalouette đều kết luận rằng tiến độ chiến tranh, trước các sự kiện mới đây, làm cho một thương lượng như thế có thể an toàn thương lượng vào cuối năm nay. Nhưng tiết lộ của Nhu về các cuộc thương thuyết mật với Hà Nội cho phóng viên Joseph Alsop (báo Washington Post, ấn bản ngày 18/9/1963) đã làm lúng túng người Pháp, và họ bây giờ nói rằng họ không tin vào ý định tận cùng của Nhu.

Tạo bài viết
24/08/2015(Xem: 6715)
14/04/2020(Xem: 4206)
24/02/2020(Xem: 1406)
02/11/2019(Xem: 1910)
Thật sự ai có chút từ tâm hẳn cũng phải nghẹn thở khi nhìn hình ảnh người cảnh sát da trắng đè gối lên cổ người da đen cho đến chết, mặc lời van xin thảm thiết.
Nguồn gốc của Chủ nghĩa Dân tộc Phật giáo bắt nguồn từ quá khứ, Myanmar đã trở thành thuộc địa nằm dưới sự kiểm soát, cai trị của thực dân đế quốc Anh vào năm 1824. Chính quyền thuộc địa đã rút lại sự hỗ trợ truyền thống của nhà nước đối với các cơ sở tự viện tôn giáo, thúc đẩy giáo dục thế tục, đàn áp các truyền thống Phật giáo và khuyến khích hoạt động truyền giáo của đạo Cơ Đốc.
Chuyện dài tranh chấp sở hữu chùa Bảo Quang, Santa Ana, kể từ sau khi hòa thượng viện chủ viên tịch, vừa được Tòa Thượng Thẩm California ở Orange County ra phán quyết kết thúc hôm Thứ Hai, 22 Tháng Ba.