Chương XVI – PIYAVAGGA - (Phẩm Thương, Ái)

15/06/20143:06 CH(Xem: 1595)
Chương XVI – PIYAVAGGA - (Phẩm Thương, Ái)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương XVI 
PIYAVAGGA 
(Phẩm Thương, Ái)

(1) Cần phân biệt một số từ có từ gốc “Ái”, đó là piya, pema, rati, rāgī, rāga, kāma, taṇhā... Piya, pema thường dùng trong nghĩa thương yêu, trìu mến, thân yêu, thương mến, yêu quý, yêu mến... là những tình cảm tốt đẹp trong đời thường như cha mẹ, vợ con, bằng hữu, xóm làng, quê hương... Rati, rāgī, rāga được dùng khi tình cảm đã sâu nặng, như quyến luyến, luyến thương, ái luyến đưa đến dục tình, tình dục... Kāma thì thuộc về tất cả dục ngũ trần, thuộc dục giới. Taṅhā là ái, ái dục nằm trong 12 duyên khởi; khi nó thích thì yêu, thương, tham - khi không thích thì sinh ra ghét, chán, sân. Tuy nhiên, dù thương, dù ái kiểu gì thì cũng đem đến buộc ràng, đau khổ... như tham, thương nhiều thì khổ nhiều; tham, thương ít thì khổ ít vậy (Đây là sự thấy biết riêng, có tính chủ quan của soạn giả, có thể chưa được chính xác hoặc có một vài sai sót nào đó, xin các bậc thức giả, trí giả hiểu cho).

 

209.

Đáng làm thì lại bỏ quên

Chăm chuyên những việc chẳng nên chút nào

Thả cho dục vọng tuôn trào

Quên mục đích chính, lội vào dòng mê!

Đã không cố gắng quay về

Lại còn ganh tị, cười chê người hiền!

 

Chánh chơn thì lại bỏ bên

Chăm chuyên những việc chẳng nên chút nào!

Xa mục đích, dục tuôn trào

Chạy theo những việc tào lao giữa đời

Lại còn dè bỉu, ỉ ôi

Tỵ ganh những bậc chẳng rời hướng tu!

 

Ayoge yuñjamattānaṃ

yogasmiñ ca ayojayaṃ,

atthaṃ hitvā piyaggāhī

pihetattānuyoginaṃ.

­œ

210.

“Thương yêu” thì chớ tìm gần

Kẻ mình chẳng thích, phải cần tránh mau!

Người thương không gặp thì sầu

Còn kẻ mình ghét, mày chau ích gì!

 

Mā piyehi samāgañchi(1)

appiyehi kudācanaṃ,

piyānaṃ adassanaṃ dukkhaṃ

appiyānañca dassanaṃ.

­œ

211.

Vậy nên chớ có thương ai

Thương người mà phải xa người, khổ thay!

Ghét, yêu – ái khởi, duyên bày

Lìa được yêu, ghét - cởi dây buộc ràng!

 

Tasmā piyaṃ na kayirātha

piyāpāyo hi pāpako,

ganthā tesaṃ na vijjanti

yesaṃ n’atthi piyāppiyaṃ.

­œ

212.

“Thân yêu” sinh bệnh phiền ưu

Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề

Không thân yêu, chẳng thích mê

U sầu, sợ hãi - ê chề trốn xa!

 

Piyato jāyatī soko

piyato jāyatī bhayaṃ,

piyato vippamuttassa

n’atthi soko kuto bhayaṃ.

­œ

213.

“Trìu mến” sinh bệnh phiền ưu

Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề

Không trìu mến, chẳng thích mê

U sầu, sợ hãi - cận kề được đâu!

 

Pemato jāyatī soko(1)

pemato jāyatī bhayaṃ,

pemato vippamuttassa

n’atthi soko kuto bhayaṃ.

­œ

214.

“Luyến ái” sinh bệnh phiền ưu

Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề

Không luyến ái, chẳng đắm mê

U sầu, sợ hãi - chúng chê dở mồi!

