Chương XIX - DHAMMAṬṬHAVAGGA - (Phẩm Công Bình và Chánh Hạnh)

15/06/20144:13 CH(Xem: 1516)
Chương XIX - DHAMMAṬṬHAVAGGA - (Phẩm Công Bình và Chánh Hạnh)
MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH
Dhammapada
KINH LỜI VÀNG
Việt - lục bát thi hóa - Pāḷi
( In lần thứ 5, có chỉnh sửa và nhuận sắc lần cuối)

Chương XIX 
DHAMMAṬṬHAVAGGA

(Phẩm Công Bình và Chánh Hạnh)(1)


256.

Làm quan phải biết công minh

Chẳng nên hấp tấp, lý tình chẳng phân

Cho hay là bậc trí nhân

Phải, trái thận trọng - thước, cân rõ ràng!

 

Na tena hoti dhammaṭṭho

yenatthaṃ sāhasā naye,

yo ca atthaṃ anatthañca

ubho niccheyya paṇḍito.

­œ

257.

Chớ nên thủ thuật dối gian

Phải theo pháp, luật đàng hoàng phân minh

Chẳng nên chuyên chế ép hình

Sống đúng như vậy, xứng vinh trí hiền!

 

Asāhasena dhammena

samena nayatī pare,

dhammassa gutto medhāvī

dhammaṭṭho’ti pavuccati.

­œ

258.

Nghe nhiều, học rộng chương văn

Xứng danh bậc trí giữa Tăng đoàn nầy?

Vô sân, vô úy mới hay!

Mới là cao cả, xứng tay trí hiền!

 

Na tena paṇḍito hoti

yāvatā bahu bhāsati,

khemī averī abhayo

paṇḍito’ti pavuccati.

­œ

259.

Thuộc lòng giáo pháp, nói nhiều

Mà không trì pháp, gõ kêu rỗng thùng!

Ít nghe, sở học có chừng

Mà chuyên trì pháp, danh lừng trí minh!

 

Na tāvatā dhammadharo

yāvatā bahu bhāsati,

yo ca appampi sutvāna

dhammaṃ kāyena passati,

sa ve dhammadharo hoti

yo dhammaṃ nappamajjati.

­œ

260.

Phải đâu trưởng lão sa-môn

Phải đâu đầu bạc, thượng tôn Tăng đoàn?

Tuổi cao, trí kém, ươn gàn:

“Sư già rỗng tuếch” xứng mang danh này!

 

Na tena thero hoti,

yen’assa palitaṃ siro,

paripakko vayo tassa

‘‘moghajiṇṇo’’(1) ti vuccati.

­œ

261.

Vị nào chân lý lên đường

Tự chế ,vô hại, chẳng vương nhiễm gì

Sống đời chánh hạnh, tuệ tri

Xứng danh trưởng lão, xứng vì sa-môn!

 

Yamhi saccañ ca dhammo ca

ahiṃsā saññamo damo,

sa ve vantamalo dhīro

thero iti pavuccati.

­œ

262.

Phải đâu hùng biện đa tài

Hình dong đẹp đẽ thành người thiện lương?

Sống đời tham ái, dối lường

Thì còn xa lắm con đường trí nhân!

 

Na vākkaraṇamattena

vaṇṇapokkharatāya vā,

sādhurūpo naro hoti

issukī maccharī saṭho.

­œ

263.

Cắt đứt trọn vẹn thúc thằng

Ganh, tham, bứng gốc, ngã căn tận trừ

Diệt sân, thanh tịnh tâm

Người như vậy đấy, xứng từ trí nhân!

 

Yassa cetaṃ samucchinnaṃ

mūlaghaccaṃ samūhataṃ,

sa vantadoso medhāvī

sādhurūpo’ti vuccati.

­œ

264.

Cái đầu trọc lóc biết chăng

không giới hạnh, nói năng vọng quàng

Lòng đầy tham vọng, dối gian

Những kẻ như vậy, xứng hàng sa-môn?

 

Na muṇḍakena samaṇo

abbato alikaṃ bhaṇaṃ,

icchālobhasamāpanno

samaṇo kiṃ bhavissati.

­œ

265.

Những ai thắng phục dục trần

Điều ác lớn, nhỏ - dần dần lặng yên

Chẳng còn nhơ bợn, ưu phiền

Mới xứng tên gọi thiện hiền sa-môn!

 

Yo ca sameti pāpāni

aṇuṃ thūlāni sabbaso,

samitattā hi pāpānaṃ

samaṇo’ti pavuccati.

­œ

266.

Chẳng vì bình bát xin ăn

Mà do an tĩnh lục căn, ngũ trần

Sống đời tri túc, tri ân

Mới là khất sĩ, dự phần sa-môn!

