Tiểu Sử Vắn Tắt Domang Yangthang Rinpoche (1929-2016)

19/08/20201:00 SA(Xem: 989)
Tiểu Sử Vắn Tắt Domang Yangthang Rinpoche (1929-2016)

TIỂU SỬ VẮN TẮT
DOMANG YANGTHANG RINPOCHE (1929-2016)
Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

 

Yangthang RinpocheChương 1. Sự chào đờicông nhận là vị tái sinh của Tổ Domang Terchen

Domang Yangthang Rinpoche – vị làm rạng danh giáo lý của truyền thống Cựu Dịch, sinh vào ngày 10 tốt lành của tháng 11 năm Mộc Tỵ (1929). Ngài chào đời ở vùng Yangthang, nằm gần xứ Sikkim hiện nay. Phụ thân Ngài là Lama Pema Drodud, vị đến từ [Tu viện] Dzogchen xứ Do-Kham. Mẫu thân Ngài là Bà Tenzin Chodron, con gái của Yangthang Ating thuộc dòng dõi gia đình “Tsan-O-Yu-Drag-Karpa”.

Sau khi Ngài chào đời, một vài dấu hiệu tuyệt vời đã xuất hiện, chẳng hạn chủng tự OM tự sinh trên răng của Ngài, một hình giống như ốc trắng ở chân răng, cùng nhiều điều khác. Không giống như những đứa trẻ khác, Ngài lớn khá nhanh.

~.~

Rất nhiều các bản văn Mật thừa chỉ ra rằng tiền thân của Yangthang Rinpoche – Tổ Domang Terchen (tức Dorje Dechen Lingpa[1]) là hiện thân của Đức Lhatsun Namkha Jigme[2], một vị Khai Tạng Mật vĩ đại. Một bản văn nói rằng,

“Trong lục địa Lưới Ogmin Liên Hoa,

Nơi vùng đất thịnh vượng liên tục Dremoshong (Sikkim),

Cơn mưa Thánh Pháp Mật thừa không thể phá hủy trút xuống

Jigme Pawo Kunsang Namgyal.

Vị mang danh hiệu Dorje sẽ phát lộ pháp du già chôn giấu từ kho tàng tâm,

Khi Ngài nhớ lại tất cả những điều được gieo trồng trong tâm Ngài trước kia”.

Và cũng từ kho tàng bổ sung Rigdzin Sogdrub của Tổ Lhatsun Namkha Jigme có đoạn:

“Thánh địa tối thắng Dremojong (Sikkim), trung tâm của Nam Thiệm Bộ Châu

Trong động kim cương Lhari Nyinku

Hiện thân tối hậu tinh túy trọng yếu giác ngộ của tất thảy chư đạo sư Trì Minh Vương: Namkha Jigme.

Những bản văn Mật thừa của Ngài tự nhiên sinh khởi.

Kho tàng bổ sung của pho giáo lý Lama Rigdzin Sogdrub, thứ giải thích hoàn hảo các bản văn bí mật, được phát lộ bởi Dorje Dechen Lingpa, Hóa thân của Jigme Pawo Kunsang Namgyal. Nguyện mọi sự tốt lành!”.

Các nguồn tài liệu khác cũng nói rằng:

“Bậc thầy Đại Viên Mãn từ Sikkim, Hóa thân Vimalamitra[3],

Heruka vinh quang Namkha Jigme Tsal

Hóa thân của Ngài là Jigme Pawo

Hóa thân thứ ba là Dorje Dechen Lingpa”.

~.~

Như được tán thán rõ ràng trong nhiều bản văn kim cương về chân nghĩa, Tổ Domang Terchen hay Dorje Dechen Lingpa, Hóa thân của Đức Traktung Jigme Pawo (vị này lại là hóa thân của Gyalwa Lhatsun Chenpo tức Tổ Lhatsun Namkha Jigme) đã phát lộ phần bổ sung của Pho Terma Rigdzin Sokdru”, cùng hơn 12 bộ Kho Tàng mới (Tersar), dưới dạng Terma đất cũng như Terma tâm. Ngài duy trìgìn giữ trọn vẹn phần giáo lý cuối cùng của Tổ Lhatsun Namkha Jigme và làm lợi lạc chúng sinh một cách rộng lớn.

Vị tái sinh của Ngài là Domang Yangthang Rinpoche hay Kunsang Jigme Dechen Odsel Dorje. Chư vị Thánh Sư như Dzogchen Rinpoche thứ 5, đã chỉ ra cách tìm vị tái sinh này: “Hãy đi tới nơi gọi là Yangthang ở Sikkim! Chắc chắn các con sẽ tìm thấy vị tái sinh không mấy khó khăn”.

~.~

Dựa vào những chỉ dẫn này, Domang Soktrul Rinpoche[4] cùng vài người khác đã tới Sikkim để tìm kiếm vị tái sinh. Khi đến vùng Yangthang, họ thấy vài đứa trẻ đang chơi đùa. Một trong số chúng tới chỗ họ và nói bằng tiếng địa phương vùng Sikkim, “Các ông đến thực sự muộn đấy!”.

Họ hỏi cậu bé tên vùng đó và tên của cha cậu. Cậu đáp rằng, “Vùng này được gọi là Yangthang. Cha tôi là Pema Drodud”. Và sau đó, cậu nói, “Hãy đến nhà tôi!”.

Đoàn tìm kiếm vô cùng ngạc nhiên trước điều này. Họ bảo với cha cậu rằng, cậu bé rất đặc biệt. Người cha đáp, “Đúng thế, thực sự cậu bé rất đặc biệt. Khi chào đời, vài âm thanh vang dội trên trời. Tôi đã ghi chép chúng lại”. Ông đưa cho họ xem bản ghi chép và nó nói rằng:

 “Trên đỉnh thung lũng, có một ngọn núi tuyết trắng trông như Bảo tháp[5].

Ở dưới thung lũng, có những dòng sông lớn như xích sắt[6].

Trên đỉnh của vùng trung thung lũng trông như chày kim cương[7].

Ta ở đó: Dorje Dechen Lingpa!”.

Khi phái đoàn thấy những dòng này, cha cậu bé không biết họ tới đây làm gì. Bởi những ghi chép này phù hợp với chỉ dẫn của Dzogchen Rinpoche thứ 5 và các vị thầy khác không chút đối nghịch, Domang Soktrul Rinpoche công nhận cậu bé là vị tái sinh của Tổ Dorje Dechen Lingpa.

 

Chương 2. Được thỉnh mời từ Sikkim tới Kham và tham dự nghi lễ đăng quang

Bởi cậu bé đã được công nhận là vị tái sinh chân chính, Domang Soktrul Rinpoche đã dâng lên nhiều ngọc báu, bao gồm vàng, bạc. Khi Rinpoche lên chín tuổi, Ngài cùng đoàn tùy tùng cưỡi ngựa tiến về xứ Kham, Tây Tạng từ vùng đất thánh Sikkim, đi qua nhiều vùng đất thuộc miền Trung Tây Tạng, trong đó có Lhasa.

Trên đường tới Kham, họ hành hương tới nhiều thánh địa linh thiêng thuộc vùng Utsang. Mười bốn tuổi (năm Thủy Ngọ chu kỳ Rabjung thứ 16, tức năm 1942), Ngài tới Tu viện Domang (Thubten Gepel Ling hay Domang Kelsang Gompa), thuộc vùng Dreho Drango Dzong, Xứ Do-Kham. Ngài được tấn phong là vị tái sinh trên Pháp tòa thuộc về Hóa thân trước đó: Tổ Domang Terchen.

Địa điểm nơi Ngài chào sinh ngày nay thuộc Sikkim, Ấn Độ. Ngài được thỉnh mời từ Sikkim tới vùng du mục Drango Li-khok-mey. Trong lịch sử, thật hiếm khi có một trường hợp tìm kiếmthỉnh mời vị tái sinh từ một vùng đất xa xôi đến vậy.