 

Ratiyā jāyatī soko(1)

ratiyā jāyatī bhayaṃ,

ratiyā vippamuttassa

n’atthi soko kuto bhayaṃ.

­œ

215.

“Tham dục” sinh bệnh phiền ưu

Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề

Không tham dục, chẳng đắm mê

U sầu, sợ hãi - chán chê chẳng gần!

 

Kāmato jāyatī soko(1)

kāmato jāyatī bhayaṃ,

kāmato vippamuttassa

n’atthi soko kuto bhayaṃ.

­œ

216.

“Dục ái” sinh bệnh phiền ưu

Lại sinh sợ hãi, lo âu nhiều bề

Không dục ái, chẳng đắm mê

U sầu, sợ hãi - đã thề viễn ly!

 

Taṇhāya jāyatī soko(1)

taṇhāya jāyatī bhayaṃ,

taṇhāya vippamuttassa,

n’atthi soko kuto bhayaṃ.

­œ

217.

Giới đức, trí giác trọn lành

Kiên cố giáo pháp, đạo hành viên dung

Làm xong công việc cuối cùng

Trời, người ái kính, đón mừng hân hoan!

 

Sīladassanasampannaṃ

dhammaṭṭhaṃ saccavedinaṃ,

attano kamma kubbānaṃ

taṃ jano kurute piyaṃ.

­œ

218.

Nguyện thành quả vị “ly ngôn”(1)

Chẳng còn xúc động, “thánh môn đầu dòng”(2)

Tế vi các ái tiêu vong

Những bậc như vậy xứng đồng “thượng lưu”!(3)

 

Chandajāto anakkhāte

manasā ca phuṭo siyā,

kāmesu ca appaṭibaddhacitto

uddhaṃsoto’ti vuccati.

­œ

219.

Lâu ngày làm khách ly hương

An toàn trở lại hỏi đường về thăm

Bà con quyến thuộc xa gần

Bạn bè hoan hỷ, thôn lân đón chào.

 

Cirappavāsiṃ purisaṃ

dūrato sotthimāgataṃ,

ñātimittā suhajjā ca

abhinandanti āgataṃ.

­œ

220.

Ví người hành thiện khác nào

Đời này, đời nọ xiết bao phước dành!

Đón đưa tốt đẹp, an lành

Bà con thân thuộc, chân thành mừng vui!

 

Tatheva katapuññampi

asmā lokā paraṃ gataṃ,

puññāni paṭigaṇhanti

piyaṃ ñātim’va āgataṃ.


(1) Piya: Thân yêu, yêu quý, thương mến...(có từ gốc Ái dục – taṇhā); nó là tình thường trong đời sống, chưa quá đà, chưa có tội lắm, nhưng cũng phát sanh khổ (Người biên soạn).

(1) Pema: Thương yêu, trìu mến...; cũng có từ gốc taṇhā – ái dục; là tình cảm tốt trên cuộc đời như thương vợ, thương con; chưa có tội lắm nhưng cũng đưa đến phiền não (Người biên soạn).

(1) Rati: Luyến ái, phát sanh dục tình – có từ gốc Ái dục - taṇhā, từ đây mới phát sanh vấn đề cần phải được nhìn ngắm. Cao hơn một cấp độ nữa là Rāga: Tình dục, gốc của luân hồi (Người biên soạn).

(1) Kāma: Tham muốn thoả mãn ngũ dục, nói chung là cõi dục giới, có từ gốc Ái dục - taṇhā.

(1) Taṇhā: Ái Dục, nằm trong 12 duyên khởi, gốc của sinh tử luân hồi. Từ Taṇhā này, cái gì được thì tham, thương; cái gì không được thì sân, ghét.

(1) Chỉ Niết-bàn.

(2) Chỉ 3 quả vị đầu là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm.

(3) Chỉ A-la-hán.

Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37089)
18/04/2016(Xem: 5183)
02/04/2016(Xem: 3943)
27/03/2014(Xem: 12587)
06/08/2010(Xem: 36739)
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .