Chương XVIII – MALAVAGGA - (Phẩm Uế Trược)

15/06/20143:19 CH(Xem: 1786)
Chương XVIII – MALAVAGGA - (Phẩm Uế Trược)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương XVIII 
MALAVAGGA
(Phẩm Uế Trược)

235.

Thân ngươi, chiếc lá úa tàn

Hái đao Diêm Sứ hiện đang đón chờ

Than ôi! Chết đến bất ngờ

Đường xa chẳng có dự hờ tư lương!?

 

Paṇḍupalāso va dānisi

yamapurisā pi ca te upaṭṭhitā,

uyyogamukhe ca tiṭṭhasi

pātheyyampi ca te na vijjati.

­œ

236.

Tự xây hòn đảo mà nương

Tinh cần gấp rút dọn đường tuệ tri!

Gỡ bao nhơ bợn ngu si

Mở cửa thánh địa ra đi nhẹ nhàng!

 

So karohi dīpamattano

khippaṃ vāyama paṇḍito bhava,

niddhantamalo anaṅgaṇo

dibbaṃ ariyabhūmiṃ upehisi.

­œ

237.

Đời ngươi, sự sống sắp tàn

Cứ thêm mỗi bước mỗi gần tử vong

Bên đường, chỗ nghỉ cũng không

Xa xăm chẳng có dự phòng tư lương!

 

Upanītavayo ca dānisi

sampayātosi yamassa santike,

vāso te natthi antarā

pātheyyampi ca te na vijjati.

­œ

238.

Tự xây hòn đảo mà nương

Tinh cần gấp rút, dọn đường tuệ tri!

Gỡ bao dục vọng mê si

Tử sinh quyết chẳng lộn đi, trở vào!

 

So karohi dīpamattano

khippaṃ vāyama paṇḍito bhava,

niddhantamalo anaṅgaṇo

na punaṃ jātijaraṃ upehisi.

­œ

239.

Từ từ, chút chút mà hay

Từng sát-na một gỡ ngay ác mầm!

Thợ vàng lọc bụi trong ngần

Cũng dường thế ấy, chắt dần uế nhơ!

 

Anupubbena medhāvī

thoka thokaṃ khaṇe khaṇe,

kammāro rajatasseva

niddhame malamattano.

­œ

240.

Rỉ sét vốn từ sắt sanh

Ăn mòn tiêu hoại rất nhanh sắt nầy

Sống đời lợi dưỡng, biết hay!

Tự nghiệp, tự dẫn trắng tay, khốn cùng!

 

Ayasā’ va malaṃ samuṭṭhitaṃ

tatuṭṭhāya tameva khādati,

evaṃ atidhonacārinaṃ

sāni kammāni nayanti duggatiṃ.

­œ

241.

Không tụng niệm: Bợn nhơ kinh!

Không siêng năng: Bợn nhơ sinh cửa nhà

Biếng nhác: Sắc đẹp nhơ nhòa

Canh phòng sơ hở, bợn trà trộn ngay!

 

Asajjhāyamalā mantā

anuṭṭhānamalā gharā,

malaṃ vaṇṇassa kosajjaṃ

pamādo rakkhato malaṃ.

­œ

242.

Tà hạnh: Nhơ uế đàn bà

Bỏn xẻn: Nhơ uế đàn-na các hàng

Ác pháp: Nhơ uế thế gian

Đời này, đời kế ngập tràn khổ đau!

 

Malitthiyā duccaritaṃ

maccheraṃ dadato malaṃ,

malā ve pāpakā dhammā

asmiṃ loke paramhi ca.

­œ

243.

Trong hàng cấu uế, dẫn đầu:

vô minh bổn, bợn sâu, dính dày!

Tỳ-kheo khởi tuệ lìa ngay

Thành bậc vô nhiễm, đời này sạch không!

 

Tato malā malataraṃ

avijjā paramaṃ malaṃ,

etaṃ malaṃ pahatvāna

nimmalā hotha bhikkhavo.

­œ

244.

Dễ thay! Lỗ mãng, trẽn trơ!

Chẳng lòng hổ thẹn, trộm hờ cắn sau!

Quạ đen, người – có khác đâu!

Những kẻ tự phụ, cứng đầu, kiêu căng

Nhiễm ô, xấc xược, huênh hoang

Sống như vậy đó, dễ dàng lắm ôi!

 

Sujīvaṃ ahirikena

kākasūrena dhaṃsinā,

pakkhandinā pagabbhena

saṃkiliṭṭhena jīvitaṃ.

­œ

245.

Khó thay! Biết hổ thẹn rồi

Lại còn tinh khiết sống đời trăng gương

Có tâm dứt bỏ, khiêm nhường

Sáng trong, vắng lặng, tuệ hương ngát ngào!

 

Khó thay! Biết hổ thẹn rồi

Lại cầu thanh tịnh mà noi hướng về

Vô tư, khiêm hạ, lìa mê

Trăng trong, sao sáng - đề huề hai vai!

 

Hirimatā ca dujjīvaṃ

niccaṃ sucigavesinā,

alīnenāppagabbhena

suddhājīvena passatā.

­œ

246-247.

Kẻ nào vọng ngữ, sát sanh

Trộm của thiên hạ, đành hanh vợ người

Rượu men, rượu nấu dể duôi

Tự chôn gốc rễ, nhiều đời vùi sâu!(1)

 

Yo pāṇamatipāteti

musāvādañca bhāsati,

loke adinnaṃ ādiyati

paradārañca gacchati.

 

Surāmerayapānañ ca

yo naro anuyuñjati,

idhevameso lokasmiṃ

mūlaṃ khaṇati attano.

­œ

248.

Hỡi này, những kẻ thiện hiền!

Chế ngự điều ác, chẳng nên khinh thường

Ái tham, sân hận(1) lỡ vương

Cuốn vào cảnh khổ miên trường đớn đau!

 

Evaṃ bho purisa jānāhi

pāpadhammā asaññatā,

mā taṃ lobho adhammo ca

ciraṃ dukkhāya randhayuṃ.

­œ

249.

Người ta bố thí do tin

Do tâm hoan hỷ hằng vin pháp lành

Có người đố kỵ, tỵ ganh

Thức ăn, vật uống dâng dành sa-môn

Người như vậy, phước tiêu mòn

Định tâm không được, sớm hôm não phiền.

 

Dadāti ve yathāsaddhaṃ

yathāpasādanaṃ jano,

tattha yo ca maṅku bhavati

paresaṃ pānabhojane,

na so divā vā rattiṃ vā

samādhiṃ adhigacchati.

­œ

250.

Hãy mau cắt đứt gốc nhân

Phải mau nhổ tiệt căn sân, tỵ hiềm!

Người như vậy: Bậc trí hiền

Đạt được tâm định, an thiền tháng năm!

 

Yassa cetaṃ samucchinnaṃ

mūlaghaccaṃ samūhataṃ,

sa ve divā vā rattiṃ vā

samādhiṃ adhigacchati.

­œ

251.

Lửa tham hơn lửa đất trời!

Kềm sân vô địch kẹp người, siết ta

Lưới nào bằng lưới si ma?

Sông nào sánh được ái hà dòng sâu?!

 

Natthi rāgasamo aggi

natthi dosasamo gaho,

natthi mohasamaṃ jālaṃ

natthi taṇhāsamā nadī.

­œ

252.

Lỗi người thì dễ thấy ngay!

Lỗi mình khó thấy, khó hay dường nào

Lỗi người tỉ mỉ bới đào

Tìm trấu trong gạo, đếm sao trời mờ

Lỗi ta, ta giấu, ta ngơ

Lại còn che đậy, giả vờ ngụy trang!

Bẫy chim, ta trốn trong hang!

Chơi bài thì lại dối gian, giấu bài!

 

Sudassaṃ vajjamannesaṃ

attano pana duddasaṃ,

paresaṃ hi so vajjāni

opunāti yathā bhusaṃ,

attano pana chādeti

kaliṃva kitavā saṭho.

­œ

253.

Những ai chăm thấy lỗi người

Dễ sanh đâm thọc, nói lời gièm pha

Kẻ như vậy, còn rất xa

Xa trừ lậu hoặc, càng xa Niết-bàn!

 

Paravajjānupassissa

niccaṃ ujjhānasaññino,

āsavā tassa vaḍḍhanti

ārā so āsavakkhayā.

­œ

254.

Hư không chẳng có vết chân

Bên ngoài chẳng có xuất trần sa-môn!

Chúng sanh hý luận, đa ngôn

Như Lai hý luận sạch trơn, sạch làu!

 

Ākāseva padaṃ n’atthi

samaṇo n’atthi bāhire,

papañcābhiratā pajā

nippapañcā tathāgatā.

­œ

255.

Hư không chẳng có vết chân

Bên ngoài chẳng có xuất trần sa-môn

Các hành(1) chẳng phải trường tồn

Phật không dao động, đâu còn hữu vi?

 

Ākāseva padaṃ n’atthi

samaṇo natthi bāhire,

saṅkhārā sassatā n’atthi

n’atthi buddhānaṃ iñjitaṃ.


(1) Ý nói là tự chôn gốc rễ của mình mãi mãi trên thế gian này, không bao giờ lìa thoát được.

(1) Adhammo: Phi pháp, nghịch nghĩa với pháp; nghĩa là không đi theo giáo pháp – nhưng chú giải cho nghĩa là sân hận vì tham và sân là căn nguyên của điều ác.

(1) Saṅkhāra: Tôi dịch là hành chứ không dịch là hữu vi – vì tâm hành là tâm lăng xăng tạo tác, nó ở trong 12 duyên khởi; còn hữu vi là thường chi tất cả các pháp được kết hợp, cấu tạo của thế giới gồm chung tinh thần, vật chất, của sum la vạn tượng.

Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37095)
18/04/2016(Xem: 5207)
02/04/2016(Xem: 3950)
27/03/2014(Xem: 12599)
06/08/2010(Xem: 36743)
Trước hiểm họa mất nước mà nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị Dự luật thành lập ba đặc khu kinh tế:Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa, Phú Quốc-Kiên Giang, thời hạn cho thuê đất có thể lên đến 99 năm như một sự đổ bộ của Trung Quốc với mục tiêu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Bắc Kinh,
Khóa tu lần này được sự quang lâm chứng minh của Hòa Thượng Thích Minh Hồi - Viện chủ Như Lai Thiền Tự và dưới sự hướng dẫn của Sư Giác Minh Luật cùng quý Đại Đức Giảng sư trẻ như: ĐĐ. Thích Châu Đạt, Thích Đạt Tín, Thích Vui Mừng, Thích Bắt Hải, Ven. Guan Zhen... cũng đồng trở về chứng minh, tiếp sức và hướng dẫn Giáo thọ cho khóa tu học.
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận. Đối với Phật tử, tinh thần thượng võ đã nằm sẵn trong năm giới, vì nếu không thượng võ, có nghĩa là đi trộm hào quang của đấu thủ khác, của đội tuyển khác, của quốc gia khác. Tuy nhiên, nếu giữ được thượng võ mà thiếu vắng từ bi, cũng không đúng Chánh pháp. Bởi vì từ bi do vì muôn dân mà làm, chứ không vì kiêu mạn.