 

Chương 3. Tinh tấn tu học dưới sự chỉ dạy của nhiều bậc đạo sư

Kể từ khi còn nhỏ, Rinpoche đã nỗ lực trong việc nghiên cứu mọi chủ đề mà một Kim Cương Thượng Sư cần học hỏi: đọc, viết, múa [vũ điệu kim cương], vẽ, trì tụng cùng nhiều môn khác, từ chư vị đạo sư, chủ yếu là Domang Soktrul Rinpoche, một đệ tử của Hóa thân trước đó.

Từ nhiều vị Thượng Sư vĩ đại, chẳng hạn Tsakha Lama Tsullo, Khenchen Pema (vị được đặc biệt cử tới từ Tổ Đình Palyul để giảng dạy cho Rinpoche), Khenpo Lobsang Chodrak, Tulku Yeshe Dorje, Rahob Dzogtrul, Khenpo Yonga, Jyakong Tulku Dorje Dramdu (con trai của Tổ Traktung Dudjom Lingpa), Đức Yukhok Chatralwa, Mani Lama Pema Siddhi và nhiều vị khác, Rinpoche hoàn thành việc nghiên cứuquán chiếu về vô số bản kinh văn, trong đó bao gồm cả các chủ đề chung. Sau đấy, Ngài tiến hành các hoạt động du già như một vị Yogi ẩn mật vĩ đại và hoàn toàn tập trung vào thực hành nhập thất.

Chư vị đạophi phàm chính yếu của Rinpoche gồm Drubchen Lingtrul Rinpoche, Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche[8], Sera Yangtrul Rinpoche, cùng những vị khác, như Ngài thường đề cập.

 

Chương 4. Sống trong tù ngục vào thời biến loạn

Sau khi Trung Quốc xâm chiếm Tây Tạng và trước khi hoàn cảnh trở nên thực sự đau khổ, nhiều vị đạo sư xứ Do-Kham đã lên kế hoạch sống lưu vong, trong đó có Yangthang Rinpoche. Vì thế, Ngài tới Tu viện Do-kok Drubchen và thỉnh ý Drubchen Lingtrul Rinpoche – Bổn Sư của Ngài rằng, “Liệu con có nên sống tha hương?”.

Đại Sư đáp rằng, “Con cần đón nhận khó khăn dù nó lớn đến nhường nào. Con không nên rời bỏ quê hương”.

Nương theo khai thị của Ân Sư, Yangthang Rinpoche không rời khỏi Xứ Tạng, mà đối diện với hiểm nguy. Ngài tới vùng đất mà Ngài coi sóc, vùng Ke-phen-lo-kok-ma. Sau đó, Ngài bị chính quyền bỏ tù và như thế trải qua nhiều đau đớn trong hơn 20 năm.

Lúc đó, có nhiều đạo sư và Tulku bị giam trong cùng nhà ngục. Trong số đó, Sera Yangtrul Rinpoche cũng bị giam cùng nơi với Rinpoche. Vì thế, Ngài thường tận hưởng bữa tiệc cam lồ Giáo Pháp về các thực hành thâm sâubí mật. Mặc dù phải trải qua nhiều khó khăn về thể xác, Ngài nhận về mình khổ đau và trao tặng hạnh phúc. Hơn thế, Rinpoche thấy nghịch cảnhcảm hứng cho thiện hạnh và như thế, Ngài chủ yếu tập trung vào hành trì trong tù ngục.

Ngài chỉ nói với các đệ tử xung quanh rằng, Ngài đã có thể tiến hành thực hành chính yếu trong nhà tù.

~.~

Khi chính sách của Trung Quốc trở nên nới lỏng hơn, Rinpoche được thả. Lúc này, Ngài là một vị đạo sư – đối tượng của tín tâm và lòng sùng mộ. Bởi Ngài chào đờiẤn Độ, Rinpoche được chính quyền Trung Quốc mời đến làm việc trong học viện chính trị thuộc vùng Gamtse. Tận dụng cơ hội này, Ngài đã đóng góp lớn lao cho việc phục hồi văn hóa Tây TạngPhật Pháp.

 

Chương 5. Giải thoátthành thục những kẻ may mắn bằng quán đỉnhkhẩu truyền

Yangthang Rinpoche dẫn dắt những chúng sinh may mắn vào con đường giải thoátthành thục nhờ ban các quán đỉnh, khẩu truyềnchỉ dẫn cốt tủy thâm sâu. Năm 1991, Ngài tới nước Mỹ, ban quán đỉnhkhẩu truyền Pho Nyingtik Yabshi[9] ở California và thủ đô Washington D.C.

Năm 2000, theo lời thỉnh cầu của vị trưởng dòng thứ 3 của truyền thống Cổ Mật, Kyabje Penor Rinpoche[10], Yangthang Rinpoche đã ban trọn vẹn quán đỉnh của Hóa thân tiền nhiệm (Tổ Domang Terchen) cho Penor Rinpoche và tập hội những tín đồTu viện Namdroling, miền Nam Ấn Độ, trong khi Penor Rinpoche ban quán đỉnh Rinchen Terdzod cho đại chúng.

Từ ngày 29 tháng 1 năm 2010, Rinpoche dành hơn 20 ngày để ban trọn vẹn Pho Kama cho tập hội tu sĩcư sĩ tham dự Nyingma Monlam ở Bồ Đề Đạo Tràng, theo lời thỉnh cầu của Hiệp Hội Bảo Tồn Truyền Thừa Kama Của Truyền Thống Cổ Mật.

Cũng năm 2010, Ngài ban trọn vẹn đàn quán đỉnh của Tổ Lhatsun Namkha Jigme và Terchen Jatson Nyingpo[11]Tu viện Pemayangtse, Sikkim.

Năm 2011, Ngài ban quán đỉnhkhẩu truyền Nyingtik Yabshi cho Degyal Tulku thứ 3 và đại chúngTu viện Namkha Kyutsom, Nepal.

Năm 2012, theo lời thỉnh cầu của Hiệp Hội Bảo Tồn Truyền Thừa Kama Của Truyền Thống Cổ Mật, Rinpoche ban khẩu truyền Pho Kamaquán đỉnh Kagye Deshe Dupa cho 1700 thành viên Tăng đoàn, bao gồm các hành giả tu sĩcư sĩ.

Cùng năm đó, Rinpoche tới trụ xứ chính của các trung tâm Rigpa, Lerab Ling, nước Pháp và ban các quán đỉnh của Tổ Jigme Lingpa[12].

Tháng 4 năm 2013, Rinpoche viếng thăm Orgyen Dorje Den, trung tâm của Gyatrul Rinpoche[13] ở California và ban quán đỉnh Pho Kamatoàn bộ các quán đỉnh của Hóa thân trước đó – Tổ Domang Terchen.

Như thế, Rinpoche thỏa mãn nhiều đệ tử bằng Thánh Pháp. Những học trò may mắn đã được dẫn dắt tới con đường của sự giải thoátchín muồi.

 

Chương 6. Các hoạt động Phật sự của Rinpoche liên quan tới việc phục hồi giáo lý Phật Đà

Từ hình tướng bên ngoài, mặc dù giáo lý Phật Đà ở vùng đất tuyết Tây Tạng dường như chỉ còn lại trên danh nghĩa, một cách tuyệt đối, nhiều vị đạo sư vĩ đại vẫn còn trụ thế. Giống như khiến đám tro tàn bùng cháy trở lại, Rinpoche đã đảm trách việc tái thiết Tu viện Domang Thubten Gephel Ling – nơi Ngài coi sócxây dựng mới chính điện cũng như các đối tượng linh thánh (những bức tượng). Ngài xây dựng lại học viện nghiên cứu cao cấp (Shedra) và trung tâm thực hành. Hiện tại, việc giảng dạy, thực hành Giáo Phápcử hành các nghi quỹ vẫn đang diễn ra.

