Chương I – YAMAKAVAGGA - (Phẩm Song Đối)

14/06/20146:59 CH(Xem: 3073)
Chương I – YAMAKAVAGGA - (Phẩm Song Đối)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương I
YAMAKAVAGGA
(Phẩm Song Đối)

1.

Các pháp, tư tác(1) dẫn đầu

Tư tác chủ ý bắc cầu đưa duyên

Nói, làm xấu ác, chẳng hiền

Bánh xe bò kéo, khổ liền theo sau!

Manopubbaṅgamā dhammā

manoseṭṭhā manomayā,

manasā ce paduṭṭhena

bhāsati vā karoti vā,

tato naṃ dukkhamanveti

cakkaṃ’vā vahato padaṃ.

­œ

2.

Các pháp, tư tác dẫn đầu

Tư tác, chủ ý bắc cầu đưa duyên

Nói, làm lành tốt, thiện hiền

Như hình dọi bóng, vui liền theo sau.

Manopubbaṅgamā dhammā

manoseṭṭhā manomayā,

manasā ce pasannena

bhāsati vā karoti vā,

tato naṃ sukhamanveti

chāyā’va anapāyinī.

­

3.

“Nó đánh, nó cướp của tôi!

Lại còn nhục mạ lắm lời đắng cay!”

Ai mà ôm ấp niệm nầy

Lửa phiền thiêu đốt tháng ngày chẳng nguôi!

Akkocchi maṃ avadhi maṃ

ajini maṃ ahāsi me,

ye ca taṃ upanayhanti

veraṃ tesaṃ na sammati.

­œ

4.

“Nó đánh, nó cướp của tôi!

Lại còn nhục mạ lắm lời đắng cay!”

Người không ôm giữ niệm nầy

Lửa phiền chợt tắt, khổ rày tự tiêu!

Akkocchi maṃ avadhi maṃ

ajini maṃ ahāsi me,

ye ca taṃ na nupanayhanti

veraṃ tesūpasammati.

­œ

5.

Nếu ai lấy oán báo thù

Oan oan tương báo, thiên thu hằng sầu

Từ tâm, định luật nhiệm mầu

Lấy ân báo oán, còn đâu oán thù?

Na hi verena verāni

sammantīdha kudācanaṃ

averena ca sammanti

esa dhammo sanantano.

­œ

6.

Luận tranh chẳng có ích gì!

Tranh cường, hiếu thắng lắm khi phiền hà

Ai người suy ngẫm sâu xa

Nói năng tự chế, bất hòa lặng yên!

Pare ca na vijānanti

mayamettha yamāmase,

ye ca tattha vijānanti

tato sammanti medhagā.

­œ

7.

Người hằng say đắm dục trần(1)

Uống ăn vô độ, trăm phần dể duôi

Ma Vương chúng vỗ tay cười

Cây cành mềm yếu, tơi bời gió lay!

Subhānupassiṃ viharantaṃ

indriyesu asaṃvutaṃ,

bhojanamhi cāmattaññuṃ

kusītaṃ hīnavīriyaṃ,

taṃ ve pasahati māro

vāto rukkhaṃ’va dubbalaṃ.

­œ

8.

Người hằng quán niệm tự thân

Uống ăn tiết độ, tinh cần sớm hôm

Ma Vương đâu dễ khinh lờn

Gió qua núi đá chẳng sờn, chẳng lay!

Asubhānupassiṃ viharantaṃ

indriyesu susaṃvutaṃ,

bhojanamhi ca mattaññuṃ

saddhaṃ āraddhavīriyaṃ,

taṃ ve nappasahati māro

vāto selaṃ’va pabbataṃ.

­œ

9.

Người không tự chế, không chơn

Người mà tâm địa chẳng hơn thế phàm!

Làm sao xứng mặc y vàng?

Làm sao xứng đáng dự hàng Sa-môn?

Anikkasāvo kāsāvaṃ

yo vatthaṃ paridahissati,

apeto damasaccena

na so kāsāvaṃ arahati.

­œ

10.

Người mà nhẫn nại tu hành

Nghiêm trì giới luật cao thanh, rỡ ràng

Khen thay! Khéo mặc y vàng!

Khen thay! Xứng đáng dự hàng Sa-môn!

Yo ca vantakasāv’assa

sīlesu susamāhito,

upeto damasaccena

sa ve kāsāvam’arahati.

­œ

11.

Phi chơn lại tưởng chánh chơn

Chánh chơn lại tưởng phi chơn, đó là:

Duy trì ác kiến, ác tà

Ngu nhân nào thấy tinh hoa pháp mầu!

Asāre sāramatino

sāre cāsāradassino,

te sāraṃ nādhigacchanti

micchāsaṅkappagocarā.

­œ

12.