 

Na tena bhikkhu so hoti

yāvatā bhikkhate pare,

vissaṃ dhammaṃ samādāya

bhikkhu hoti na tāvatā.

­œ

267.

Với ai thiện, ác vượt qua

Sống đời phạm hạnh, không nhà thiêng liêng

Suốt thông thế giới đảo điên

Những người như vậy, thiện hiền sa-môn!

 

Yodha puññañca pāpañca

bāhetvā brahmacariyavā,

saṅkhāya loke carati

sa ve bhikkhū’ti vuccati.

­œ

268.

Ngu si, im lặng tịnh bình

Phải đâu ẩn sĩ, vỗ mình tự khoe?

Cầm cân thiện, ác không mê

bậc trí giả, danh đề xứng tên!

 

Phải đâu im lặng tịnh bình

Người ngu si nọ xưng mình ẩn cư?

Tốt làm, xấu lánh, ai chừ

Là bậc thiện trí, danh như thánh hiền!

 

Na monena muni hoti

mūḷharūpo aviddasu,

yo ca tulaṃ va paggayha

varaṃ ādāya paṇḍito.

­œ

269.

Chọn lành, xa ác lâu rồi

Mới là bậc trí, là người ẩn cư

Thế gian thông suốt nhiên như

Mới là hiền thánh, chân sư đời này!

 

Pāpāni parivajjeti

sa munī tena so muni,

yo munāti ubho loke

muni tena pavuccati.

­œ

270.

Tự xưng cao quý thượng lưu(1)

Mà còn giết hại, oan cừu sinh linh!?

Từ tâm, vô hại hữu tình

Mới thật cao quý, cao minh cõi người!

 

Tự xưng vô thượng ở đời

Máu đào họa hại, xương phơi hữu tình!?

Tâm từ rải khắp chúng sinh

Sống đời vô hại, quang minh cao hiền!

 

Na tena ariyo hoti

yena pāṇāni hiṃsati,

ahiṃsā sabbapāṇānaṃ

ariyo’ti pavuccati.

­œ

271-272.

Chỉ nhờ học rộng, biết nhiều

Đầu-đà khổ hạnh hay lều ẩn cư

Hoặc do giới luật nghiêm tu

Hay là thiền định công phu sớm chiều

 

Mà sinh tự mãn, tự kiêu

Tự cho hưởng phúc khước từ, viễn ly!?

Tỳ-khưu chẳng dám nói gì

Khi chưa đoạn tận tế vi não phiền!

 

Na sīlabbatamattena

bāhusaccena vā pana,

atha vā samādhilābhena

vivicca sayanena vā.

 

Phusāmi nekkhammasukhaṃ

aputhujjanasevitaṃ,

bhikkhu vissāsamāpādi

appatto āsavakkhayaṃ.


(1) Dhammaṭṭha: Sở dĩ tôi phải dịch là công bình và chánh hạnh – vì trong phẩm này có nhiều câu nói về công bằngchính trực ở đời, đồng thời có nhiều câu lại nói về Pháp, Luật, đôi chỗ là Phạm hạnh.

(1) Mogha: Rỗng không; jiṇṇa: già lão, già yếu... Nên có thể dịch là “lão ngu” hoặc “lão già vô vị”; nhưng tôi dịch là “sư già rỗng tuếch” là đúng với ý của sự khiển trách trong câu này.

(1) Ảriya: Cao quý, cao thượng, quý phái... mà cũng có nghĩa là bậc thánh nhân.

Tạo bài viết
10/08/2011(Xem: 37085)
18/04/2016(Xem: 5158)
02/04/2016(Xem: 3930)
27/03/2014(Xem: 12573)
06/08/2010(Xem: 36730)
Đó là danh hiệu đồng đội tặng cho Anh mỗi khi tập trung cùng Đội Tuyển Quốc Gia Ý thi đấu quốc tế ,đặc biệt ở những kỳ World Cup ,và Anh thường được tín nhiệm giao đeo băng đội trưởng .
Vì vậy,trước vấn đề nghiêm trọng của nhân dân và đất nước, trong nguy cơ tiềm ẩn một cuộc xâm lăng bằng di dân và đồng hóa của Cộng Sản Trung Quốc, Văn Phòng Điều Hợp Liên Châu thuộc các Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, GHPGVNTN Hoa Kỳ, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan, và GHPGVNTN Hải Ngoại tại Canada đồng thanh LÊN TIẾNG:
10 giờ 30 sáng Thứ Bảy ngày 30 tháng 06 năm 2018 tại Chùa Quang Thiện 704 E. “E” St. Ontario, CA 91764. Số Phone: (909) 717 – 2433; (714)763-6580; (714)386-8869; (909)319-4344; (408) 637-8105