Sau khi được thả, Rinpoche không ở lại Tây Tạng lâu. Ngài trở về Ấn Độ và sống tại Sikkim, nơi Ngài chào đời. Thuở bình minh của câu chuyện Phật Pháp ở Sikkim, có ba đạo sư đã cùng nhau vân tập về Sikkim. Chư vị là Lhatsun Namkhe Jigme, Ngadak Semba Chenpo và Kathok Rigdzin Chenpo. Ở nơi vốn là trụ xứ “cung điện đỏ” của Tổ Ngadak Semba Chenpo, Rinpoche xây dựng Tu viện Ngadak Jangchub Choling. Bức tượng chính yếu trong chính điện là Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Giống như vậy, ở “đồi mạn đà la” – trụ xứ của Tổ Kathok Rigdzin Chenpo, Rinpoche xây dựng Tu viện Kathok – tại đó, bức tượng Guru Rinpoche là chính yếu.

Phía phải của trung tâm thị trấn ở Yuksam, xứ Sikkim, Rinpoche xây dựng Phòng Kinh Luân, chứa 18 Kinh Luân lớn. Kiểu phòng Kinh Luân này rất hiếm gặp trên thế giới.

Mặc dù Rinpoche hiện đã bước sang tuổi 85, Ngài vẫn xả thân trong các hoạt động nhằm phục hồi Giáo Pháp. Hiện tại, Ngài vẫn mạnh khỏe và không ngừng tiến hành các hoạt động vĩ đại làm lợi lạc Phật Phápchúng sinh[14].

 

Nguồn Anh ngữ: A Concise Biography of Domang Yangthang Rinpoche (do https://www.facebook.com/domang.yangthangrinpoche chia sẻ).

Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ năm 2014, hiệu đính toàn bộ năm 2020.



[1] Theo Rigpawiki, Dorje Dechen Lingpa (1857-1928) là vị tái sinh của Đức Yongdzin Jinpa Gyatso, Tổ sáng lập Tu viện Domang và Tổ Lhatsun Namkha Jigme. Ngài đã tu học với Đức Jamyang Khyentse Wangpo, Jamgon Kongtrul Lodro Thaye, Palyul Dongak Chokyi Nyima và nhiều đạo sư khác. Ngài bắt đầu phát lộ Terma vào năm hai mươi mốt tuổi. Năm 1927, ở tuổi 70, Ngài rời Tu việndu hành về miền Trung Tây Tạng, cuối cùng đến Sikkim và Ấn Độ. Chính trong hành trình này, Ngài đã dành năm tháng để ban các trao truyền cho Pho Rinchen Terdzod tại Tu viện Drikung Yari. Sau khi trở về Tây Tạng, Ngài viên tịch ở Sakya, miền Tây Tây Tạng vào năm Thổ Thìn chu kỳ Rabjung thứ 16 (tức năm 1928).

[2] Theo Rigpawiki, Lhatsun Namkha Jigme (1597-1653) là hóa thân của đại học giả và đạo sư Dzogchen vĩ đại – Đức Vô Cấu Hữu Vimalamitra, người đã đắc thân cầu vồng và Đấng Toàn Tri Longchenpa.

[3] Theo Rigpawiki, Vimalamitra – Vô Cấu Hữu hay Mahavajra là một trong ba đạo sư Phật giáo Ấn Độ uyên bác nhất. Ngài đã đến Tây Tạng vào thế kỷ 9, nơi Ngài giảng dạy rộng khắp và biên soạn cũng như chuyển dịch nhiều bản văn Phạn ngữTinh túy của các giáo lý của Ngài được biết đến là Vima Nyingtik, một trong những giáo lý Tâm Yếu của Đại Viên Mãn.

Vimalamitra dành mười ba năm ở Tây Tạng và sau đó, hứa khả sẽ trở lại Tây Tạng mỗi một trăm năm để củng cố giáo lý Tịnh Quang Đại Viên Mãn, Ngài đến Ngũ Đài Sơn của Trung Quốc. Ở đó, Ngài duy trì Thân Cầu Vồng – ‘Thân Đại Chuyển Di’ và sẽ an trụ như vậy cho đến khi tất cả 1002 vị Phật của Hiền Kiếp này xuất hiện. Khi chư vị đều đã xuất hiện, Ngài sẽ đến Kim Cương Tòa ở Ấn Độ một lần nữa và hiển bày trạng thái giác ngộ viên mãn.

[4] Theo Rigpawiki, Domang Soktrul Rinpoche (qua đời năm 1958) của Tu viện Domang, miền Đông Tây Tạng, là đệ tử chính yếu của Tổ Dorje Dechen Lingpa và là đạo sư chính yếu của Yangthang Rinpoche.

[5] Đỉnh Kangchenjonka.

[6] Điều này liên quan tới các điểm giao cắt của những dòng sông lớn ở vùng Gyazhing xứ Sikkim.

[7] Điều này liên quan tới tu viện Pemayangtse ở Pelling, được xây dựng bởi Đại Sư Lhatsun Namkha Jigme.

[9] Theo Rigpawiki, Nyingtik Yabshi nghĩa đen là Tâm Yếu Bốn Phần. Nó bao gồm: Vima Nyingtik, Lama Yangtik, Khandro Nyingtik và Khandro Yangtik.

Vima Nyingtik và Khandro Nyingtik là những bản văn Nyingtik ‘mẹ’ trong khi Lama Yangtik và Khandro Yangtik được biết đến là những bản văn ‘con’; do đó, tên gọi phổ biến khác cho tuyển tập này là Bốn Phần Mẹ – Con Của Nyingtik (Nyingtik Mabu Shi).

Tổ Longchen Rabjam cũng biên soạn Zabmo Yangtik, thứ cô đọng các chỉ dẫn cốt tủy quan trọng của cả Vima Nyingtik và Khandro Nyingtik.

[11] Theo Rigpawiki, Jatson Nyingpo (1585-1656) là một đạo sư và Terton Nyingma. Pho Terma chính yếu của Ngài là Konchok Chidu.

[13] Theo Rigpawiki, Gyatrul Rinpoche (sinh năm 1925) là một đạo sư cao cấp của truyền thừa Palyul, trường phái Nyingma thuộc Phật giáo Tây Tạng.

[14] Ngài đã viên tịch ở Hyderabad, Ấn Độ vào ngày 15 tháng 10 năm 2016 – chú thích bổ sung của người dịch Việt ngữ.

Tạo bài viết
15/07/2020(Xem: 775)
Sáng hôm qua, (ngày 18 tháng 10) phái đoàn của Hội từ thiện Trái Tim Bồ Đề Đạo Tràng đã có mặt cứu trợ cho 4 xã Hải Thiện, Hải Lăng, Hải Ba, Hải Dương, Hải tại Tỉnh Quảng Trị. Xã Hải Thiện phát 170 phần quà, xã Hải ba & Hải Lăng 180 phần quà, xã Hải Dương 150 phần quà. Thật may mắn cho đoàn là cả ngày trời không mưa nên công việc cứu trợ được thuận duyên và thành tựu viên mãn.
Trong vài tuần qua, người dân Hoa Kỳ được biết đến một bản văn mang tính kiến nghị có tên là "Tuyên bố Great Barrington" phản đối chính sách phong tỏa xã hội (lockdowns strategy) để ngăn chặn đại dịch và ủng hộ chiến lược tự do lây nhiễm SARS-CoV-2 (Covid-19) ở những người trẻ, khỏe mạnh, nhằm đạt được miễn dịch cộng đồng. Bản kiến nghị này được đặt theo tên một thị trấn của bang Massachusetts, Hoa Kỳ và được hai quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc phát biểu trong một cuộc họp báo
.Xin một lời nguyện cầu cho xứ Huế | Cho Miền Trung, cho đất nước quê hương | Mau thoát cảnh..''trời hành cơn lụt''..| Gây đau thương, bao khổ cảnh đoạn trường..| Xin một lời nguyện cầu cho đất Mẹ | Mưa thuận gió hòa, thôi dứt bể dâu! | - Đời đã khổ, mong trời ngưng nhỏ lệ | Cho sinh linh an ổn.. thoát lo sầu...