Chánh chơn thấy rõ chánh chơn

Phi chơn thấy rõ phi chơn, mới là:

Lìa xa ác kiến, ác tà

Trí nhân dễ ngộ tinh hoa pháp mầu!

Sārañca sārato ñatvā

asārañ ca asārato,

te sāraṃ adhigacchanti

sammāsaṅkappagocarā.

­œ

13.

Nhà ai vụng lợp, dột mưa

Cũng dường thế ấy, người chưa tu trì

Tâm nhiều tham ái, sân si

Dễ dàng xâm nhập sầu bi, não phiền.

Yathā agāraṃ ducchannaṃ

vuṭṭhi samativijjhati,

evaṃ abhāvitaṃ cittaṃ

rāgo samativijjhati.

­œ

14.

Nhà ai khéo lợp, khéo ngăn

Nước mưa không thể lại xâm nhập vào

Tâm người biết dựng vách rào

Ái tham, phiền não dễ nào ghé vô!

Yathā agāraṃ succhannaṃ

vuṭṭhi na samativijjhati,

evaṃ subhāvitaṃ cittaṃ

rāgo na samativijjhati.

­œ

15.

Đây thống khổ, kia thương đau!

Hai đời, kẻ ác muộn sầu chẳng vui

Bất an, ưu não rối bời

Mắt nhìn khổ báo, Phật, Trời thở than!

Idha socati pecca socati

pāpakārī ubhayattha socati,

so socati so vihaññati

disvā kammakiliṭṭhamattano.

­œ

16.

Đây an lạc, kia hỷ hoan

Hai đời thiện hạnh lại càng thêm vui

Bình yên, hoa nở, nụ cười

Mắt nhìn phước quả thắm tươi bốn bề!

Idha modati pecca modati

katapuñño ubhayattha modati,

so modati so pamodati

disvā kammavisuddhimattano.

­œ

17.

Đây ưu não, kia khổ đau

Hai đời, kẻ ác muộn sầu thảm thương

Thở than nghiệp dữ đã vương

Chết vào khổ cảnh đoạn trường, than hơn!

Idha tappati pecca tappati

pāpakārī ubhayattha tappati,

pāpaṃ me katan ti tappati

bhiyyo tappati duggatiṃ gato.

­œ

18.

An vui, hạnh phúc hai đời

Tâm người thiện hạnh rạng ngời, hân hoan

Đã mừng gieo được phước vàng

Sinh vào tiên cảnh, lại càng mừng hơn!

Idha nandati pecca nandati

katapuñño ubhayattha nandati,

puññaṃ me katan ti nandati

bhiyyo nandati suggatiṃ gato.

­œ

19.

Suốt thông kinh luật mặc dầu

Nếu không hành đạo, đếm trâu, đếm bò!

Dể duôi, tự mãn nằm co

Qua miền siêu thoát, gọi đò ai đưa?

Bahumpi ce sahitaṃ bhāsamāno

na takkaro hoti naro pamatto,

gopo’va gāvo gaṇayaṃ paresaṃ

na bhāgavā sāmaññassa hoti.

­œ

20.

Ít thông kinh luật mặc dầu

Nếu chuyên hành đạo, tìm câu sửa mình

Sống đời chánh hạnh, quang minh

Qua miền siêu thoát, vô sinh, hưởng nhàn!

Appampi ce sahitaṃ bhāsamāno

dhammassa hoti anudhammacārī,

rāgan ca dosañ ca pahāya mohaṃ

sammappajāno suvimuttacitto,

anupādiyāno idha vā huraṃ vā

sa bhāgavā sāmaññassa hoti.

­œ



(1) Theo Abhidhamma thì ý (mano), thức (viññāṇa), tâm (citta)... đồng nghĩa; nhưng tôi chọn dịch là tư tác (cetanā) – vì tư tác mới là nghiệp. Từ trước đến nay, nhiều nơi bảo tác ý (manasikāra) là nghiệp; không phải vậy, tác ý mới chỉ là hướng tâm, như bánh lái của chiếc thuyền. Trong 7 biến hành tâm sở (Duy Thức chỉ 5): Xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư, nhất tâm, mạng căn – thì chính tư (tư tác-cetanā) mới quan trọng, mới tạo nghiệp; sau đó, các lộ trình tâm mới khởi theo – chúng đồng khởi. Tuy nhiên, nếu dịch là tâm hay ý đều không sai, vì ý, tâm, tư tác - được coi là tâm và các pháp (dhammā), hai từ đầu trong câu kệ, chính là những tâm sở (theo chú giải).

(1) Câu Pāḷi tương ứng có nghĩa: Sống mà hằng suy nghĩ đến lạc thú (nhìn tịnh tướng).



Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37089)
18/04/2016(Xem: 5185)
02/04/2016(Xem: 3943)
27/03/2014(Xem: 12588)
06/08/2010(Xem: 36739)
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .